Thăng Long Hà Nội là một trong những địa phương có nhiều làng nghề nhất của cả nước. Nhiều làng nghề của Hà Nội phản ánh những trang lịch sử, kinh tế, văn hoá... quan trọng của dân tộc ta trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Do vậy, giá trị của những làng nghề Hà Nội không chỉ có ý nghĩa to lớn với người dân Thủ đô hôm nay và mai sau, mà nó còn có ý nghĩa với đồng bào cả nước và bè bạn quốc tế.Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát huy tiềm năng, sức mạnh của các làng nghề Thăng Long Hà Nội có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, các làng nghề Hà Nội ngày càng cần hơn sự quan tâm của đồng bào Thủ đô, của nhân dân cả nước và bè bạn quốc tế trong quá trình bảo tồn, sử dụng... để ngày càng phát huy giá trị to lớn của nó trong đời sống, góp phần tích cực vào thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô và cả nước trong thời kỳ mới.
Trang 1HỎI ĐÁP VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG THĂNG LONG – HÀ NỘI
Thăng Long - Hà Nội là một trong những địa phương có nhiều làng nghề nhất của cả nước Nhiều làng nghề của Hà Nội phản ánh những trang lịch sử, kinh tế, văn hoá quan trọng của dân tộc ta trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Do vậy, giá trị của những làng nghề Hà Nội không chỉ có ý nghĩa to lớn với người dân Thủ đô hôm nay và mai sau, mà nó còn có ý nghĩa với đồng bào cả nước và bè bạn quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát huy tiềm năng, sức mạnh của các làng nghề Thăng Long
-Hà Nội có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức Vì vậy, các làng nghề -Hà Nội ngày càng cần hơn sự quan tâm của đồng bào Thủ đô, của nhân dân cả nước và bè bạn quốc tế trong quá trình bảo tồn, sử dụng để ngày càng phát huy giá trị to lớn của nó trong đời sống, góp phần tích cực vào thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và cả nước trong thời kỳ mới.
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG THĂNG LONG – HÀ NỘI
Câu hỏi 1: Vị trí địa lý, chính trị, kinh tế của Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử?
Trả lời:
Hà Nội được coi là Thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miền Bắc Việt Nam Các mạch núi Tây Bắc, Việt Bắc đều dồn về đây (Ba Vì, TamĐảo), các dòng sông cũng dồn về đây để rồi tỏa ra thế "chúng thủy triều đông" Các cụ xưa đã dạy: "hội nhân như hội thủy", đấy là khu "đất lành chim đậu",
là mảnh "đất thiêng", xứng đáng là "Thượng đô của cả nước", "của muôn đời" (Chiếu dời đô).
Từ trước thế kỷ 3 - 4, nội thành Hà Nội và vùng ven đô là những làng quê thuộc bộ (hay bộ lạc) Tây Vu đời Hùng Vương và Thục Phán, là huyện Tây
Vu và Phong Khê thời thuộc Hán, huyện Vũ An thời thuộc Ngô (thế kỷ 3) và huyện Nam Định thuộc Tấn (thế kỷ 4) Tới giữa thế kỷ 5, từ địa vị một làng,
Hà Nội cổ trở thành huyện thời Hiếu Vũ Đế nhà Lưu Tống (454 - 456) Tống Bình Cái tên Tống Bình đã đánh dấu một thời kỳ đen tối bị phụ thuộc vàophương Bắc Rồi thế kỷ 6, Hà Nội lại trở thành một châu (Tống châu) Lý Nam Đế với con mắt tinh đời không đóng đô ở đất Thái Bình quê nhà, năm 544 đãdựng đô ở Hà Nội ngày nay, lập nước Vạn Xuân để mở đường cho các triều đại Lý, Trần, Lê sau này; xây chùa Khai Quốc (nay là Trấn Quốc), dựng điệnVạn Thọ và đắp một tòa thành ở cửa sông Tô Lịch (năm 545) để ngăn chặn quân xâm lược nhà Lương
Hà Nội - Tống Bình thời đó khá đông đúc, Giao Châu có 55 hương thì Tống Bình chiếm 11 hương với dân cư cả nội ngoại thành là 11 vạn Con số 40vạn gian nhà trong nội thành Đại La đã gợi cho ta một ý niệm về số dân Hà Nội đương thời Thế rồi đến thế kỷ 7 - 8, Hà Nội đã trở thành một "An Nam đô
hộ phủ" có thành và có thị Nó là một đô thị hiếm hoi của đất Việt và Đông Nam á, nó là một kẻ Chợ của hàng ngàn kẻ quê thôn dã
Trang 2Do nhận ra được vị thế ưu việt của mảnh đất Hà Nội, đưa nó lên một vị trí lịch sử, công lao đầu tiên ấy thuộc về Lý Bí - người đứng đầu nhà nước VạnXuân thế kỷ 6 Mùa thu năm Canh Tuất (1010), Lý Công Uẩn vì mưu toan nghiệp lớn, tính kế "muôn vạn đời" đã quyết định dời đô, đổi tên Đại La thànhThăng Long, giữ vị trí là kinh đô của cả nước Thế là từ một làng nhỏ ven sông Tô, trải qua thành Vạn Xuân (thời Tiền Lý), thành Tống Bình - Đại La (thờiTùy Đường), đầu thế kỷ 11, Thăng Long đã trở thành một vùng dân cư tập trung và cơ sở ban đầu của thành phố Hà Nội.
Câu hỏi 2: Sự xuất hiện làng nghề Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội như thế nào?
Trả lời:
Bên ngoài cấm thành (nơi đầu não của Nhà nước trung ương tập quyền gồm đền đài cung điện), là những làng xóm nông nghiệp, những phố phường thủcông, thương nghiệp và những bến chợ tấp nập, đông vui Không có tài liệu nào ghi chép dân số Thăng Long thời Lý là bao nhiêu, song có lẽ phải tới con sốhàng vạn Bởi ngoài những người gốc gác ở đây phải kể đến hoàng tộc, quan lại, sư sãi, nô tỳ… Riêng quân lính trong đội Điện tiền cấm quân, trên trán cóthích chữ "Thiên tử quân", làm nhiệm vụ bảo vệ cấm thành (khoảng 3.200 người) Đó là chưa kể người bốn phương tụ họp lại bởi những hoàn cảnh và lý dokhác nhau; hoặc là đi theo người trong họ mình, làng mình ra kinh đô ở vì có công ích, đi làm quan, hay đi học, hoặc phải đi ra hành nghề theo lệnh của triềuđình như dân Đông Các, Ngũ Xã; hoặc đi tìm kế sinh nhai như phần lớn dân ở các phường phố, thôn trại Hà Nội Việc di cư của dân các làng xã như thế kéodài đến thế kỷ 19, ví như ba họ Tống, Nguyễn, Lê từ vùng Thanh - Nghệ ra ở làng Trung Phụng, người Giói Tó (Bắc Ninh) ra lập phố Hàng Mành, người
Đào Quạt (Hưng Yên) ra mở phố Hàng Quạt… Sự biến động dân cư này được Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác tả rõ trong: Thượng kinh ký sự: "… Mọi
người đua nhau dồn về quanh kinh đô, cố nhanh chân rảo bước như tranh nhau đến thành nước Yên ngày xưa vậy"
Thăng Long xưa cũng giống như các thành thị phương Đông, tuy có phân biệt với nông thôn nhưng không tách biệt khỏi nông thôn Chạy dọc theo bờsông Hồng và bao quanh Hồ Tây là vùng đất bãi rất thích hợp với nghề trồng dâu nuôi tằm Dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và dệtlụa Bên Hồ Tây còn có trại tằm tang, thời Lý nhà vua đày các cung nữ bị tội đến đây làm lao dịch Công chúa Từ Hoa, con vua Lý Thần Tông đã xin cha rađây để dạy các cung nữ chăn tằm dệt vải Đến nay dấu tích của bến trúc Nghi Tàm, nơi các cung nữ giặt lụa, vẫn còn đó Sau khi công chúa qua đời, ngườidân lập chùa Kim Liên trên nền cung Từ Hoa, phường Tích Ma (tên trại tằm tang đời Trần), phường Nghi Tàm
Phía tây - bắc Thăng Long là ruộng "quốc khố" của Nhà nước trên địa bàn Cảo xã (nay thuộc xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm) Những tội nhân bị đày đến đây gọi là
"cảo điền hoành" phải làm việc vất vả và nộp tô rất nặng Ruộng hạng thấp nộp 680 thăng/mẫu, hạng hai nộp 400 thăng/mẫu, hạng ba 100 thăng/mẫu…
Đó là chưa tính đến những nếp sống, thói quen, nghề nghiệp, rồi những sinh hoạt tín ngưỡng, hội hè… mà người bốn phương từ làng quê mình ra đấtkinh kỳ khiến cho thành thị Thăng Long - Kẻ Chợ mang đậm dấu ấn của kẻ quê thôn dã xóm làng
Trang 3Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế thì đặc trưng của thành thị, của Thăng Long không phải là nông nghiệp, mà là thương nghiệp và thủ công nghiệp Do nhucầu của xã hội (vua quan, binh lính, thị dân), do vị trí làm ăn buôn bán thuận tiện, thợ thủ công và thương nhân các nơi đổ về Thăng Long, phường thủ công
và phố xá xuất hiện khá nhanh Khu vực đông - bắc lấy Cửa Đông làm giới hạn là khu thương mại lớn nhất của Thăng Long Cửa Đông xưa ở trước phốHàng Buồm ngày nay mà dấu tích còn lại là đình Cửa Đông ở số 8 Hàng Cân và chùa Cửa Đông ở số 38b Hàng Đường Nơi đây tấp nập phố phường, chợbúa trên bến dưới thuyền (bến cảng sông Tô - Giang Khẩu và bến Triều Đông - Hòe Nhai) Các nghề thủ công tuy nằm rải rác ở nhiều phố phường nhưngtập trung hơn cả vẫn là khu Đông và Tây với các nghề giấy, dệt, gốm, nhuộm, rèn, mộc… Xen cạnh các phố nghề, phường nghề là xưởng thủ công của Nhànước do bộ Công quản lý như xưởng đóng thuyền, xe kiệu, rèn vũ khí, đúc tiền,…
Cùng với bộ phận dân cư các phường nghề, phố nghề, chợ bến ngày càng phát triển, năm 1230, nhà Trần hoạch định lại, chia Thăng Long thành 61phường Tuy nhiên tư liệu chưa cho ta biết đầy đủ đó là những phường nào mà chỉ ghi lại một số tên phường như Cơ Xá, An Hoa, Giang Khẩu, Phục Cổ,Tây Nhai… Có lẽ triều đại Lý - Trần đã hành chính hóa đơn vị kinh tế phường (hội) để tiện quản lý Dẫn chứng là ở ngoại thành Hà Nội có một xóm tên gọi
là xóm Hàng Quang và phường Hàng Quang Vậy việc đồng nhất tên gọi xóm và phường như vậy hẳn phải có nguyên do của nó Xưa kia xóm này đã có tổchức phường hội, họ chuyên mua tre nứa, song mây từ bến Chèm về làm quang, đan lạt
Sự phát triển của Thăng Long đã ảnh hưởng không nhỏ tới những vùng xung quanh Một số làng ven đô đã hình thành những làng nghề thủ công, trong
đó có làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm) Thời Trần (1274), Thăng Long cũng tiếp nhận khá nhiều thương nhân và cư dân nước ngoài đến buôn bán Ba mươithuyền Trung Quốc được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán ở phường Mai Tuân Những thương nhân người Hồi Hột, người Nam Dương, người Hoa
ra vào tấp nập Điều này tạo cơ hội cho các nghề thủ công có thị trường trao đổi và tiêu thụ
Thế kỷ 15 (1406), nhà Lê đặt kinh đô thành phủ Trung Đô gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương Năm 1469, phủ Trung Đô đổi thành phủ PhụngThiên gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường Vậy là Thăng Long đời Trần có 61 phường, Thăng Long (Đông Kinh) thời Lêrút lại còn 36 phường Con số 36 phố phường Hà Nội bắt đầu từ đây
Thực ra, phường lúc này vừa là một đơn vị hành chính cơ sở (như xã) vừa là tập hợp những người cùng hành nghề
Dân cư của 36 phường Đông Kinh làm ăn buôn bán rất sầm uất, đặc biệt là những phố phường thủ công: Phường Tàng Kiếm (Hàng Trống?) làm kiệu,
áo giáp, đồ đài, mâm võng, dù, lọng…; phường Yên Thái (Bưởi) làm giấy; Phường Thụy Chương (Thuỵ Khuê) và phường Nghi Tàm dệt vải thô và lụa;phường Hà Tân (sau gọi là Giang Tân) nung vôi; phường Hàng Đào nhuộm điều; phường Tả Nhất (cuối phố Huế?) làm quạt; phường Đồng Nhân bán áodiệp Đồ cống có gấm, đồ thêu, hương xạ cùng ba loại kim (vàng, bạc, đồng)
Trang 4Bao quanh và đan xen vào những phố phường là màng lưới chợ phong phú và đa dạng Có những chợ nổi tiếng như chợ Cầu Đông, chợ Đông Thành,chợ Bạch Mã hay chợ Đông, chợ Hoàng Hoa hay chợ Tây, chợ Quyến, chợ Đinh… Lại có những chợ phiên để thợ thủ công hay cả người buôn hàng "tấm"đến đó mua bán Hãy thử xem lịch trình của các phiên chợ tơ lụa:
- Ngày mùng 1 và mùng 6 âm lịch: chợ Hàng Ngang và Hàng Đào
- Ngày mùng 2 và mùng 7: chợ đình Vạn Phúc
- Ngày mùng 3 và mùng 8: chợ làng La Khê
- Ngày mùng 6 và mùng 10: chợ Cầu Đơ
Trong sách Phố phường Hà Nội xưa, tác giả Hoàng Đạo Thuý đã mô tả cảnh mua bán nhộn nhịp của Hàng Đào như sau: "Cứ sau hôm chợ Cầu Đơ một
ngày tức là ngày mùng 1 và mùng 6 thì đến phiên chợ hàng Tơ Hàng Đào hôm ấy nhộn nhịp Người các làng La Cả, La Khê ra bán the Người Đại Mỗ đembán cấp, lụa, đũi Các loại gấm vóc thì phải thửa ở Vạn Phúc Làng Tây Hồ, làng Bưởi đem lĩnh đến…"
Sản xuất thủ công nghiệp giai đoạn này khá sôi động, thể hiện qua nhịp độ mua bán sản phẩm tại các phố phường hay phiên chợ Thế kỷ 17, người ta đã víchợ Thăng Long như những ngày hội, ai nấy đều bị chen lấn, vướng chân tứ phía, nên phải mất rất nhiều thì giờ mới đi được một quãng ngắn
Chính kết quả của những hoạt động thủ công đã làm cho kinh tế Thăng Long tăng trưởng một cách đáng kể, xứng đáng là một thành thị lớn của cả nước
Có điều, phố phường Thăng Long đến thế kỷ 18, từ một số ít bán đồ ăn thức uống như phố Hàng Bún, Hàng Cháo, Hàng Mắm, Hàng Rươi, Hàng Giò
còn hầu hết là bán sản phẩm thủ công phục vụ cho vua quan và đông đảo dân chúng Trong cuốn sách Miêu thuật vương quốc Đông Kinh, S.Baron đã nhận
xét về Hà Nội thế kỷ 18 như sau: "Tất cả các thứ hàng bày bán ở đô thị đều bán riêng ở từng phố, mà mỗi phố lại dành cho một, hai hay nhiều làng, mà
tại đấy"
Phải chăng đây là một đặc thù khiến cho phố phường Hà Nội có nét riêng khác hẳn các đô thị châu Âu và trong khu vực Nguyên nhân dẫn đến hiệntượng trên sẽ được nói kỹ ở phần sau Song qua đây, một lần nữa có thể thấy rõ sự hình thành các làng nghề, phố nghề đã thể hiện trình độ phân công laođộng xã hội, thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp (tuy tiến độ chậm chạp) và do đó, kinh doanh thủ công là thành phần kinh tế quan trọng tăng cườngcho đô thị Xét cho cùng, về hình thức, kinh tế làng nghề ở Việt Nam nói chung và Thăng Long nói riêng vẫn là hàng nông - thủ công - thương nghiệp
Trang 5Vì nông nghiệp là yếu tố quan trọng nên tâm lý tiểu nông ở các phường thợ rất nặng nề, đây sẽ là trở ngại lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước.
Nhận xét của S.Baron về phố phường Hà Nội quả là chính xác Tư liệu tuy không thật đầy đủ, song đến nay ta vẫn còn biết về Hà Nội 36 phố phườnggắn với những nghề thủ công truyền thống Trong số hơn 300 phố của Hà Nội hôm nay và 36 phố phường của Hà Nội xưa chắc hẳn không phải mỗi phốtương ứng với một phường hay mỗi phường là một phố Hơn nữa, năm tháng đắp đổi, mỗi phố xưa bắt đầu bằng chữ "Hàng" gắn với một loại hàng thủ côngnào đó thì nay đã thay đổi, theo cuộc sống mới đi lên Nhưng dẫu sao người Hà Nội hôm nay và cả mai sau vẫn cần nhớ và cần biết đến những phố xưa màmỗi tên phố đều gợi nhớ một quá khứ hào hùng của dân tộc, gợi nhớ những sản phẩm độc đáo hội tụ tài khéo léo của trăm nghề, trăm vùng
Làng gốm bát Tràng
Câu hỏi 3: Làng gốm Bát Tràng ra đời như thế nào?
Trả lời:
Khoảng 50 năm về trước, nếu ai có dịp đến thăm làng Bát Tràng hẳn sẽ thấy đôi câu đối viết trên cổng làng:
Lưỡng giới giang sơn đồ họa nhập
Trùng môn yên nguyệt thái bình khai
(Hai bên bờ sông đường vào làng như tranh vẽ
Khói lấp mặt trăng cổng làng mở ra cảnh thái bình)
Chỉ với 14 chữ mà địa thế làng Bát Tràng hiện ra một cách tài tình, có lối đi vào cổng làng, có khói lò gốm ngày đêm lan toả che cả mặt trăng Tác giảcâu đối này là cụ Giải nguyên Nguyễn Mộng Bạch, chính người làng Bát Tràng
Xã Bát Tràng hiện nay gồm hai làng Bát Tràng và Giang Cao gộp lại, là 1 trong 31 xã của huyện Gia Lâm, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh; từ năm 1961
thuộc ngoại thành Hà Nội Vậy tên gọi làng Bát Tràng có tự bao giờ? Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại vụ lụt lội xảy ra vào tháng 7 năm Nhâm Thìn,
niên hiệu Thiệu Phong thứ 12 (1352): "Nước sông lớn tràn lan, vỡ đê Bát - Khối, lúa má bị ngập… châu Khoái, châu Hồng… hại nhất"
Đê Bát - Khối, chính là đê Bát Tràng và Cự Khối, đều thuộc địa phận huyện Gia Lâm
Vào tháng 12 năm Bính Thìn, niêu hiệu Long Khánh thứ 4 (1376), sử chép việc vua Trần Nhân Tông mang 12 vạn quân đi qua "bến sông xã Bát" TheoĐào Duy Anh, xã Bát chính là xã Bát Tràng
Trang 6Có lẽ từ nửa sau thế kỷ 14 đã xuất hiện tên gọi xã Bát trong đơn vị hành chính Còn nếu căn cứ theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn vào giữa thế
kỷ 15 thì Bát Tràng chắc chắn đã có tên gọi từ thời Lê sơ
Quá trình thành lập làng xã Bát Tràng dường như liên quan đến sự tụ cư và chuyển cư được diễn ra một thời gian khá dài Tương truyền đầu tiên lànhững người thợ thuộc họ Nguyễn Ninh Tràng (Trường) từ Vĩnh Ninh (Thanh Hóa), nơi sản xuất loại gạch xây thành nổi tiếng trong lịch sử di cư ra
Tiếp đó là dân làng Bồ Bát (Bồ Xuyên, Bạch Bát) thuộc Ninh Bình cũng di chuyển ra Các cụ già truyền lại rằng, lúc đầu có năm cụ thuộc các dòng họ
Lê, Trần, Vương, Phạm, Nguyễn, đem gia quyến đến vùng có 72 gò đất trắng này lập nghiệp Họ sống quần tụ với những người dòng họ Nguyễn NinhTràng, lập thành phường sản xuất gốm, gọi là Bạch thổ phường Nghề gốm ngày một phát triển, số gia đình ở Bồ Bát kéo ra ngày một đông, nhiều nhất làvào giai đoạn Lê Trung Hưng Tới lúc này, ở Bát Tràng đã có 20 dòng họ khác nhau Đình Bát Tràng hiện còn giữ đôi câu đối ghi dấu việc chuyển cư này.Phiên âm:
Bồ di thủ nghệ, khai đình vũ
Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
Dịch nghĩa:
Đem nghề nghiệp từ làng Bồ ra, xây dựng đình miếu
Lòng dân thành kính tựa hương lan dâng cúng thánh thần
vẫn thuộc lòng bài "Bát Tràng phú", có thể xem như một bức tranh sinh động, khắc họa về mảnh đất và con người làng Bát:
Nước Việt, tỉnh Ninh, huyện Gia, làng Bát
- Xem dương cơ cũng lịch sự thay - so nhân vật cũng phong lưu rát (thật)
- Quanh co dòng tốn thuỷ, cõi đông nam một dải đầm sen - Trập trùng án càn sơn, phía tây bắc mấy lần bãi cát.
- Nối đuôi nhà ngói, lớp trước lớp sau, liền cánh tường vôi như tri, như trát.
- Đất thiêng này lắm người hiền, vận đỏ có nhiều kẻ phết (phất)
- Kẽ ngạch liền bên chúa, uy quyền tiếng sấm rầm vang Dài tay vớt lên trời, tiền của nước sông lưu loát.
- Nhà chập cheng tiếng ngựa xe - cửa thấp thoáng bóng tàn, bóng quạt
- Văn cùng vũ nổi danh ngoài nước, quan sang rạng rỡ, lẫy lừng; công với thương nức tiếng trong làng, hàng đắt rộn mù, xô xát.
Trang 7- Nắm hòn đã các cô các chị, cuộc vần xoay dưới
chan chát.
- Lò chen chúc anh em bạn hữu, quanh năm tuôn vẻ khói đen xì Bát no nê con cái vợ chồng, các thức đất màu men trắng toát.
- Buổi trưa, buổi sớm chợ lắm cá rau; chạn thấp chạn cao bên dềnh gỗ lạt.
Trong dân gian lại có câu chuyện nội dung tương tự như thế, duy chỉ có hai chi tiết kể khác đi ấy là thời điểm ba vị đi sứ là cuối thời Lý (đầu thế kỷ 13)
và tên vị thứ nhất là Hứa Vĩnh Cảo (vì chữ Cảo và Kiều giống nhau) Cốt lõi thực của câu chuyện này ra sao? Về tên họ, chức tước của ba vị này cũng chưa
có điều kiện xác định được Vả lại, tới nay cũng không có ai ở Bát Tràng thừa nhận Hứa Vĩnh Cảo là ông tổ nghề mình
Cũng dựa vào truyền thuyết, nhưng không biết căn cứ vào đâu mà trong cuốn sách Bàn về người Bắc Kỳ, một nhà nghiên cứu nước ngoài là Dumouchier
lại cho rằng: người dạy truyền nghề làm gốm ở nước ta là một thợ Trung Quốc tên là Hoàng Quảng Hưng Có lẽ ông ta định cư tại làng An Khê, tỉnh HảiDương và từ làng này đã chuyển đến Bát Tràng, Phù Lãng, rồi đến Thổ Hà vào năm 1465, dưới triều Lê Thánh Tông Nhưng kết quả điều tra sử học và khảo
cổ học Việt Nam cho thấy: ở Thổ Hà không có miếu thờ Hoàng Quảng Hưng Lịch sử lập làng của Thổ Hà còn khá rõ Đây là một trung tâm sản xuất đồsành Người Thổ Hà vốn di cư từ bên Quả Cảm sang, mà nay đến vùng Quả Cảm, ở đâu ta cũng gặp lớp gốm sàng tương tự Thổ Hà Nơi đây còn có đền thờ
bà chúa Sành, một cô gái bán gốm có nhan sắc, duyên dáng, điển hình cho xứ Bắc được tuyển vào làm cung phi của vua Trần Anh Tông Tìm hiểu thêm nữa
Trang 8thì được biết, ở Thổ Hà, tấm bia cổ nhất làng có niên đại 1692 nói rằng, lúc ấy dân làng Thổ Hà chỉ có 59 mẫu đất Thời kỳ phát đạt nhất của làng là thế kỷ
17 Cũng chỉ đến lúc này, dân làng Thổ Hà mới có điều kiện xây dựng các công trình công cộng của làng như đình, chùa, văn chỉ
Thực ra nghề gốm ở Việt Nam đã có một lịch sử phát triển từ rất sớm Hiện nay, khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra những dấu vết đồ gốm thô cóniên đại cách đây trên 6.000 năm Chuyển đến giai đoạn gốm Phùng Nguyên, Gò Mun, thời đầu các Vua Hùng, thì chất lượng gốm đã cao hơn, chắc hơn,với độ nung 800 - 9000C Các sản phẩm gốm trong giai đoạn này có xương gốm bước đầu được tinh luyện, kỹ thuật tạo dáng đẹp và tiện dụng hơn Hoa văntrang trí được thể hiện bằng các phương pháp chải, rạch, dập và in Người thợ gốm đã loại bỏ dần những yếu tố ngẫu nhiên, bắt đầu quan tâm tới cái đẹp vàcông dụng của từng chủng loại sản phẩm
Đến giai đoạn gốm men Đại Việt (từ thế kỷ 11 trở đi) một số trung tâm gốm đã hình thành trên đất nước ta như vùng gốm Hà Bắc, Thanh Hoá, ThăngLong, Đà Nẵng Những sản phẩm gốm dân dụng kết hợp với nghề làm gạch ngói đáp ứng yêu cầu xây dựng chùa, tháp như chùa Phật Tích (Bắc Ninh),Quốc Tử Giám (Hà Nội), tháp Chàm (Quảng Nam, Đà Nẵng)… Đặc biệt, ở thời Trần, có trung tâm gốm Thiên Trường Nam Định với các sản phẩm tiêubiểu như bát đĩa, bình lọ phủ men ngọc, men nâu…
Như thế thì phải đâu có sự truyền dạy của thợ gốm Tàu mới có nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà và Phù Lãng… Duy chỉ có truyền thuyết nói về việc dânlàng Bát Tràng từ Bồ Bát chuyển cư ra Bắc và định cư ở tả ngạn sông Hồng, phía dưới Thăng Long, để tiện chuyên chở nguyên liệu và thành phẩm… là phùhợp với thực tiễn lịch sử Nghề gốm ở Bát Tràng gắn liền với quá trình lập làng Do vậy, thời điểm chuyển cư hợp lý nhất của người Bồ Bát phải là khoảngcuối thời Trần (thế kỷ 15) và có thể coi đó là thời điểm mở đầu của làng gốm
Một thực tế cho thấy người làng Bát không thờ tổ nghề như các làng nghề thủ công khác Chỉ có điều vào các dịp lễ hội thờ Thành hoàng hàng năm, dânlàng rước các bài vị đề duệ hiệu, mỹ tự của các thần ra đình tế lễ, các dòng họ được rước tổ của mình ra phối hưởng Riêng họ Nguyễn Ninh Tràng, là họđầu tiên chuyển ra làng Bát, được quyền rước bát hương che lọng vàng, đi vào cửa giữa đình Còn các họ khác lần lượt rước bát hương che lọng xanh đi haibên Lễ hội làng Bát Tràng có nhiều trò chơi và những cuộc thi tài thật độc đáo Ngoài thi nấu cỗ, đánh cờ người (mà tướng đều là các bà), làng còn tổ chứcđua tài bằng những sản phẩm tinh xảo do người thợ chế tác ra Giải thưởng tuy không lớn nhưng đã động viên mọi người, khiến ai cũng cố gắng hết mình đểtạo ra những vật phẩm có giá trị vĩnh hằng Ai ai cũng háo hức tham gia, họ nghĩ rằng người được giải chính là được tổ nghề ban lộc, làm ăn sẽ khá giả,nghề nghiệp tiến triển suốt năm Đây cũng là vinh dự vô giá để mỗi người tự nâng cao tay nghề, hẹn đến năm sau lại cùng đua khéo đua tài
Câu hỏi 5: Vật phẩm làm nên sản phẩm gốm Bát Tràng là gì? Thợ Bát Tràng đã sử dụng những loại lò nung nào?
Trả lời:
Trang 9Với đôi tay khĩo lĩo, nhạy cảm vă tăi năng, người lăng gốm Bât Trăng đê thổi sức sống văo những khối đất vô tri vô giâc vă biến chúng thănh "văng".
Theo quan niệm của người xưa, nói đến câc vật phẩm bằng gốm lă nói đến sự kết hợp hăi hòa của ngũ hănh (Kim - Mộc - Thủy - Hoả - Thổ) Kim loại
ngđm trong xương vă trong men gốm, tạo ra vẻ đẹp, sự huyền bí của mău sắc Rơm, tre, củi, gỗ tạo ra ngọn lửa, tạo ra "hoả, biến", tâc nhđn của sự bền chắctrong xương gốm, mău sâng bóng rực rỡ của âo gốm Nước hoă với đất để tạo dâng gốm, minh họa câc biểu tượng của tđm hồn Lửa lă cha tạo ra phẩm chất,sắc thâi của gốm Đất lă mẹ tạo ra xương thịt của gốm Tất cả những yếu tố đó đê tâc thănh nín chất lượng của sản phẩm gốm Cầu mong sự thịnh vượng,người thợ gốm Bât Trăng thời xưa, mỗi khi phât hỏa, nhóm lò lại thắp ba nĩn hương khấn cầu cho "ngũ hănh" hanh thông, nghề nghiệp phât triển
Lúc đầu, người thợ Bât Trăng khai thâc đất sĩt trắng ngay tại chỗ Chất liệu năy đảm bảo tính dẻo, ít bê vă ít phải gia cố trước khi tạo hình Cho đếnkhoảng cuối thời Lí, câc gò đất sĩt trắng ở phường Bạch Thổ đê cạn, người thợ Bât Trăng dùng đất ở Rau (Sơn Tđy), Cổ Điển (Vĩnh Phúc) vă đặc biệt lă đấtDđu Canh (Đông Anh) Từ cuối thời Lí trở đi, người thợ Bât Trăng sử dụng đất sông Dđu lăm nguyín liệu chính Sau đó, họ còn sử dụng đất cao lanh TửLạc vă Bích Nhôi, đất sĩt trắng Hổ Lao vă Trúc Thôn (Đông Triều) Đđy lă nguyín liệu để sản xuất đồ sănh trắng
Trong khđu tạo dâng đồ gốm, trước đđy ở Bât Trăng phổ biến lă lối be chạch vuốt tay trín băn xoay Tuỳ theo vật dụng định lăm mă người thợ dùngchđn để xoay, dùng tay để vuốt Kết quả lă họ đê tạo ra những sản phẩm đơn chiếc Kiểu vuốt tay năy hiện nay ở Bât Trăng không phải người thợ gốm năocũng lăm được Gần đđy, tính công nghiệp của sản phẩm gốm đê được đẩy mạnh hơn khi xuất hiện câc loại khuôn gỗ vă khuôn thạch cao Người thợ sângtâc ra một mẫu năo đó gọi lă cốt Sau đó, người ta lăm khuôn để sản xuất ra lăng hoạt Ưu điểm của loại hình kỹ thuật năy lă lăm ra mặt hăng giống nhau,giâ thănh hạ
Chế tạo men gốm lă một bí quyết nhă nghề Khoảng cuối thế kỷ XIV về trước, men ngọc đê được chế tạo từ hai thănh phần chính lă đất sĩt trắng phườngBạch Thổ vă ôxit đồng dạng bột tân nhỏ Từ thời Lí sơ trở đi (đầu thế kỷ 15), người thợ Bât Trăng đê chế tạo ra loại men gio, có mău trắng đục Đđy lă loạimen được chế từ ba thănh phần chính Đất sĩt trắng phường Bạch Thổ, vôi sống để tở, tro dđy lđu cụt vă tro cđy sung
Ngoăi loại men gió, người thợ Bât Trăng đê chế ra loại men nđu sô-cô-la Men năy bao gồm men gio cộng thím 5% đâ thối (hỗn hợp ôxi tsắt vẵxitmăng-gan) lấy từ Phù Lêng (Bắc Ninh)
Cũng từ thế kỷ 15, người thợ gốm Bât Trăng còn chế được men lam nổi tiếng Loại men năy được chế từ đâ đỏ (ôxit cô-ban), đâ thối (ôxit măng-gan)nghiền nhỏ rồi trộn với men âo Men năy phât mău ở nhiệt độ 1250C Cho đến đầu thế kỷ 15, một loại men mới đê được khâm phâ: men rạn Đđy lă loại menđược điều chế từ vôi sống, gio trấu vă riíng thănh phần cao lanh Tử Lạc được thay thế bởi cao lanh mău hồng nhạt lấy tại chùa Hội (Bích Nhôi, Hải Dương)
Tỷ lệ của ba thănh phần năy được gia giảm để tạo ra câc loại men rạn khâc nhau
Bao nung được coi lă một trong những khđu quan trọng của kỹ thuật nung Chính những viín gạch vuông - sản phẩm đặc biệt của lò gốm Bât Trăng xuấthiện lă do yíu cầu của cấu trúc lò, đồng thời cũng lă những bao nung sản phẩm
Trang 10ở Bát Tràng còn truyền tụng đôi câu đối ca ngợi kỹ thuật nung gốm:
Bạch lĩnh chân truyền, nê tác bảo
Hồng lô đào chú, thổ thành kim
Nghĩa là:
Núi đất trắng truyền nghề, bùn thành vật quý
Lò rực hồng hun nặn, đất hóa nên vàng
Giải quyết xong vấn đề xương gốm, tạo dáng men, bao nung, người thợ quan tâm đến việc chế ngự lửa Để tạo ra nguồn lửa hữu ích, người thợ gốm BátTràng không chỉ tiếp thu những điểm ưu việt của các lò gốm địa phương, mà còn không ngừng cải tiến, hoàn thiện và sử dụng nhiều loại lò khác nhau Chođến nay, ở Bát Tràng đã sử dụng các kiểu lò ếch (có người gọi là lò cóc), lò đàn, lò bầu và
lò hộp
Lò ếch là một kiểu lò gốm cổ nhất ở nước ta Nó được hoàn thiện dần nhằm tăng nhiệt độ trong lò, dung tích chứa sản phẩm và đặc biệt là hệ thốngthông khói kết hợp với việc giữ nhiệt và điều hoà nhiệt trong bầu lò Các công trình nghiên cứu qua tài liệu khai quật khảo cổ học ởBắc Ninh và Hải Dương - Hưng Yên cho biết có thể phục hồi kiểu lò ếch cổ của Bát Tràng Kiểu lò này có dáng như một con ếch nằm, dài khoảng 7m, bềngoài chỗ phình rộng nhất khoảng 3 - 4m Cửa lò rộng khoảng 1m20 và cao 1m Đáy lò phẳng, nằm ngang Vòm lò chỗ cao nhất từ 2m đến 2m70 Bên hông
lò có một cửa ngách rộng khoảng 1m, cao 1m20 để người thợ gốm chồng và dỡ sản phẩm Tiếp cận phía sau gáy lò có ba ống khói thẳng đứng cao khoảng3m đến 3m50 Lò được định hình bằng gạch dân dụng (trừ vòm lò) Sau đó mặt bên trong và sàn lò được gia cố bằng một lớp sét màu hồng lấy ở Dâu Canhhoặc Đáp Cầu, dày chừng 6cm Trong một bầu lò được chia ra năm khu vực xếp sản phẩm: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt.Trong quá trình vận hành, người thợ đã phát hiện nhược điểm của lớp đất gia cố nên thay bằng lớp gạch mộc và vữa ghép bằng chính loại đất làm gạch.Phát hiện ngẫu nhiên này đã tạo ra những viên gạch Bát Tràng nổi tiếng Chất liệu chế tạo loại gạch này gồm có đất sét Đáp Cầu hoặc đất khai thác tại DâuCanh Một trong hai loại đất trên trộn thêm với gạch chín vỡ đập nhỏ theo một tỷ lệ nhất định, sau đó được đóng theo kích thước 30cm x 30cm x 3,5cm đến5cm hoặc 30cm x 15cm x 3,5cm đến 5cm
Cho tới giữa thế kỷ 19, ở Bát Tràng đã xuất hiện lò đàn cùng kiểu với lò gốm cổ Phù Lãng (Bắc Ninh) nhưng được xây dựng với những kết cấu hoànchỉnh hơn nhiều và có hiệu nhiệt cao Bầu lò sâu 9m, ngang 2,5m và cao 2,6m, được chia ra 10 bích bằng nhau Các bích phân cách nhau bằng hai nống(cột) Cửa lò rộng 0,9m, cao 1,2m để người thợ vào chồng lò và đỡ lò Kế tiếp gáy lò là những buồng thu khí Bích số 10 thông với buồng thu khí qua ba cửahẹp Khói thoát ra từ bích đậu theo hai ống thu dần tới miệng Để giữ nhiệt, hông lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói Lớp vách trong ghép bằng gạch Bát
Trang 11Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng Mặt dưới của cật lò gần như phẳng còn mặt trên khung vòng lên tựa con thuyền úp Cật lò được tạo bằnghỗn hợp đất sét Cổ Điển trộn với gạch chín vỡ hoặc gốm vỡ nghiền nhỏ Hai bên cật lò, từ bích 2 đến bích 9 ứng với khoảng giữa mỗi bích có hai cửa nhỏhình tròn đường kính khoảng 0,2m, gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích Riêng bích đậu, lỗ giòi rộng hơn nửa mét, gọi là lỗ đậu Nhiệt độ lòđàn có thể đạt được từ 1.2500C đến 1.3000C Sản phẩm gốm men lò đàn rất phong phú và đó chính là nguồn gốc hình thành phố Bát Đàn ở Hà Nội.
Vào khoảng năm 1930, ở Bát Tràng bắt đầu xuất hiện và đi vào hoạt động kiểu lò bầu Lò bầu (còn gọi là lò rồng) tới nay vẫn đang được sử dụng Lò chianhiều ngăn, thường có 5 - 7 bầu Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như năm, bảy mảnh vỏ sò úp nối nhau Vòm cuốn lò dùngloại gạch chịu lửa Độ nghiêng của trục lò so với phương nằm ngang từ 12 - 150 Lò bầu có thể tích khoảng 50 - 70m3 Nhiên liệu chi phí từ 300 - 350kg(trên dưới 40% là củi, còn lại là than) Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt 1.3000C Lò bầu có ưu điểm là có thể điều khiển nhiệt độ thích hợp theo yêu cầu củaquá trình hóa lý phức tạp của sản phẩm, cho phép nung được những loại sản phẩm lớn và có chất lượng cao
Lò hộp mới xuất hiện ở Bát Tràng từ những năm 1970 trở lại đây Lò có kết cấu đơn giản và chi phí ít, do vậy thuận lợi cho mọi gia đình sản xuất Nhiênliệu dùng đốt lò hộp chủ yếu là than cám, nên nhiệt độ trong lò khi đốt đạt tới 1.2500C Hiện nay, Bát Tràng đã có 60 lò ga hiện đại để dần thay thế cho lò hộpvốn vẫn còn nhiều nhược điểm
Những thế kỷ trước đây, quy trình sản xuất của các lò gốm Bát Tràng ra sao nay không đủ tài liệu để tìm hiểu Còn bây giờ, vào thăm xí nghiệp BátTràng hay một hợp tác xã hoặc một gia đình làm gốm quy mô, ta có thể hiểu được đầy đủ quy trình làm gốm
Câu hỏi 6: Để tạo nên một sản phẩm, người thợ gốm Bát Tràng đã phải trải qua bao nhiêu khâu?
Trả lời:
Để tạo nên một sản phẩm, người thợ gốm Bát Tràng đã phải trải qua ba khâu chính: chế đất, tạo hình, chồng và đốt lò
Khâu chế đất
Chế đất có hai loại: chế đất làm hàng và chế đất làm bao hàng
Chế đất làm hàng: Tuỳ theo từng loại đất, có chất đất sử dụng được ngay không phải pha chế, nghiền lọc như đất sét trắng khai thác tại phường Bạch
Thổ ở thời kỳ đầu, đất non màu vàng xám của Dâu Canh; có loại phải pha chế, nghiền lọc là đất của Đông Triều (làm hàng gốm trắng) pha chế theo tỷ lệ: 7,5phần cao lanh, 2,5 phần sét trắng
Trang 12Trường hợp thứ nhất: Đất mua về được đổ vào tàu (bể) ngâm khoảng 3 - 4 tháng cho đất nát ra Khi đất đã chín, người thợ chế đất dùng cuốc xới đi đảolại nhiều lần cho thật nhuyễn rồi vun thành từng đống, sau đó dùng nề (kéo xắt đất) mỏng từng lớp, lần lượt vào tận lõi Trong khi xắt, gặp tạp chất như rác,sạn… thì loại ra Xắt xong thu đất vun thành đống, lại đảo cho thật nhuyễn rồi mới chuyển giao cho thợ vuốt hoặc in.
Trường hợp thứ hai: Đất mua về hong cho khô, đem nghiền hoặc đập nhỏ và bể đất, múc vào ngăn số 1, trộn đều với nước Nước hoà với đất tinh khiếtcho chảy sang ngăn số 2 Khi bể đầy, người thợ để lắng, chuyển vào bể hút Đất ở bể hút ráo đủ độ, được vò đi vò lại cho dẻo mới đưa vào vuốt hoặc in
Đất làm bao hàng: Được lấy ở nhiều nơi, nhưng phải chọn có màu xám sẫm, trộn đều với bột gạch vỡ, nghiền nhỏ theo một tỷ lệ nhất định, dùng hỗn
hợp này đem in bao hoặc đóng gạch ghép vào ruột lò
Khâu tạo hình
Khâu tạo hình bao gồm năm công đoạn: tạo hình, sửa hàng mộc, trang trí, làm men và sửa hàng men
Tạo hình:
Bao gồm các thao tác: Vuốt, be, chạch, đắp nặn và in
Vuốt: Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho nhuyễn, cuốc thành thơi để ném (bắt nẩy) cho thu ngắn lại.
Làm như vậy vài lần, đặt vào giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt Sau đó, người thợ lại nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới định cữ đất và ra hương chủyếu bằng hai ngón tay bên phải Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết, người thợ sẽ dùng sành dằn để định hình sản phẩm Sảnphẩm xén lợi và bắt lợi xong thì được cắt chân đưa ra hàng vào bửng
ở công đoạn này, người thợ là phụ nữ dùng bàn xoay quay bằng chân Thợ nam giới dùng bàn xoay quay bằng tay, nặng đà hơn
Trước kia, vuốt bát hoàn toàn do phụ nữ làm Khi vuốt bát, với tư thế ngồi dùng chân đạp bàn xoay, kín đáo, họ đã phải dùng lạt khít hai gấu váy phíatrước và phía sau lại với nhau để hình thành hai ống và chân thì quấn vải như quấn xà cạp
Do cách vận hành bàn xoay, thợ nam giới dùng bàn tay để giật bàn xoay, phụ nữ thì dùng chân để đạp Cả hai động tác này đã gây ra sự dị dạng nghềnghiệp của những người thợ gốm Bát Tràng Nữ thì đi vòng kiềng (trọng tâm của cơ thể rơi vào mép ngoài của bàn chân), nam thì vai lệch và cột sống oằnsang một bên "vặn mình xà"
Be chạch: Be chạch cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà ống đất trước khi ra hương được lần lượt tách ra từng phần tương ứng
với mỗi sản phẩm vuốt nặn Người thợ vừa be, vừa kéo, vừa định hình sản phẩm trên từng khoảnh đất ấy Nhờ be chạch, người thợ đã giảm bớt động tác đặtđất vào bàn xoay Vuốt sản phẩm theo hình thức be chạch này chủ yếu dùng là thợ nam giới
Trang 13Đắp nặn: Hình thức đắp nặn chỉ để tạo hình cho vật phẩm không có dạng tròn xoay, chẳng hạn những sản phẩm có hình bầu dục, hình đa giác hay các
sản phẩm gốm công nghiệp Người thợ đắp nặn ngay một sản phẩm hoàn chỉnh, hoặc có thể đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm rồi chắp ghéplại sau Công việc đắp nặn sản phẩm chỉ dành riêng cho các nghệ nhân, thợ khéo Loại sản phẩm chế theo kiểu này thường chỉ làm đơn chiếc, chủ yếu là đểtạo mẫu đổ khuôn thạch cao hoặc các sản phẩm để cung tiến, cống nạp trước đây
In: Nghĩa là tạo hình sản phẩm theo khuôn gỗ (sau này là khuôn thạch cao) Để in một sản phẩm, người thợ tiến hành những thao tác sau: đặt khuôn vào
giữa bàn xoay và ghìm chặt nhờ vào các khớp và các vấu, láng một lớp bột men giả đất khô trong lòng khuôn, ném mạnh đến in sản phẩm giữa lòng khuôncho bám chắc chân, vét đất, lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết để tạo sản phẩm
Sửa hàng mộc:
Bao gồm các thao tác: dồi, tiện và sửa
Dồi (cũng gọi là dàn): Sản phẩm sau khi đã định hình được phơi hong cho cương tay rồi đem ủ vóc, chờ sửa lại cho hoàn chỉnh Dồi một sản phẩm gồm
bốn động tác:
- Đặt sản phẩm trên bàn xoay, nhẹ đà người thợ vừa quay bàn xoay (dạo bàn) vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân (động tác này gọi là tắt hoặc thích)
- Dùng dùi vỗ nhẹ vào chân vóc cho đất ở chân vóc chặt lại Động tác này cũng có tác dụng làm cho sản phẩm tròn trở lại, gọi là lừa
- Dùng mây giang thí ngoài chân vóc, lượn bên ngoài quả góc rồi mổ trôn (khoét trôn sản phẩm)
- Dùng mây vòng áp vào thành phẩm để mặt sản phẩm chắc mặt, nhẵn và bóng
Tiện: Những sản phẩm in bằng khuôn phải "lấy chân lượn quả, sả vách" (nghĩa là tạo eo sản phẩm) và "lấy lợi" (gọi là tiện).
Sửa: bao gồm các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách…), khoan lỗ trên các sản phẩm,
tỉa lại đường nét hoa văn và chuốt nước cho mịn mặt Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay gọi là làm hàng bộ, nếu phải dùng đến bàn xoay thìgọi là làm hàng bán
Trang trí:
Bao gồm các thao tác đánh chỉ, đắp nổi, khắc chìm, vẽ, bôi men chảy
Đánh chỉ: Nghĩa là định những vòng tròn quanh miệng, thân hoặc chân sản phẩm bằng màu hoặc men màu.
Đắp nổi: Người thợ đắp đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa cho đẹp gọi là đắp nổi (cũng gọi là đắp phù điêu).
Khắc chìm: Nghĩa là khắc sâu các họa tiết trên sản phẩm (thường dùng cho các sản phẩm một màu men).
Vẽ: Người thợ dùng bút lông vẽ màu và men màu định hình, định cảnh trên sản phẩm.
Trang 14Làm men
Bôi men chảy: Men chảy (cũng gọi là men rươi) là một loại men trang trí, người thợ thường bôi men chảy trên miệng sản phẩm để khi nung, men sẽ chảy
toả xuống, tạo thành những đường nét tự nhiên
Phủ men:
Có bốn hình thức phủ men:
Đúc men: Láng men trong lòng sản phẩm
Kim men: Láng men bên ngoài sản phẩm
Quay men: Láng men cả bên trong lẫn bên ngoài sản phẩm cùng một lúc
Dột men và phun men: Người thợ áp dụng phương pháp này đối với những sản phẩm lớn
Đối với những sản phẩm mà xương đất có màu trước khi tráng men, trang trí họa tiết, người thợ láng sản phẩm bằng một lớp đất sét trắng Lớp láng này
lớp lót
Sửa hàng men
Sau khi sản phẩm đã khô men, người thợ tiếp tục tiến hành thêm bốn thao tác trước khi sản phẩm có thể đưa vào lò Đó là các thao tác: bôi men, cắt dò,
ve lòng và lừa (đối với bát đĩa), cao men chân (đối với hàng đơn chiếc)
Bôi men: Là quệt men vào những chỗ khuyết men trên sản phẩm.
Cắt dò: Là cạo men ở chân sản phẩm, vén men hai bên mép chân Có sản phẩm còn phải cạo men cả ở lợi.
Ve lòng: Người thợ đặt sản phẩm lên bàn xoay, dùng một thanh giang bẻ góc thước thợ tạo thành lưỡi ve rộng chừng 1cm (hiện nay dùng mây sắt có lưỡi
ve cố định), lưỡi ve được cà vào lòng sản phẩm để cạo men những chỗ cần thiết (chẳng hạn các hình vành khăn ở đáy bát nơi chân của chiếc bát khác sẽchồng lên khi xếp thành cọc bát đưa vào lò) Động tác xếp bánh thành dóng gọi là lừa (mỗi dóng bát có chừng 15 đến 20 chiếc)
Muốn giữ nguyên men trong lòng sản phẩm, người thợ thay thế động tác ve lòng bằng việc đặt các vật kê (gọi là đòn dong, nay gọi là toòng mấu) ở vị tríđáng ra phải là ve
Khâu chồng lò và đốt lò
Công việc cuối cùng để làm ra sản phẩm là hai khâu chồng lò và đốt lò:
Trang 15Chồng lò: Là công việc chồng xếp sản phẩm sau khi đã gia công hoàn chỉnh, cho vào lò để chuẩn bị đốt Việc chồng lò tuân thủ theo nguyên tắc chung:
tận dụng triệt để và hợp lý không gian trong lòng lò đốt (cách bố trí và xếp bao, hình và dáng cỡ bao, việc xếp lồng sản phẩm nhỏ trong lòng sản phẩmlớn…) tránh các sự cố do hỏa biến, bố trí một cách hợp lý điểm đặt các vật phẩm lớn và vật phẩm nhỏ trong lòng lò tương ứng với các vùng lửa táp vànhững vùng ấm lửa của lò, tiết kiệm nhiên liệu và đạt hiệu nhiệt cao nhất
Đối với lò ếch, sản phẩm được chồng dần từ gáy lò ra tới cửa lò Trong lò ếch, vùng ấm lửa nhất là khu vực giáp gáy lò Vùng lửa ưu việt nhất cho sản
phẩm đốt là khu vực giữa của tâm lò Vùng hàng dàn ngay sau bức ngăn bằng đá hộc là vùng sản phẩm vẫn hay bị táp lửa Vùng chứa hai hàng chuột chạy
là vùng kém lửa nhất của lò
Đối với lò đàn, sản phẩm được chồng xếp liên tiếp từ bích số 2 đến bích số 10 Riêng sản phẩm xếp ở bích số 10 để trần không có bao Bầu cũi lợn (bầu
số 1) dành để đốt nhiên liệu, đôi khi người thợ tận dụng nhiệt lượng cao của bầu cũi lợn để đốt các sản phẩm lớn ngoại hạng, chứa trong các bao cỡ lớn (gọi
là những thơi)
Đối với lò bầu, sản phẩm được chồng xếp tương tự như trong lò đàn
Đối với lò hộp, sản phẩm được đặt trong các bao hình trụ hở một đầu Những bao này xếp chồng cao dần, từ đáy lò lên đến nóc, kết hợp với việc kennhiêu liệu và chèn bao
Đốt lò: Mỗi kiểu lò chỉ phù hợp với một loại nhiên liệu đốt nhất định Vì vậy, khâu đốt lò liên quan mật thiết với hai yếu tố là nhiên liệu và tiến trình đốt Nhiên liệu: Kết quả khảo cổ học đã khẳng định, nhiên liệu đốt của lò ếch thời kỳ đầu là rơm rạ và củi tre nứa, còn thời kỳ sau là rơm rạ, củi phác và củi
bửa Nhiên liệu đốt của lò đàn cũng có hai loại là củi phác và cửi bửa Tại bầu cũi lợn, người thợ đốt củi phác, còn củi bửa được đưa qua các lỗ giòi và lỗđậu vào lò Người thợ gốm Bát Tràng có hai kinh nghiệm:
- Bốn loại gỗ không được dùng làm củi là sung, đa, gạo và vối
- Củi bửa và củi phác sau khi bổ được xếp thành đống nhiều tháng ngoài trời, phơi sương phơi nắng cho ải Nếu củi đốt trong lò toả mùi hôi thì sản phẩm
sẽ đẹp men
Nhiên liệu đốt của lò bầu trước kia toàn là củi, nay phối hợp với than Nhiên liệu đốt cho lò hộp chủ yếu là than cám, còn củi chỉ để gây lò
Tiến trình đốt của lò ếch tương tự với lò đàn và lò bầu Trong lò đàn, củi bửa được ném xuống từ các lỗ giòi và lỗ đậu Trong lò bầu, củi bửa được némqua các cửa ngách bên hông lò
Trang 16Ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn tiến trình đốt của lò đàn: Trong nửa ngày đầu, người thợ Bát Tràng đốt nhẹ lửa tại bầu cũi lợn nhằm sấy sản phẩm trong lò và toàn
bộ không gian lò Nửa ngày sau đó, lửa đốt ở bầu cũi lợn cứ tăng lên dần, cho đến khi lửa đỏ lan tới bích số 4 thì những người thợ dưới ngừng ném củi vàobầu cũi lợn Những người thợ đốt trên tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi Người xuất cả phát lệnh ngừng lửa đúng lúc, tương ứng với thời điểm chín củacác sản phẩm trong mỗi bích Tốc độ chín càng nhanh khi càng gần tới bích đậu Khi sản phẩm trong bích 9 sắp chín thì người xuất cả quyết định đánh đậu,nghĩa là tung 9 - 10 bó củi bửa qua mỗi lò đậu dồn dập trong 25 - 30 phút trước khi kết thúc chuyến lò
Vì trên nóc lò lúc vận hành nóng bỏng, nên những người thợ đốt lò được trang bị loại guốc đặc biệt, chế bằng gỗ mực hoặc gỗ sung có mũi cong lên nhưmũi hài, đế đẽo theo kiểu móng trâu và cao tới 15cm Quai quốc bện bằng những sợi mây Người thợ đốt lò phải đi đôi guốc cao đặc biệt như vậy vì phảiđánh đậu với nhịp độ dồn dập, nên lịch sử lò đàn cũng đã gắn với những tai nạn khủng khiếp
Đối với lò hộp, khi người thợ đã chồng lò xong cũng là lúc kết thúc việc đặt nhiên liệu vào lò và cửa lò hộp được bít lại bằng gạch chịu lửa Người thợchụm củi nhóm lò nhờ hai, ba ngăn dọc nhỏ dưới đáy lò: lửa bén và tự cháy âm ỷ từ đáy lò lên dần tới nóc Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc tiếntrình đốt
Câu hỏi 7: Sản phẩm gốm Bát Tràng gồm những loại nào?
Trả lời:
Sản phẩm gốm Bát Tràng vừa đa dạng về chủng loại, vừa phong phú về màu sắc và kích cỡ Song, có thể phân ra bốn loại chủ yếu sau đây:
Đồ dân dụng gồm hai dạng:
Sản phẩm gốm cỡ nhỏ có bát cơm, bát đá, chén, tách và be rượu…
Sản phẩm gốm cỡ vừa có bát yêu, ấm chuyên, ấm tích, liễn, thùng hoa bèo…
- Đồ thờ có bát hương, đỉnh trầm, cây đèn, độc bình, song bình, lộc bình (lọ cắm hoa ngày tết), ống cắm hương, lọ hoa và các loại chóe…
- Đồ trang trí nội thất và vườn cảnh có chậu hoa, đôn, nghê, voi, vịt, cá, tôm, cua, ve sầu cùng các loại phù điêu, đĩa treo tường…
- Gốm xây dựng có gạch lát nền và gạch trang trí kiến trúc
Trang 17Sản phẩm gốm Bát Tràng là mặt hàng được nhiều nước ưa chuộng vì vẻ đẹp hài hoà, độc đáo của hình dáng, màu men và nét vẽ Chính nhờ những bàntay tài hoa của người thợ gốm Bát Tràng mà biết bao sản phẩm gốm đã trở thành món lợi lớn của các thương nhân Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh,Pháp và Trung Quốc.
Đồ gốm men Bát Tràng dù xuất hiện ở đâu, vẫn toát lên vẻ đẹp riêng với cốt gốm dày dặn bởi lối tạo hình be chạch, vuốt tay trên bàn xoay, với nét vẽphóng khoáng, tự nhiên cộng với vẻ sâu lắng của lớp men phủ…
Hiện nay, tuy không còn dấu tích nào về một chiếc lò nung của Bát Tràng dưới triều Lê - Tây Sơn và Nguyễn, nhưng tại nhiều gia đình, nhiều đình chùatrong nước hay ở các bảo tàng quốc gia còn lưu giữ nhiều đồ gốm men được chế tạo tại Bát Tràng Trên một số vật phẩm còn thấy rõ họ tên, quê quán củangười thợ cùng với niêu hiệu triều vua trị vì
ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam còn lưu giữ những cây đèn và lư hương thuộc dòng gốm men lam và men rạn của nhiều tác giả làm gốm ở Bát Tràng: cây đènchế tạo vào khoảng niên hiệu Diên Thành (đời Mạc Mậu Hợp) 1578-1585 của Nguyễn Phong Lai và Bùi Nghĩa; cây đèn chế ngày 24 tháng 6 năm 1580 củaNguyễn Phong Lai và Hoàng Ngưu; cây đèn chế ngày 25 tháng 10 của Bùi Huệ và Bùi Thị Đỗ
Sang thế kỷ 15, ở lò gốm Bát Tràng vẫn phổ biến chế tạo các vật phẩm cây đèn, lư hương cùng nhiều loại hình khác Trong số đó cũng có nhiều chiếcđáng chú ý ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, có trường hợp như phần dưới của một cây đèn cho biết rõ: tác giả là xã trưởng xã Bát Tràng, họ tên là BùiĐào, thời gian chế tạo vào năm thứ 2 niên hiệu Hoằng Định, đời vua Lê Kính Tông (1602) Lại có cây đèn khác ghi rõ là do sinh đồ Vũ Xuân tạo tác năm
1613, cây đèn chế tạo năm thứ 19 niên hiệu Hoằng Định (1619) của tác giả Bùi Hác Lại có chiếc lư hương miệng tròn được làm vào ngày rằm tháng 8 TânHợi, năm thứ 9 niêu hiệu Cảnh Trị (1671), đời vua Lê Huyền Tông…
Ngoài dòng gốm men vẽ lam phủ men trắng, từ những năm đầu thế kỷ 17 ở Bát Tràng đã chế tạo được đồ gốm men rạn rất đẹp Cây đèn mang niên hiệuHoằng Định (1601-1619) là một điển hình Cây đèn cũng được tạo hai phần rồi khớp lại, cao 75cm Đèn được trang trí nổi nhiều loại hoa văn: hoa dây, lálật, lông công, lá đề (trong mỗi lá đề lại có một chữ vạn) và đủ bộ tứ linh long - ly - quy - phượng ở một góc của phần dưới cây đèn có khắc hai dong chữHán cho biết người chế tác là Đỗ Phủ xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm Nhưng điều có ý nghĩa hơn là với cây đèn này, chúng ta có cơ sở khẳng định rằng làngBát Tràng đã chế tạo được đồ gốm men rạn từ đầu thế kỷ 17
Theo tài liệu thông báo về sưu tập đồ gốm men Việt Nam ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam, thì vật phẩm gốm men rạn như lộc bình, cây nến hình gốc tre, lưhương, đỉnh, choé, tượng nghê và tượng hổ nằm… của triều vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị, niên hiệu Vĩnh Trị, Chính Hòa đời vua Lê Tông Hy,triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng … Điều đó cũng chứng minh rằng đồ gốm men rạn ở Bát Tràng có quá trình phát triển qua nhiều thế kỷ
Trang 18Vào cuối thế kỷ 18, dưới triều Tây Sơn, nghề gốm Bát Tràng phồn thịnh ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam còn giữ một đôi bát đế rộng, chân thấp, lòngdoãng, thành khum và miệng hơi loe Thành bên trong và ngoài bát phủ men rạn màu ngà vàng, xương gốm thô có màu xám đen (là chất đất Dâu Canh).
Bên thành ngoài bát, một phía có vẽ khóm trúc bằng men lam và phía đối diện viết một câu thơ cổ bằng chữ Hán: "Vị xuất địa đầu tiên hữu tiết" Câu này
mượn ý nghĩa thực tiễn: Giống tre trúc rất phổ biến và gần gũi với người Việt Nam ta, cái măng non chưa nhô lên khỏi mặt đất thì cái tiết (đốt) của nó đãsinh ra rồi Thật là một triết lý thâm thúy, ngầm ngợi ca khí tiết con người…
Nhiều đồ gốm men ghi niên hiệu Gia Long (1802 - 1819) được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam cũng là những bằng chứng sinh động về nghề gốmmen Bát Tràng ở thời đầu nhà Nguyễn Trên những vật phẩm lộc, bình, choé, ấm, đồ thờ, đồ gia dụng khác, chúng ta vẫn thấy sự tiếp nối với kỹ thuật tạodáng và trang trí của thời cuối Lê - Tây Sơn Trên nhiều hình, choé phủ men rạn hay choé men da lươn màu nâu đen, ta vẫn thấy sử dụng màu xanh (cô ban)
vẽ bằng bút lông theo các chủ đề phong cảnh: chim bên hoa cúc, chim đậu cành trúc, bướm và hoa hồng, chim và hoa sen Cũng có tiêu bản đáng chú ý nhưchiếc bình (có lẽ là ống để cắm tranh cuộn) tạo dáng như một ống bương Người thợ "sao" lại rất thực cái ống bương ngay từ mấu cho đến một đôi cành láhay một chú chim chao cánh… Các trang trí này đều chạm nổi và phủ men rạn màu trắng ngà Còn có loại bình rượu cỡ lớn, có hai bầu tròn cách nhau bằngmột đoạn thắt ngang, miệng hình trụ cao thì đề tài trang trí xoay quanh các vật quý như thanh bảo kiếm, cuốn thư, đỉnh trầm, túi gấm, trái phật thủ hay bônglựu, quả đào
Nghề gốm Bát Tràng đã trải qua nhiều thế kỷ với những thành tựu rất đáng tự hào Đó là bệ đỡ vững chắc để Bát Tràng hôm nay tiến nhanh cùng cảnước
Câu hỏi 8: Tổ chức phường hội gốm Bát Tràng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có đặc điểm gì?
Trả lời:
ở các làng gốm như Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh (Vĩnh Phúc), Lò Chum (Thanh Hóa)… việc chuẩn bị cho một chuyến lò cỡ nhỏ nên chưa cần hình
thành các tổ chức phường Dumouchier, trong bài Bàn về người Bắc Kỳ, có viết: "Vào những năm 1890-1900, phục dịch một chuyến lò ở Thanh Hóa gồm
có một người thợ đốt lò, một người phụ lò và một người giúp việc ở trong nhà chủ lò Người thợ đốt lò và người phụ lò trong những ngày làm việc đượcnuôi cơm ngày ba bữa Sau một chuyến lò, người thợ đốt lò được công hai quan tiền kẽm, người phụ lò được nửa quan tiền kẽm Trước khi đốt lò thì có haiđến ba người thợ chồng lò (kiêm cả đỡ lò) làm việc nửa ngày Ba người chuốt sản phẩm và hai người làm đất Người chuốt sản phẩm được trả công cao nhất
là hai quan tiền kẽm và một bữa cơm trưa mỗi ngày (thợ trung bình được trả 1,5 quan, thợ kém thì 1 quan) Riêng những người làm đất thì làm thuê cả nămcho chủ
Trang 19ở Bát Tràng một lò đàn có trên dưới 100 thợ Số thợ phục dịch cho một lò được biên chế thành các phường khác nhau: phường hàng cầu và bổ củi,phường dựng lò, phường chồng và đốt lò, phường dồi bát và ve lừa.
Phường hàng cầu và phường bổ củi
Phường hàng cầu do người làng Giang Cảo đảm nhận Công việc của phường này là vớt bè củi từ sông lên và cưa thành từng đoạn
Phường bổ củi đa phần là người ở Nam Dư (Thanh Trì, Hà Nội) đảm nhận Công việc của phường này là bổ loại củi phác (bổ to) và bổ loại củi bửa (bổnhỏ) Khối lượng củi mỗi loại do chủ lò định trước Mỗi phường hàng cầu và phường bổ củi có một người đứng đầu gọi là "phường trưởng" hay "liền anh"
Là người chịu trách nhiệm về kỹ thuật, đồng thời thay mặt cho phường mình giao dịch với chủ lò về khối lượng việc, công sá…
đáy lên
- Nhóm chồng giữa: Xếp ba lớp giữa
Trang 20- Nhóm gọi mặt: Xếp ba lớp cuối cùng (cao nhất) là gọi mặt (nghĩa là xếp sản phẩm trên mặt bao, vào giai đoạn cuối cùng trong lò) Mỗi nhóm kể trên
có hai người: một thợ cả và một thợ đệm Người thợ học việc có nhiệm vụ bưng bao và sản phẩm mộc chung cho cả ba nhóm
Phường đốt lò có từ năm đến bảy người, thường là bảy người Khi lò vận hành thì phường này bố trí như sau: Người xuất cả (trưởng phường) chịu tráchnhiệm chung về kỹ thuật Hai người thợ đốt dưới cửa lò còn gọi là bầu cũi lợn, bốn người đốt trên (ném củi bửa từ trên nóc vào lò qua các lỗ giòi nhờ chiếcgậy có gắn đinh nhọn ở đầu Với dụng cụ đặc biệt này, người thợ tránh được những tai nạn gây ra từ những lưỡi lửa phụt lên qua các lỗ giòi)
Phường dồi bát và ve lừa
Hương ước của làng đã quy định: "Bất khả giáo huấn phi tử tôn" (không thể dạy nghề cho những người không phải con cháu mình) nên phường dồi bát
Trang 21Giờ đây, đặt chân tới Bát Tràng ta sẽ thấy nhà gạch san sát, đường ngõ ngoắt ngoéo, chật hẹp, có nơi không dắt nổi chiếc xe đạp Tường bao quanh nhàrất cao, trên có gắn nhiều mảnh gốm vỡ tựa như những pháo đài phòng thủ kiên cố Nhìn kỹ mặt đường và tường nhà thì thấy đường ngõ đã leo cao tới nóccác nhà cũ Vì đất đai chật hẹp như thế nên người Bát Tràng đã có câu: "Sống ở chật, chết chôn nhờ".
Mở đầu hương ước, người dân làng Bát đã nêu cao tình làng nghĩa xóm, nêu cao đạo lý ở đời:
Lấy nhân đức khuyên bảo nhau chớ kể giàu nghèo
Lấy điều phải làm lẽ sống phải luôn tự sửa mình
Đối xử với nhau theo lễ tục không được lấn lướt
Hoạn nạn giúp nhau không được manh tâm chiếm đoạt
hạng thứ hai trong làng (sau các quan văn võ và những người giàu có) nhưng hàng năm, vào rằm tháng âm lịch, ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ ra đình
hạ xuống chia đều cho các vách (hạng) cùng nhau ăn uống vui vẻ
Đối với việc ma chay, làng lập ra "Hội nghĩa" không phân biệt giàu nghèo, nghề nghiệp, tuổi tác Hàng tháng, Hội quy định mỗi người đóng vài đồngkẽm làm quỹ để lo việc đèn hương, phúng viếng người quá cố Gia đình nào có việc hiếu nếu cần đến mời Hội nghĩa sẽ đi khênh giúp Làng lại quy định,mỗi đám tang đều phải vác hai tấm biển đi trước, nếu là đàn ông, biển viết hai chữ Nho "Trung Tín" bằng vôi trắng, còn đàn bà thì viết hai chữ "TrinhThuận" Người nào khi sống mắc phải những lỗi lầm thì hai tấm biển để trắng Đây là một hình thức giáo dục tế nhị đối với mọi người trong làng xóm, cộngđồng Riêng đối với người thợ gốm, họ có tập tục thể hiện nghề nghiệp rõ nét và cảm động Con dao mây là vật tuỳ thân rất gần gũi với đàn ông làng gốmBát Tràng Khi sống họ luôn mang bên mình, đến khi qua đời thì hầu như người thợ nào cũng dặn dò con cháu hãy chôn theo mình con dao mây thân thiếtấy
Trang 22Còn về cưới xin, xưa kia ở Bát Tràng, phần nhiều trai gái trong làng lấy nhau để nghề nghiệp không bị lộ ra ngoài Cũng có trường hợp con trai làng lấy
vợ ở các xã lân cận, nhưng con gái Bát Tràng lấy con trai làng khác thì hiếm thấy Lệ làng quy định con gái lấy chồng làng phải nộp cheo 50 viên gạch, nếulấy con trai làng khác, số lượng nộp tăng lên gấp đôi Làng thu gạch để lát đường hoặc tu sửa đình, miếu…
Câu hỏi 10: Thời kỳ Lê sơ, nghề gốm Bát Tràng phát triển như thế nào? Hiện nay, bộ sưu tập về gốm Bát Tràng nói riêng, gốm Việt Nam nói chung được
quảng bá ra sao?
Trả lời:
Dưới thời Lê sơ (đầu thế kỷ 15), nghề gốm Bát Tràng ra sao? Đến nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh sự phát triển rực
rỡ của nghề gốm nước ta thời kỳ văn hóa Thăng Long xưa, với dòng gốm men ngọc và men hoa nâu đặc sắc Như vậy, có chậm đi chăng nữa thì sau hơn 20năm, nhà Lê với chiến thắng Bình Ngô đã đập tan ách thống trị tàn bạo của giặc Minh, nghề gốm Bát Tràng đã được khôi phục nhanh chóng Hẳn là thế, cho
nên trong cuốn Dư địa chí, bộ sách địa lý quý giá của nước ta còn lại đến nay do Nguyễn Trãi soạn, cho biết: "Trong số đồ cống nạp phong kiến phương
Bắc, làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa" Kể cũng lạ, nước Tàu có nghề làm gốm men phát triển và nổi tiếng thế mà lại nhận đồ cống bằng gốmmen của làng Bát Tràng
Chính điều ghi chép của Nguyễn Trãi đã thôi thúc nhiều nhà khảo cổ học đi tìm những gì còn lại của nghề gốm Bát Tràng xưa Nhưng họ không thể tiếnhành đào sâu dưới 10m đất phù sa để tìm ra thêm vết tích Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay cũng chưa thể tiến hành tìm kiếm dưới lòng sông Hồng để tìmthấy những dấu tích về nghề gốm của Bát Tràng trong quá khứ
May sao, ít năm gần đây, người ta đã tìm thấy một vài dấu hiệu đáng mừng ở Đa Tốn, cách Bát Tràng không đầy hai cây số Đó là những sưu tập gốmmen cổ đáng quan tâm, có thể gián tiếp đóng góp vào việc tìm hiểu nghề gốm Bát Tràng Đa Tốn vốn không phải là xã có nghề gốm truyền thống mà là xãthuần nông có lịch sử cách ngày nay trên 2.000 năm Người dân Đa Tốn đã phát hiện sản phẩm gốm men của nhiều thời đã qua, đặc biệt là các sưu tập gốmmen thời Trần và Lê sơ tìm thấy ở Đào Xuyên và Lê Xá Sưu tập gốm thời Trần có nhiều kiểu dáng: bát, đĩa, âu, mảnh bệ tượng được trang trí nổi hoa cúc,hoa sen, hoa dây cách điệu và phủ men ngọc xanh hay men vàng - thuộc cùng loại đồ gốm tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình), đền Hùng (Phú Thọ), Vân Đồn(Quảng Ninh) Lý thú hơn, lại thấy cả bát và đĩa "ngây" (nung chưa chín) và lại có chiếc nứt, rạn, cong vênh Rõ ràng đây là những thứ phẩm của lò gốm.Cùng chỗ phát hiện đồ gốm này còn có nhiều lon sành các cỡ, rất có thể là mấy loại bao nung Sưu tập gốm thời Lê sơ có hai chiếc chậu gốm hoa nâu vàmấy chiếc đĩa hoa lam cỡ to Chậu gốm hoa nâu vẽ hoa dây cách điệu hình sin khắc chìm rồi tô nâu Đĩa hoa lam nền trắng ngà, hoa văn trang trí đơn giản,
Trang 23chỉ là một bông hoa, xung quanh có vài nhánh lá, xanh màu chì, vẽ bằng bút lông mềm mại… Có lẽ không còn phải nghi ngờ gì nữa về xuất xứ những sưutập gốm này là của lò gốm Bát Tràng cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 Những nguồn thông tin khảo cổ học và bảo tàng còn cho biết, rất nhiều bảo tàng trên thếgiới xây dựng sưu tập riêng về gốm Việt Nam như ở Nhật Bản, Phi-lip-pin, Pháp, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ… Trong số đó chắc hẳn còn nhiều sản phẩm có xuất xứ là
lò gốm Bát Tràng Nhiều học giả nước ngoài ham muốn đi tìm mối quan hệ giao lưu văn hóa từ những đồ gốm men dựa trên các dữ kiện về kiểu dáng vàtrang trí Xem tài liệu giới thiệu cuộc triển lãm do Hội gốm cổ Đông Nam á tổ chức tại Bảo tàng quốc gia Singapore hồi tháng 6 năm 1982, có thể thấy rõnhững bức ảnh chụp bát đĩa chứng minh vấn đề quan hệ giao thương của đồ gốm Bát Tràng với đồ gốm Su Khô Thai (Thái Lan), Nam Trung Quốc và NhậtBản Tiêu biểu là loại đĩa cỡ to có vẽ hoa lam của Bát Tràng thời Lê sơ Tại hải cảng Hacata, một cảng sầm uất từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14 thuộc đảo Kiusiu(Nhật Bản), người ta đã tìm thấy trong lòng đất một số mảnh gốm men Việt Nam
Lịch sử quan hệ giao thương có lẽ còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá, và chắc chắn có ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề làm gốm, nhất là từ thế
kỷ 16 trở đi khi con đường mậu dịch Đông - Tây được thiết lập Trong catalogue của các cuộc triển lãm về gốm men Việt Nam được trưng bày và giới thiệu
ở Nhật Bản, Gia-các-ta… đã giới thiệu nhiều sản phẩm gốm men của Bát Tràng mà phần lớn thuộc các thế kỷ 15, 16, 17
Làng nghề kim hoàn Định Công
Câu hỏi 11: Địa giới hành chính của làng cổ kim hoàn Định Công như thế nào? Đình làng Định Công thờ vị thần nào? Truyền thuyết về vị thần đó ra sao? Trả lời:
Người Thăng Long - Hà Nội thường hay truyền tụng câu:
Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng
Thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã.
Xuôi theo quốc lộ 1A, cách trung tâm Hà Nội khoảng 8km về phía tay phải là xã Định Công Đây là một trong 26 xã của huyện Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội Định Công hôm nay nguyên là hai xã Định Công thượng và Định Công hạ của tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông trước năm 1945.Năm 1954, xã Định Công lại thuộc ngoại thành Hà Nội Từ năm 1961 đến nay, xã thuộc huyện Thanh Trì Dân số Định Công ước chừng 1.000 hộ với hơn5.000 nhân khẩu Xã chia làm ba thôn: Định Công hạ, Định Công thượng và thôn Trại Tên Định Công đã có từ rất xa xưa Căn cứ vào thần tích hiện thờ tại
Trang 24đình làng, vào đời vua Hùng Nghị Vương thứ 18, sau khi ở Châu ái (Thanh Hóa) về, vua và bà phi ngự thuyền dọc sông Tô Lịch ngắm cảnh Thuyền đếnbến sông (sau này là Trang Định Công), bà phi trở dạ sinh được một người con trai, tướng mạo khôi ngô, kỳ vĩ khác thường Sau lưng có 28 chiếc vẩy nhưhình 28 ngôi sao, tay dài quá gối, thân thể to lớn, mập mạp gấp mấy trẻ thường Dân sở tại thấy vậy liền dựng tạm một gian nhà để mẹ con bà phi tá túc VuaHùng Nghị Vương bèn thưởng cho dân 1.000 quan tiền, đặt tên cho vùng đất này là Trang Định Công, đồng thời đặt tên hoàng tử là Tràng Sơ và cho lậpsinh từ ngay nơi hoàng tử ra đời Khi trưởng thành, Tràng Sơ văn võ nổi tiếng khắp nơi ai cũng thán phục Do có công dẹp giặc ở Châu Đông Hý, hoàng tửđược đức vua phong là Phụ Chính quốc tể Đông Hý Hầu Quân Thục kéo đến xâm phạm bờ cõi, vua Hùng sai Đông Hý Hầu cùng Tản Viên Sơn Thánh cầmquân đi đánh dẹp Trên đường thắng trận trở về qua cửa biển Bích Hải, huyện Hoằng Hải, ái Châu (Thanh Hóa), Đông Hý Hầu hóa về trời Nhận được tờtấu, đức vua vô cùng thương xót, lập tức xuống chiếu cho dân Bách Hải lập đền thờ, xuân thu nhị kỳ làm lễ tế, lại cho dân nơi đây làm hộ nhi (trông nomviệc thờ cúng tế lễ, miễn mọi phu phen tạp dịch) Đồng thời, đức vua cũng lệnh cho Trang Định Công sửa sang sinh từ, hàng năm cử các quan về làm lễ theonghi thức quốc gia Dân Định Công được miễn đi lính, không phải đóng thuế để làm hộ nhi, trông nom việc thờ cúng Đông Hý Tràng Sơ Dự Vũ Đại vươngthượng đẳng phúc thần Cũng theo thần tích hiện còn tại làng Định Công, thì Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng Chính là hiện thân của Đông Hý Tràng Sơ,
vì thế duệ hiệu của thần là Đông Hý Đông Hải Dực Vũ Đại vương Dân gian còn truyền tụng rằng: Khi Nguyễn Trãi đi qua đền thờ, trời không gió mà cờ cứbay phần phật, trống không đánh mà tiếng vang động cả một vùng Thấy sự lạ, Nguyễn Trãi dừng ngựa, vào đền thắp hương cầu xin thần phù trợ Quảnhiên, trận đó quân ta đánh cho giặc Minh thua chạy tan tác Thắng trận trở về, Lê Lợi đã phong thần là Thượng đẳng phúc thần Trải qua các triều đại, thầnđều được sắc phong và ban cho mỹ tự
Qua những sự kiện và dấu tích còn lại, phần nào ta có thể khẳng định Định Công là vùng đất có lịch sử lâu đời Đây chính là một vùng đất cổ của ngoại
vi Thăng Long - Hà Nội Không giống với làng gốm Bát Tràng, người Định Công thờ cả Thành hoàng và tổ nghề
xa xưa? Tổ nghề kim hoàn Định Công có truyền thuyết như thế nào?
Trả lời:
Làng anh đất thợ kim hoàn
Để anh đánh nhẫn cho nàng đeo tay.
Thợ kim hoàn làng Định Công vốn nổi tiếng từ xa xưa Theo truyền thuyết thì tổ sư nghề kim hoàn làng Định Công là ba anh em họ Trần: Trần Hòa,Trần Điện, Trần Điền Vào thời Lý Nam Đế (khoảng thế kỷ 6), ở vùng đất nay là xã Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội có ba anh em họ Trần, cha mẹ
Trang 25mất sớm Họ phải đùm bọc lẫn nhau kiếm sống Nhờ có bàn tay khéo léo, lại thêm đức tính cần cù, chịu khó, anh em cũng tạm đủ qua ngày Nhưng cuộcsống không trôi đi yên ả như vậy Sau khi Lý Nam Đế bại trận, đất nước rên xiết dưới ách thống trị hà khắc của bọn xâm lược Quê hương bị tàn phá, nhàcửa tan nát, ba anh em cùng nhau đi chạy loạn Khi qua huyện Quế Dương thuộc tỉnh Bắc Ninh, không may họ bị lạc nhau, mỗi người một ngả Người anh
là Trần Hòa chạy sang phương Bắc, xin vào học nghề ở phường làm đồ nữ trang Trần Điện và Trần Điền chạy sang nước khác, vào làm thuê cho mộtphường thợ bạc Mặc dù họ đều trở thành những người thợ giỏi, được dân nước sở tại trọng đãi, song nỗi nhớ quê hương, làng xóm không lúc nào nguôi.Thế là không hạn mà cả ba anh em đều tìm đường trở về quê Cuộc gặp mặt vừa mừng vừa tủi Để ghi nhớ ngày đoàn tụ, họ cùng nhau mở cửa hàng làmnghề vàng bạc, lấy tên là "Kim hoàn" (Vòng vàng) Những đồ vàng bạc do ba anh em họ làm ra rất tinh xảo, tiếng đồn khắp trong nước Ba người lại dạycho dân làng cùng làm nghề, từ đó làng Định Công có nghề làm vàng bạc, truyền từ đời này qua đời khác, được khắp nơi biết tiếng
Thực ra ba anh em họ Trần chỉ là các vị hậu tổ sư của nghề vàng bạc Định Công Bởi lẽ, từ xa xưa, thư tịch cổ Trung Quốc đã ghi chép: Giao Châu (tênnước Việt Nam thời xưa) là nơi có nhiều vàng bạc, châu báu Vào những năm 187 - 225 trước Công nguyên, Thái thú Sĩ Nhiếp đã đưa về Trung Hoa rấtnhiều cống phẩm, mà nhiều nhất là những đồ vật chạm vàng bạc
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép: Thời Tiền Lê, Đại Hành hoàng đế đã sai thợ khéo trong nước làm những đồ vàng bạc tinh xảo để làm cống
phẩm cho phương Bắc…
Sau khi học được nghề kim hoàn do ba cụ tổ họ Trần truyền dạy, dân làng Định Công vốn ở sát kinh thành Thăng Long rủ nhau ra phường Đông Các(nay là phố Hàng Bạc) để hành nghề Lúc bấy giờ, phố Hàng Bạc cũng là nơi tụ hội của thợ bạc Đồng Sâm (Thái Bình) và thợ bạc Châu Khê (Hưng Yên).Thợ kim hoàn Định Công đến đây, ai có vốn thì mở cửa hiệu bán đồ vàng bạc cho những nhà quyền quý, giàu có; không có vốn thì đi làm thuê cho các cửahàng Tuy cùng đến làm nghề ở phố Hàng Bạc, song người Đồng Sâm (Thái Bình) vốn đi bán bạc rong, nay mở cửa hiệu bán khuyên tai, nhẫn, ống vôi, dây
xà tích, chóp nón, vòng, kiềng… cho những bà chánh, bà lý, những người dân mạn ngược về mua sắm Người Châu Khê (Hưng Yên) đến phố Hàng Bạc đúcbạc nén và đổi tiền cho khách thập phương về Thăng Long buôn bán, mua sắm Vì vậy, thời thuộc Pháp, phố Hàng Bạc còn có tên là phố Những người đổitiền Về sau, do thương mại phát triển, người dân không tiêu bằng bạc nén mà chuyển sang tiền kẽm và tiền đồng Thợ Châu Khê phải chuyển sang làm đồ
nữ trang, nhưng do tay nghề không khéo nên thường phải thuê thợ Định Công làm hàng hoặc gửi con em về Định Công học nghề Nhờ học được nghề tổ, thợkim hoàn Định Công nổi tiếng khéo tay, tài hoa và có nhiều "lương công" (thợ giỏi) Sự xuất hiện của nghề kim hoàn Định Công góp phần biến phố HàngBạc trở thành trung tâm vàng bạc mỹ nghệ của cả nước Khách buôn bán xa gần đến trao đổi vàng bạc, mua sắm các đồ trang sức, tạo nên không khí sầm uấttại đây Thợ Định Công có lợi thế ở sát kinh đô Thăng Long nên họ có thể làm hàng ngay tại cửa hiệu Họ cũng có thể nhận hàng đem về quê cho gia đình,
Trang 26con cái làm rồi lại chuyển ra phố bán Nghề nghiệp ngày một phát triển thì ngày càng có nhiều gia đình thợ kim hoàn Định Công chuyển cư ra Thăng Longlàm ăn, sinh sống Họ tậu đất, mua nhà, tập trung chủ yếu ở phố Hàng Bạc và một số ít ở phố Hàng Bồ.
Nhớ công ơn tổ nghề, những người thợ Định Công đã quyên góp xây dựng đền thờ tổ tại số nhà 51, phố Hàng Bạc ngày nay Vào những năm đầu thế kỷ
20, người Định Công đã nhượng lại ngôi đền cho chủ hiệu pháo Tự Ký, đem tiền về làng xây một ngôi đền thờ tổ uy nghi, lộng lẫy ngay bên cạnh ngôi đìnhthờ Thành hoàng Đông Hý Đông Hải Dực Vũ Đại vương Hàng năm, vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, dù đi làm ăn xa đến đâu, những người thợ kim hoàn ĐịnhCông cũng trở về quê, thắp nén hương thành kính tỏ lòng biết ơn tổ nghề
Câu hỏi 13: Để được học nghề kim hoàn ở Định Công người học phải qua những thử thách nào? Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, họ đã tạo nên những
mẫu mã độc đáo như thế nào?
Trả lời:
Đối với bất cứ nghề thủ công nào, người thợ cũng cần có đôi tay tài hoa, khéo léo, óc sáng tạo và nết làm ăn cần cù, chịu thương chịu khó Nhưng riêngnghề kim hoàn còn đòi hỏi người thợ phải sống có đức, phải giữ chữ tín với mọi người Vàng bạc là thứ kim loại quý, không phải ai cũng có Trước kia, ởĐịnh Công muốn học nghề thường phải trải qua thời gian khá dài, khoảng 7 - 8 năm Trước hết, học viên phải đem gạo đến nhà thầy, ở đó làm việc vặt trongnhà, đồng thời tự bản thân phải quan sát, tìm hiểu, học hỏi để quen với nghề Thầy dạy thường rất nghiêm khắc trong việc truyền nghề Chỉ khi nào thực sựtin người học việc có tính thật thà, trung thực và có hoa tay khéo léo, thầy mới dốc tâm huyết truyền đạt cho những bí quyết nghề
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, biết bao thế hệ cha truyền con nối, người thợ kim hoàn Định Công đã tạo nên những sản phẩm - những tác phẩm có giátrị thẩm mỹ trường tồn với thời gian Từ những đôi khuyên tai bạc của phụ nữ nông thôn xưa cho đến những kiềng vàng, xuyến vàng, nhẫn… của những côgái tân thời, hay những bà quyền quý nơi thị thành đô hội, đều toát lên vẻ tinh xảo, sinh động của dáng hình và đường nét hoa văn trên vật trang sức Cũngnhư nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác, người thợ kim hoàn làng Định Công xưa thường chạm trổ theo những mẫu mã truyền thống như long, ly, quy,phượng hoặc ngư (cá chép), phúc (con dơi), hạc (chim hạc), hổ… Song do tài sáng tạo và sự yêu nghề, người thợ Định Công tạo ra được những hình mẫuđặc sắc không giống với bất cứ nơi nào Đó là những con rồng dũng mãnh khắc trên bao kiếm của các vị vua anh hùng, hay những con rồng ngậm chữ Thọ(long hàm thọ), hai con rồng chầu mặt trăng (lưỡng long chầu nguyệt), cá chép rồng đua nước (ngư long hý thuỷ)… trên các mâm vàng, mâm bạc và hìnhchim phượng trên mũ miện của hoàng hậu, công chúa, trên bộ khay chén, hòm khảm bạc, tráp bạc… cho đến các bộ xà tích bạc của các bà các cô, trên cốigiã trầu… của các cụ già Trong đồ dùng và những vật trang sức tương đối thông dụng, thợ Định Công hay chạm những mẫu gần gũi với cuộc sống đờithường như quả bầu trên chiếc khánh đeo cổ trẻ con, hình quả vả chạm trên hộp vàng, bạc, ống tiền, và đàn tỳ bà trên các bình bạc, bát quả (đào, lựu, mận,
lê, phật thủ, nho, bầu, bí), trên mâm bồng, trên khay hoặc choé bạc chạm tùng, cúc, trúc, mai hay cảnh bốn mùa
Trang 27Câu hỏi 14: Các bước chủ yếu trong sản xuất nghề kim hoàn Định Công được thực hiện như thế nào?
Chế tạo nguyên liệu
Đối với vàng: Người thợ dùng thuật ngữ riêng của nghề là "trở vàng" tức là nấu vàng cốm, vàng cục, vàng cũ đã qua sử dụng… thành vàng tốt, vàng 10.Đây là cách làm rất thủ công và truyền thống của người thợ Trước hết, người ta nung chảy vàng xấu hỗn hợp (gọi là đúc) trong chiếc chén bằng đất, sau
đó đổ ra cán mỏng như tờ giấy theo cỡ 3cm x 10cm hay 3cm x 15cm, thành những dát vàng Để dát vàng trên tờ giấy bản, rồi xoắn theo hình trôn ốc, dùngmột hỗn hợp gồm: gạch non giã nhỏ rây kỹ + muối ăn giã nhỏ + lưu huỳnh và nước, tạo thành một thứ vữa Nhồi vữa kín vào các khe xoáy ốc của dát vàng,rồi đắp ra ngoài một lớp nữa, lấy giấy bản bọc kín rồi lại đắp thêm một lượt ra ngoài giấy bản Lúc đó có quả dát vàng to chừng quả cam, tiếp tục xoa cho bềmặt se, khô thì thôi Chuẩn bị lò than hồng rồi đặt quả dát vàng vào giữa ngọn lửa, tiếp tục nung khoảng 5 - 6 tiếng là được Trong quá trình đun hỗn hợp,vữa sẽ hút hết những tạp chất chứa trong vàng xấu, bốc thành khói bay lên Vì thế khi "trở vàng", lò phải đặt ở nơi kín gió để hạn chế sự khuếch tán mùitanh và khí độc hại trong khói, dễ gây ra nhiễm độc đường hô hấp Thợ lâu năm trong nghề đúc kết được kinh nghiệm nhìn khói có thể biết vàng đã được lọctốt hay chưa Khói màu trắng ngà là lúc vàng còn nhiều tạp chất Khói chuyển sang màu hồng cà chua là lúc vàng đã đủ độ sạch cần thiết Đây là một trongnhững bí quyết nhà nghề, không mấy người học được Nhìn khói đoán vàng cần phải có sự nhạy bén và tinh tế của người thợ Khi vàng đã lọc đạt tiêuchuẩn, quả dát vàng được gắp khỏi lò, thả vào nước sạch Lúc đó lớp vữa hỗn hợp gạch, muối, lưu huỳnh rã ra, còn lại dát vàng nguyên chất Nếu cẩn thận
và muốn đảm bảo, lấy một ít trong quả dát vàng đem đúc thử, nếu so với vàng mẫu đạt yêu cầu thì thôi, chưa đạt thì làm lại theo trình tự như trên
Sau đó, cho vàng đã "trở" vào chiếc nồi bằng thứ đất nung đặc biệt, vàng nóng chảy đổ vào thão (một loại khuôn đồng) sẽ được vàng thỏi dùng để chế tác
đồ trang sức
Để làm ra đồ trang sức, người thợ còn phải làm ra "vảy hàn" mà trong nghề gọi là "ngả vảy" Đây lại là một khâu khó khăn và kỹ thuật phức tạp, ít ngườilàm được Ngả vảy không tốt thì các họa tiết hoặc đồ vật không gắn kết được với nhau bền chắc, mịn màng Muốn có vảy hàn phải lấy vàng + bạc + đồng đổnguyên chất theo tỷ lệ bí truyền, đem đúc lẫn rồi đổ thành từng miếng, để nguội Dùng giũa răng nhỏ giũa hỗn hợp vàng trên thành mạt cám rồi lấy nam
Trang 28châm đưa qua đưa lại nhằm hút hết mạt sắt của giũa lẫn vào Sau đó trộn mạt cám vàng với hàn the đã phi theo liều lượng nhất định, người thợ sẽ có nhữngvảy hàn tốt Thường người ta hay dùng vàng đánh đồ nào ngả bằng vẩy ấy, thì độ kết dính sẽ bền hơn.
Đối với bạc: Để có bạc tốt không bị pha tạp, người thợ phải "chuyên bạc" (hay còn gọi là trở, lọc, phân kim) Bạc xấu, bạc vụn,… được nấu trong nồihình lòng chảo làm bằng vôi bột thật mịn để hả, cùng với gạch non rây kỹ trộn với tro (tốt nhất là tro vỏ bưởi vì nó vừa xốp vừa nhẹ) Nồi to nhỏ phụ thuộctheo lượng bạc định chuyên Nếu nấu bằng lò than củi, có bễ thổi thì ngọn lửa vừa nhỏ lại vừa đảm bảo độ nóng đều Khi bạc đã nóng chảy, cho chì vào đểloại bỏ ôxit đồng và các loại tạp chất Tạp chất sẽ chìm xuống đáy nồi còn bạc sạch, nguyên chất nổi lên trên Chuyên bạc phải căn cứ vào váng và sao để
phán đoán Váng là màng màu xám như bọt cơm, còn sao là tăm sủi lên màu đỏ lửa chuyển động trong nồi bạc Chỉ khi trong nồi không còn sao và váng thì
bạc mới đạt độ tinh khiết Công đoạn cuối cùng để chế tạo nguyên liệu bạc là đúc bạc nén Từng miếng bạc cân đủ 10 lạng ta bỏ vào nồi nặn bằng đất thó
trộn trấu nung khô Trong quá trình sao cho thêm một chút hàn the để khi nóng chảy, bạc sẽ có độ bóng trơn rất đẹp Bạc lỏng được đổ vào thào (khuôn hình
chữ nhật bằng sắt) Lòng thào được phết lớp dầu cây thầu dầu và bột than gỗ thông để bạc không bị dính Khi bạc còn nóng, phải đổ ra để sửa cho vuôngthành sắc cạnh, rồi mới đóng dấu thập túc (đủ mười lạng) vào thành nén bạc
Cần phải nói thêm, để làm những vật phẩm khác nhau, người thợ phải biết pha chế thành những hợp kim cho phù hợp với từng loại, có những cách phachế sau:
Kỹ thuật làm đồ trơn: Tức là sản phẩm phải có độ nhẵn, sáng bóng, trên hình mẫu thanh thoát, mềm mại Cái đẹp ở đây được thể hiện trong hình khối,
dáng vẻ và độ mịn màng, sáng láng Muốn làm hàng trơn, trước hết dùng búa đồng vã trên dát vàng cho thật phẳng và nhẵn Tiếp đó phải doi (định hình sản
Trang 29phẩm) theo đúng kích thước và trọng lượng đồ vật muốn làm Để cho mặt hàng nhẵn bóng có hai cách: một là, dùng giũa răng thật nhỏ để giũa, xong xoagiấy nháp thật kỹ; hai là, dùng bàn đáp (khối đồng vuông trên có những rãnh to nhỏ khác nhau) Đặt dát vàng lên nguội, dùng búa đồng nện cho thật phẳng,
gỡ ra nướng, để nguội, nhúng vào dung dịch H2SO4 (axit sun-phu-ríc) để rửa sạch hết vết bẩn trên vàng, rồi dùng chuỗi cườm (bằng mã não hoặc răng cásấu) hay ve cườm (thanh kim loại như chiếc dùi, nhẵn bóng, không gỉ) cườm cho thật bóng miếng vàng, cuối cùng dùng ống xì gắncác bộ phận với nhau bằng vảy hàn, ta được một đồ trơn hoàn chỉnh
Kỹ thuật đồ đậu: Là kéo vàng, bạc thành những sợi có kích cỡ khác nhau, to bằng đầu đũa, nhỏ như sợi tóc, hoặc làm ra những hạt vàng li ti đều nhau,
rồi gắn trên các hình mẫu như hoa, lá, chim muông… đã định Làm hàng đậu không những tay phải khéo, mắt phải tinh mà còn phải rất kiên trì, tỉ mẩn, phụ
nữ thường phù hợp với công việc này Làm đồ đậu, thợ kim hoàn có những công đoạn và những dụng cụ đặc biệt dùng để hành nghề Từ dát vàng, muốnkéo thành chỉ phải doi cho miếng vàng dài ra, doi phải đều tay, thật nhẹ nhàng, khéo léo; nếu bị trẹo, khi kéo thành chỉ dễ bị đứt, vàng bị hao, trong nghề gọi
là bị "dớp" Dụng cụ dùng kéo chỉ gồm kìm và mà Mà là miếng sắt dài khoảng 50cm, rộng 5cm và dày 4cm, có đục nhiều lỗ to nhỏ khác nhau Sợi vàng sau
khi dăm tròn được kéo qua lỗ trong "mà" Nếu vàng cứng thì nướng cho mềm rồi mới kéo cho khỏi đứt Chỉ vàng kéo xong xoắn hai đầu vào nhau cho thật
săn mới đưa vào đậu Dụng cụ làm đậu có nỉa (rất nhiều loại to nhỏ khác nhau) và thước kẻ Nỉa là hai lá sắt ghép vào nhau như chiếc panh, dùng để gắp sợi
vàng uốn theo các hình mẫu rồng, phượng, hoa… định sẵn Còn thước để đo hoặc đánh dấu sợi vàng từng khấc theo phân, ly
Còn có cách làm hàng đậu tinh xảo hơn gọi là sòi Sòi là cắt sợi vàng thành những hạt nhỏ li ti, tròn và đều nhau Dùng đèn (đốt bằng dầu thầu dầu) và
ống thổi đúc từng vụn vàng đặt trên miếng than mài phẳng cho đến khi vàng nóng chảy tự tròn lại, nhỏ như đầu kim trên mặt than, như vậy là sòi xong Gắpnhững hạt sòi nhúng vào nhựa dính rồi đặt lên dát vàng theo các hình mẫu, dùng lông gà cắt chéo đầu, chấm vẩy hàn, lấy đèn và ống thổi để hàn Đậu đẹp làcác hạt sòi dính kết với nhau tròn, đều tăm tắp, không bị méo mó
Làm hàng đậu, nhựa dính rất quan trọng Nhựa được chế từ hột cây giàng giàng mài ra trộn với hàn the đã phi Hàn the được rửa thật kỹ, cho vào chậuđồng đựng nước sạch, đun tới khi nước cạn khô, còn hàn the kết lại như những miếng xốp Nhẹ nhàng cạy từng mảng hơ vào lửa cho hàn the nở hết cỡ, sau
đó đem tán nhỏ thành bột Rang bột trên lửa nhỏ đều, tới khi thật khô, để nguội, cất vào lò dùng dần Tuyệt đối khi rang không để bột hàn the bị cháy, hànthe phi không tốt khi đậu các hạt sẽ không dính với nhau và mối hàn sẽ bị rộp
Làm đồ chạm: Là chạm trổ các họa tiết, hoa văn trên những đồ trang sức, đồ trang trí hay vật dụng bằng bạc như mặt nhẫn, mặt dây chuyền, chóp nón,
ống vôi, hộp đựng son phấn…
Trang 30Muốn chạm, trước tiên phải chuẩn bị miếng dát đủ trọng lượng, đủ độ dày mỏng, kích thước và hình vẽ đúng như vật định làm Dát chỉ cần một mặtnhẵn bóng là được Đem bàn chám (miếng gỗ phẳng, bề mặt phủ lớp hỗn hợp nhựa thông nấu với gạch non giã nhỏ rây kỹ, trộn thêm dầu lạc để tăng thêm
độ dẻo) hơ nóng cho lớp phủ chảy ra, gắn chặt mặt phẳng của dát vào bàn chám, dùng ve chạm thúc xuống theo các hình vẽ Chạm thúc xong gỡ dát ra khỏibàn, nếu thấy dính hỗn hợp thì hơ cho chảy ra rồi rửa thật sạch Sau đó lại áp mặt trái của dát vào bàn chám, lấy ve chênh, chênh cho nổi hết các đường nét,hoa văn Rồi tiếp tục dùng ve để tỉa các hình gân cho nhọn, sắc nét Cuối cùng, dùng vảy hàn để gắn kết những phần chạm lại với nhau một cách hoàn thiện.Đối với đồ chạm, người thợ cần đến rất nhiều loại ve khác nhau Ve là dụng cụ được làm bằng đồng hoặc sắt Thân ve dài chừng 6 - 7cm, được xoắn ởgiữa để cầm không bị tuột Người thợ làm ra từng loại ve có công dụng riêng Ve đầu lõm để chồi các hạt vàng, hạt bạc Ve đầu lồi để thúc làm nổi các hình
vẽ Lại có ve đầu phẳng và sắc như lưỡi đục để tỉa tót những họa tiết, góc cạnh tế vi,…
Làm đồ trá: Là nhuộm màu cho các đồ trang sức như hoa tai, trâm cài đầu, kim cài áo bằng vàng, cho có ánh đỏ thẫm, sáng bóng
Lấy những đồ vật định trá nướng đỏ trên bếp than rồi nhúng vào nước muối (tỷ lệ pha muối tùy thuộc vào kinh nghiệm của người thợ) Tiếp đó, đặtnhững đồ vàng vào chiếc nồi đất nhỏ cùng với chục miếng tai chua (đã chế biến), hứng lấy nước mưa giữa trời xâm xấp lưng nồi, đun trong vài ba giờ rồicho tiếp diêm sinh vàng vào Cứ tiếp tục đun đến khi thấy đồ vật nhuốm màu đỏ vừa ý thì vớt ra, ngâm vào nước lã Dùng bàn chải mềm sát qua cho sạch,
hơ khô trên lò than là xong Đồ trá được màu hay không tùy thuộc vào ước lượng của người thợ khi pha muối, trộn diêm sinh, và chế biến quả tai chua.Chọn những quả tai chua nguyên vẹn không sâu, dập, khoảng 1kg Bổ tai chua thành từng miếng dày khoảng 2 - 3cm, xếp từng lớp vào vại sành, rồi vắtchanh vào đem phơi nắng Cứ như thế, khô lại vắt chanh tiếp cho tới khi hết 60 quả chanh thì thôi Hỗn hợp tai chua và chanh được bảo quản cẩn thận,
Trang 31đồ nữ trang, rồi bình bạc, lư hương bạc chạm vàng, hộp bạc, chén vàng, cúp vàng, cúp bạc… được khách hàng đặt mua rất nhiều Thế là tư bản Pháp đổ tiền
ra thành lập những Công ty xuất khẩu đồ mỹ nghệ vàng bạc Túi tiền của bọn tư bản nặng bao nhiêu thì cuộc đời của người thợ tài hoa Định Công càng bịbòn rút, cơ cực bấy nhiêu
Chiến tranh kéo dài, rồi cơ chế bao cấp làm cho nghề suy sụp Hầu hết thợ giỏi bỏ nghề làm việc khác kiếm kế sinh nhai Những nghệ nhân cao tuổi lầnlượt ra đi mang theo những kinh nghiệm, những bí quyết ngàn đời chẳng biết truyền lại cho ai Còn một số ít gia đình cố đeo đuổi nghề bằng cách hành nghềlén lút, bất hợp pháp, không phát huy được tài năng vốn liếng cạn dần Phố Hàng Bạc xưa kia náo nhiệt kẻ mua người bán là thế, đến giai đoạn này đóng cửahoặc cửa hàng, cửa hiệu cho thuê làm việc khác Một số cơ sở hành nghề của hợp tác xã hay quốc doanh hoạt động cầm chừng Sản phẩm làm ra không đápứng được thị hiếu của xã hội Sức tiêu thụ trong nước quá nhỏ, hầu như không đáng kể, không phát triển được ra thị trường quốc tế Vì vậy, công ăn việclàm của thợ bấp bênh, gian nan, vất vả
của làng nghề kim hoàn Định Công trong thời kỳ đổi mới?
Trả lời:
Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước như làn gió lành làm hồi sinh làng nghề Định Công Các tổ chức kinh tế (kể cả tư nhân) được tự do hànhnghề và kinh doanh vàng bạc Thợ Định Công sửa sang đồ nghề đã bị lãng quên từ lâu; họ suy nghĩ tìm tòi mẫu mã mới, rồi mở rộng quan hệ với các làngnghề Đồng Sâm, Châu Khê để phố Hàng Bạc tấp nập hơn xưa
Trong xu thế chung của đất nước, làng nghề vàng bạc truyền thống Định Công đang từng bước thay da đổi thịt Định Công hôm nay là những đườnglàng ngõ xóm trải bê tông, sạch bóng Nhà mái bằng, nhà ngói san sát với khuôn viên rộng mát, đẹp bởi vườn hoa cây cảnh Nhà ở của mỗi người thợ vừa lànơi sản xuất lại cũng là nơi mua bán hàng mỹ nghệ kim hoàn Khách đến đây không chỉ để mua hàng làm sẵn mà có thể đặt làm theo sở thích riêng củamình Đến đây, họ được đắm mình trong không khí rộn rã của hàng ngàn hộ làm nghề Những người thợ Định Công đã phát huy nghề tổ xây dựng quêhương ngày càng văn minh, thịnh vượng
Ngày 11 tháng 7 năm 1990, Hội Mỹ nghệ kim hoàn Việt Nam đã chính thức được thành lập Với những định hướng phát triển mới người thợ kim hoàntrong cả nước, đặc biệt là người thợ Định Công, nơi có nghề kim hoàn cổ truyền, sẽ tiếp tục phát huy tài khéo, trí tuệ làm đẹp cho đời
Làng nghề chạm khắc gỗ thiết ứng
Trang 32Câu hỏi 17: Dấu tích những sản phẩm chạm khắc gỗ được tìm thấy như thế nào? Làng nghề chạm khắc gỗ Thiết ứng ở đâu?
Trả lời:
Nghề chạm khắc gỗ ở nước ta có từ rất lâu đời Theo sự tích Phật Mẫu Man Nương ở chùa Đậu (Thuận Thành - Bắc Ninh) thì từ đầu Công nguyên,
người ta đã biết xẻ cây gỗ dâu thành bốn đoạn để tạc tượng Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi, Pháp điện Qua những tư liệu như tấm bia sùng Thiện Diên Linh
dựng năm 1121 (ở Duy Tiên - Hà Nam) thời bấy giờ, người thợ đã tạc ra những con rối để diễn trò: "Các cô tiên rối giơ tay múa, đung đưa mắt biếc dângkhúc ca mừng Tiếp đến là những con chim rối, hươu rối xuất hiện, chim phượng từng đàn múa, liệng, bầy hươu nô đùa nhảy nhót…"
Dấu tích của nghề chạm khắc gỗ còn lưu lại trên pho tượng vị sư chùa Trấn Quốc, tượng ông Trùm Trọng ở đền Quan Thánh, tượng ba nàng công chúa
và ba ông quan đại thần tại đền Lý Quốc Sư - Hà Nội Đấy mới chỉ nói về tượng, còn biết bao công trình chạm khắc gỗ có giá trị khác Đó là bức chạm
"Gánh con" ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội), thế kỷ 16 Đình Hoàng Xá (huyện ứng Hoà, Hà Nội) có nhiều bức chạm gỗ thế kỷ 17 tảcảnh "Chèo thuyền uống rượu", "Đấu vật", "Chọi gà", "Đánh hổ" bằng những đường nét tinh tế, người thợ đã phản ánh một cách sống động những sinh hoạtđương thời Và còn biết bao vật dụng gắn bó với đời sống thường nhật như bàn, ghế, sập, tủ… tất cả đều do bàn tay tài hoa, khéo léo của con người làm nên
ở nước ta có rất nhiều làng mộc nổi tiếng như làng Chàng (huyện Thạch Thất, Hà Nội), làng La Xuyên (huyện ý Yên, Hà Nam), thôn Hà Cầu (ĐồngMinh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng)… trong đó nổi lên làng mộc Thiết ứng (Đông Anh, Hà Nội)
Thiết ứng chỉ là tên chữ, còn tên Nôm là làng ống Thiết ứng là một làng cổ thuộc xã Vân Hà, một trong 23 xã của huyện Đông Anh, Hà Nội Vân Hàphía bắc giáp xã Thủy Lâm, phía nam giáp xã Dục Tú, phía tây giáp xã Liên Hà, còn phía đông giáp hai xã Minh Đức và Nghĩa Khê thuộc huyện Tiên Sơn,tỉnh Bắc Ninh Xã gồm có năm thôn là Cổ Châu, Hà Khê, Thiết Bình, Vân Điềm và Thiết ứng, nguyên là các xã Cổ Châu, Hà Khê, Thiết Bình, Vân Điềm vàThiết ứng, của tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trước năm 1945 Sau gộp cả năm xã đặt tên là Vân Hà thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh Năm 1961,nhập vào huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội
Theo truyền thuyết, dưới thời Hai Bà Trưng, Thiết ứng có tên là Tô áng, về sau đổi là phường Xa Lập Tên Thiết ứng cũng đã xuất hiện cách đây nhiềuthế kỷ
Xưa kia, nhiều làng chạm có nghề khắc gỗ trong đó có Thiết ứng, tập trung bán ở các phố Hàng Trống, Hàng Khay và Hàng Đàn Hàng Khay bán cácsản phẩm như khay chén, tráp, hộp trầu, hộp đựng đồ trang sức… Phố Hàng Trống và Hàng Đàn (đoạn cuối phố Hàng Quạt) là nơi vừa làm vừa bán, nhưngchủ yếu là bán sập gụ tủ chè, án thư, tràng kỷ, hương án, long đình…
Trang 33Câu hỏi 18: Làng chạm khắc gỗ Thiết ứng thờ vị Thành hoàng nào? Truyền thuyết về vị thần đó ra sao?
Đô uý, Triệu Phá được phong là Lang Trung Một lần, khi đi qua phường Sa Lập (tên
hữu tình, đất đai màu mỡ, con người thuần phác, bèn chiêu dân lập ấp, dạy dỗ, giáo hoá cho dân và dựng cung sở tại đây
Đất nước bị giặc xâm lăng, hai vị cầm quân đi đánh dẹp Thắng trận trở về, Thục Công được phong là Bình Thục Đại Vương, Phá Công là Đông Phá Đạivương Hai vị cùng gia thần ở Sa Lập trở về bản phường, mở tiệc khao dân Chẳng bao lâu, hai ngài đều hoá Đức vua vô cùng thương tiếc đã phong họ làmThành hoàng, đồng thời cho dân phường Sa Lập dựng đền thờ phụng Hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch (tức ngày sinh của hai Vị Đại Vương)
và 25 tháng 12 âm lịch (ngày hóa của đức Thánh anh), 10 tháng 10 âm lịch (ngày hóa của đức Thánh em), người dân Thiết ứng lại tổ chức lễ hội để tưởngnhớ công ơn Thành hoàng làng mình Những ngày này cũng là dịp để người thợ Thiết ứng dâng nén tâm hương ở đình, ở đền, tưởng nhớ đến cụ tổ nghề
Câu hỏi 19: Sản phẩm làng chạm khắc gỗ Thiết ứng có đặc điểm gì?
Trả lời:
Cũng như các làng nghề gỗ khác, sản phẩm người thợ Thiết ứng làm ra chia thành hai loại:
- Những trang trí, điêu khắc ở đình, chùa, đền, miếu, lầu, điện, tượng, bài vị, hương án, đồ tế khí…
- Những đồ dân dụng như sập gụ, tủ chè, bàn ghế, bình phong…
Nhìn chung, mỗi sản phẩm đều mang đặc trưng riêng của làng, của nghề đó là "cái duyên nghề" Ta có thể phân biệt được tài khéo thợ Thiết ứng, khichạm các con giống là đường nét khoáng đạt tạo nên vẻ đẹp trang nhã Còn thợ La Xuyên giỏi chạm cây cỏ, hoa lá với những họa tiết, hoa văn dày đặc, tạo
ấn tượng bề thế, cổ kính
Trang 34Câu hỏi 20: Công cụ người thợ chạm khắc gỗ Thiết ứng có mấy loại? Nêu đặc điểm của từng loại?
Trả lời:
Để hành nghề, người thợ phải có đồ nghề, hay nói cách khác là những công cụ làng nghề Những công cụ này được sáng tạo sao cho phù hợp và thuậntiện trong khi làm Nó không ngừng thay đổi và bổ sung ngày một phong phú hơn
Công cụ của nghề chạm khắc gỗ hơi khác biệt với nghề mộc thông thường, xin nêu một số đồ nghề cơ bản như sau:
Cưa: Có ba loại cưa: cưa xẻ, cưa cắt và cưa mộng, mỗi loại gồm nhiều kích cỡ to nhỏ khác nhau Dây chằng các loại cưa đều làm bằng mây Dường cưa
xẻ bằng nứa già, còn dường cưa cắt, cưa mộng và "cái" cưa thì làm bằng gỗ tốt như lim, sến, táu… Riêng dường cưa cắt trung bình phải cách lưỡi cưa 30 50cm, trường hợp đường kính cây gỗ rộng 80 - 100cm thì khoảng cách phải rộng hơn mới cắt được Cưa mộng yêu cầu bản cưa phải hẹp, răng nhỏ, để cưacác đường lượn của mộng
-Bào: Có loại bào phá và bào lau Thân bào phải là loại gỗ tốt và rắn, lưỡi bào dùng loại thép già, cứng được mài sắc Bào dùng để tạo độ phẳng trên gỗ
trước khi tiến hành chạm khắc
Chàng: Có nhiều loại với những kích cỡ khác nhau Chàng là dụng cụ dùng để bạt những mảng gỗ lớn, dặm đường thẳng, nạo lỗ đục tròn hoặc bán
nguyệt Mũi nhọn của chàng dùng để tạo góc lỗ đục cho sắc hoặc tỉa, moi, khoét những chi tiết chạm khắc Trung bình lưỡi chàng dài từ 4 - 10cm, hai bênmài sắc, thân lệch về một phía Chàng cỡ lớn gọi là chàng cựa, cỡ nhỏ gọi là chàng vấu; phải làm bằng thép tốt hoặc độ cứng cao và sắc bén
Đục: Đục bạt dùng để đục phá, dặm đường thẳng hay bạt thách những lỗ đục hẹp Đục bạt có nhiều cỡ, trung bình lưỡi đục bạt rộng từ 1 - 3cm, hai mé
được mài vát cho thật sắc Còn đục vụm hay đục doãng, lưỡi hình cánh cung, có nhiều loại to nhỏ khác nhau dùng để khoét các lỗ tròn, bán nguyệt, đườngcánh cung hay các đường uốn lượn mềm mại Trong quá trình đục bạt, tuỳ theo công việc phải thay cán cho phù hợp thì mới đục được những lỗ sâu hoặcrộng
Cò: Cò nền có hình giống chiếc bay nhỏ, mũi nhọn, sắc dùng để dẫy nền các phần chạm bong Cò kéo lưỡi giống như hình lá khế, hai bên sắc, thân gập
như cán cuốc dùng để kéo dẫy các chi tiết chạm bong
Tách: Hình giống lưỡi mác nhỏ, thân cong, lưỡi vát, sắc nhọn Dụng cụ này dùng để tách dăm đục ở những họa tiết chạm bong.
Ve: Có nhiều kích cỡ và công dụng khác nhau, như ve phân, ve móng chấu, chuyên dùng vào việc chạm khắc trên gỗ.
Trang 35Dụng cụ chạm khắc gỗ không to và rắn chắc như dụng cụ làm đình chùa, nhưng lại rất đa dạng, nhiều loại, nhỏ gọn và sắc bén Mỗi người thợ phải cóvài chục đồ nghề khác nhau Khi làm, họ để trên miếng vải trước mặt, cần loại nào là có ngay Bằng bàn tay khéo léo, người thợ đã điều khiển những dụng
cụ, đồ nghề, lúc mạnh lúc nhẹ, khi chạm nông khi chạm thủng, lúc chạm lộng lúc chạm bong, những khe rãnh hiện lên đan xen ngang dọc làm nổi bật hìnhkhối to nhỏ, nhiều dáng vẻ tạo nên vẻ đẹp tuyệt mỹ, sống động và gần gũi với đời thường
Câu hỏi 21: Để làm nên một sản phẩm chạm khắc gỗ nói chung là ở Thiết ứng nói riêng phải qua mấy công đoạn?
Trả lời:
Muốn làm ra một sản phẩm chạm khắc gỗ, trước tiên người thợ phải tiến hành khâu chọn gỗ Tuỳ theo mặt hàng mà chọn gỗ cho phù hợp, song tiêuchuẩn cao nhất là gỗ phải đảm bảo độ bền, chắc, khó cong vênh hoặc rạn nứt, thớ gỗ phải dẻo, mịn mới dễ chạm, đánh bóng mới đẹp, đồng thời mới xứngcông phu chạm, khảm, sơn thếp… Làm những vật đồ sộ, chịu lực lớn như án thư, kiệu bát cống… thì phải chọn gỗ giổi vì nó cũng rắn chắc nhưng nhẹ hơnlim, ít cong vênh, lại không bị mọt Làm những mặt hàng nhỏ hơn như các loại đồ thờ, ván bưng… thường dùng gỗ vàng tâm Loại này tuy chịu lực kémhơn giổi, nhưng nhẹ và không bị mối mọt Khi chạm những đồ đòi hỏi độ chịu lực cao, những đường nét uốn lượn cầu kỳ, tinh xảo như giá chiêng, kèo,chân sập, bệ tủ… thì có thể chọn gỗ mun hay gụ Những loại gỗ này đôi khi chỉ cần quang dầu hoặc đánh bóng, không cần sơn
Sau khi chọn được loại gỗ thích hợp, người thợ phải xẻ, cắt, đẽo, bào,… theo hình dáng, kích thước đồ vật định làm Đối với thợ tay nghề vừa phải thì vẽmẫu trên giấy bản, in vào gỗ, rồi bắt đầu chạm khắc Riêng với các phó cả, hoặc thợ lành nghề thì họ chỉ cần phác họa qua trong óc các đường nét chính saocho đăng đối, đúng kích thước; và thế là các họa tiết, các lối hoa, kiểu lá… cứ theo từng nhát chàng, nhát dục "đi nét", "tỉa nét" hiện dần lên như trongtruyện cổ tích Cũng phải nói rằng, nghề chạm khắc gỗ có nhiều khó khăn hơn một số nghề thủ công khác Ngoài sức khỏe ra rất cần có đức tính cần mẫnkiên trì Có đôi tay khéo thì chưa đủ mà phải có đầu óc tinh tế, có năng lực tái hiện và sáng tạo những mẫu mới phù hợp với nhu cầu xã hội
Trong thực tế, công việc không phải lúc nào cũng chọn được gỗ đáp ứng đúng kích thước để chạm khắc, vì thế thường phải ghép nhiều chi tiết với nhaubằng các loại mộng Những họa tiết chênh, bong thường được chạm khi rời, khi ghép; để đảm bảo độ mịn màng, bền chắc, phải mồi sơn ta hoặc chốt đinhtre, đinh đồng vào các lỗ mộng
Tuỳ theo mặt hàng hoặc đề tài, người thợ có cách thức làm khác nhau Long đình phải chạm bốn mặt, hương án chỉ cần chạm ba mặt (hoặc một mặttrước) Đề tài sử dụng để chạm khắc cũng thật phong phú: long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai và có cả các tích trong kinh Phật hoặc trong sử sáchcủa Tàu
Trang 36Trải qua kinh nghiệm nhiều đời truyền lại, người thợ Thiết ứng vẫn làm nghề theo kiểu truyền thống, nghĩa là từ lúc chọn gỗ cho đến khi hoàn thành sảnphẩm, tuyệt nhiên họ không làm từng chi tiết theo cách chuyên môn hóa kiểu sản phẩm hiện đại Phải chăng vì thế ở mỗi sản phẩm của người thợ Thiết ứng,mặc dù rất giống nhau về đại thể, nhưng ở từng chi tiết, họa tiết, vẫn ẩn chứa những tâm tư, tình cảm của người làm ra nó.
Một khâu khá quan trọng trong nghề chạm khắc gỗ là kỹ thuật sơn gắn các bộ phận với nhau Dùng sơn sống gắn các mảng rồi bó lại, từ chuyên môn gọi
là bả Lấy sơn sống trộn với đất sét mịn, trát vào những chỗ lồi lõm, rồi quét sơn lên miết cho thật phẳng gọi là hom Phải bả và hom xong mới sơn Cónhiều cách sơn khác như sơn lót, sơn thếp, sơn phủ, sơn cầm… Tùy từng đồ vật chọn cách sơn cho thích hợp
Câu hỏi 22: Việc tạc tượng đã được các nghệ nhân làng Thiết ứng tuân theo những quy chuẩn nào?
Trả lời:
Phật giáo, một tôn giáo lớn của nhân loại, đã du nhập vào nước ta từ rất sớm Chuyện Phật Mẫu Man Nương ở chùa Dâu phải chăng đã phản ánh sự thựcnày Trải qua các triều đại Lý, Trần, Phật giáo đều ở vị trí độc tôn, trở thành quốc giáo Đó là lý do tại sao ở Việt Nam có nhiều chùa, nhiều tượng Phật Córất nhiều tượng được đúc bằng đồng, được ghi lại trong sử sách là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tượng Phật đền Quán Thánh… Song tượng bằng gỗ vẫnchiếm phần lớn Thư tịch cũ đã ghi lại có nhiều người thợ nổi tiếng về nghề tạc tượng như cụ tổ nghề Nguyễn Công Huệ ở Bao Hà (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)hoặc Kỳ Tài Hầu Tô Phú Vượng, hiện ở nhà ông còn lưu giữ đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng (1754) đời vua Lê Dẫu rằng nhiều nơi có nghề tạc tượng,nhưng do sự giao lưu nghề nghiệp nên những quy cách hoặc những khâu trong khi tiến hành công việc hầu như không có sự khác biệt Sự khác nhau chỉ phụthuộc vào tài năng, ở sự nhạy cảm của nghệ nhân để tạo nên cái "hồn tượng", thổi vào đó sức sống vĩnh cửu, trường tồn
Đã từ lâu, những nghệ nhân làng Thiết ứng đã rất thành thạo các quy chuẩn, thông số, tỷ lệ cấu thành các pho tượng Với tượng đứng, phải làm theo cách
"lập thất", nghĩa là chiều cao tượng bằng bảy lần chiều dài của mặt (người ta còn gọi là thất diện) Còn tượng ngồi thì theo "tọa tứ" tức là chiều cao tượngngồi bằng chiều dài của 4 mặt (hay 4 diện) Muốn tính chiều ngang của tượng thì đo từ bả vai bên phải sang bả vai bên trái, dài 2 diện là cân đối Cách tínhcác khoảng trên mặt tượng cũng được quy định một cách cụ thể Ví như, trên trán từ chân tóc đến chân lông mày là 1/3 diện; từ chân lông màu đến chân mũicũng bằng 1/3 diện Thậm chí để tạc một pho tượng, người thợ phải dựa vào 120 quy cách phân chia các bộ phận trên tượng theo đơn vị mà chế tác Về quycách số đo, được tính như sau:
- Đỉnh nhục kế dài 4 ngón
- Giữa đỉnh tới chân tóc tràn dài 4 ngón
- Chân tóc tới ấn đường dài 4 ngón
Trang 37- ấn đường tới đầu mũi dài 4 ngón
- Từ mũi tới cằm dài 4 ngón
- Từ cằm tới vai dài 4 ngón
- Từ cổ tới vai dài 4 ngón
- Cổ cao 4 ngón
- Cổ tới vú dài 12 ngón
- Vú tới rốn dài 12 ngón
- Từ rốn tới âm nang dài 12 ngón
- Âm nang tới bẹn dài 4 ngón
- Vòng mũi (tính từ tai trái đến tai phải) dài 18 ngón
- Vòng gáy (cũng theo chuẩn trên) dài 14 ngón
- Lông mày cao ngang tai dài 4 ngón
- Mắt lớn 4 ngón
- Mũi rộng 2 ngón
- Từ nhân trung đến đầu mũi dài 1,5 ngón
- Mũi đến môi trên dài 1,5 ngón
Trang 38- Môi dày (môi trên cũng như môi dưới) 1 ngón
Trang 39- Ngón trỏ và ngón đeo nhẫn dài 4 ngón
Phần chân:
- Vòng đùi trên sát bẹn dài 32 ngón
- Vòng đùi dưới gần bánh chè dài 23 ngón
- Vòng quanh mắt cá dài 14 ngón
- Mắt cá rộng 2 ngón
- Gót chân tròn 3 ngón
- Lòng bàn chân dài 12 ngón
- Bề dày bàn chân phải ngón cái là 2 ngón
- Bề dày bàn chân phía ngón út là 1 ngón
Những quy chuẩn trên được đúc rút từ quá trình thực tế làm nghề của nhiều thế hệ thợ, của nhiều vùng nghề, làng nghề Tuy chỉ dựa trên kinh nghiệm,song nếu đem so sánh với tỷ lệ giải phẫu thân thể của người Việt Nam lại rất chính xác và khoa học Phải chăng đây là một trong những nét tài hoa củangười thợ thủ công Việt Nam? Trong quá trình chế tác sản phẩm, mặc dù người thợ phải dựa vào những tiêu chuẩn chung như "nhất diện tam trùng" (mặtchia ba khoảng cách bằng nhau: chân tóc đến gốc lông mày, gốc lông mày đến mũi, mũi đến cằm), "nhất diện phân lưỡng kiện" (hai vai dài gấp đôi chiềudài mặt)… nhưng trong từng trường hợp cụ thể, họ vẫn có những sáng tạo linh hoạt Trường hợp tạc tượng các vị Bảo hộ Phật pháp (ông Thiện và ông ác)
đã thể hiện khá rõ điều này Tượng bao giờ cũng được đặt phía trước, nơi thoáng đãng, người thợ khi làm những tượng trên bao giờ cũng đẩy chiều caotượng lên 7,5 hay 8 đầu để tạo thêm cảm giác mạnh mẽ, uy nghiêm Ngược lại, đối với quan hầu hay ông phỗng, họ lại dùng phương pháp "kéo lùn" hay
"đập méo" để khai thác chất mộc mạc, hài hước
Câu hỏi 23: Nghệ thuật sơn thếp ở Thiết ứng ai là tổ nghề? Việc chế sơn theo những quy trình nào? Nêu hiện trạng của nghề sơn?
Trả lời:
Trong nghệ thuật chạm khắc gỗ không thể bỏ qua nghệ thuật sơn thếp Người thợ chạm khắc gỗ đồng thời có thể làm mộc, nhưng sang lĩnh vực sơn thếpthì phải nghề nào nghiệp ấy Những pho tượng, những đồ thờ như hương án, bài vị,… thậm chí đến những bức sơn mài, nhờ và bàn tay tài hoa của người thợ
Trang 40sơn thếp sẽ trở nên lung linh, huyền ảo và đạt trình độ thẩm mỹ cao Chính kỹ thuật sơn thếp truyền thống và độc đáo của Việt Nam đã làm đã các sản phẩmchạm khắc gỗ đạt giá trị thẩm mỹ.
Sơn thếp - công việc nối tiếp khâu tạc tượng
Phường Nam Ngư - nay nằm trên quãng đường ngang nối phố Lê Duẩn với phố Phan Bội Châu (quận Hoàn Kiếm - Hà Nội), vốn có đền thờ ông tổ nghềsơn Trần Lư Gia phả họ Trần cho biết, Trần Lư người làng Bình Vọng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) Ông đi sứ sang phương Bắc, họcđược nghề sơn ở tỉnh Hồ Nam Về nước, ông truyền dạy nghề sơn cho dân quê ông và các làng xung quanh Vì thế, ngay từ thời Lê, nhiều thợ sơn giỏi ởBình Vọng, Hạ Thái (Thanh Trì) và Đình Bảng (Tiên Sơn, Bắc Ninh) đã tụ hội về kinh đô Thăng Long lập nên phường sơn Nam Ngư và dựng miếu thờ ônglàm tổ nghề sơn cả nước
Thực ra, nghề sơn của Việt Nam đã có từ lâu Khi khai quật ngôi mộ cổ ở Việt Yên (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) các nhà khảo cổ học đã tìm thấychiếc đục nhỏ dài 5,5cm, cán bằng gỗ sơn bóng, chiếc nạo móc sơn then dài 30cm, đặc biệt còn có chiếc tráp cao 20cm, rộng 40cm, dài 5,5cm được sơnthen với những hoa văn trang trí màu cánh gián… Tuy nhiên, do còn hạn chế về mặt tư liệu nên đến nay chưa xác định được một cách cụ thể Rõ ràng phảiđến thế kỷ 15, Việt Nam mới có nghề sơn do cụ tổ Trần Lư đưa về
Những sản phẩm chạm khắc gỗ, sẽ được hoàn thành bởi người thợ sơn thếp Trừ loại gỗ gụ chỉ cần đánh bóng, quang dầu là sẽ nổi lên màu nâu đenbóng, còn các loại gỗ khác đều phải sơn hay thếp vàng, thếp bạc
Sử dụng và điều chế nguyên liệu sơn cũng lắm công phu Nhựa sơn phải lấy vào lúc chiều tối hay sáng sớm khi mặt trời chưa mọc để tránh sơn bị đổimàu Rồi lại "ngả sơn", điều chế nhựa sống thành nhựa sơn chín thì mới sử dụng được Sơn chín được chế thành hai màu sơn then và sơn cánh gián
Sơn then được chế từ sơn giọi nhất (có từ 70 - 80% lượng dầu) khuấy lên thấy có màu vàng ngả hồng, mùi thơm không chua là sơn tốt Sơn được đổ vàochậu sành hay chậu gang, dùng thanh sắt chưa tôi nung đỏ để nguội và quấy đều sơn Thanh sắt bị sơn ăn mòn dần, làm sơn đen lại Càng mài sắt càng mòn,sơn càng đen Đợi đến khi được màu đen ưng ý mới đổ sơn vào sải, lấy mỏ vầy quấy đều tay đến khi sơn chín thì thôi
Sơn cánh gián được điều chế bằng cách cho sơn giọi nhất vào chiếc sải nan tre, mặt trong được trát bó bằng sơn trơn bóng Dùng mỏ vầy quấy sơn theo lòngsải từ 16 - 20 giờ là chín Khi quấy phải miết cho sơn mịn mặt, quấy đều cùng một cỡ tay Nếu quấy nhẹ tay sơn sẽ lâu chín, quấy mạnh quá sơn sẽ mau đặc,xoắn lại cũng không tốt Quấy chậm thì sơn lâu chín, bị vữa Trung bình quấy từ 30 - 50 vòng/phút là được
Hai loại sơn trên cần phải lọc hết tạp chất và vắt cho óng mượt Sau đó cho vào sải, bảo quản nơi râm mát để sử dụng dần
Sách Việt sử thông giám cương mục phần chính biên chép: "Phép tắc nhà Trần quy định từ tôn thất đến quan ngũ phẩm được dùng kiệu, ngựa và võng Kiệu của tôn thất chạm hình đầu chim phượng sơn son, quan tướng quốc dùng kiệu chạm chim anh vũ sơn then" Trong cuốn Du lịch và phát hiện viết năm