1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín hiệu thẩm mĩ mưa, nắng, gió trong ca dao việt nam

59 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 787,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một thuật ngữ có thể dùng trong nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau nhưng quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến THTM như sự thể hiện của những tín hiệu ngôn ngữ đặt trong mối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

***********

TRIỆU THỊ HUẾ

TÍN HIỆU THẨM MĨ MƯA, NẮNG, GIÓ

TRONG CA DAO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THỊ THÙY VINH

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

***********

TRIỆU THỊ HUẾ

TÍN HIỆU THẨM MĨ MƯA, NẮNG, GIÓ

TRONG CA DAO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THỊ THÙY VINH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của thầy cô cũng như bạn bè, người thân

Trước tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thùy Vinh

- người thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em hoàn thành tốt khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện học tập cho em trong suốt thời gian em học ở trường

Nhân đây em cũng xin phép gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ động viên và tạo điều kiện tốt để em hoàn thành khóa luận

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Triệu Thị Huế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận Tín hiệu thẩm mĩ mưa, nắng, gió trong ca dao Việt Nam là công trình nghiên cứu của riêng tôi dựa trên sự góp ý của

giáo viên hướng dẫn các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này là xác thực, chưa từng được công bố ở bất kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Triệu Thị Huế

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT

THTM : Tín hiệu thẩm mĩ CBH : Cái biểu hiện CĐBH : Cái được biểu hiện

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Bố cục 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ 6

1.1.1 Tín hiệu 6

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 8

1.2 Tín hiệu thẩm mĩ 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Các dạng thức của tín hiệu thẩm mĩ 11

1.2.3 Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ 13

1.2.4 Phương thức xây dựng tín hiệu thẩm mĩ 16

1.2.5 Một số tính chất cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ 18

1.3 Vài nét về ca dao và ngôn ngữ ca dao 27

Chương 2: KHẢO SÁT TÍN HIỆU THẨM MĨ MƯA, NẮNG, GIÓ TRONG CA DAO VIỆT NAM 30

2.1 Tín hiệu mưa 30

2.1.1 Kết quả thống kê 30

2.1.2 Giá trị biểu trưng của THTM mưa trong ca dao 32

Trang 7

2.2 Tín hiệu thẩm mĩ nắng 36

2.2.1 Kết quả thống kê 36

2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của THTM nắng trong ca dao Việt Nam 38

2.3 Tín hiệu thẩm mĩ gió 40

2.3.1 Kết quả thống kê 40

2.3.2 Ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu gió trong ca dao 42

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tín hiệu thẩm mĩ (THTM) là một vấn đề lí luận mang tính liên

ngành Đây là một thuật ngữ có thể dùng trong nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau nhưng quen thuộc hơn cả là người ta thường nói đến THTM như

sự thể hiện của những tín hiệu ngôn ngữ đặt trong mối quan hệ với các tác

phẩm văn chương

Trong các tác phẩm văn chương, tín hiệu thẩm mĩ chính là tín hiệu ngôn ngữ được chuyển hóa để mang một ý nghĩa thẩm mĩ mới Nó vừa là phương tiện vừa là mục đích của tác phẩm văn học Hệ thống ý nghĩa của tín hiệu thẩm mĩ sẽ góp phần cấu thành giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn học - ca dao, một thể loại văn học dân gian

1.2 Ca dao ra đời từ rất sớm và lưu truyền cho đến ngày nay Ngay từ

lúc lọt lòng, ca dao đã thấm vào tâm hồn mỗi chúng ta qua lời ru của bà, câu hát của mẹ Những thăng trầm của cuộc đời, những giá trị văn hóa dân tộc đều

được phản ánh trong ca dao Chẳng thế Hồ Chủ tịch đã từng nói “Ca dao, dân

ca là những viên ngọc quý” Cho đến ngày nay ca dao vẫn còn là một mảnh

đất màu mỡ cho những sáng tạo, tìm tòi trên cả lĩnh vực văn học và văn hóa

Với ý nghĩa đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Tín hiệu thẩm mĩ

mưa, nắng, gió trong ca dao Việt Nam với mong muốn góp phần làm rõ nét

hơn về sự phong phú, đa dạng của ca dao dân tộc từ góc độ ngôn ngữ học Đồng thời chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra đúng những từ khóa để đi vào giải mã thế giới nghệ thuật của ca dao

Trang 9

Khrapchenco, các nghiên cứu của Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trần Đình Sử… Cho đến nay, vấn đề về THTM đang được quan tâm và việc tiếp cận tác phẩm văn học bằng cách nghiên cứu THTM trở nên phổ biến hơn Các luận án, luận văn triển khai theo hướng ngôn ngữ học khi đi vào phân tích THTM trong tác phẩm văn học đã xuất hiện nhưng không nhiều

Với luận án “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ - không gian trong ca dao” (1995), tác giả Trương Thị Nhàn đã vận dụng những phương

pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại vào nghiên cứu một phương diện của văn học - phương diện THTM, góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học và xử lý THTM trong văn học; đồng thời, luận án cũng tiến hành nghiên cứu thi pháp ca dao cũng như đưa ra cách tiếp cận mới đối với ca dao

Trong luận văn “Một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ tình Xuân Quỳnh” (1990),

tác giả Lê Thị Tuyết Hạnh đã ứng dụng phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa học vào việc phát hiện và khẳng định giá trị của một số THTM có tần số xuất hiện cao trong thơ tình Xuân Quỳnh, từ đó góp cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc sắc và sáng tạo về nội dung cũng như nghệ thuật của phong cách thơ

Xuân Quỳnh Gần đây nhất là các luận văn sau đại học “Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa tự nhiên trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trước Cách mạng tháng Tám” (2008) của Phùng Thị Cảnh Trang, luận văn “Tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ hoa trong Truyện Kiều của Nguyễn Du trên ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng học” (2008) của

Nguyễn Ngọc Bích… Các tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh tu từ để làm sáng rõ giá trị của các THTM được khảo sát

Nhiều công trình đã vận dụng khái niệm “biểu trưng”, “biểu tượng” để

nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm văn học, song thực chất đó cũng là nghiên cứu

về THTM Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt” (2002) đã tiến hành phân loại,

Trang 10

miêu tả và tìm hiểu hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phương diện như: nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng, sự vận động của biểu tượng trong từng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị ca dao

Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án “Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” (2005) đã phân

loại và phân tích sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong các giai đoạn thơ ca khác nhau dưới ánh sáng của lý thuyết về biểu tượng

Đó là những công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và đạt được nhiều thành tựu

Nhiều công trình nghiên cứu thơ ca dân gian cũng đã sử dụng các khái niệm THTM, biểu trưng, biểu tượng Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trong ca

dao và một số biểu tượng con cò, con bống… đã được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan chú ý ngay từ khi ông công bố lần đầu tuyển tập “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của mình Sau đó, Cao Huy Đỉnh, Phan Đăng Nhật,

Hà Công Tài, Trương Thị Nhàn, Nguyễn Xuân Kính, Mai Ngọc Chừ, Phạm Thị Thu Yến… cũng đã có các bài nghiên cứu về biểu tượng, biểu trưng, THTM trong thơ ca dân gian ở những góc độ khác nhau Hà Công Tài đi sâu

khảo sát biểu tượng “trăng” trong ca dao Nguyễn Xuân Kính chỉ ra đặc sắc

riêng của một số biểu tượng ca dao trong tương quan với văn học viết.Với

“Lối đối đáp trong ca dao trữ tình”, tác giả Cao Huy Đỉnh đã đề cập đến các cặp tín hiệu như: “trúc - mai”, “mận - đào”, “thuyền - bến”… Từ đó, tác giả

chỉ ra nét độc đáo, thú vị trong ca dao chính là ở lối đối đáp, trò chuyện giữa hai người…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận tác phẩm văn học nói chung và thơ ca dân gian nói riêng dưới ánh sáng lý thuyết của ngôn ngữ học như: lý thuyết về tín hiệu, lý thuyết về hệ thống, lý thuyết về biểu tượng, trường nghĩa…và đã có những đóng góp nhất định Trong bối cảnh của sự

Trang 11

gặp gỡ, giao thoa giữa hai ngành nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chúng tôi

lựa chọn một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ học liên quan đến văn học “Tín hiệu thẩm mĩ mưa nắng gió trong ca dao Việt Nam”.Tiếp thu thành tựu của những

công trình đã công bố, đồng thời để tránh trùng lặp với người đi trước, khóa luận tập trung vào một số THTM chưa được khai thác hoặc mới chỉ được nói

đến một cách sơ lược Đó là các tín hiệu thuộc trường nghĩa tự nhiên: mưa, nắng, gió

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tiến hành nghiên cứu một số THTM tiêu biểu thuộc trường

nghĩa tự nhiên trong ca dao Việt Nam (mưa, nắng, gió) nhằm phát hiện những

ý nghĩa biểu trưng trong cách sử dụng THTM của thơ ca dân gian.Từ đó thấy được vai trò của những tín hiệu đó trong đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam Đồng thời khẳng định những đóng góp của thơ ca dân gian trong việc lưu giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, nguời viết đã đặt ra và thực hiện những nhiệm vụ chính dưới đây:

- Khảo sát một cách có hệ thống về tần số xuất hiện của các tín hiệu

thuộc trường nghĩa tự nhiên (mưa, nắng , gió) Các tín hiệu này tạo thành bức

tranh thiên nhiên phong phú và sinh động trong ca dao Việt Nam

- Khảo sát và phân tích các biến thể của các THTM “mưa, nắng, gió”

theo các dạng biến thể khác nhau

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là một số THTM tiêu biểu trong

ca dao Việt Nam: mưa, nắng, gió

- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn tư liệu mà chúng tôi chọn để khảo sát là 2

Trang 12

cuốn ca dao: Ca dao Việt Nam 1945-1975 - Nguyễn Nghĩa Dân sưu tầm,

nghiên cứu, tuyển chọn Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2010, cuốn này tập hợp những bài ca dao sau Cách mạng tháng Tám (kháng chiến chống Pháp và

chống Mỹ) và cuốn Ca dao Việt Nam - Giáo sư Đinh Gia Khánh chủ biên,

Nguyễn Xuân Kính - Phan Hồng Sơn biên soạn, Nhà xuất bản văn học, 1983, cuốn này tập hợp những bài ca dao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Sở dĩ chúng tôi chọn 2 cuốn này vì đây là một công trình tiêu biểu và được đánh giá cao Đồng thời chúng tôi cũng thu thập thêm tư liệu từ một số tuyển tập ca dao khác

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ

Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ là phương pháp được chúng tôi sử dụng chủ yếu trong khóa luận này Trên cơ sở những tư liệu được thu thập và xử lý, trên nền tảng những con số được thống kê và phân tích, chúng tôi đưa ra những nhận xét mang tính khái quát về vấn đề cần nghiên cứu

- Phương pháp thông kê

Phương pháp thống kê là phương pháp chúng tôi dùng để thống kê, phân loại các tín hiệu để được tần số xuất hiện của các tín hiệu, sắp xếp chúng vào các nhóm tín hiệu có chung đặc điểm

- Phương pháp phân tích ngữ cảnh

Phương pháp phân tích ngữ cảnh được chúng tôi dùng kết hợp với các

yếu tố giao tiếp để khai thác các tầng nghĩa biếu trưng của tín hiệu

7 Bố cục

Ngoài phần mở đầu, kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, khóa luận được cấu trúc gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Khảo sát tín hiệu mưa, nắng, gió trong ca dao Việt Nam

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ

1.1.1 Tín hiệu

Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín hiệu, liên quan đến những cách

hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa TH của P Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” Còn A Schaff lại định nghĩa THTM theo nghĩa hẹp:“Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm”

Định nghĩa của A Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tượng là tín hiệu khi nó được sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống

có tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa người với người, còn những tín hiệu giao tiếp không ý thức của động vật không được thừa nhận là tín hiệu Quan niệm của P Guiraud về tín hiệu rộng hơn vì nó bao hàm cả những tín hiệu hẹp, những tín hiệu nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những tín hiệu giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều được coi là tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mưa trong nhận thức của con người Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của người nói trong sự nhận thức của người nghe Một câu hỏi

Trang 14

nhưng chính là một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?” Một con thuyền trong ý nghĩa của “người đi” mà ca dao vẫn thường

nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố

mang tin Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang

nghĩa

Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tượng, hay thuộc tính vật chất trở thành tín hiệu: 1 Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2 Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện); 3.Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng của thông tin); 4.Phải nằm trong một hệ thống nhất định Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện tín hiệu trong đề tài Một tín hiệu là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” (CBH) và “cái được biểu hiện” (CĐBH), đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định được trong mối tương quan

với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia

Về phân loại tín hiệu, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau Phân loại của C Peirce phân biệt ba phạm trù chính của tín hiệu: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trưng C Morris đưa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu Bảng phân loại của P Guiraud có sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín hiệu giao tiếp Lấy bảng phân loại tín hiệu của P Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các tín hiệu thành tín hiệu giao tiếp và tín hiệu phi giao tiếp Căn cứ vào đặc tính thể chất của cái biểu đạt có thể phân loại thành: tín hiệu thị giác, tín hiệu tính giác, tín hiệu xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có thể

Trang 15

quy tín hiệu thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ước hiệu

Các phạm trù tín hiệu được kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan niệm của mỗi tác giả và cũng không tương đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhưng có tác dụng cung cấp những khái niệm tín hiệu quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các tín hiệu, làm cơ sở cho sự phân biệt tín hiệu được nghiên cứu trong đề tài Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của Đỗ Hữu Châu mà ưu điểm là bao quát được tất cả những phạm trù - loại khác nhau của tín hiệu, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ loại hình giữa các tín hiệu trên các tiêu chí khác nhau như: chức năng xã hội của tín hiệu, đặc tính thể chất của CBH, nguồn gốc tín hiệu, tính chất mối quan hệ giữa hai mặt CBH và CĐBH, sự chuyển mã, đặc tính tổ chức của tín hiệu…

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Ngôn ngữ thường được nói đến như một hệ thống tín hiệu đặc biệt Cuốn

giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” đã nhấn mạnh đến vấn đề chức

năng và đặc tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ so với các hệ thống tín hiệu nói chung và tín hiệu mang chức năng giao tiếp nói riêng Ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để

tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống con người, ngôn ngữ còn mang chức năng thi pháp… Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt giữa những chức năng khác nhau liên quan đến những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng cú học

Bản chất của tín hiệu ngôn ngữ có các tính tiêu biểu như sau: Tính hai mặt, tính võ đoán, tính hình tuyến

Thứ nhất về tính hai mặt Tín hiệu ngôn ngữ thống nhất giữ hai mặt: Cái biểu hiện và cái được biểu hiện Cái biểu hiện (hình thức của tín hiệu) là

Trang 16

những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh, cụ thể của từng ngôn ngữ Cái được biểu hiện (nội dung của tín hiệu) là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cất tư duy, phân cất thực tại

Ví dụ: Tín hiệu “cây” trong tiếng Việt là sự kết hợp giữa lược đồ sau:

Âm thanh: Cây (CBH)

hiệu “xe đạp, xa máy, xe ngựa” được tạo ra có quy luật kết hợp giữa chúng

Thứ ba là tính hình tuyến.Ngôn ngữ có tính hình tuyến là các tín hiệu phải lần lượt được tạo ra và lần lượt được tiếp nhận, lĩnh hội, chứ không thể ở trong tình trạng xuất hiện đồng thời Đây chính là sự nối tiếp theo trật tự thời gian: chỉ có một chiều như một đường chỉ F Saussure viết: “Vốn là vật nghe được, cái biểu hiện diễn ra trong thời gian và có những đặc điểm vốn là của thời gian: a) nó có một đại lượng; và b) đại lượng đó chỉ có thể đo trên một chiều mà thôi; đó là một đường chỉ, một tuyến”

Từ những khía cạnh chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định

Trang 17

ý nghĩa “tín hiệu” của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa (đơn vị hai mặt), từ từ đến cụm từ, đến câu, đoạn, văn bản Một từ, ngữ, câu nói nào đó

có thể vừa mang thông tin về sự vật, hiện tượng được nói tới, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lý của

người nói… Từ “nỏ” trong câu ca dao “Đã thương thì thương cho chắc, Nỏ bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn…” cho biết người nói là người xứ Nghệ Câu hỏi “Mấy giờ rồi?” trong những hoàn cảnh nhất định, có thể cho biết thái

độ khó chịu (mong khách ngồi lâu đứng dậy ra về) của người nói… Ở bất kỳ cấp độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải baohàm một hình thức ngữ âm (CBH) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (CĐBH) và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị của tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định

1.2 Tín hiệu thẩm mĩ

1.2.1 Khái niệm

Khái niệm THTM xuất hiện vào những năm giữa thế kỉ XX và được tiếp nhận vào Việt Nam từ những năm 70 qua bản dịch các công trình khoa học xuất hiện trong các bài viết của Đỗ Hữu Châu, Trần Đình Sử, Hoàng Trinh, THTM (theo nghĩa rộng) là chất liệu để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của tất cả các ngành nghệ thuật nói chung Chẳng hạn tín hiệu của hội họa là đường nét, màu sắc, bố cục; của âm thanh là âm thanh, tiết tấu; của điện ảnh là hình ảnh; của sân khấu là hành động; của văn học là ngôn từ THTM (theo nghĩa hẹp) là chất liệu của văn học Tín hiệu thẩm mĩ lấy tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên làm chất liệu nhưng đi vào từng tác phẩm chúng được tổ chức lại để phục vụ cho một mục đích thẩm mĩ nhất định

Theo Đỗ Hữu Châu thì: “THTM phân biệt với các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không bao giờ chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực mà phải là một tư tưởng , một tư tưởng nào đó của người nghệ sĩ”

Trang 18

Trên cơ sở phân tích ý nghĩa thực sự của phương tiện nghệ thuật, tác giả

Đỗ Hữu Châu đã giải thích cụ thể hơn về THTM: “THTM là phương tiện sơ cấp của văn học là ngôn ngữ - THTM cú pháp THTM Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên trong văn học chỉ là hình thức cái biểu hiện của THTM”

Như vậy câu trả lời cho câu hỏi: Thế nào là một THTM ? Đỗ Hữu Châu chủ trương căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các vật quy chiếu thuộc

thế giới hiện thực: “THTM phải tương ứng với các vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực Chẳng hạn như một con thuyền, một dòng sông, hay một nỗi buồn nào đó” Từ đó có thể hiểu THTM chính là toàn bộ những yếu

tố hiện thực, những chi tiết, những sự vật hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa thẩm mĩ nhất định

Đỗ Hữu Châu cũng có kiến giải cụ thể về THTM như sau: THTM là tín hiệu thuộc hệ thống của các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố hiện thực của tâm trạng (những chi tiết, những

sự việc, hiện tượng, những cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng) những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, của các yếu tố chất liệu màu sắc với hội họa, âm thanh nhịp điệu với âm nhạc ) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích

thẩm mĩ

1.2.2 Các dạng thức của tín hiệu thẩm mĩ

Tín hiệu thẩm mĩ tồn tại dưới hai dạng thức: Hằng thể và biến thể Biến thể cùng chung hoặc có mối liên hệ mật thiết về ý nghĩa với hằng thể Về mặt chất liệu, hằng thể và biến thể của tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương đều biểu hiện bằng từ

1.2.2.1 Hằng thể

Hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ là dạng điển hình nhất, phổ biến nhất, nhưng cũng là dạng đơn giản nhất về mặt hình thức (thường biểu hiện bằng

Trang 19

một từ) Mỗi hằng thể thường tập hợp xung quanh mình hàng loạt biến thể để

tạo nên hệ thống Ví dụ, hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ mắt có cái biểu đạt là

từ mắt:

- Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay

(Tục ngữ)

- Trời sanh con mắt là gương,

Người ghét ngó ít, người thương ngó nhiều

ngữ phái sinh Ví dụ, biến thể từ vựng của tín hiệu mắt là: nhãn, mục, cửa sổ tâm hồn, mắt mũi(Chỉ để nói mắt),

- Anh đây mục hạ vô nhân,

Nghe em xuân sắc mười phân não nùng

(Ca dao)

- Mắt mũi để đâu mà xô vào người ta thế

(TheoTừ điển tiếng Việt, Sđd, tr.619)

Biến thể kết hợp: là tất cả những từ ngữ cùng một trường nghĩa với hằng thể và có thể kết hợp theo trục ngang với từ ngữ - hằng thể Về mặt từ loại, biến thể kết hợp có thể là danh từ, động từ, tính từ, hoặc các cụm danh

Trang 20

từ, cụm động, cụm tính, Về mặt ý nghĩa, các biến thể kết hợp của một hằng thể tuy cùng trường nghĩa với hằng thể, nhưng có ý nghĩa cụ thể đa

dạng Ví dụ, đối với tín hiệu thẩm mĩ mắt, biến thể kết hợp có thể là những

từ ngữ biểu hiện:

- Hình dáng của mắt: mắt lá răm, mắt bồ câu, mắt ốc nhồi, mắt phượng, mắt lươn, mắt dài, mắt tròn, mắt ti hí, Ví dụ:

Những người con mắt lá răm

Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền

(Ca dao)

- Màu sắc của mắt: mắt xanh, mắt huyền, mắt nâu, mắt đen, Ví dụ:

Người khôn con mắt đen sì,

Người dại con mắt nửa chì nửa thau

(Ca dao)

- Trạng thái của mắt: mắt tinh, mắt lòa, mắt sáng, mắt mù, mắt đui, mắt kèm nhèm, Ví dụ:

Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn có mắt ông cha không thờ

1.2.3 Nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ

1.2.3.1 Phương diện tự nhiên và xã hội

Trong tự nhiên tồn tại các sự vật và hiện tượng Nhà văn khi sáng tác đã

Trang 21

quan sát, chiêm nghiệm và nhận ra ý nghĩa thẩm mĩ tiềm tàng ở những sự vật

và hiện tượng trong hiện thực xung quanh mình Từ đó họ căn cứ vào những

sự vật, hiện tượng đó để xây dựng các tín hiệu thẩm mĩ thông qua chất liệu là những tín hiệu ngôn ngữ gọi tên các sự vật, hiện tượng tương ứng Thế giới thực vật và động vật rất phong phú, đa dạng là nguồn gốc, là cơ sở rất sinh động cho các tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương Từ những loài cây quý phái

như tùng, cúc, trúc, mai, đến những loài cây dân dã, thậm chí hoang dại như cây tre, cây chuối,cây đa, cây cỏ, cây xấu hổ,

Ví dụ:

Bờ đường 9 có lùm cây xấu hổ Chiến sĩ đi qua ai cũng mỉm cười

Cây đã hé những mắt tròn chúm chím, Đang thập thò, nghịch ngợm nhìn theo

(Cây xấu hổ- Anh Ngọc) Các loài động vật cũng là nguồn gốc cho các tín hiệu thẩm mĩ, miễn là nhà văn cần quan sát và phát hiện ra nét thẩm mĩ tiềm ẩn ở chúng Thỏ và Rùa

trong truyện ngụ ngôn Thỏ, Rùa chạy thi chính là các tín hiệu thẩm mĩ Chính

ý nghĩa thẩm mĩ đã toát lên từ các tín hiệu Thỏ và Rùa: “Con người tuy thông minh nhưng chủ quan thì vẫn thất bại, còn nếu chậm chạp vụng về nhưng chăm chỉ thì vẫn thành công”

Các vật thể, hiện tượng tự nhiên cũng rất đa dạng và phong phú: sông, nước, biển, núi, đồi,mây, trời, trăng, sao, Chúng cũng là nguồn cảm hứng vô tận của con người nói chung và các nghẹ sĩ nói riêng Như trong bài thơ Thề non nước của Tản Đà là một ví dụ, trong đó nổi bật là hai tín hiệu thẩm mĩ non và nước

Các sự vật nhân tạo hay các hiện tượng xã hội trong cuộc sống của con

Trang 22

nguời cũng là nguồn gốc cho các tín hiệu thẩm mĩ Đối với văn chương, nhiều

sự vật, hiện tượng bình thường trong xã hội loài người đều là nguồn gốc cho

các tín hiệu thẩm mĩ Bánh trôi nước, Cái quạt, trong những bài thơ cùng tên

của Hồ xuân Hương

Trong thực tế cũng có những trường hợp tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương được xây dựng không dựa trên cơ sở một sự vật, hiện tượng có thực nào, mà chỉ trên cơ sở tưởng tượng của tác giả Tuy thế, trong tác phẩm, những tín hiệu thẩm mĩ đó vẫn có một ý nghĩa thẩm mĩ và giá trị không thể

phủ nhận.Ví dụ, bài thơ Lá diêu bông của Hoàng Cầm Trong hiện thực

không có lá diêu bông Chính nhà thơ đã lí giải như sau: “Lá diêu bông không có thực trong đời, tôi đã đặt tên theo những tưởng tượng như cỏ bông thi chẳng hạn ”

Cả trong các tác phẩm văn chương thần thoại, sử thi, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, nhiều tín hiệu thẩm mĩ cũng không hẳn có cơ sở từ thực tiễn Những bà tiên, ông tiên, cô tiên, những vị thần, những thế lực siêu nhiên

đã có mấy ai chững thực trong đời sống? Nhưng những tín hiệu thẩm mĩ được xây dựng từ đó vẫn mang ý nghĩa nhân văn, thẩm mĩ và vẫn sống mãi trong lòng các thế hệ độc giả

1.2.3.2 Phương diện văn hóa, văn chương

Nguồn gốc của các tín hiệu thẩm mĩ còn có thể là những chi tiết, sự kiện, những điển tích hay những sản phẩm tinh thần thuộc đời sống văn hóa của từng nhân tộc hay toàn nhân loại Đây cũng là nguồn vô tận cho cảm hứng

sáng tạo, cho các tín hiệu thẩm mĩ của các nhà văn thuôc các thế hệ đi sau Trước hết là kho tàng văn chưng dân gian với các thể loại ca dao, thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ tích, ở đó các nhà văn đã khai thác và sử dụng nhiều tín hiệu thẩm mĩ Hình tượng con cò là phổ biến và điển hình trong ca dao Việt Nam Nhà thơ Chế Lan Viên đã xuất phát từ đó để xây dựng tín hiệu

Trang 23

thẩm mĩ “Con cò” trong bài ca dao cùng tên như sau:

“Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát

Có cánh cò đang bay.”

Rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ, điển cố đã đi vào tác phẩm của các nhà văn đời sau thành tín hiệu thẩm mĩ Như thế là để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ, các tác giả văn chương thường xuất phát từ cá sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nền văn hóa của dân tộc hay nhân loại và có thể xuất phát từ cả những điều không có trong thực tế, chỉ do trí tưởng tượng mà có Đó chính là nguồn gốc của các tín hiệu thẩm mĩ

1.2.4 Phương thức xây dựng tín hiệu thẩm mĩ

Tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc từ nhiều cơ sở khác nhau, hơn nữa nó được tạo ra từ chất liệu là các tín hiệu ngôn ngữ thông thường Do đó, nó phải được tạo ra theo những phương thức nhất định để cho người khác có thể tiếp nhận và linh hội được ý nghĩa thẩm mĩ từ đó Những phương thức cấu tạo tín hiệu thẩm mĩ không thể tùy tiện, theo cách thức riêng của từng nhà văn, mà mang tính phổ quát Tuy tín hiệu thẩm mĩ rất đa dạng trong nghệ thuật văn chương, và thuộc hai cấp độ vĩ mô, nhưng chúng đều được cấu tạo theo hai phương thức chính là ẩn dụ và hoán dụ

1.2.4.1 Phương thức ẩn dụ

Ẩn dụ chính là phương thức dựa trên sự tương đồng nào đó giữa đối tượng trong hiện thực thông qua tín hiệu ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ Như trên đã nói, đây là mối quan hệ bộ ba, nhà văn đã phát hiện ra trong sự vật, hiện tượng tiềm ẩn một mối quan hệ tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định biểu hiện và dùng từ ngữ vốn là tên gọi sự vật, hiện tượng đó để làm chất liệu xây dựng tín hiêu thẩm mĩ

Trang 24

Ví dụ: tín hiệu thẩm mĩ sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh có

nguồn gốc từ sóng biển (đối tượng trong hiện thực) và được xây dựng từ chất

liệu từ sóng trong ngôn ngữ - phương tiện để gọi tên sóng biển Nhà thơ đã

phát hiện ra mối quan hệ tương đồng giữa sóng biển và trạng thái tâm lí tình cảm của người con gái trong tình yêu Từ đó, tác giả dùng các tín hiệu ngôn

ngữ thuộc trường từ vựng sóng biển để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ sóng

Như thế với phương thức ẩn dụ, để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ, các tác giả cần trải qua một quá trình với nhiều công đoạn:

- Quan sát, nhận thức, cảm nhận, phát hiện ra đói tượng hàm chứa sự tương đồng với ý nghĩa thẩm mĩ định thể hiện

- Lựa chọn và sử dụng từ ngữ (tín hiệu ngôn ngữ) gọi tên đối tượng trong hiện thực

- Chuyển hóa tín hiệu ngôn ngữ thành tín hiệu thẩm mĩ: giữ nguyên cái biểu đạt, nhưng chuyển cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ thành cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ (ý nghĩa thẩm mĩ)

1.2.4.2 Phương thức hoán dụ

Phương thức hoán dụ khi xây dựng tín hiệu thẩm mĩ cũng cùng một nguyên tắc với phương thức hoán dụ trong ngôn ngữ thông thường: dựa trên quan hệ tương cận Quan hệ tương cận không chỉ là sự gần gũi về không gian,

mà có mối quan hệ gắn bó với nhau, luôn đi đối với nhau, kéo theo nhau hay tồn tại song song với nhau Chẳng hạn, trong ngôn ngữ thông thường người

và các bộ phận cơ thể nằm trong quan hệ tương cận, do đó có thể dùng từ tên

gọi bộ phận cơ thể để chỉ cả con người: miệng (nhà tôi có năm miệng ăn), tay (nó là một tay bóng bàn cừ khôi), tim (một túp lều tranh hai trai tim vàng), Hoán dụ trong ngôn ngữ thông thường rất đa dạng Còn trong văn

chương, khi xây dựng tín hiệu thẩm mĩ theo phương thức hoán dụ cũng có thể xuất phát từ nhiều phương diện khác nhau của mối quan hệ tương cận Chẳng

Trang 25

hạn, trong câu thơ:

Sống trong cát, chết vùi trong cát, Những trái tim như ngọc sáng ngời!

(Tố Hữu, Mẹ Tơm) Tim là một tín hiệu thẩm mĩ được xây dựng theo phương thức hoán dụ để

chỉ những người mẹ như mẹ Tơm giàu tình thương yêu các chiến sĩ cách mạng, giàu lòng yêu nước

Hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chủ yếu để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ từ các tín hiệu ngôn ngữ (những tên gọi các đối tượng từ hiện thưc khách quan hay từ vốn văn hóa hoặc trí tưởng tượng của con người)

1.2.5 Một số tính chất cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ

Để có một cái nhìn toàn diện hơn về tín hiệu thẩm mĩ, cần tìm hiểu một

số đặc tính thường được nói tới của THTM

1.2.5.1 Tính cấp độ

THTM trong tác phẩm gắn với các cấp độ trong tín hiệu ngôn ngữ Nếu quan niệm THTM nhữ một loại đơn vị hai mặt, có ý nghĩa thẩm mĩ, sẽ có các đơn vị THTM tương ứng với các tín hiệu đơn “có ý nghĩa trực tiếp” và những tín hiệu mới được kết hợp từ nhiều tín hiệu đơn Theo sự phân loại của Đỗ Hữu Châu, THTM được chia thành hai cấp độ:

Cấp độ thứ nhất là cấp độ cơ sở (các tín hiệu đơn): Là những THTM tương đương với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế giới khách

quan như: mây,mưa, gió, bão, mặt trời, con thuyền, bến nước…Nó mang ý

nghĩa biểu trưng nghệ thuật tương đối hoàn chỉnh trong tương quan với những yếu tố khác cùng tham gia vào quá trình biểu trưng nghệ thuật.Các tín hiệu cơ

sở này có chức năng cấu tạo nên THTM ở cấp độ cao hơn Thuộc phạm vi này, THTM có thể tương đương với đơn vị từ trong tín hiệu ngôn ngữ

Trang 26

Cấp độ thứ hai là cấp độ xây dựng (các tín hiệu phức): Là những THTM tương đương với nhiều sự vật, hiện tượng… được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản các tín hiệu đơn Nó mang ý nghĩa thẩm mĩ mới có tính chất tổng hòa và tương đối độc lập so với ý nghĩa của từng tín hiệu riêng lẻ tham gia trong nó Ở cấp độ này, THTM có thể tương đương với các đơn vị câu, đoạn, văn bản trong hệ thống các tín hiệu ngôn ngữ Mỗi THTM lúc này không còn là một yếu tố nào đó của hiện thực, mà là những sự kiện, những quá trình của đời sống hiện thực trong sự ghi nhận của tác giả

Trong khóa luận này, THTM được xét đến là những tín hiệu đơn Mỗi tín hiệu ứng với một yếu tố hiện thực (yếu tố tự nhiên, yếu tố con người) và được cụ thể, đa dạng hóa bằng các hình thức ngôn ngữ nhất định.Nghiên cứu các hình thức biểu đạt này sẽ là cách thức để phát hiện ra các ý nghĩa của các THTM

1.2.5.2 Tính hệ thống

Tính hệ thống là đặc tính quan trọng của THTM nói chung và THTM trong ngôn ngữ văn chương nói riêng Là THTM nghĩa là nó phải thuộc về một hệ thống, chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống Chỉ có thể hiểu được một THTM khi đặt nó vào trong hệ thống - môi sinh của nó Hệ thống quy định chiều hướng tạo nghĩa cũng như chiều hướng luận nghĩa của THTM Theo đó, mọi cấp độ chuyển hóa tinh tế, phức tạp nhất giữa nội dung

và hình thức trong THTM mới được làm sáng tỏ Nguyễn Lai đã nói tầm quan trọng của hệ thống: “Tính hệ thống không phải là bản thân tín hiệu, nhưng nó khống chế và điều chỉnh làm cho phẩm chất vốn có của tín hiệu (đặc biệt là tín hiệu ngôn ngữ) trở nên năng động hơn; đồng thời qua đó tạo ra được những trường hợp mới vô cùng đa dạng phản ánh nhận thức mới theo những phẩm chất khác nhau”

Hệ thống của THTM trước hết là tác phẩm được nó góp phần cấu thành

Trang 27

Các mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của nó bao gồm: các mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học và các mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học Giá trị của THTM là tổng hòa ý nghĩa của các mối quan hệ nội

- ngoại tại đó

(1) Những mối quan hệ trong văn bản tác phẩm văn học:

Mỗi tác phẩm văn học là một tổ hợp những THTM Cấu trúc một văn bản tác phẩm văn học hình thành trên mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau của THTM được sử dụng trong tác phẩm Những tín hiệu này, sau một quá trình lựa chọn, trở thành những yếu tố hiện diện trong tác phẩm và bắt đầu cuộc sống của nó trong văn bản, chịu sự quy định của kết cấu văn bản: những quy tắc cú pháp, quy tắc về sự cộng hưởng ngữ nghĩa của các yếu tố ngôn từ… Tuy nhiên, nếu chỉ xét THTM trong mối quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ khác trong văn bản tác phẩm văn học thì chưa đủ để giải thích quá trình đưa một yếu tố hiện thực vào THTM trong tác phẩm văn học và giá trị chân thực của nó trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật nói chung, cũng chưa đủ điều kiện để lĩnh hội hết tư tưởng nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm văn chương

(2) Những mối quan hệ bên ngoài văn bản tác phẩm văn học:

Mỗi hệ thống, trong sự hành chức của nó đều có những hệ thống khác làm môi trường hoạt động cho nó Nói đến tác phẩm văn học, không thể tách

nó ra khỏi một hệ thống chỉnh thể lớn hơn nó, quy định giá trị của nó, là cả một quy trình sáng tạo nghệ thuật bao hàm các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: quy trình cuộc sống - chủ thể sáng tạo - tác phẩm văn học - chủ thể tiếp nhận Bởi vậy, tác phẩm văn học không phải là sản phẩm tùy ý của người viết

mà là kết quả tổng hòa của các nhân tố giao tiếp, trong đó bao hàm cả người sáng tác, người tiếp nhận, cả cuộc sống với tư cách là nội dung được nói tới Những nhân tố đó chính là điều kiện chi phối quá trình lựa chọn một yếu tố

Trang 28

hiện thực nào đó để đưa vào tác phẩm thành THTM

Như vậy, hệ thống của THTM trong tác phẩm văn học phải được hiểu là

hệ thống bao gồm những nhân tố của quy trình sáng tạo Từ đó hình thành những liên hệ giữa một THTM với các nhân tố của quá trình sáng tạo này Đó là: THTM với toàn bộ những yếu tố còn lại trong văn bản tác phẩm văn học; THTM với phạm vi cuộc sống mà tác giả lựa chọn vào mục đích thẩm mĩ; THTM với hệ thống cảm xúc của chủ thể sáng tác; THTM với những tín hiệu lĩnh hội của chủ thể tiếp nhận Tính hệ thống của THTM nằm ở mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau giữa các nhân tố để tạo nên giá trị thẩm mĩ của tín hiệu

Ví dụ:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai…

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi chưa yên một bề”

(Ca dao)

Để hiểu được giá trị chuẩn xác và sâu sắc của tín hiệu khăn, chúng ta cần

đặt nó trong ngữ cảnh của toàn bài ca dao Các tín hiệu đi cùng báo hiệu tâm

trạng rối bời thương nhớ của kẻ tương tư“khăn - thương nhớ, em - lo phiền”

Có thể nói đây là cái khăn đã để lại dấu ấn rõ rệt nhất trong văn hóa và thơ ca Việt Nam với những khả năng đặc biệt có thể biến hóa như niềm vui, nỗi

buồn của con người Khăn trong ngữ cảnh này vốn cũng là cái khăn có sở chỉ, nhưng không còn là một yếu tố của hiện thực “là thứ hàng dệt, thường có hình dài hoặc hình vuông, dùng để lau chùi, chít đầu, quàng cổ, trải bàn…”, khăn ở đây đã được nhân hóa, có hồn, có tâm thức và biết “thương nhớ” Nỗi nhớ thương bồi hồi, da diết, đằm sâu đến mức đứng ngồi không yên, “vắt lên

Trang 29

vai” lại “rơi xuống đất” và rồi phải “chùi nước mắt” Đây là một nỗi nhớ “có không gian”, khiến người con gái ôm nỗi nhớ âm thầm trong câu ca dao phải

trăn trở nhiều chiều Không gian thì trải ra nhiều chiều, nhiều hướng còn nỗi nhớ thì lại quanh quẩn ở một hướng khiến cho con người cứ rối bời trong

những nỗi niềm không yên Hình ảnh khăn có giá trị như một biểu tượng cảm

tính trĩu nặng tâm tình của người con gái đang yêu

Tóm lại, THTM cần được đặt trong một hệ thống nhất định chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống đó Xem xét THTM trong hệ thống một câu ca dao hay một bài ca dao cũng chính là xem xét nó trong ngữ cảnh tu từ Khi giải mã một THTM nhất thiết cần phải tìm ra ngữ cảnh tu từ của THTM đó Chỉ trong ngữ cảnh tu từ, giá trị của THTM mới được khám phá một cách đầy đủ, sâu sắc

1.2.5.3 Tính biểu hiện

Một trong những chức năng quan trọng của nghệ thuật là phản ánh hiện thực gắn với thuộc tính biểu hiện Sự biểu hiện trong ngôn ngữ văn chương cũng có nhiều cấp độ Cái cốt yếu mà ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện không chỉ là đặc điểm, thuộc tính, trạng thái của hiện thực đời sống mà còn là toàn

bộ thế giới cảm xúc và sự tri nhận về đặc điểm, thuộc tính, trạng thái ấy của một chủ thể nhất định Tuy nhiên, ngôn ngữ thông thường nhiều khi không thể chuyển tải hết được những điều đó, vì vậy đòi hỏi phải có một phương tiện nghệ thuật đặc biệt, chính là THTM

Sự biểu hiện hiện thực của THTM nói chung đều dựa trên khả năng miêu

tả, thay thế, dẫn nhập các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào tác phẩm Trong văn học, đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực, phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác, nhận thức, cảm xúc của con người lại

là thứ luôn vận động và biến đổi không ngừng, bởi vậy lượng thông tin biểu

Ngày đăng: 30/08/2018, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập I, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2003
2. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Đào Thị Dương (2015), Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Đào Thị Dương
Năm: 2015
5. Nguyễn Nghĩa Dân, Ca dao Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
6. Đinh Gia Khánh (chủ biên); Nguyễn Xuân Kính, Phan Hồng Sơn (biên soạn), Ca dao Việt Nam, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Nhà XB: Nxb văn học
7. Bùi Minh Toán (2012), Ngôn ngữ với văn chương, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với văn chương
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w