1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giá trị và bảo tồn văn hóa ẩm thực và trang phục truyền thống ở làng cổ đường lâm qua kinh nghiệm của nhật bản

92 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chưa nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ giá trị văn hóa sinh hoạt truyền thống của cư dân địa phương, chưa đưa ra định hướng bảo tồn và phát huy phù họp, gắn kết quyền lợi của n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BÁO CÁO TỎNG KÉT

KẾT QUẢ THỤC HIỆN ĐÈ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUÓC GIA

GIÁ TRỊ VÀ BẢO TÒN VĂN HÓA ẲM THỰC VÀ TRANG PHỤC

TRUYÈN THÓNG Ở LÀNG CỐ ĐƯỜNG LÂM

QUA KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

Trang 2

PHẢN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: Giả trị và báo tồn văn hóa ấm tlĩực và trang phục truyền thống ở làng cố Đường Lãm qua kinh nghiệm của Nhật Bán

1.2 Mã số: QG.14.26

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài:

TT Chúc danh, học vị, họ và tên Đon vị công tác Vai trò thực hiện đề tài

Thành viên đề tài

1.4 Đ on vị chủ trì: Trường Đại học KHXH&NV

1.5 Thòi gian thực hiện:

1.5.1 Theo hợp đồng: 24 tháng, từ tháng 5/2014 đến thảng 5/2016

1.5.2 Gia hạn (nếu có): không

1.5.3 Thực hiện thực tế: 24 tháng, từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2016

1.6 Những thay đôi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):

Trong thời gian kiểm tra tiến độ vào tháng 5 năm 2015, chủ trì đề tài đã đề nghị thay đối sản phấm 1 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế SCOPƯS bàng 1 bài nghiên cứu

in trong sách do Trung tâm Nshiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản (Nichibunken) xuất bản có chỉ số ISBN Phiếu đề nghị đã được Đại học Quốc gia chấp nhận và phê duyệt

Trong năm thứ 2 thực hiện đề tài, chủ trì đăng kí đăng 2 bài trên tạp chí nghiên cứu trona nước, nhưng trên thực tế đã gửi đăng 1 bài nghiên cứu trên tạp chí trong nước

và I bài trên tạp chí nghiên cứu của Nhật Bản Cả hai tạp chí đều có chỉ số ISSN Ngoài

ra chủ trì có 2 báo cáo tại Hội thảo quốc tế tại Nhật Bản về nội dung liên quan đến đề tài và đã được đăns trone kỷ yếu

1.7 Tông kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng

Trang 3

PHẦN II TONG QUAN KÉT QUẢ NGHIÊN cửu

1 Đặt vấn đề

Hai chữ Đ ưòng Lâm vốn từ lâu đã trớ nên quen thuộc với ngưò’i Việt Nam Na,ôi làng nông nghiệp nằm cách Hà Nội 47km về phía tây nam là nơi còn lưu giừ được nhiều nếp nhà dân gian và nét sinh hoạt truyên thông của cư dân đông bàng Bấc bộ Tháng 11 năm 2005, Đường Lâm trở thành làng cô đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, với phạm vi bảo tôn

là các thôn M ông Phụ, Cam Thịnh, Đông Sàng, Đoài Giáp và Cam Lâm

Năm 2006, Ban quản lý làng cố Đường Lâm được thành lập, đồng thời qui chế bảo tồn làng cổ cùng được ban hành Tuy nhiên đến nay, hâu hêt các công trình nghiên cứu và hoạt động bảo tồn làng cổ chỉ tập trung phát huy giá trị lịch

sử, tôn giáo, kiến trúc của di sản Các loại hình văn hóa sinh hoạt như âm thực, trang phục truyền thống và vai trò của cộng đồng cư dân còn chưa được nghiên cứu đầy đủ Công tác tuyên truyền, phát huy giá trị vì thế cũng chưa được chú trọng đúng mức Dưới sức ép của quá trình đô thị hóa và lượng khách du lịch gia tăng đến 80 nghìn người/năm, nhiều yeu tố trong văn ẩm thực và trang phục truyền thống của Đường Lâm đang rơi vào tình trạng bị lãng quên hoặc biến dạng nhanh chóng Không ít cá nhân và doanh nghiệp chỉ tập trung sử dụng di sản vì lợi ích trước mắt, tư vấn xây dựng, trưng bày, thu hút khách tùy tiện Cách khai thác di san này đang làm méo mó giá trị nguyên gốc của di sản, tạo nên tình trạng phân hóa giữa một số gia đình cung cấp dịch vụ du lịch và các hộ gia đình còn lại Tình trạng này khiến ủ y ban nhân dân xã và Ban quản lý làng cổ gặp khó khăn trong việc thuyết phục người dân lưu giữ nếp sống cộng đồng truyền thông, đông thời gây nên sự nghi ngờ về ý nghĩa và tính bền vững của việc bảo tồn Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm dấy lên ý kiến phản đối cua một sô hộ dân đôi với việc bảo tôn làng cô, thậm chí dẫn đên hành động viêt thư đòi trả lại danh hiệu di sản của 78 hộ dân vào tháng 4 năm 2013

Trang 4

N hững vấn đề trên cũng đang xuất hiện O' nhiều làng cô và khu phô cô - các "‘di sản sống” - trên ca ba miền Bắc, Trung, Nam Việc chưa nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ giá trị văn hóa sinh hoạt truyền thống của cư dân địa phương, chưa đưa ra định hướng bảo tồn và phát huy phù họp, gắn kết quyền lợi của người dân với di sản đang dần đến những hệ lụy trên nhiều lĩnh vực: chính quyền địa phương chưa nhận được sự ủng hộ và đồng thuận của người dân nhăm đưa ra biện pháp bảo vệ di sản hiệu quả; cơ quan qui hoạch chưa xây dựng được

kế hoạch phát triển khu vực bền vững; các nhà văn hóa, đạo diễn sân khâu, phim lịch sử chưa sáng tạo được các tác phấm lột tả chân thực hình ảnh sinh hoạt của nông thôn trong quá khử

Bên cạnh dó còn một thực tế là từ trước đến nay, khi nghiên cứu về văn hóa sinh hoạt truyền thống, các nhà nghiên cứu thường tập trung khai thác đề tài

lễ hội, bao gồm nghi lễ và các yếu tố văn hóa âm thực, trang phục sử dụng trong

lễ hội Đây đúng là giá trị quan trọng của một “di sản sống” Tuy nhiên, cư dân làng cô không hàng ngày sổng với lề hội Nói cách khác, ấm thực và trang phục truyền thống mới là những yếu tố làm nên sinh hoạt thường nhật của cư dân làng

cô Vì vậy, nghiên cứu này lấy ẩm thực và trang phục truyền thống làm góc độ nghiên cứu chính Ấm thực truyền thống mà tác giả đề cập là những đặc sản giản

dị, sử dụng nông sản địa phương như mía, gạo, lạc, vừng , là bữa ăn thường nhật cua các gia đình nông dân Trang phục truyền thống được nghiên cứu là dải yếm, tấm áo cánh nhuộm củ nâu, chiếc quần chân què chít bùn, hay hàm răng đen lánh hạt na Đây là những hình ảnh gắn liền với đời sống của người nông dân Băc bộ một thời, nhưng hiện đang mai một nhanh chóng trong cơn lôc công nghiệp hóa,

đô thị hóa và toàn cầu hóa

Mặc dù Đường Lâm là đề tài được chú ý nhiều, nhất là trong hai thập kỉ gần đây, nhưng với cách tiếp cận riêng, công trình nghiên cứu m ong muôn đáp ứng nhu cầu của những người quan tâm đến văn hóa ấm thực và trang phục truyền thống thường nhật của làng cô Đường Lâm nói riêng và nông thôn Bắc bộ nói chung Tác giả tin rằng những đánh giá và đề xuất bảo tồn có thế bước đầu cung

Trang 5

cấp cơ sơ cho việc xây dựng định hướng bảo tồn bên vừng và phát huy hiệu quả các giá trị truyền thống cua nông thôn Việt Nam, nơi che chở, lưu giữ tâm hồn Việt.

2 Mục tiêu

Dựa trên kinh nghiệm điều tra và kĩ thuật bảo tồn làng cô của Nhật Bản, đê tài nghiên cứu tập trung sáng rõ giá trịvăn hóa âm thực, trang phục truyên thông cua cư dân khu vực bảo tồn trong làng cô Đ ường Lâm Từ đó, tác giả đê xuât định hướng bảo tồn bền vừng đối với làng cô và biện pháp bảo tồn cụ thê đôi với văn hóa âm thực, trang phục truyền thống

Mục tiêu cụ thế cua đề tài là:

1) Làm sáng rò giá trị và đặc trưng cua văn hóa âm thực truyên thông của làng cô D ường Lâm

2) Làm sáng rõ giá trị và đặc trưng cứa trang phục truyền thống của làng cổ Đường Lâm

3) Giới thiệu kinh nghiệm của một số di sản ở Nhật Bản và phố cô Hội An trong việc bao tôn, phát huy giá trị cua vàn hóa âm thực và trang phục truyên thống

4) Đe xuât định hướng bảo tôn bên vừng văn hóa sinh hoạt của Làng cô Đường Lâm

5) Đe xuất biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa âm thực, trang phục truyền thông của làng cô Đường Lâm

3 Phuong pháp nghiên cứu

Với kinh nghiệm tham gia một số dự án hợp tác nghiên cún, bảo tồn di sản giừa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1993 đến nay, tác giả chú trọng áp dụng phương pháp nghiên cứu và kinh nghiệm bảo tồn của Nhật Bản nhằm làm sáng

tỏ giá trị văn hóa âm thực và trang phục truyền thống của làng cố Đường Lâm

Đe tạo tiêp cận từ góc độ nghiên cứu văn hóa âm thực và trang phục truyền thống

4

Trang 6

thường nhật của Đ ường Lâm, nhằm bô sung thêm những nét khăc họa giản dị, chân thực vào bức tranh chung về làng quẻ Băc bộ cô truyên.

Tác giả sử dụng cách tiếp cận liên ngành khi thực hiện đề tài, cụ thê là kêt hợp các phương pháp truyền thông cua khoa học xã hội như phân tích, tông hợp

tư liệu, so sánh, đối chiếu với phương pháp điều tra điền dã, phỏng vấn, nghiên cứu trường hợp của khu vực học Đặc biệt, một số phương pháp phân tích tiên tiến cua Nhật Bản như phân tích vật lý và hóa học đối với mẫu vải, màu nhuộm, phương pháp đánh giá chỉ số dinh dường, chỉ số B M I được áp dụng nhằm làm nối bật tính đặc thù cua văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống ở Đường Lâm

và đề xuất phương pháp bảo tồn tại chồ phù họp, kịp thời

4 Tống kết kết quả nghiên cứu

Đ ường Lâm không chỉ là một “ làng cô đá ong” với những di tích kiên trúc, lịch sử, tôn giáo phong phú, mà còn là nơi lưu giữ những minh chứng sinh động

và quí giá về nền văn hóa sinh hoạt đặc sắc của cư dân Việt Điều đó thê hiện rõ nét qua văn hóa âm thực, trang phục truyền thống, các ngành nghê thủ công và nhừng phong tục thường nhật tuy gian dị mà hàm chứa bao kinh nghiêm được tích lùy bơi nhiều thế hệ

Trước hết, Đ ường Lâm là làng cô có nhiều đặc sản truyền thống, phản ánh dặc trưng ấm thực của xứ Đoài nói riêng và nông thôn Bắc bộ nói chung Các sản phẩm từ tương, đậu nướng, đến kẹo dồi, kẹo lạc, chè lam, bánh gai, nước lá mùng

5 tháng 5 đều được chế biến từ nông sản địa phương như đậu tương, mật mía, gạo Tuy gần đây m ột số hộ gia đình bắt đầu áp dụng thiết bị hiện đại như máy xay bột, quây kẹo, dây chuyền đóng gói , nhưng nhìn chung qui trình sản xuất vân chu yêu dựa trên lao động thủ công, đòi hỏi sự khéo léo, tính kiên nhẫn, sức lao động bên bi Tình trạng cạnh tranh, giấu bí quyết hay chuyên môn hóa giữa các hộ san xuất, bán hàng, phân phối chưa cao Kĩ thuật chế biến được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác theo quan hệ huyết thống hoặc láng giềng, v ề

5

Trang 7

hình thức, đặc sản của Đường Lâm đơn giản, không màu mè, nhưng giữ được hương vị truyên thông đặc trưng.

Kết quả khao sát cấu trúc gia đình ở Đường Lâm cho thấy, số thành viên bình quân một hộ là 4,6; số hộ có 5 thành viên trở lên chiếm khoảng 45% Neu

so với số thành viên bình quân một hộ ở đồng bằng sông Hông là 3,4 ( 2 0 13)1, thì

0' Đ ường Lâm số gia đình đông thành viên vẫn chiếm tỷ lệ cao Mô hình đại gia đình, gồm 3 thế hệ (ông bà, bố mẹ và con cháu) khá phô biến Trung bình sô người ở độ tuôi 1 8 - 5 0 trong mỗi hộ là 3,3, tức là tỷ lệ lực lượng lao động khá dồi dào Kết quả điều tra chỉ sổ BMI cho thấy 10% cư dân có chỉ số BMI trên 25 (tức béo phì); 20% có chỉ sổ dưới 18,5 (tức suy dinh dường) Nhóm người ở độ tuồi từ 20 trơ lên đạt mức BMI trung bình là 20 - 22 (tức là tỷ lệ cân đối) Nhóm dưới 20 tuổi có chỉ số trung bình là 15 Nói cách khác, đa số người dân ở Đường Lâm có tình trạng cơ thế cân đối, số người béo phì chiếm tỷ lệ rât thấp Trẻ em

và thiếu niên dưới 20 tuôi có tình trạng dinh dường thấp, cần cải thiện

v ề thói quen trong sinh hoạt ấm thực, có thê thấy nhiên liệu tự nhiên được

sử dụng chủ yếu, gồm than, củi, rơm rạ, thân ngô phơi khô s ố hộ sử dụng tủ lạnh, nồi cơm điện, bếp điện, ga còn rất ít Nước sinh hoạt và chế biến chủ yếu vần là nước mưa, nước giếng Cư dân Đường Lâm vẫn giữ thói quen ăn ngày 3 bừa tại nhà Tỷ lệ bữa ăn ngoài rất ít, từ 1-2 lần/tuần Cơ cấu bữa ăn vê cơ bản theo mô hình truyền thống Đạm thực vật (đậu tương), cá nước ngọt, thịt lợn, gà, vịt đưọ'c sử dụng chủ yêu, nhưng thịt bò ít được chế biến Rau được sử dụng nhiều trong bừa ăn nhưng ăn hoa quả và các sản phâm sữa ít được sử dụng Tỷ lệ bữa

ăn cơm và các loại bánh chê biên từ gạo, khoai, sắn cao, trong khi việc ăn trực tiêp ngô, khoai, sắn thay cơm lại không phô biến Điều này phản ánh đặc trưng của làng cô Đường Lâm là nghề thủ công chế biến đặc sản từ gạo và mật vốn rất phong phú

diêm 1/4/2013 - Các kết quá chú yếu, Tổng cục Thống kê, tr 1

6

Trang 8

ư u điếm của thói quen ăn uống ở Đường Lâm là tỷ lệ đạm thực vật và rau nhiều, nguyên liệu được sản xuất theo phương pháp truyền thống và chê biên tươi nên tính an toàn cao Cách chế biến món ăn thường nhật và đặc sản địa phương khá đon giản, đặc biệt là không sư dụng hóa chất và phụ gia công nghiệp Tuy nhiên, hoa quả, các sản phẩm sữa ít được sử dụng khiến chỉ số dinh dưỡng của trẻ em chưa cao Ngoài ra, nguyên liệu chế biến các món ăn thường nhật và đặc sản của làng có tỷ lệ chất béo và chất đạm thấp, tỷ lệ bột và đường lại khá cao Đây là hạn chế cua cơ cẩu bữa ăn và đặc sản ở Đường Lâm.

Trên cơ sở phân tích hiện trạng văn hóa âm thực của Đường Lâm, tác giả nhận thấy, đê đảm bao nhu cầu dinh dường của người dân, cân một mặt tuyên truyền rộng rãi về ưu điểm của đòi song âm thực hiện nay, mặt khác khuyên cáo các hộ gia đình bô sung nguồn dinh dưỡng từ đạm động vật, sữa và hoa quả Việc cung cấp các bữa ăn tại làng co phục vụ khách du lịch cũng nên cân đối giữa nhu cầu của từng nhóm khách (vùng miên, quốc tịch, nghề nghiệp, độ tuôi) với việc quảng bá các món đặc sán dân dâ của dân làng Việc tiêp tục nghiên cứu đê đưa

ra bảng dinh dường chi tiết của mỗi sản phẩm, khuyến cáo bảo tồn phương pháp chế biến và sản xuất truyền thống, nâng cao tính hấp dẫn của mẫu mã sản phâm, giúp đõ' các hộ chuyên sản xuất đăng kí vệ sinh an toàn thực phâm, thương hiệu

là những việc làm câp bách

v ề văn hóa mặc, những trang phục hiện còn được lưu giữ ở Đường Lâm tuy không phải là sản phâm riêng của làng, nhưng hiếm có làng cô nào hiện nay còn lưu giữ được một cách đầy đủ về chủng loại và số lượng trang phục truyền thống như vậy N hờ những trang phục như yếm, áo cánh, áo tứ thân, áo năm thân,

áo mớ, quần chân què và kí ức của các cụ cao niên ở Đường Lâm về phong tục

và nghê truyền thống liên quan đến trang phục, chúng ta có thê tìm hiếu quá trình biến đôi đời sống trang phục của người Việt nói chung

Trước hết, sự biến đôi trang phục lót được thể hiện qua thói quen mặc yếm

và áo lót của các thế hệ phụ nữ Đ ường Lâm Qua kết quả phỏng vấn và đo vẽ, tác

7

Trang 9

giả nhận thấy, các cụ bà trên 70 tuổi vẫn giữ thói quen mặc yếm, trong khi phụ

nữ trung niên 50 - 60 tuổi thường mặc áo lót kiểu áo ba lồ hay áo cánh không tay Phụ nữ từ 40 tuổi trở xuống đã quen với việc mặc áo nịt hiện đại

Cách căt may và mặc quân cùng phản ánh sự thay đôi qua các thời kì Từ quần chân què ghép hai ống do khổ vải hẹp trước thập niên 19602; chuyến sang quần chân què ghép một bên ống nhờ máy dệt khố vải rộng, nhưng thói quen mặc rộng ống, đũng sa và cạp buộc vần được duy trì trong thập niên 1960-1970; đên quần may đo vừa người, cân hai ống, ghép giữa đùng, cạp cài cúc theo kiêu âu phục, phô biến trong nam giới từ thập niên 1970 và trong nữ giới từ thập niên 1980

Quá trình hiện đại hóa trang phục còn thế hiện rõ qua sự biến đôi của tâm

áo cánh và áo dài Áo tứ thân là trang phục truyền thống của người Việt, vốn được thiết kế theo nguyên tắc “m ở ” (mặc bằng cách quấn, không cài cúc kín mà dùng dây thắt), và nguyên tẳc thông khí “kiểu ong khói” là các nguyên tẳc chugn của trang phục phương N am 3 Sau này, áo cánh nối tay và áo năm thân tuy chịu ảnh hưởng của yếu tố phương Bắc (như sử dụng cúc áo, cổ áo may cao và sát hơn, thói quen đặt vạt phải lên trên vạt trái)4, nhưng vẫn kết hợp với thói quen may mặc truyền thống Đó là thiết kế nối ở tay áo, may liên và thoáng ở nách, không cài kín cúc mà dùng dây buộc ở bụng Bên cạnh đó, sự kết hợp tê nhị vê mâu săc

và độ dày m ong của nhiều lớp trang phục tùy theo nhiệt độ nóng lạnh cũng là một kinh nghiệm đáng chú ý Từ thập niên 1970, thiết kế kiếu ráp lăng và SO' mi nối

2 Khố vải dệt bàng khung cửi thủ công truyền thống là 30 - 40cm.

3 Theo Inomata Mieko (2010), trang phục phương N am có đặc trưng “m ở ” và kiểu “ ống khói” Ta có thế thấy rõ dặc trưng này qua cách vấn khố của nam giới hay quấn sà rông của phụ nữ Đông Nam Á Áo tứ thân cũng có nguyên tẳc tương tự v ề cơ ban trang phục kiếu phương N am thường rộng rãi, giúp khỏriíỉ khí lưu thông giữa cơ thế và lớp trang phục bị nóng lên do tiếp xúc trên bề mặt da sẽ di chuyến lên trên và thoát ra ngoài dễ dàng, khiến

An được công nhận là Di sản Thế giới, Kỷ yếu số 10/2010 của Trường Đại học N ữ Showa, N X B N eo Media

C om m unication, tr 100).

4 Theo Sato Yasuko (1992), người Trung Quốc xưa có câu: “N hân đạo giả dĩ hữu vi tôn” hay “T ứ di tà nhậm ” chi việc người biết đạo lý phái coi trọng bên phải, khi mặc trang phục phải lấy vạt phải phú lên vạt trái, khác với

n Sĩ ười man di thì coi trọng bên trái Tục lệ này vốn xuất hiện lừ trước công nguyên ở vùng Hắc hải, sau du nhập

phục Nhật Ban. N X B Kenpakusha, tr 14-15).

8

Trang 10

tay áo ơ nách đâ anh hương tới cách căt may áo cánh và áo dài, làm biên dạng và mất đi ưu điêm von có của kiêu thiết kê cô truyên.

Đ ưòng Lâm là làng cô còn lưu giữ nhiều kí ức quí báu về các phong tục và ngành nghề truyền thống Tiêu biêu là tục nhuộm răng đen và tục nhuộm củ nâu, chít bùn Kết qua điều tra phong vấn 20 cụ cao niên ở Đưcmg Lâm đã góp phân quan trọng giúp tác gia hệ thống hóa qui trình nhuộm răng đen ở Băc bộ với bôn bước chính là làm sạch răng, nhuộm đỏ, nhuộm đen và bảo dưỡng Đặc biệt, thói quen ăn trầu cau là một biện pháp hiệu quả nhằm giữ vệ sinh răng m iệng và bảo dường màu răng đen nhánh, biếu tượng một thời của vẻ đẹp Việt cô Bên cạnh

đó, tư liệu phong vấn, hình ảnh, video và kết quả phân tích vật lý, hóa học đôi vơi các m ẫu vải được nhuộm bàng củ nâu, chít bùn đã cung cấp những thông tin quí báu giúp tái hiện một nghề truyền thống quan trọng gan liền với trang phục Việt

Kỳ thuật nhuộm củ nâu sử dụng nguyên liệu là củ nâu và công cụ chủ yêu là bàn nạo sắt Nước ngâm củ nâu nạo nhỏ được lọc sạch bã và nhúng vải nhuộm nhiều lần T ru n g bình qui trình ngâm nước - vẳt - phơi cần lặp lại khoảng 1 0 - 1 5 ngày

dê (lạt dirợc màu vải nâu sẫm ưng ý Kỹ thuật nhuộm bùn hay chít bùn sử dụng nguyên liệu là bùn lấy từ ao hồ, trộn với vỏ, cành, lá của loại cây có nhiều chất tanin n h ư cây xó, cây ôi với dụng cụ chủ yêu là bàn chải hay chôi đê quét bùn lên mặt vải Qui trình quét dung dịch bùn lên vải - phơi vải được lặp lại liên tục trong 3 ngày đê vải chuyên sang màu đen nhánh N guyên tăc của hai kỹ thuật nhuộm vải về cơ bản giống kỹ thuật nhuộm răng đen, tức là tận dụng phản ứng cua tanin thực vật và sắt (trong thuôc nhuộm răng, trong nạo sắt, trong bùn) với

ty lệ cân thiết đê có được sự chuyến màu theo ý muốn Ket quả quan sát kính hiến

vi điện tử cho thấy, dung dịch thuốc nhuộm từ củ nâu và bùn không ăn vào lõi sợi vải m à tạo một lớp bọc phủ bên ngoài sợi vải Vải chít bùn có hàm lượng canxi và sất cao hơn vải nhuộm củ nâu nên màu vải đen sẫm và độ bền màu tốt hơn Tuy nhiên, vải chít bùn có độ bền sức căng mặt vải cao hơn do không bị tốn thương bơi qui trình quét chải bùn trên mặt vải

9

Trang 11

Trang phục Đường Lâm cũng giống như sức sông của làng cô, không ôn

ào, phô trương mà âm thầm bền bỉ với những biêu hiện trầm lặng, sâu lăng Các

cụ cao tuôi ở Đường Lâm đã quen với việc con cháu mặc đô âu, các đoàn biêu diỗn của thị xã hay thành phổ mặc những bộ trana phục kiêu áo tứ thân biên tâu xanh đỏ, nhưng bản thân các cụ vần âm thầm gìn giữ hàm răng đen nhánh hạt na, vần ưa quấn dải yếm trong chiếc áo cánh và chiếc quần chân què giản dị, vân hằng ngày búi mái tóc thưa dần bàng chiếc khăn vấn bạc màu Trong vòng xoáy cua cuộc sổng hiện đại, thiết nghĩ nhừng phong tục đang mất đi như tục nhuộm răng đen và các trang phục truyền thống còn lưu giữ ở Đường Lâm cần được thống kê và tư liệu hóa nhanh chóng khi các nhân chứng và vật chửng vẫn còn Bôn cạnh đó, nguyên tắc may trang phục phù họp với đặc điêm khí hậu, cơ thê người Việt và một số nghề truyền thống như nhuộm củ nâu, chít bùn là những yếu tố có khả năng phát huy giá trị trong cuộc sống hiện đại nếu chúng ta đánh giá m ột cách khoa học, chính xác hiệu quả và có biện pháp ứng dụng phù hợp

Trên cơ sở phân tích hiện trạng bảo tồn của làng cô Đường Lâm, đông thời đối chiếu với kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam và Nhật Bản đang

nồ lực bảo tồn các giá trị truyền thống và phát triến du lịch bền vững, tác giả đê xuất một số gợi ý về phương hướng bảo tôn làng cô nói chung và chính sách đôi với ẩm thực, trang phục truyền thống của Đ ường Lâm nói riêng

Trước hết, đối với “di sản sống” như làng cô Đ ường Lâm, việc p h á t huy

vai trò chu thê của người dân trong xâ y dựng chính sách, giám sát quả trình thực hiện và điều chinh chính sách liên quan đên di sản là vô cùng quan trọng Hơn ai

hêt, người dân Đường Lâm tự hào về di sản của làng và m uốn giới thiệu niềm tự hào đó với du khách Sau hơn 10 năm được công nhận di sản, dân làng và chính quyền địa phương đã trải qua những giai đoạn ngỡ ngàng ban đầu, khi một lượng lớn du khách ô ạt đên làng, gây nên những xáo trộn trong nêp sinh hoạt và nêp nghĩ Việc xin trả lại danh hiệu di sản của 78 người dân là phản ứng của một bộ phận dân cư trong làng trước sự xáo trộn đó Cơ chế định kì trao đối ý kiến và phát huy vai trò của các tô chức cư dân đã bắt đầu được thực hiện nhưng cần tạo

Trang 12

cho dân làng CO’ hội đóng góp ý kiến xây dựng nhiều và trực tiêp hơn Việc liên

kết giừa tô chức dân cư và xây dựng thêm các hội nghê nghiệp cân được đây mạnh Trường hợp các di sản ở Nhật Bản cho thấy hội công thương cua các địa phương thường có nhiều sáng kiến phát triến kinh tế vùng, trong khi hội bảo vệ

di san lại có cách nhìn nhận từ góc độ bảo tồn Trong giai đoạn ý tưởng mới hình thành, việc trao đôi giừa các hội thường thăng thắn và hiệu quả hơn thảo luận trực

ti ếp với cơ quan quản lý v ề phía chính quyền và Ban quản lý, cần tạo điều kiện

và lắng nghe những ý tưởng và nhận xét đóng góp từ các hội quần chúng, hội nghề nghiệp và điều chỉnh chính sách một cách kịp thời, phù họp Nhừng chính sách ảnh hương đến cộng đồng như điều chỉnh dân số trong khu vực bảo tôn băng cách di dời một bộ phận cư dân cần được thảo luận kĩ với từng nhóm CU' dân vê tiêu chí và điều kiện cụ thế Các quyết định đưa ra cần dựa trên nguyện vọng của người dân và tính bên vững của chính sách

Làng cổ Đường Lâm có nhiều thế mạnh về văn hóa vật thê và phi vật thê Các kết quả nghiên cứu về các giá trị này đã được công bô nhiêu và là cơ sở khoa học cho việc phát huy thế mạnh của di sản Tuy nhiên cũng chính vì thế mà việc lựa chọn ra những yếu tô và sản phâm đê ưu tiên đầu tư và phát triên lại không đon giản Ngoài các công trình kiến trúc và tôn giáo đã được xêp hạng, việc phát huy các giá trị cua Đường Lâm, từ cảnh quan đến ấm thực, trang phục đang ở trạng thái tự phát và “chọn lọc tự nhiên” Quy hoạch bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị làng cố đã được thông qua, nhưng việc thực hiện và phổ biến nội dung đối với cư dân chưa được đẩy mạnh Người dân Đường Lâm có khả năng thích ứng cao nên khi thây một sổ sản phâm, dịch vụ được khách tham quan yêu cầu hoặc một sô gia đình cung cấp thành công thì sẽ tập trung khai thác cùng loại hình sản phâm, dịch vụ đó Neu thiếu kế hoạch và sự điều tiết một cách tong the, khuynh hướng này có nguy CO' dẫn đến sự cạnh tranh nội bộ, phá vỡ mối quan hệ cộng đông vôn là truyền thông của làng cô và biến làng cố trở thành “phố” với các dãy nhà hàng, cứa hàng cung câp sản phâm giống nhau Đây là yếu tố khác biệt giữa chính sách bảo tồn làng cô và phố cố Đê tránh tình trạng này, cần thảo luận với

Trang 13

người dân và chuyên gia, lựa chọn một sổ san phảm, dịch vụ thê mạnh cho từng

thôn, từng nhóm gia đình và xảy dụ n g qui trình sản xuât, cung cáp dịch vụ chuyên môn hóa Nhò' đó, chất lượng đặc san và dịch vụ được nâng cao, đông thời khả

năng đáp ứng về số lượng cũng gia tăng Việc chuyên môn hóa này cũng giúp cho dịch vụ trai ngiệm dành cho khách du lịch trở nên thú vị hơn Ngoài ra, các

hộ gia đình không có điều kiện thuận lợi đê trực tiếp cung cấp dịch vụ du lịch vẫn

có thê tham gia vào qui trình và được hưởng lợi từ du lịch

Đổi với một “di sản sống” , tính kế thừa là vô cùng quan trọng Nêu các dịch vụ du lịch khai thác di san của địa phương do các cơ quan bên ngoài tô chức

và thực hiện hoàn toàn sẽ dần đến tình trạng làm mất đi sức “ sống” và khả năng

kế thừa văn hóa, đồng thời sản phẩm và dịch vụ có thê xa rời với những giá trị vốn có cua di sản Chính vì vậy, việc quản lý các CO' sở sản xuất, cung câp sản phẩm và dịch vụ trong phạm vi bảo tồn là rất quan trọng, c ầ n có kế hoạch hạn chế các cá nhân và to chức bên ngoài khai thác di sản mà không sử dụng sản phâm

và nhân lực của làng Các hoạt động p h ụ c vụ du lịch, từ hướng dân đền cung cáp

san p h à m cần tạo điều kiện tối đa đ ế cư dân địa p h ư ơ n g trực tiếp tham giơ Qua

đó xây dựng tình cảm gắn bó, tự hào của những người trẻ tuối với quê hương, tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương, đông thời đảm bảo tính chính thống cua các sản phâm du lịch, duy trì sức thu hút của di sản

Việc p hô biến hệ thống tài liệu hướng dẫn tham quan, lắp đặt hệ thong

biên chi dẫn thân thiện và d ễ h iê u đối với khách du lịch là điểm mà làng cổ Đường

Lâm cần khắc phục Các di sản của Nhật Bản như thị xã Yuasa (tỉnh W akayama) đều chú trọng việc xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn thân thiện cho khách

du lịch Nhật Bản và quốc tế Cho đến nay đã có nhiều cơ quan, tố chức đưa ra các bản đồ du lịch Đường Lâm và in sách giới thiệu về di sản Đ ường Lâm Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ được sử dụng một thời gian mà không được cung cấp liên tục cho khách du lịch hay công khai trên trang web chính thức của làng cô Khách đến Đường Lâm thường loay hoay không biết nên đi thăm những di tích hay nhà cô nào, nên thưởng thức đặc sản gì, ở đâu Nhiêu trường hợp khách du

Trang 14

lịch không tìm được đường đến địa điêm mà mình m ong muôn do thiêu bản đô

và hệ thống biên chỉ dần Việc cung cấp ban đồ và hệ thống chỉ dẫn trong làng cổ vói một sổ tuyến đường du lịch trong ngày hoặc gói du lịch trai nghiệm một vài ngày sẽ giúp du khách chủ động hon trong việc lựa chọn điêm tham quan và có

m ong muốn ở lại hoặc quay lại tiếp tục khám phá làng cổ Đây cũng là những yêu

tố góp phân tăng thêm tính hấp dân của Đ ường Lâm như một điêm tham quan giáo dục của các trường học và cơ sở đào tạo

Một vẩn đề quan trọng gắn liền với phát triển du lịch là việc tái đầu tư cho

di san bằng nguồn thu từ du lịch Làng Tatsugo (tỉnh Kagoshima) của Nhật Bản

và phố cổ Hội An của Việt Nam là những trường hợp thành công trong lĩnh vực này Hiện nay làng cổ Đường Lâm đang thực hiện chính sách hồ trợ đối với một

số gia đình tham gia du lịch hay quản lý nhà cổ, tuy nhiên kinh phí hồ trợ chưa đáng kể Việc trích một phần nguồn thu từ du lịch đe thành lập Quỹ bảo tôn tôn tạo di tích và công khai việc sử dụng quỹ sẽ góp phần cải thiện cơ sở hạ tâng, duy trì sức hấp dẫn của di sản và tăng cường sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý và người dân

Trên cơ sơ các nguyên tắc trên, có thế thực hiện ngay một sô biện pháp cụ thế và hiệu quả nhằm bảo ton ẩm thực và trang phục truyền thống của Đường Lâm Trước hết, đổi với đặc sản ấm thực của làng cổ, việc giới thiệu các sản phâm này có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương Hiện nay, nhiều sản phẩm kẹo gắn liền với địa danh làng M ía như thương hiệu kẹo Hiền Bao đã đăng kí vệ sinh an toàn thực phâm, mã vạch và được tiêu thụ ở một sô địa phương miền Bắc Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở sản xuất còn lại chưa đăng kí và việc sản xuất vẫn chưa ồn định Một số đặc sản như chè lam, bánh tẻ, bánh gai, chè kho được chế biến hàng loạt đế bán cho khách nhưng chưa lưu ý sử dụng đúng qui trình và nguyên liệu truyền thống, thậm chí chạy theo giá rẻ thay đôi nguyên liệu, làm cho hương vị bị mai một nên chỉ bán được một lần mà không được đánh

giá cao Neu muốn tạo nên đặc sản của Đ ường Lâm, các cơ sở sản xuất cần lựa

chọn và xả y d ự ng những thương hiệu đặc san riêng cho từng thôn, từng nhóm hộ

Trang 15

gia đình trên cơ sở phục hồi đúng giá trị nguyên gốc của sản phấm và nghiên cứu gia tăng sự tiấp dần bàng mầu mã Nhiều món ăn truyền thống như bánh mụn, bánh hòn, nước lá mồng 5 tháng 5 đang bị lãng quên có thê trở thành những thế mạnh đặc sản nếu được phục hồi đúng cách.

M ột số gia đình cung cấp dịch vụ nhà hàng ở Đường Lâm đang phát huy các món ăn tiêu biêu của Đường Lâm như gà Mía, thịt quay, cá kho tương, đậu phụ, củ cải khô Mặc dù vậy, phần lớn thực đơn được xây dựng theo cảm tính, chưa cung cấp các chỉ sổ dinh dường cần thiết và ít tính đến đôi tượng khách hàng

hay thời điêm cung câp Cân tô chức các nhóm hộ gia đình trong chuôi cung cảp

dịch vụ ăn uống và p h ả n công chức năng chuyên môn hóa giữa các hộ Nên xây

dựng hệ thống thực đon phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tê theo mùa, phát huy đặc sản địa phương mà nhóm đó có sở trường cung câp Trên cơ sở đó, các gia đình ở nhà cô và điều kiện tiếp khách đăng kí làm nhà hàng đón thực khách; các gia đình có khả năng sản xuất thì tập trung sản xuất nguyên liệu đảm bảo, chất lượng cao; các gia đình có kinh nghiệm chế biến sẽ tham gia qui trình chế biến thành phấm hoặc bán thành phấm đê cung cấp cho nhà hàng Nhờ vậy, tính đoàn kết cộng đồng vẫn được phát huy m à thu nhập của cư dân địa phương dược nâng cao

Cần đâu tư xả y dựng các tour du lịch trải nghiệm liên kêt trải nghiệm nghê

nông, ng h ề ngư, nghê thủ công với âm thực tại chô Trường hợp làng rau Trà Quê

cua Hội An là một kinh nghiệm thành công Tại Đ ường Lâm hiện nay, nếu du khách đặt trước có thê tham gia m ột số hoạt động trải nghiệm như trồng rau, bẻ ngô nhưng các tour trải nghiệm này chưa được tô chức thành các gói du lịch theo mùa, cũng chưa được quảng bá nhiều đến các gia đình hay trường học

Tất cả hoạt động liên quan đến đặc sản âm thực Đường Lâm như trên cần

có sự tham gia ý kiên cúa CU' dân địa phương Đê đảm bảo chât lượng của sản

phẩm và tính cạnh tranh lành mạnh trong làng, có thể tô chức đánh giá định kỳ

14

Trang 16

đôi với các đặc sản, thực đơn, chương trình du lịch âm thực với sự tham gia của dại diện cư dân địa phương, chính quyền và chuyên gia.

Đối với trang phục truyền thống, tình trạng mai một là một nguy cơ hiên hiện Mặc dù một số nhà nghiên cứu và tô chức trong nước và quôc tế đã hỗ trợ Ban quản lý và cư dân địa phương trong việc giới thiệu giá trị và cách bảo quản các trang phục cô nhưng trên thực tế các trang phục này đang mât đi nhanh chóng Gần đây trong làng Đường Lâm bắt đầu xuất hiện xu hướng cho khách du lịch thuê áo quần kiểu truyền thống đế chụp ảnh trong làng Đáng tiêc là các trang phục cho thuê đều được may theo kiếu trang phục biêu diễn với tay áo ráp lăng, váy xòe Neu ở đô thị thì có thể điều này không đáng phàn nàn, nhưng tại di sản

Đ ườ ng Lâm, nơi vần còn nhừng “nhân chứng” , “vật chứng” của trang phục nguyên gốc thì hiện tượng này thật khó chấp nhận M ột biện pháp có thê cứu vãn

được tình trạng này là cân gâp rút x â y dựng P hòng truyên thông của làng cô,

trưng bày các trang p h ụ c truyền thong đã được Ban quản lý sưu tầm hoặc kêu

gọi các cụ cao niên ủng hộ Ngoài các hiện vật, Phòng truyền thong có thê cung cấp các bức ánh và thông tin cơ hán về trang phục cô như kích thước, kiêu dáng, cách nhuộm, may, cách mặc đê nâng cao nhận thức của cư dân địa phương vê giá trị của các hiện vật trưng bày Thông qua đó, hướng dẫn các nhà may địa phư ơng cung cấp các trang phục cho khách du lịch trải nghiệm theo đúng kiêu dáng truvền thống

Bên cạnh đó, cân có kê hoạch giới thiệu và khôi p h ụ c g âp rút m ột sô nghề

và p h o n g tục găn liên với trang p h ụ c cỏ khả năng p h á t huy trong đời sông hiện đại Vcri nguyên tắc tận dụng nguyên liệu thiên nhiên, thân thiện môi trường và

thoáng mát, phù hợp khí hậu địa phương, các phương pháp nhuộm củ nâu và chít bùn có thê cung cấp những giải pháp mới cho trang phục hiện đại, giống như trường hợp lãnh Mỹ A, lụa Hà Đông Qui trình nhuộm vẫn được các cụ cao niên trong làng nắm vững nên có thể truyền lại cho các thế hệ sau và tạo điều kiện phát huy nguồn lao động địa phương Sản phấm nhuộm không chỉ sử dụng để may trang phục truyền thống phục vụ du lịch mà có the ứng dụng trong các kiếu dáng

Trang 17

hiện đại hoặc san xuất các món hàng lưu niệm đặc trưng như mũ, khăn tay, túi, búp bê phục vụ khách du lịch.

Á m thực và trang phục là những yếu tố gắn liền với đời sống sinh hoạt thường nhật Đối với “di sản sống“ như làng cố, các yếu tố này cùng với nêp nhà

cô dân gian mang lại cho khách du lịch cảm nhận trọn vẹn vê một không gian truyền thống Tuy nhiên, đây cũng là những yếu tố nhạy cảm, dễ thay đôi và ít được chú ý trong các chương trình bảo tồn Tác giả m ong muốn làng cô Đường Lâm sẽ đi đầu trong việc xây dựng chương trình bảo tồn m ang tính toàn diện với các biện pháp duy trì và phát huy hiệu quả các yếu tô văn hóa âm thực và trang phục

5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận

Đ ư ờ n g Lâm đến hôm nay vẫn là niêm tự hào của người dân xứ Đoài nói riêng và người Việt Nam nói chung Hiếm có làng cô nào có mật độ nhà cô và di tích dày đặc như Đường Lâm và cũng hiếm có làng cô nào có sô lượng đặc sản, nghê truyền thông và trang phục truyền thông còn được báo lưu nhiêu như Đường Lâm T uy nhiên, Đường Lâm đang biến đổi nhanh chóng Người dân làng vẫn thẻ, vần ngay thăng, đôn hậu và mến khách, nhưng nhiều ngõ xóm và nếp sinh hoạt trong làng không như trước, v ầ n biết cuộc sống luôn biến đối và Đường Lâm h ô m nay là hệ quả của m ột quá trình biển đoi lâu dài, nhưng dường như tốc

độ thay đoi 10 năm gần đây đang vượt xa “ sức đề kháng” và “độ đàn hồi” của di san Đây chính là lúc cần bình tâm nhìn lại và lựa chọn những yếu tố côt lõi phải bảo vệ đê không vĩnh viễn mất đi di sản Đ ường Lâm

Đ e tài nghiên cứu đã tập trung vào hai vấn đề vốn chưa được coi trọng đúng m ức trong chính sách bảo tồn làng cô là ấm thực và trang phục truyền thống

Am thực truyền thông được hồ sơ hóa trong đề tài là các đặc sản dân dã, là đời sông âm thực thường nhật, các phong tục và các nghề truyền thống liên quan đến

âm thực của CU' dân Đường Lâm Trang phục được ghi vẽ lại là trang phục lao

động v à trang phục thường nhật, các phong tục và nghề truyền thống liên quan

16

Trang 18

đến trang phục Bên cạnh tư liệu phỏng vấn, đo, vẽ, quay phim, chụp ảnh , đê tài đã bô sung các tư liệu số hóa, các kết quả phân tích về chỉ sổ dinh dường, phân tích vật lý, hóa học về các loại trang phục, vải truyền thống nhằm gợi ý một sô

hư ớ ng nghiên cứu hiện đại đối với đề tài âm thực và trang phục

Bao tồn “di sản sống” như Đường Lâm trước hết đòi hỏi sự đồng thuận của người dân, những người hàng ngày hàng giờ sống với di sản Khác với các công trình tôn giáo, di tích khao cổ học, hay di sản phố cố di sản làng cô có nhiêu yêu cầu có thê nói là khe khắt Bên cạnh việc phải bảo tôn nguyên gôc, làng cô còn đòi hởi phai được nuôi sống và không được phố hóa Nói một cách khác, nêu không cộng đồng truyền thống và sinh hoạt cộng đồng thì không còn làng cổ, nếu thư ơng mại hóa và du lịch hóa quá mức cũng mất đi làng cô Chính vì vậy, bên cạnh việc bảo tồn và tu bố các công trình lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng ở Đường Lâm, việc tiếp sức cho ngôi làng duy trì sức sổng bền bỉ là vô cùng quan trọng

Du lịch là một phương thức hữu hiệu nhưng du lịch cũng là nguy cơ bóp méo hình ảnh làng cố N hững giá trị ẩm thực và trang phục truyền thống mà tác giả lựa chọn giới thiệu trong nghiên cứu này chính là một biện pháp lưu giữ sức sống cho làng cô với m ong muốn gợi ý cho những người đang trăn trở với Đường Lâm tìm ra hướng phát triên bên vừng cho di sản

6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)

N ghiên cứu này tập trung phân tích về âm thực và trang phục truyền thông cua làng cô Đ ường Lâm Ám thực truyền thống mà nghiên cứu đề cập là những đặc sản giản dị, sử dụng nông sản địa phương như mía, gạo, lạc, vừng , là bữa

ăn thường nhật của các gia đình nông dân Trang phục truyền thống được nghiên cứu là dai yếm, tấm áo cánh nhuộm củ nâu, chiếc quần chân què chít bùn, hay hàm răng nhuộm đen Đây là những hình ảnh gan liền với đời sống của người nông dân Bẳc bộ một thời, nhưng hiện đang mai một nhanh chóng trong cơn lốc công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa Trên cơ sở kết quả nghiên cứu làng

cô Đ ườ ng Lâm và đôi chiêu với kinh nghiệm bảo tôn của một sô làng cô, phô cô

Ị ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

j tr u n g TẦ m t h ô n g tin thư v iệ n

i _ õ C ũ Ề 0 0 0 0 J f , Q

17

Trang 19

cua Nhật Bản và phố cổ Hội An, tác giả đề xuất định hướng bảo tồn chung cho làng cổ và biện pháp bảo tồn cụ thế đổi với ẩm thực và trang phục truyền thống nhằm phát triển bền vừng di sản Đường Lâm.

This research tocuses on analyzing the traditional cuisines, Products and costumes ot' the ancient village Duong Lam Traditional cuisines and products that the research mentioned are made from sugar cane, rice, peanuts, sesame and the daily meals o f the peasant tầmilies Traditional costumes are brown long slitted dress made by 4 or 5 cloth sheets dyed by tubers called Dioscoreaceae, short and wide pants dyed by mud, blackened teeth They were the symbols o f íầrmers in the North o f Vietnam, but now fading quickly in the industrialization, urbanization and globalization Based on the research results in Duong Lam village and compared to the experience o f Japanese ancient villages, towns, and Hoi An ancient town, the author proposed specialized conservation oriented to Duong Lam and some speciíic measures to conserve traditional cuisines and costumes

PHẦN III SẢN PHẢM, CÔNG BỐ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI 3.1 Ket quả nghiên cứu

TT

Tên sản Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

ISBN và 1 bài trong tạp chí có chỉ số ISSN

18

Trang 20

Bài báo

trong nước

2 hài đăng trên tạp chí nghiên cứu trong nước

1 bài nghiên cứu đàng trong tạp chí nghiên cứu trong nước có chỉ số ISSN

sau đại học

Góp phần đào tạo 2 thạc sĩ

2 học viên cao học tham gia đề tài đã bảo

Đạt

19

Trang 21

Đăng ký sở hữu trí tuệ

Bài báo quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus

"Khảo sát vùng Vãn hóa Răng đen:

Trường hợp Việt Nam và Nhật Bản" trong

sách 'Các vấn để lịch sử-xã hội-văn hóa

trong giao lưu Nhật Việt ", Trung tâm

Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản,

"Văn hỏa và giới trong vùng răng đen

sử Phụ n ữ '\ Hội Nghiên cứu Tổng hợp

Lịch sử Phụ nữ Nhật Bản, ISSN 1342-

3126 7/2016 tr.32-44

Được xác nhận sẽ in vào tháng 7/2016

Đạt

Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐI IQGIIN, tạp chí khoa học

chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yêu hội

nghị quốc tế

"Nghiên cứu về tục nhuộm củ nâu và chít

bùn", trong tạp chí "Nghiên cứu Địa lý

N hân văn”, Viện Địa lý Nhân văn,

ISSN: 1859-1604, 6/2016

Được xác nhận sẽ in vào tháng 6/2016

Báo cáo khoa học kiên nghị, tư vân chính sách theo đặt hàng của đơn

vị sử dụng

“Nghiên cứu trang phục truyền thông ở

Việt Nam”, báo cáo dưới hình thức poster

cùng với Shimomura Kumiko, Tanii

Yoshiko và Inomata Mieko tại "Hội thảo

Đã in

Đạt

20

Trang 22

"Tục nhuộm răng đen châu Ẩ ”, báo cáo

tại Diễn đàn Người đứng đầu các cơ

quan Nghiên cứu Nhật Bán cùa các đại

học châu Á", ngày 11/11/2015, Kỷ yếu

Báo cáo tư vân vê định hướng bảo tôn

ấm thực và trang phục truyền thống của

làng cổ Đường Lâm

Đã gửi Ban

quản lý làng

cổ và có xác nhận

Kêt quả dự kiên dược ứng dụng tại các cơ quan hoạch dịn

hoặc sở ứng dụng KII&CN

Nghiên cứu sinh

Trang 23

PHÀN IV TÒNG HỢP KÉT QUẢ CÁC SẢN PHẢM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI

T

T

lưọng đăng ký

Sô lượng

đã hoàn thành

1 Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ

5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của

ĐI ỈQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia

hoặc háo cáo khoa học dăng trong kỷ yếu hội nghị quốc

PHẦN V TÌNH HÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ

22

Trang 24

Kinh phí đuọc duyệt

(triệu đông)

Kinh phí thực hiện

(triệu đồng)

Ghi chú

Trang 25

2 v ề đăng lời cảm ơn: Kiến nghị thông báo cho các chủ trì đề tài về việc đăng lời cảm

ơn khi kí hợp đồng và cân nhắc việc một số tạp chí nước ngoài không châp nhận việcdăne lời cam ơn Đối với những đề tài đã kí hợp đồne không có yêu cầu này trong nội dune thì không áp dụng

3 v ề xuất bản sách chuyên khảo: Kiến nghị hướng dẫn cho các chủ trì đề tài về nội

dung, hình thức xuất ban thủ tục xuất bản, cách thanh toán đối với nhà xuất bản khi

kí hợp đồníỉ đặc biệt là các chi tiết như tên người đại diện trường kí hợp đồng xuất bản hay hình thức thanh toán chuyến khoản

4 Các nội dung hướng dẫn trên có thể soạn thành một quyên số tay hay tờ hướng dẫn

PHAN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phấm nêu ở Phản III)

1 Sách chuyên khảo

2 Bài nghiên cứu dănỉi trên sách quốc tế

3 Bài nghiên cứu đăng trên tạp chí quốc tế

4 Bài nghiên cứu đăng trên tạp chí trong nước

5 Bài báo cáo dưới hình thức poster tại hội thảo quốc tế

6 Bài báo cáo tại hội thảo quốc tể

Phan Hải Linh

24

Trang 26

PHỤ LỤC 1: SÁCH CHUYÊN KHẢO

Tên tác giả: Phan Hải Linh

Tên sách: D i sản Đ ư ờ n g L â m : Ắ m thực và trang p h ụ c truyền thống

Trang 27

Đại học Quốc gia Hà Nội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Truòng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn £)ộc — Xu do — Hanh nhúc

G IẤ Y X Á C N H Ậ N

Xác nhận đã nhận các tài liệu sau:

1 Báo cáo tư vấn Giá trị và bảo tồn Ẩm thực và Trang p h ụ c truyền thống ở

Làng cô Đ ư ờ n g Lâm qua kinh nghiệm của N h ậ t Bản

2 Sách D i sản Đ ư ờ n g Lâm - Â m thực và Trang p h ụ c truyền thong

Trang 29

> bp c

,5 ^t-

2 <?

ȣ>

o ^ t>p ^

£ 2

Trang 30

PHỤ LỤC 2: BÀI ĐĂNG TRÊN SÁCH QUỐC TÉ

Tên tác giả: Phan Hải Linh

Tên bài: Khảo sát vùng văn hóa răng đen: Trường hợp N h ật Bản và Việt Nam Tên sách: Các vấn đề lịch s ử - x ã hội - văn hóa trong giao lưu N hật Việt

C hủ biên: Liu Jianhui

N h à xuất bản: Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản (Nichibunken)

N ăm xuất bản: 2015

Chỉ số ISBN: 978-4-901558074-7

Số trang: 141-152

Trang 31

DẠI HỌC QUÓC (,I A HÀ NỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI C H Ủ NGHI Ã VIỆT NAM

T r u ô n g Đại học KIIX1I&NV Độc lập - T ự do - Hạnh phúc

PHIÊU ĐÈ NGHỊ T HAY ĐÔI

T R O N G QUẢ TRÌNH T H Ụ C HIỆN ĐÈ TÀI KH&CN C ỦA Đ H Q G HÀ NỘI

1 l èn đề tài: Giá trị và báo tồn văn hóa ẩm thực và trang phục truyền thong ở làng cô Diròng I.rini qua kinh nghiệm cua Nliật Bản

2 Mã số: ỌC 14.26

3 Họ và tên, chức danh khoa học học vị của chu nhiệm đề tài: PGS.TS Phan Hải Linh

4 Don vị chu trì: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

5 Nluìníi thay đối đề nghị về nội dung nghiên cứu hoặc tên đề tài: Không

6 Nlũmu thay đổi về tiến độ thời gian nghiên cửu: Không

7 Những thay dối về dụ' toán kinh phí: Không

8 Những thay đôi khác:

Kính đề nghị Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét lại yêu cầu sán phẩm là 1 bài đăng trên tạp chí quốc tế SCOPUS, và cho phép tôi thay thế thành 1 bài nghiên cứu in trên sách ở Nhật 1

1 Đặc thừ cua đè lài là nghiên cửu về bảo tồn nông thôn Việt N am dựa trên kinh nghiệm cua Nhật Bán nôn hài viết đăng bàng tiếng Nhật ơ N hật Bản là phù hợp Các sách và tạp chí cua Nhậl Bán đều dược đọc duyệt rất kĩ trước khi in, nhưng do in bằng tiếng Nhật nên rất ít tạp chi dịch sang tiếng Anh đề tham gia báng xếp hạng SCOPUS, nhất

là lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn.

2 Bài cùa chu nhiệm đề tài có nhan đề “Khảo sát vùng Văn hóa Răng đen: Trường hợp

đăng trong cuốn "Các vấn đế lịch sử-xã hội-văn hóa trong giao lưu Nhật Việt" tháng

3 năm 2015 chi số ISBN 978-4-901558-74-7 Đây là trung tâm hàng đầu về nghiên cứu Nhật Bán do chinh phu Nhật Bán thành lập nên các sách xuất bản được đánh giá cao trong giới nghiên cứu Nhật Bản trên thế giới.

Ti GiÁM Đ Ố C

Ẳ u à n y ( n ụ

Trang 32

TÓM TẮ T NỘI D U M ; 1ÌÀỈ NGHIÊN c ứ u XUẤT BẢN TẠI N H ẬT BẢN

VÀ MÓI QUAN HỆ VỚI ĐÈ TÀI QG.14.26

P h a n H ải Linh Khoa Đ ông Phương học Trường Đại học KHXH&NV

sát vùng Văn hóa Răng đen: Trường hợp Việt Nam và Nhật Bản)

Tóm tat nội dung bài nghiên cứu

Bài viết đề xuất một hướng nghiên cứu mới là Vùng Văn hóa Răng đen đã từng phổ biến ở Đông Nam Á, Đông Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nhật Bản và các đảo Solomon, Mcriana trên Thái Bình Dương Tác giả cho rằng đây là một biểu hiện còn lại của nền tảng văn hóa tiền

sử ở khu vực này trước khi có sự xâm nhập của văn hóa Hán và văn hóa phương Tây Ba viết tập trung phân tích trường hợp Việt Nam và Nhật Bản đê chứng minh luận điêm của tác giả V tính tương đồng và các luồng ảnh hưởng của phong tục nhuộm răng đen giữa hai nưcc nók.Ạ riêng và trong khu vực nói chung.

Trong phần 1 của bài viết với nhan đề Tục nhuộm răng đen ở Việt Nam, tác giả đã dụng kết quả điều tra phỏng vấn đối với hon 20 người dân trong làng cồ Đ ường Lâm Đây nội dung nghiên cứu của chuyên đề số 12 trong khuôn khổ đề tài cấp Đại học Quốc gia Ciá

và bảo tồn văn lìóa ẩm thực và trang phục truyền thống ở làng cỗ Đường Lâm qua

viết đăng tại Nhật Bản, tác giả đã phân tích kết quả điều tra tại làng cổ Đường Lâm trorg các phần 1.2 Cuộc điều tra về tục nhuộm răng đen và 1.3 Qui trình nhuộm răng đen.

Tóm tắt về Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản

Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản tên tiếng Anh là Internaional Research Center for Japanese Studies, gọi tắt là Nichibunken, là một thành viên của Viện Nghiên cứu Nhân văn Quốc gia Nhật Bản (tương tự Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội) được

Bộ Giáo dục và Văn hóa Nhật Bản thành lập năm 1982 Trung tâm có nhà xuất bản, tạp :hí và thư viện riêng ở Kyoto và là cơ quan hàng đầu trong nghiên cứu Văn hóa Nhật Bản tr:n thế giới Các xuất bản phẩm của trung tâm đều được đọc duyệt và biên tập kĩ và được đánh gá cao trong giới nghiên cứu Nhật Bản Tháng 8/2014 tác giả đã sang nghiên cứu tại Trung tìm và hoàn thiện bài viết về Vùng Văn hóa Răng đen, trên cơ sở trao đổi ý kiến về kết quả Ìghiên cứu tục lệ này ở Đường Lâm với một số học giả Nhật Bản, Trung Quốc và Đ ông N am Ả

1 Toàn bộ nội dung và kết quả chi tiết của cuộc điều tra này đã được tác giả trình bà) trong chuyên đề số 12 Các phong tục gan liền với trang phục của Báo cáo tiến độ đề tài tháng 52015.

Trang 33

Historical, Social, and Cultural Issues

in Relations between Japan and Vietnam

Ed ited by Liu Jianhui

Intern atio n al R esearch C e n te r for Ja p a n e se Studies

Trang 36

i s S H Ẵ - í t B c H - f £ f í i r

7 r ' / ' / W • 'j >

l i d ò lz

R l T ^ & ^ ị & V & ã o 7 - 7 • J 2 - T - ; U (P ie rre H u a rd ) è í

-' J ^ • f i 7 > (Maurice Durand) C i Ỗ L S T V 7 ỉ^io tỷ -2) £ -' Ể t H Ì ; /ífc<7)ÍE|S| ( i

n t ỉ i ^ > K Ặ ’> 7 , | Ĩ Í Ì 7 U - Ĩ : > • "7 V y ~^uf íẳ> 'tìii^ íẩ lS ữ lỉi: "í

> K M B T & á o 4 y K '> t T -(i Z < D ĩ ễ M l i i m 25 Jg 35 £ ® À & V ' J t i ' ì o

Z t i ị i M Ỳ ^ & t g a ^ \ i ^ M n ừ m * ' ì Ế & l ĩ ì k T ẩ ị > £ o t t C s &

Trang 38

1 2 7 ; U A - h ■ - f ỷ ' J -y h r g ì ề Ả V Í ỉ M M Ỉ Ỉ ỉ r v £ Ỹ < 7 ) * J H Ử Í I # , 2 3 8 - 2 3 9 H o

13 i ] > * z - ' s ỉ i Kerria lacca T \ í l ^ ' 5 3 ' ị ề Ỷ ^ t t f e < 7 ) % K ' C ^ Ẫ o Ĩ Ì T

Trang 39

&, 7" 7 y ỳ ^ o / v i M / Ỉ C Ề ^ Ỉ t i ã ? > - >fĩiikỷịiiy 'y-Y

í > ■ A f t - T ĩ ^ t " w M í ị ) A o T V ' ỉ o ^ ẳ l ^ l í ĩO íặ l íi ĩ iĩ c H M ^ r ^ > Jr - i > J

M^$í*ỲÉfc<7)&TU£fc0ệPí<7:>-^ SẾW áb£& £l-£ft& o ì * , r n v ^ i u ỉ;rẺ

ữ r À i U SlS'íiỄ fflÌ" ^ íỀ /ê 'ii ẩóẴo

Trang 40

< % a tò x fr b 3 ^ Í Ế K , \,'fc>\$>z> r i ^ 'O T - 1 Ỳ ^ m m ^ Ị ầ * )

^ t ấ ỉ i ^ ỉ i l S D T ^ í ò ĩ ẩ t - h i ì ^ h h o

9 ỉ <féM1rZ> £ 7 ịzfàiì<DỲ'k'<ỉ><D£ịẾẴ_ỉ> fâ < D ffitzb ? ề ề M £ i$

>-/t£:Jogt) I), < , i i í & n í ĩ & o ặ í l t h m %$kiòx\t'ĩ>

K ( i , r^ỲẺ&-CHÌỪ^ẻ:7&?T'ề*V'(7)T*, i ỉ ỉ B S r t ^ Ẫ ^ r & £ * • ? & & & &

s e n L iễ Ỉ 3 J X.fc“o E ± * *> / Ở ^ I ẵ t & t£m<DMŨè I T t ô è M <%*>&£ ì IZ

9 M^ * ố i: ềk^Ề íi ý ĩ ì Ề X ' Ĩ J ] l ò X M Ỳ ^ ỉ ò tZo ip b r l F 0#f£ c:ri'&t

ị i ả o r#®Ẳ3ffiSíO/Kfti±, li líti- (Sfê?-) n - 7 N (ậtiíẢ,) ( € » ) t m ị

1 7 f ô ± , 5 8 - 7 0 M o

1 8 Ị Ẽ ] ± S 8 0 ~ 8 1 H o

Ngày đăng: 29/08/2018, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w