Đề tài: Pháp luật trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng. MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận 3. Phạm vi nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu 5. Bố cục của tiểu luận B. NỘI DUNG Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 1.1. Khái quát về nghề công chứng, công chứng viên và trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng 1.1.1. Khái niệm về công chứng và công chứng viên 1.1.2. Khái niệm về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng 1.1.3. Mục đích và ý nghĩa của việc quy định chế định trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng 1.2. Quy định của pháp luật về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng 1.2.1. Quy định về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật Dân sự 1.2.2. Quy định về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng a) Theo quy định của Luật công chứng 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. b) Theo quy định của Luật Công chứng 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Chương 2. NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 2.1. Việc quy định công chứng viên cung cấp dịch vụ công nhằm thực hiện Chức năng xã hội có ảnh hưởng tới việc xác định trách nhiệm tài sản của công chứng viên trong quá trình hành nghề 2.2. Việc trao quyền cho các tổ chức hành nghề công chứng được thỏa thuận với cơ quan bảo hiểm về phạm vi, điều kiện và mức phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên đã tạo ra sự không thống nhất và công bằng trong việc hưởng chế độ bảo hiêm của người được thụ hưởng Chương 3. CÁC ĐỀ XUẤT, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 3.1. Nên quy định rõ việc hành nghề của công chứng viên là một hoạt động cung cấp dịch vụ, giữa tổ chức hành nghề công chứng và người yêu cầu công chứng cần xác lập một hợp đồng dịch vụ để xác định và ràng buộc với nhau về mặt trách nhiệm một cách rõ ràng 3.2. Luật cần quy định chung về một mẫu hợp đồng bảo hiểm, về phạm vi, điều kiện và mức phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên và áp dụng chung cho tất cả các công chứng viên trong phạm vi cả nước C. KẾT LUẬN Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 1Đề tài: Pháp luật trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng.
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
3 Phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Bố cục của tiểu luận
B NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI
SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
1.1 Khái quát về nghề công chứng, công chứng viên và trách nhiệm tài
sản của người hành nghề công chứng
1.1.1 Khái niệm về công chứng và công chứng viên
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc quy định chế định trách nhiệm tài sản
của người hành nghề công chứng
1.2 Quy định của pháp luật về trách nhiệm tài sản của người hành nghề
công chứng
1.2.1 Quy định về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
theo quy định của pháp luật Dân sự
1.2.2 Quy định về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
theo quy định của pháp luật về công chứng
a) Theo quy định của Luật công chứng 2006 và các văn bản hướngdẫn thi hành
b) Theo quy định của Luật Công chứng 2014 và các văn bảnhướng dẫn thi hành
Trang 2Chương 2 NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
2.1 Việc quy định công chứng viên cung cấp dịch vụ công nhằm thựchiện Chức năng xã hội có ảnh hưởng tới việc xác định trách nhiệmtài sản của công chứng viên trong quá trình hành nghề
2.2 Việc trao quyền cho các tổ chức hành nghề công chứng được thỏathuận với cơ quan bảo hiểm về phạm vi, điều kiện và mức phí bảohiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên đã tạo ra sựkhông thống nhất và công bằng trong việc hưởng chế độ bảo hiêmcủa người được thụ hưởng
Chương 3 CÁC ĐỀ XUẤT, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
3.1 Nên quy định rõ việc hành nghề của công chứng viên là một hoạtđộng cung cấp dịch vụ, giữa tổ chức hành nghề công chứng vàngười yêu cầu công chứng cần xác lập một hợp đồng dịch vụ để xácđịnh và ràng buộc với nhau về mặt trách nhiệm một cách rõ ràng3.2 Luật cần quy định chung về một mẫu hợp đồng bảo hiểm, về phạm
vi, điều kiện và mức phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chocông chứng viên và áp dụng chung cho tất cả các công chứng viêntrong phạm vi cả nước
C KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm đầu của thời kỳ đất nước bước vào giai đoạn đổi mới,hoạt động công chứng của nước ta được tái lập, kiện toàn và phát triển với sự
ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về công chứng, tạo cơ sởpháp lý quan trọng cho hoạt động công chứng lúc bấy giờ, trong đó phải đề cậpđến 03 nghị định của Chính phủ về công chứng, Thông tư số 574/QLTPK ngày10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước, Thông
tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện cácviệc làm công chứng
Gần 20 năm kể từ khi các văn bản quy phạm pháp luật quy định về côngchứng được ban hành dưới hình thức nghị định, thông tư đến trước ngày LuậtCông chứng năm 2006 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2007), tổ chức và hoạtđộng công chứng đã trải qua thời kỳ phát triển mang nhiều dấu ấn Trên cảnước chỉ có 393 công chứng viên làm việc tại 131 Phòng công chứng đượcphân bố tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước, nhưnghoạt động công chứng đã được đánh giá là có nhiều đóng góp cho sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đất nước đổi mới và những năm tiếptheo Hình ảnh công chứng Việt Nam đã được các cá nhân, tổ chức trong nước
và nước ngoài biết đến như địa chỉ tin cậy trong việc bảo đảm an toàn pháp lýcho các cá nhân, tổ chức tham gia hợp đồng, giao dịch
Luật Công chứng năm 2006 đánh dấu bước phát triển mới trong tổ chức
và hoạt động công chứng ở nước ta Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạtđộng công chứng của Đảng và Nhà nước với mục đích tạo điều kiện cho côngchứng Việt Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, là một bước tiếnquan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về công chứng, đưa hoạt động côngchứng phát triển theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế Sựđan xen hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng và
Trang 4Văn phòng công chứng tạo điều kiện phục vụ tốt hơn nhu cầu công chứng của
cá nhân, tổ chức trong xã hội, người dân có thêm sự lựa chọn khi có yêu cầucông chứng
Luật Công chứng năm 2014 thay thế Luật Công chứng năm 2006 có nhiềuquy định mới có tác động đến tổ chức và hoạt động công chứng, chế độ hànhnghề của đội ngũ công chứng viên, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.Tinh thần của Luật là tiếp tục phát triển mạnh mẽ xã hội hóa hoạt động côngchứng, nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ công chứng viên để ngang tầmvới nhiệm vụ trong thời kỳ mới và hội nhập quốc tế; tăng cường vai trò tự quảncủa tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên; bồi dưỡng nghề côngchứng đối với đối tượng miễn đào tạo nghề công chứng, miễn tập sự; kiểm trakết quả tập sự hành nghề công chứng; chuyển nhượng, sáp nhập, hợp nhất Vănphòng công chứng, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, quyđịnh trách nhiệm của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng đốivới người yêu cầu công chứng và bên thứ ba liên quan
Thời gian triển khai thi hành Luật Công chứng năm 2014 gần được 04năm, số lượng việc công chứng trong cả nước đã có sự gia tăng Một số địaphương có số lượng tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên đôngđảo như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
Người dân được tạo điều kiện thuận lợi khi đi công chứng, không còncảnh xếp hàng, chen chúc như các năm trước Hoạt động công chứng đã vàđang có bóng dáng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa, từng bước hòa nhập với các
tổ chức công chứng quốc tế Tuy nhiên, rủi ro trong hoạt động công chứng cóthể xảy ra đối với bất kỳ công chứng viên nào, dù thuộc Văn phòng côngchứng hay Phòng công chứng Một khi rủi ro xảy ra thì trách nhiệm tài sản củacông chứng viên có thể rất lớn, tùy thuộc vào giá trị hợp đồng và thiệt hại xảy
ra Hoạt động công chứng là một hoạt động đặc thù và trong quá trình thựchiện công việc của mình, công chứng viên có thể gây thiệt hại và vấn đề bồithường hay nói cách khác là trách nhiệm về tài sản phải được đặt ra Hiện nay,
Trang 5lành mạnh giữa các tổ chức công chứng với nhau còn bộc lộ nhiều bất cập dẫntới tình trạng công chứng viên công chứng sai gây thiệt hại cho đương sự Bêncạnh đó những bất cập, sự không đồng nhất trong quy định của pháp luật liênquan đến trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng như: Bộ luậtdân sự 2015, Luật công chứng 2014, Luật trách nhiệm bồi thường của nhànước 2017, Luật viên chức 2010, … dẫn đến khi có tranh chấp xảy ra, vấn đề
có hay không trách nhiệm tài sản (bồi thường thiệt hại) của công chứng viênđược đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết Cơ sở pháp lý giải quyết trách nhiệm tàisản đối với công chứng viên và điều kiện phát sinh trách nhiệm tài sản do côngchứng viên gây ra gồm những gì? Cách thức xác định mức trách nhiệm tài sản
là bao nhiêu? Các biện pháp bảo đảm trách nhiệm tài sản do công chứng viêngây ra trong hoạt động công chứng như thế nào?
Trước yêu cầu của thực tế, để giải quyết triệt để vấn đề trách nhiệm tài sảncủa người hành nghề công chứng, tránh những thiệt hại xảy ra không đáng cócho các bên và công chứng viên, đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý
luận, tác giả chọn đề tài “Pháp luật trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng” làm để tài nghiên cứu trong bài tiểu luận này.
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lýluận và thực tiễn; bản chất, nội dung của vấn đề trách nhiệm tài sản của ngườihành nghề công chứng Thông qua đó, tác giả đề xuất những giải pháp thiếtthực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng hướng tới xây dựng hoạtđộng công chứng thực sự an toàn, lành mạnh, đúng pháp luật góp phần thựchiện thắng lợi quá trình cải cách tư pháp ở nước ta
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của tiểu luận này, tác giả nghiên cứu về trách nhiệm tàisản của người hành nghề công chứng dưới góc độ lý luận Cụ thể, theo quanđiểm cá nhân, tác giả xác định loại trách nhiệm tài sản của người hành nghề
công chứng là một loại “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”
(về mặt tài sản) của công chứng viên đối với người yêu cầu công chứng và bên
Trang 6thứ ba liên quan phát sinh trong quá trình hành nghề của công chứng viên Do
đó, tác giả sẽ phân tích những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng về mặt tài sản do công chứng viên gây ra trongquá trình hành nghề, đồng thời chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn củanhững chế định này và đề xuất hướng khắc phục
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tiểu luận, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận củaChủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềpháp luật, về cải cách tư pháp
Đồng thời, tiểu luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phươngpháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tiễn vấn đề bồi thường thiệt hại docông chứng viên gây ra…
5 Bố cục của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về trách nhiệm tài sản của người hành
nghề công chứng
Chương 2 Những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về
trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
Chương 3 Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm tài
sản của người hành nghề công chứng
B NỘI DUNG
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM TÀI SẢN
CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 1.1 Khái quát về nghề công chứng, công chứng viên và trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
1.1.1 Khái niệm về công chứng và công chứng viên
Công chứng là một nghề xuất hiện từ rất xưa, cách đây hàng ngàn năm ở
Hy Lạp, Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã đã có những người làm dịch vụ văn tự.Nghề công chứng bắt đầu phát triển tương đối mạnh vào khoảng thế kỷ XIV,
XV Trong thời gian này có việc chứng nhận bản sao giấy tờ, nhưng chủ yếuvẫn là chứng nhận hợp đồng, giao dịch Thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp,Đức, ) hay Notary (tiếng Anh), đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghichép Nghiên cứu các tài liệu về công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệthống công chứng chủ yếu là: Hệ thống công chứng La tinh tương ứng với hệthống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự Civil Law); hệ thốngcông chứng Ănglo Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Ănglo Saxon(Common Law) và hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể)tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique) So sánh các hệthống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng La tinh và hệthống công chứng Ănglo Saxon có sự khác biệt nhau về cách thức tổ chức, hoạtđộng, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công chứng ở hai hệthống này về cơ bản tương đồng Cả hai hệ thống này đều coi công chứng làmột nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cánhân về hoạt động của mình
Trên cơ sở đó, một cách chung nhất, có thể hiểu công chứng là một nghềđặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹnăng nghiệp vụ được nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực chocác hợp đồng, giao dịch vốn rất phức tạp, đa dạng Và công chứng viên do nhànước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định vàhoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề
Trang 8Ở Việt Nam hiện nay, tại Luật công chứng 2014, Điều 2 Giải thích từ ngữ
có quy định về hoạt động công chứng và công chứng viên như sau:
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công
chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sựkhác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợppháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việtsang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi làbản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổchức tự nguyện yêu cầu công chứng
Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này,
được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
Khi nói đến trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng, theoquan điểm riêng của tác giả thì đây được hiểu là phần trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng về mặt tài sản của công chứng viên đối với người yêucầu công chứng và bên thứ ba có liên quan phát sinh trong quá trình hành nghềcủa mình Phần trách nhiệm đang được đề cập và tìm hiểu trong nội dung tiểuluận này là phần trách nhiệm về “mặt tài sản” bên cạnh phần trách nhiệm về
“mặt tình thần” trong toàn bộ phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng trong pháp luật về dân sự
Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa - Nhà xuấtbản Tư pháp ấn hành năm 2006, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là "tráchnhiệm của người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về vậtchất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tàisản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại” Bên cạnh đó, Bộ luật Dân
sự 2015 có gián tiếp đề cập tới trách nhiệm bồi thường thiệt ngoài hơp đồng
Trang 9thông qua quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại tạikhoản 1 và khoản 2 Điều 584 như sau:
“Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác.”
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm tài sản của
người hành nghề công chứng như sau: Trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
do cá nhân công chứng viên gây ra khi thi thực hiện hành nghề công chứng.
Hành vi gây thiệt hại của công chứng viên trong quá trình hành nghề là việccông chứng viên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định, quytrình, thủ tục công chứng, gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và bênthứ ba liên quan
1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc quy định chế định trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
Trên tinh thần của việc ban hành Luật công chứng 2014 và các văn bảnhướng dẫn thi hành quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (trách nhiệm tàisản) do công chứng viên gây ra, có thể hiểu việc xây dựng hệ thống pháp luậtnhư vậy là nhằm mục đích bảo đảm quyền và lợi ích của người yêu cầu côngchứng, tổ chức, cá nhân khác bị xâm phạm do hành vi của công chứng củacông chứng viên gây ra Công chứng viên khi công chứng nếu gây thiệt hại cho
tổ chức, cá nhân khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tùy theo
Trang 10tính chất, mức độ và hậu quả thiệt hại thực tế xảy ra Đồng thời, khi chế địnhnày được ban hành thì đây được xem là cơ sở để tất cả các bên gồm: côngchứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, người yêu cầu công chứng, bên thứ
ba có liên quan và bị ảnh hưởng, Tòa án làm căn cứ giải quyết những tranhchấp yêu cầu bồi thường về mặt tài sản đối với quá trình hành nghề của côngchứng viên
Ngoài ra, việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chứngviên gây ra còn nhằm mục đích để các công chứng viên ý thức được tráchnhiệm nghề nghiệp của mình, tránh tình trạng lạm quyền tiến hành công chứngsai, không đúng sự thật, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các tổchức, cá nhân khác
Một mặt nữa, chế định bồi thường thiệt hại do công chứng viên gây ra có
ý nghĩa làm cho hoạt động công chứng được tiến hành nghiêm chỉnh, đúngpháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc cải cách tư pháp ở nước tahiện nay
1.2 Quy định của pháp luật về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng
1.2.1 Quy định về trách nhiệm tài sản của người hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật Dân sự
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương XX Bộ luật dân sự
2015 Tuy nhiên, các quy định tại chương này đều không nêu rõ khái niệmtrách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm,nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hiệu khởi kiện yêucầu bồi thường và việc xác định trách nhiệm bồi thương trong một số trườnghợp cụ thể… Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗingười sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, khôngthể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại
Trang 11cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây
ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho ngườikhác được hiểu là bồi thường thiệt hại
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách
nhiệm pháp lý nói chung như: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng,
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước trách nhiệm bồi thường thiệt hại về mặt tài sản của người hành nghề
công chứng (hay nói cách khác là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về mặt tàisản của công chứng viên khi hành nghề) còn có những đặc điểm riêng sauđây:
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách
nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh trước tiên của pháp luật dân sự và tiếpđến là pháp luật về công chứng Khi một người gây ra tổn thất cho ngườikhác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là mộtquan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh
- Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi
thỏa mãn các điều kiện nhất định là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạmnghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của ngườigây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc) Đây là những điều kiệnchung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường nhữngthiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt tráchnhiệm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiệntrên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Điều 584 Bộ luậtDân sự 2015 có quy định như sau:
“Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
Trang 12phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác.
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”
- Về hậu quả: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu
quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại và trong trường hợp này chính
là công chứng viên Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thìtổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định
là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện đượcviệc bồi thường
- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: đối tượng phải chịu trách nhiệm
tài sản trong trường hợp này là công chứng viên khi hành nghề Tuy nhiên,công chứng viên hành nghề trong các tổ chức hành nghề công chứng nhưPhòng công chứng và Văn phòng công chứng nên trong trường hợp này cầnphải xác định thêm tư cách và trách nhiệm của tổ chức hành nghề côngchứng nơi công chứng viên đó hành nghề
- Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại: tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015
có quy định như sau:
“Điều 585 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên
có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.