1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của người dân tại một số dự án trên địa bàn huyện vân đồn, tỉnh quảng ninh

87 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực hiện công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án trên địa huyện Vân Đồn và ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đế

Trang 1

TÔ XUÂN HOÀN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN,

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên - 2018

Trang 2

TÔ XUÂN HOÀN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN,

TỈNH QUẢNG NINH Ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 885 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Văn Minh

Thái Nguyên - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Quảng Ninh, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Tô Xuân Hoàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là quá trình học tập để cho mỗi học viên vận dụng những kiến thức, lý luận đã được học trên nhà trường vào thực tiễn, tạo cho học viên làm quen những phương pháp làm việc, kỹ năng công tác Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi học viên trong quá trình học tập Thời gian thực tập tuy không dài nhưng đem lại cho em những kiến thức bổ ích và những kinh nghiệm quý báu

Qua thời gian học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được

sự quan tâm của nhà trường toàn thể các thầy, cô giáo, đến nay em đã hoàn thành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

và ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của người dân tại một số dự án trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng đào tạo cùng các thầy giáo, cô giáo người đã giảng dạy và đào tạo hướng dẫn em và

đặc biệt là thầy giáo GS.TS Đặng Văn Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn,

giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

Em xin chân thành cảm ơn các lãnh đạo và cán bộ UBND huyện Vân Đồn, trung tâm phát triển quỹ đất huyện đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Do thời gian, kinh nghiệm và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất

bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Quảng Ninh, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Tô Xuân Hoàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 4

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

3.1 Ý nghĩa khoa học 4

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở lý luận của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 5

1.1.1 Đất đai 5

1.1.2 Thu hồi đất 6

1.1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 8

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12

1.2.1 Thực trạng bồi thường GPMB tại Việt Nam 13

1.2.2 Về diện tích đất nông nghiêp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng 13

1.2.3 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất 14

1.3 Ảnh hưởng của công tác thu hồi bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất 16

1.3.1 Tác động tích cực 16

1.3.2 Tác động tiêu cực 20

Trang 6

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Vân Đồn 22

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai huyện Vân Đồn 22

2.2.3 Đánh giá thực hiện công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án trên địa huyện Vân Đồn và ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của các hộ dân bị thu hồi đất 22

2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Vân Đồn 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp 23

2.3.2 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu 24

2.3.3 Phân tích, so sánh và xử lý số liệu 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tại huyện Vân Đồn 25

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

3.2 Thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn huyện đến năm 2017 32

3.2.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 32 3.3 Đánh giá kết quả công tác giải phóng mặt bằng của 2 dự án nghiên cứu 35

3.3.1 Khái quát 02 dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện Vân Đồn 35

3.3.2 Đánh giá công tác bồi thường dự án Tuyến đường giao thông trục chính nối các khu chức năng chính Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 38

3.3.3 Đánh giá công tác bồi thường dự án cảng hàng không Quảng Ninh 59

3.3.4 Đánh giá chung việc thực hiện các chính sách bồi thường GPMB tại 2 dự án 65

Trang 7

3.3.5 Đánh giá ảnh hưởng của các chính sách giải phóng mặt bằng đến đời sống

kinh tế xã hội của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 67

3.4 Đề xuất phương án giải quyết và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường GPMB 70

3.4.1 Giải pháp về chính sách 70

3.4.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện 71

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Kiến nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Vân Đồn (2015-2017) 29

Bảng 3.2 Kết quả tổng điều tra về dân số năm 2017 30

Bảng 3.3 Dân số và mật độ dân số phân theo xã năm 2017 31

Bảng 3.4 Tình hình lao động huyện Vân Đồn năm 2017 32

Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất huyện Vân Đồn năm 2017 33

Bảng 3.6: Khát quát chung 2 dự án nghiên cứu 35

Bảng 3.7: Tổng hợp các loại đất thu hồi của dự án 39

Bảng 3.8: Tổng hợp đơn giá bồi thường về đất ở 40

Bảng 3.9: Đơn giá bồi thường đất nông nghiệp 42

Bảng 3.10: Kết quả bồi thường về đất ở và đất nông nghiệp 47

Bảng 3.11 Kết quả bồi thường về tài sản gắn liền với đất là công trình kiến trúc, cây hoa màu và vật nuôi 49

Bảng 3.12 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ 56

Bảng 3.13 Kết quả thực hiện chính sách tái định cư 59

Bảng 3.14: Kết quả bồi thường về đất 62

Bảng 3.15: Kết quả bồi thường cây cối hoa màu và tài sản vật kiến trúc 63

Bảng 3.16: Kết quả các khoản hỗ trợ tại dự án 64

Bảng 3.17 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tại 02 dự án nghiên cứu 66

Bảng 3.18 Kết quả phỏng vấn chi tiết bồi thường, hỗ trợ và thu hồi đất của các hộ dân tại 02 dự án 67

Bảng 3.19 Thay đổi cơ cấu thu nhập của người dân tại 02 dự án nghiên cứu 68

Bảng 3.20 Thu nhập bình quân của người dân ở 2 dự án 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí: Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và các

cá nhân sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật Vì vậy, việc sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả là nhiệm vụ của toàn xã hội [14]

Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam đều tăng trưởng ở mức khá, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá đất nước ngày càng diễn ra mạnh

mẽ Điều đã đã tạo sự chuyển đổi về cơ cấu, thành phần và tỷ lệ các loại đất Việc phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp chủ yếu lấy vào đất nông nghiệp, làm đất nông nghiệp bị giảm đi còn đất phi nông nghiệp tăng lên Hơn nữa, hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tốc độ phát triển kinh tế, mức thu hót đầu tư từ nước ngoài ngày càng tăng Do đã, gây sức ép ngày càng lớn đối với đất nông nghiệp Số lượng đất nông nghiệp phải chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng,…) ngày càng nhiều

Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mang tính quyết định tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên trong thực hiện dự án Có thể nói: “Giải phóng mặt bằng nhanh là một nửa dự án” Việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của những người bị thu hồi đất

Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục

vụ phát triển các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài và việc đền bù cho những người bị thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết công bằng, dứt điểm Giải quyết không tốt, không thoả đáng quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để

Trang 11

dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, mất ổn định xã hội và phần nào ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với các chính sách của nhà nước Nếu việc thu hồi đất bị lạm dụng, quỹ đất nông nghiệp bị giảm dần, về lâu dài có thể ảnh hưởng tới

an ninh lương thực quốc gia Công tác GPMB là công việc rất quan trọng, đang được Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn tới tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của địa phương sau khi tái định

cư cho người dân, GPMB là một lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, như thương lượng giá bồi thường hợp lý với người dân, vì khung giá bồi thường đất và tài sản liên quan đến đất thường thấp hơn rất nhiều so với giá ngoài thị trường Ngoài ra, còn phải giải quyết vấn đề công ăn việc làm, tái định cư và các hậu quả sau GPMB

Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội luôn gắn với chiến lược phát triển của vùng

và cả nước Ngày 26/7/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số: 120/2007/TTg thành lập Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, với mục tiêu đưa khu này trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển - đảo chất lượng cao, trung tâm hàng không quốc tế, dịch vụ cao cấp và là đầu mối giao thương quốc tế Khu kinh tế Vân Đồn bao gồm toàn bộ huyện Vân Đồn, có tổng diện tích gần 2.200 km2, gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long Ngày 18/2/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 Tháng 1/2015 Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung khu kinh tế Vân Đồn vào danh sách được đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2013-2015 Thực hiện chủ trương của Chính phủ, tỉnh về hợp tác đầu tư, với

Trang 12

lợi thế có sẵn, những năm gần đây huyện Vân Đồn đã chấp nhận một số dự án đầu tư như: khu tái định cư xã Hạ Long; tuyến đường xuyên đảo Qua Lạn - Minh Châu, tuyến đường giao thông trục chính nối các khu chức năng chính Khu kinh tế Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh; Cảng hàng không Quảng Ninh; cải tạo nâng cấp tỉnh lộ 334, đường từ Khu tái định cư xã Vạn Yên đến Khu công viên phức hợp phía Đông đảo Cái Bầu đất nông nghiệp bị thu hẹp nhiều người dân thiếu đất hoặc không còn đất để canh tác Quá trình thu hồi đất, địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư…Tuy nhiên công tác này còn gặp không ít khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình Phải kể đến là việc xác định các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư Giá bồi thường thấp hơn so với giá thực tế, điều này đã tác động lớn đến tâm lý người dân, họ luôn cảm thấy mức bồi thường chưa thỏa đáng

Trên thực tế một bộ phận nhỏ nông dân bị mất đất được đền bù bằng tiền chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định cuộc sống; chỉ một phần được đào tạo nghề, còn đại đa số không có việc làm hay có việc làm nhưng không ổn định, thu nhập thấp Đời sống của nông dân vốn đã thấp kém, nay bị mất đất lại càng khó khăn thêm

Để giải quyết những bức xúc trong vấn đề việc làm và thu nhập cho người nông dân - đối tượng bị tác động lớn nhất sau khi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng và ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của người dân tại một số dự án trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”

Trang 13

2 Mục tiêu của đề tài

- Tìm hiểu và đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh có liên quan với công tác giải phóng mặt bằng

- Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá thực hiện công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

để thực hiện 02 dự án trên địa huyện Vân Đồn và ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của các hộ dân bị thu hồi đất

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Thông qua nghiên cứu công tác GPMB ở 2 dự án để đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Qua đó, tìm ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập đề ra những đề xuất, kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục, hoàn thiện hơn trong công tác GPMB

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

1.1.1 Đất đai

1.1.1.1 Khái niệm đất đai

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của một quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên Trái Đất

Đất là vật thể thiên nhiên hình thành từ lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố gồm: Đá, thực động vật, khí hậu, địa hình và thời gian Tất cả các loại đất đai trên Trái Đất được hình thành sau quá trình biến đổi trong thiên nhiên, chất lượng đất đai phụ thuộc vào đã mẹ, khí hậu, sinh vật sống trên và trong lòng đất [13]

Đất đai là lớp bề ngoài của Trái Đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống con người Mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt đó theo thời gian và không gian nhất định Chất lượng của đất đai phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất

1.1.1.2 Đặc điểm của đất đai

Đất đai có vị trí cố định không thể di chuyển được, với một số lượng lớn có hạn trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và khu vực Tính cố định không di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về quy mô và không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối (nguồn gốc hình thành, sinh thái với những tác động khác của thiên nhiên) Vị trí của đất đai có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai

Độ phì là một thuộc tính của đất đai và là yếu tố quyết định chất lượng đái đai Độ phì là một đặc trưng về chất gắn liền với đất đai, thể hiện khả

Trang 15

năng cung cấp thức ắn, nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển

Khả năng phục hồi và tái tạo của đất đai chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì thông qua tự nhiên hoặc do tác động của con người

Như vậy, đất đai có tính hai mặt (Không thể sản sinh nhưng có khả năng tạo) Tính hai mặt này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình sử dụng đất đai Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất đai Mặt khác phải chú ý ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

để tăng năng suất cây trồng cũng như tăng khả năng tái tạo và phục hồi độ phì nhiêu của đất đai [6]

Ngoài tính hai mặt trên, đất đai còn có những đặc điểm như là: Sự chiếm hữu, sở hữu đất đai và tính đa dạng phong phú của đất đai Về sự chiếm hữu và

sở hữu của đất đai ở nước ta đã được quy định rõ trong bộ Luật Đất đai Còn tính

đa dạng và phong phú của đất đai thể hiện ở chỗ: Trước hết, do đặc tính tự nhiên của đất đai và phân bổ cố định từng vùng lãnh thổ nhất định, gắn liền với điều kiện hình thành của của đất đai quyết định Mặt khác, tính đa dạng, phong phú còn do yêu cầu, đặc điểm và mục đích sử dụng khác nhau Đặc điểm này của đất đai đòi hỏi con người khi sử dụng đất đai phải biết khai thác triệt để lợi thế của mỗi loại đất một cách hiệu quả và tiết kiệm trên một vùng lãnh thổ Để làm được điều này, phải xây dựng một quy hoạch tổng thể và chi tiết sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước và từng vùng khu vực

1.1.2 Thu hồi đất

1.1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất

Theo Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 [7] thì “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý”

Theo Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 [8] thì “Nhà nước thu hồi đất là

Trang 16

việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”

1.1.2.2 Các trường hợp thu hồi đất

Theo Điều 38, Luật Đất đai năm 2003 [7] thì:

Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

1 Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

2 Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc

từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

3 Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;

4 Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5 Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

6 Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;

b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7 Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

8 Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

9 Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;

10 Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;

11 Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn

Trang 17

tháng liền;

12 Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép

Luật Đất đai 2013 [8] đã cụ thể hóa các trường hợp thu hồi đất so với Luật Đất đai 2003 thông qua Điều 61, Điều 62, Điều 64, Điều 65

1.1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

1.1.3.1 Khái niệm

a) Giải phóng mặt bằng

Trong Luật Đất đai và luật xây dựng hiện hành không có định nghĩa trực tiếp thế nào là giải phóng mặt bằng mặc dù có sử dụng cụm từ này có thể

nói, giải phóng mặt bằng hay giải tỏa mặt bằng (còn gọi tắt là giải tỏa) là một

quá trình “làm sạch” mặt bằng thông qua việc thực hiện di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu và một bộ phận dân cư trên một diện tích đất nhất định nhằm thực hiện quy hoạch, cải tạo hoặc xây dựng công trình mới

b) Bồi thường

Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 [8]: Bồi thường khi Nhà

nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Ta thấy khái niệm nêu trên

chỉ xác định bồi thường về đất, trong khi đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử dụng đất

Trang 18

Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 [8], khái niệm bồi thường

được bổ sung như sau: “ Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị

quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”

c) Hỗ trợ

Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 [7] thì: “Hỗ trợ khi Nhà

nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” Định nghĩa này tuy có liệt kê các trường hợp hỗ trợ, nhưng không đầy đủ

Hỗ trợ là chính sách “mềm” nên ngoài các trường hợp hỗ trợ vừa nêu, còn có những trường hợp hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết

định Chính vì vậy, Luật Đất đai 2013 đã rút gọn khái niệm như sau [14]: “ Hỗ

trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi

để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển ”

Sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ là: bồi thường là khái niệm

xuất phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các nguyên tắc: (i) chủ thể nào gây thiệt hại, chủ thể đó phải bồi thường; (ii) thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đó Trong khi đó, khái niệm hỗ trợ (còn gọi là hộ trợ) là “giúp đỡ”, mang tính chính sách, thể hiện việc cộng thêm vào nên không đòi hỏi tính tương xứng như bồi thường Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật nước ta chưa thật sự “rạch ròi” hai khái niệm này và một số trường hợp mang bản chất “bồi thường” nhưng lại được xác định trong pháp luật là “hỗ trợ” Ví dụ điển hình là hỗ trợ về giá đất nông nghiệp đối với đất nông nghiệp là đất vườn ao, đất nông nghiệp trong khu dân cư

và đất nông nghiệp tiếp giáp với khu dân cư Bản chất là bồi thường về đất, nhưng

do pháp luật quy định là giá đất nông nghiệp định theo phương pháp thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm khoản gọi là “hỗ trợ” Hơn nữa, theo chúng tôi, một khi việc thu hồi đất làm người nông dân mất đất sản xuất, dẫn đến phải chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông

Trang 19

nghiệp thì bản chất là đã gây ra thiệt hại do mất việc làm Nếu xác định như vậy thì chúng ta nên dùng cụm từ “bồi thường cho người nông dân do mất việc làm” thay vì “hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm” như hiện nay Điều này sẽ

khắc được tình trạng hỗ trợ nghề nghiệp bằng một khoản tiền qua loa, sau đó

không quan tâm đến việc người được chuyển đổi nghề nghiệp có việc làm hay không Mặt khác, điều này tạo ra một cách hiểu và thực thi pháp luật rằng, chi phí thiệt hại do mất việc phải được tính toán sòng phẳng, bảo đảm thực sự tái lập và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân sau khi quá trình thu hồi đất [4]

d, Tái định cư

Pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm tái định cư; tuy

nhiên, nhiều văn bản vẫn quy định về tái định cư Có thể khái quát rằng, tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền [5]

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư đảm bảo việc bồi thường về đất đai và tài sản gắn liền với đất

bị thu hồi đúng đối tượng, đúng chính sách, hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển tạo việc làm và ổn định đời sống

Chính sách bồi thường, hỗ trợ hầu hết được thực hiện khi Nhà nước thu hồi một phần đất hay toàn bộ thửa đất cùng tài sản gắn liền với đất của người dân, cùng với đó là một số chính sách hỗ trợ khác để đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi

Mặt khác chính sách tái định cư đa phần được thực hiện khi Nhà nước thu hồi toàn bộ phần đất và công trình xây dựng, tài sản trên đất (hoặc phần còn lại không thể tiếp tục sử dụng được) Cùng với chính sách tái định cư là các chính

Trang 20

sách hỗ trợ để phát triển tạo việc làm, ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở

Như vậy, tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục đời sống cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra tái định cư còn bao gồm hàng loạt các chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi bị tác động do việc thực hiện các dự án

đầu tư gây ra, nhằm khôi phục và cải thiện mức sống [1]

1.1.3.3 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án,

nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội [10] [11]:

- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất

khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; Khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể

- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong

đời sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ

Trang 21

vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này

Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:

- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở

- Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản

lý khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên

- Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu

- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển

Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì tính phức tạp của

công tác GPMB cũng khác nhau [9]

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Đất đai là địa điểm, mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, phân bổ lực lượng sản xuất và phân bổ dân cư, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, cửa hàng, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Đất là nền mãng, là mặt bằng diễn ra các hoạt động kinh tế, khi dân số không ngừng tăng lên, nhu cầu

về đất càng lớn, với sự phát triển của thời kỳ công nghiệp hóa đất trở nên ngày càng khan hiếm so với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội

Đất đai là môi trường con người xây dựng nhà ở, các công trình văn hoá, y

tế, giáo dục, Chính vì thế đất là điều kiện để tạo dựng các điều kiện sinh hoạt

Trang 22

trực tiếp như phân bổ dân cư, để tổ chức các hoạt động xã hội, xây dựng cơ sở quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác phục vụ cuộc sống của con người

Cùng với sự phát triển của thế giới, Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, nước ta có những đổi mới mạnh mẽ Nhu cầu về đất đai cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích xã hội, lợi ích công công ngày càng phát triển, vì vậy nhu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng là một tất yếu khách quan nhằm đạt tới một sự phát triển rộng hơn, to đẹp hơn, phù hợp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người [12]

1.2.1 Thực trạng bồi thường GPMB tại Việt Nam

Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH.HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay

1.2.2 Về diện tích đất nông nghiêp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4 % tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha

và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha ), Hà

Trang 23

Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh phúc (5.573 ha) Theo số liệu điều tra của BNNPTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Nếu tính theo các vùng kinh tế thì Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là duới 0,5%

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có

xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70%-80% diện tích đất canh tác

1.2.3 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo của BNNPTNT cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong

5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có

số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư Tuy nhiên trên thực tế, có tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề

cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định [3]

Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Theo kết quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động bị mất việc làm Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2001 đến 2004 đã

có gần 80.000 lao động bị mất việc làm Tính đến hết năm 2005, Hà Nội có

Trang 24

khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng nhưng việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả

Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng năm năm trở lại đây, Thành phố đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074 m2; tổng số hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ, trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền đền

bù, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm [14]

Có gia đình trở nên giàu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định

vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3%

số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộ cho rằng đời sống không có gì cải thiện, số hộ còn lại khẳng định đời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các dự án khác về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương

Khi trả lời câu hỏi về những vấn đề cần ưu tiên nhất từ phía Nhà nước và doanh nghiệp đối với các hộ dân sau khi bị hồi đất thì có 38,4% đề nghị được thu

Trang 25

hút vào các doanh nghiệp trên địa bàn; 22,7% đề nghị được hỗ trợ đào tạo nghề bằng tiền, số còn lại đề nghị cho vay vốn ưu đãi và các ưu tiên khác [14]

1.3 Ảnh hưởng của công tác thu hồi bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất

+ Thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa còn thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là sự phát triển công nghiệp chế biến và đa dạng hóa các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp Từ đó, thu hút một bộ phận lao động nông nhàn, lao động dư dôi từ nông nghiệp (do không còn đất nông nghiệp để canh tác hoặc chuyển mục đích sử dụng đất) vào làm việc và tăng thời gian lao động ở khu vực nông thôn Do vậy, tạo sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH [2]

Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, thay đổi cơ cấu việc làm

Thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp,

Trang 26

thương mại và dịch vụ, do đó cơ cấu lao động, việc làm của người lao động cũng có sự thay đổi mạnh mẽ Hiện nay cơ cấu lao động, việc làm thay đổi theo các xu hướng:

+ Gia tăng lao động, việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ nhưng giảm lao động, việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp

+ Gia tăng lao động, việc làm có trình độ chuyên môn cao, lao động phức tạp (lao động được đào tạo, có chuyên môn, nghiệp vụ) nhưng giảm lao động, việc làm có trình độ chuyên môn thấp, đặc biệt là lao động giản đơn chưa qua đào tạo, lao động phổ thông

+ Gia tăng lao động, việc làm có năng suất, thu nhập cao, tạo nhiều giá trị gia tăng nhưng giảm lao động, việc làm có năng suất, thu nhập thấp

Có thể thấy, sự thay đổi cơ cấu việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa theo các xu hướng trên đây là do xuất phát từ sự gia tăng, hội

tụ các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở đô thị khi mà ở đó những lợi thế

về các nguồn lực dồi dào ở đô thị ngày càng được tận dụng khai thác tối đa như: Chi phí giao dịch thấp, giao thông vận tải thuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện đại, nguồn vốn đầu tư, thông tin, tiến bộ khoa học - kỹ thuật, Đồng thời, sự

mở rộng không gian đô thị, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các khu thương mại, dịch vụ tập trung, sự thay thế lao động thủ công bằng cơ khí, tự động hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề cũng là những nhân tố trực tiếp làm thay đổi cơ cấu lao động, việc làm của người lao động

Thúc đẩy khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm đối với người lao động, đặc biệt, đối tượng là nông dân bị thu hồi đất

+ Trình độ người lao động ngày càng được nâng cao Do xu hướng giảm lao động, việc làm có trình độ chuyên môn thấp và tốc độ gia tăng dân số nên một bộ phận người lao động, nhất là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, buộc phải tự trang bị cho mình kiến thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định Vì vậy, thu hồi đất cho

Trang 27

công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tự động hướng một bộ phận lao động tham gia vào các chương trình giáo dục, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp Đồng thời làm chuyển biến nhận thức của người dân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình, thể hiện thông qua việc xã hội chuyển từ mô hình đại gia đình nhiều thế hệ đông con của xã hội nông thôn truyền thống, sang mô hình gia đình ít con theo kiểu đô thị Điều này giúp cho những người lao động có điều kiện thuận lợi hơn về thời gian, tiền bạc, công sức, để ưu tiên đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, vừa làm giảm áp lực về nhu cầu phải giải quyết việc làm hiện tại ở đô thị, vừa nâng cao khả năng tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm cho bản thân và con em họ

+ Thị trường lao động hoạt động sôi động hơn Tốc độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang công nghiệp hóa, đô thị hóa càng cao thì tốc độ tăng trưởng việc làm và tốc độ hội tụ dân số, lao động ở đô thị có quy mô càng lớn

Sự gia tăng về cả hai phía cung và cầu lao động cùng với môi trường kinh tế năng động như đô thị chính là những điều kiện cơ bản để phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm giáo dục, đào tạo nghề, dịch vụ thông tin thị trường sức lao động, Do đó, người lao động có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận các dịch vụ việc làm thiết lập, mở rộng các mối quan hệ làm ăn và thực hiện các giao dịch trên thị trường sức lao động

Tạo cơ hội chuyển đổi việc làm cho người lao động nông nghiệp, đặc biệt là nông dân trong độ tuổi lao động khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các lĩnh vực khác

Như đã phân tích, thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa tạo thêm nhiều việc làm mới, làm thay đổi cơ cấu lao động, việc làm góp phần nâng cao trình độ cho người lao động, thúc đẩy thị trường sức lao động hoạt động sôi động hơn Từ đó đã tạo ra nhiều cơ hội để người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp chuyển đổi việc làm dễ dàng hơn sang các lĩnh vực kinh tế

Trang 28

khác Đồng thời góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ [21]

Góp phần cơ cấu lại lực lượng lao động theo hướng gia tăng lực lượng lao động trẻ, khỏe vào phát triển kinh tế

Thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa góp phần thu hút được một lực lượng lớn lao động trẻ, khỏe từ các vùng, miền Do đó, tạo động lực mạnh

mẽ thúc đẩy kinh tế ở các thành phố và các đô thị nói chung phát triển một cách năng động Tiêu biểu nhất là thành phố Hồ Chí Minh, bình quân hàng năm tăng trưởng kinh tế đạt trên 10%/năm, đóng góp khoảng 20% tổng giá trị GDP và khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước, gần 30% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Những thành tựu về phát triển kinh tế mà thành phố Hồ Chí Minh đạt được có sự đóng góp đáng kể của lực lượng lao động nhập cư (chiếm 70% lao động trong các KCN, KCX) Lực lượng lao động này có ưu điểm là khá linh hoạt và tích cực trong việc tìm kiếm việc làm chấp nhận cả những công việc nặng nhọc, độc hại và có thu nhập thấp mà lao động thành phố không muốn làm Vì vậy, có thể khẳng định nhờ quá trình thu hồi đất để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút một lực lượng lớn lao động dôi dư từ nông nghiệp, nông thôn đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố

Góp phần hiện đại hóa đời sống cư dân nông thôn và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa vùng miền

Quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa tạo điều kiện cải biến cư dân nông thôn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên trở thành những cư dân thành thị có tác phong công nghiệp, nếp sống văn minh và có đời sống văn hóa cao hơn

Trang 29

1.3.2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu trên, quá trình thu hồi đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta cũng làm nảy sinh những vấn đề KT -

XH cần quan tâm giải quyết như:

Trong ngắn hạn, giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp, đặc biệt là bộ phận nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất

Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các KCN, khu kinh tế, KCX, khu

đô thị và các công trình công cộng đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, do

đó làm giảm việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp Một bộ phận nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất có mức thu nhập thấp hơn so với trước thu hồi đất nên điều kiện sống của họ gặp nhiều khó khăn hơn

Làm cho một bộ phận người lao động trong diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp

Thực tế, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, đô thị

sẽ dẫn đến một bộ phận không nhỏ những người lao động thuộc diện thu hồi đất sản xuất (đất sản xuất nông nghiệp và mặt bằng sản xuất, kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp) mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi việc làm Đối với nông dân, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, vì vậy, mất đất sản xuất đồng nghĩa với mất tư liệu sản xuất, mất việc làm, không còn kế sinh nhai Hơn nữa, đại đa số họ có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, không có vốn để tự tổ chức việc làm Ngoài ra, do cách nghĩ, cách làm, lối sống của họ còn mang nặng sắc thái văn hoá nông thôn làng, xã truyền thống nên sẽ hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ công ăn, việc làm tiếp cận các dịch vụ việc làm hội nhập với cuộc sống đô thị, thích ứng kịp thời với sự biến đổi nhanh chóng của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Có thể nói, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất để công nghiệp hóa, đô thị hóa đã gây trở ngại lớn cho nhóm dân cư bị thu hồi đất, biến họ trở thành

Trang 30

những người thiếu việc làm hoặc thất nghiệp tuỳ theo diện tích đất bị thu hồi ngay chính trên quê hương mình

Gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất và tạo áp lực giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với chính quyền địa phương

Do chênh lệch về phát triển KT - XH giữa nông thôn và đô thị mà hình thành nên lực đẩy ở khu vực nông thôn và lực hút ở khu vực đô thị Mức độ công nghiệp hóa, đô thị hóa càng cao, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp càng lớn, tỷ lệ lao động mất việc làm ở nông thôn càng cao, sự chênh lệch về phát triển KT - XH giữa nông thôn và thành thị càng lớn thì các luồng nhập

cư nông thôn - đô thị diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đây là hiện tượng khách quan của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nó có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của các đô thị Tuy nhiên, các luồng nhập cư tự do từ các vùng nông thôn chỉ tập trung chủ yếu vào một số rất ít những đô thị lớn không những làm gia tăng sức ép về vấn đề nhà ở, cơ

sở hạ tầng, y tế, giáo dục, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường mà còn làm gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm đặc biệt là với nông dân trong độ tuổi lao động Mặt khác, làm gia tăng áp lực đối với chính quyền địa phương trong công tác quản lý xã hội, nhất là việc đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho các bộ phận dân cư, trong đó có đối tượng là nông dân bị thu hồi đất

+ Dân cư từ các vùng, miền di cư vào các đô thị, đồng thời mang theo những giá trị truyền thống, bản sắc và tinh hoa văn hóa riêng có của vùng, miền, do đó góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa chung của đô thị Trải qua quá trình lựa chọn, sàng lọc những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa của các vùng, miền nào phù hợp với nhu cầu cảm thụ của số đông thì ngày càng được phát triển làm đa dạng thêm văn hóa của đô thị nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung [13]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng được áp dụng tại 2 dự án

trên địa bàn nghiên cứu;

- Vấn đề đời sống và việc làm của các hộ dân có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa thị trấn

Cái Rồng, xã Hạ Long, xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Gồm

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Vân Đồn

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai huyện Vân Đồn 2.2.3 Đánh giá thực hiện công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

để thực hiện 02 dự án trên địa huyện Vân Đồn và ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của các hộ dân bị thu hồi đất

Trang 32

- Đối tượng và điều kiện được bồi thường

- Bồi thường về đất

- Hỗ trợ về đất

- Bồi thường về tài sản trên đất

- Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Đánh giá chung việc thực hiện các chính sách giải phóng mặt bằng tại

2 dự án tại huyện Vân Đồn

- Ảnh hưởng đến đời sống kinh tế

- Ảnh hưởng đến việc làm và trật tự an ninh xã hội và phát triển hạ tầng

kỹ thuật, hạ tầng xã hội

2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Vân Đồn

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp

a Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp

- Điều tra, thu thập số liệu, tài liệu có liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

- Điều tra, thu thập số liệu liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của 02 dự án nghiên cứu Các số liệu này thu thập tại Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Vân Đồn, chủ đầu tư dự án và các hộ nằm trong phạm vi thu hồi đất

- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu về tình hình kinh tế - xã hội, đời sống của các hộ gia đình nằm trong khu vực bị thu hồi đất

- Kế thừa các tài liệu sẵn có tại địa phương như: báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phương

án bồi thường, hỗ trợ của hai dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Trang 33

b Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Thu thập thông tin sơ cấp (theo mẫu phiếu điều tra):

Bao gồm các thông tin thu thập từ hoạt động điều tra phỏng vấn trực tiếp đối với một số hộ gia đình tại 2 dự án được lựa chọn điều tra, cụ thể như sau:

- Phương pháp điều tra ngẫu nhiên 50 phiếu cho Dự án Tuyến đường giao thông trục chính nối các khu chức năng chính Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp điều tra ngẫu nhiên 50 phiếu cho các hộ dân thuộc Dự

án Cảng hàng không Quảng Ninh tại xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh cụ thể như sau

Dự án 1:

Số hộ bị thu hồi hết đất nông nghiệp: 7

Số hộ bị thu hồi trên 70-100% đất nông nghiệp: 6

Số hộ bị thu hồi trên 30-70% đất nông nghiệp: 19

Số hộ bị thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp: 18

Dự án 2:

Số hộ bị thu hồi hết đất nông nghiệp: 8

Số hộ bị thu hồi trên 70-100% đất nông nghiệp: 9

Số hộ bị thu hồi trên 30-70% đất nông nghiệp: 14

Số hộ bị thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp: 19

+ Nội dung điều tra: Hỏi các câu hỏi về xác định đối tượng và điều kiện bồi thường, giá bồi thường về đất; tài sản; chính sách hỗ trợ theo mẫu phiếu điều tra

2.3.2 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu

Tổng hợp kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, kết quả

thực hiện Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013

2.3.3 Phân tích, so sánh và xử lý số liệu

- Kiểm tra và xử lý những sai lệch để nâng cao độ chính xác của số liệu, phân tích, xử lý số liệu bằng Exell

- Thống kê, mô tả, so sánh và tổng hợp

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tại huyện Vân Đồn

Phía Bắc giáp huyện Tiên Yên, huyện Đầm Hà, phía Đông giáp huyện đảo

Cô Tô, phía Nam giáp thành phố Hạ Long, phía tây giáp thành phố Cẩm Phả

Vân Đồn có thị trấn Cái Rồng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của huyện, cách thành phố Hạ Long 50Km về phía Đông và cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái theo đường chim bay khoảng 80Km Có tỉnh lộ 334 chạy qua và cảng biển tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá với các khu vực trong cả nước và nước ngoài

Theo số liệu thống kê kiểm kê đất đai năm 2017, huyện Vân Đồn có tổng diện tích đất tự nhiên là 55.320,23ha Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cái Rồng, 11 xã với hơn 81 làng mạc (7 xã trên đảo Cái Bầu là các xã Đông

Xá, Hạ Long, Bình Dân, Đoàn Kết, Đài Xuyên, Vạn Yên; 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải là các xã Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi) Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện, thị trấn Cái Rồng cách thành phố

Hạ Long 40km về phía Tây, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái khoảng trên 100km về phía Đông Vân Đồn cách Thủ đô Hà Nội 175km, cách thành phố Hải Phòng 80km

Trang 35

Hình 3.1: Vị trí địa lý huyện Vân Đồn (Khu kinh tế Vân Đồn)

3.1.1.2 Địa hình đất đai

Huyện đảo Vân Đồn gồm 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long, trong đó có hơn 20 đảo đất có người ở Lớn nhất là đảo Cái Bầu rộng 309,41km2 (chiếm 56%), trong đó có thị trấn huyện lỵ và 6 xã Vùng đảo phía ngoài trải rộng 241,92km2 (chiếm 44%) gồm 5 xã đảo Các đảo đều có địa hình đồi núi, độ cao từ 200 đến 300m (Núi Nàng Tiên ở đảo Trà Bản cao 450 m, núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397 m)

Do địa hình đảo nên trên địa bàn huyện Vân Đồn không có sông ngòi nước ngọt mà chỉ có hệ thống suối nhỏ, ngắn và dốc Chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển Hệ thống hồ đập, sông suối ở Vân Đồn thường thiếu nước về mùa khô nên có ảnh hưởng đến việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của con người Trong những năm gần đây nhà nước quan tâm đầu tư hệ thống các hồ đập lớn, nhỏ khác nhau phục vụ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế tại địa phương là hệ thống các hồ Khe Mai, Đồng Dọng, Khe

Trang 36

Bòng, Khe Rùa, Vòng Tre, Đông Thái, Cẩu lẩu, Lục Thuỷ, Lòng Dinh và hồ Mắt Rồng

Vân Đồn là huyện miền núi, hải đảo nên có địa hình đa dạng và phức tạp, có nhiều đồi núi, chủ yếu là núi đá vôi độ cao từ 200 m - 300 m Địa hình thấp dần từ phía đông xuống phía tây, độ cao trung bình từ 40m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 250 Vùng núi trong đất liền có độ cao từ 100 đến

150 m so với mặt nước biển, bị chia cắt mạnh có độ dốc lớn (từ 18-250 ), thường

bị xói mòn, rửa trôi làm giảm độ phì của đất, nhất là những nơi có ruộng bậc thang nên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Địa hình trên biển đa dạng có nhiều hòn đảo khác nhau, như đảo đá vôi

có vách đứng, đỉnh hình răng cưa, sườn dốc có nơi thấp thoải tuỳ thuộc vào

sự bào mòn của nước mưa Đảo Cái Bầu cao về phía Đông Nam, thấp về phía Bắc, có đỉnh núi cao như: Nàng Tiên cao 450,0 m, Vạn Hoa cao 397,0 m, Bằng Thông cao 366,0 m, Cái Đài cao 302,0m

Đất của Vân Đồn khá rộng, còn ở dạng tương đối hoang sơ và khá đa dạng, gồm đất liền, hải đảo, đất mặt và cả thềm lục địa Đây là điều kiện tốt để

tổ chức quy hoạch, xây dựng phát triển thành các khu du lịch biển, đảo bền vững và chất lượng cao, tạo điểm đến du lịch giải trí vui chơi cao cấp, đồng thời tạo môi trường an sinh bền vững, sinh động và chất lượng cao cho người dân trong vùng quả nhằm phát huy thế mạnh do điều kiện tự nhiên mang lại

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Vân Đồn bị chi phối bởi khí hậu duyên hải, ảnh hưởng và tác động của biển, tạo ra những vùng sinh thái hỗn hợp miền núi ven biển Trong năm thường chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10; mùa đông khô lạnh, có gió Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng

3 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 23,3 oC Ở những vùng thấp dưới 150,0 m có nhiệt độ trung bình là 23,80C, vùng trên 150,0 m nhiệt độ

Trang 37

trung bình 23,00C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 36,20C, về mùa đông nhiệt

độ tối thấp tuyệt đối đạt 40C

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2095,30 – 2339,50 mm/năm, mưa phân theo 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa nhiều: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa tập trung chiếm 83-86% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 8

- Mùa mưa ít: Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 14

- 17% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 1

Huyện Vân Đồn thịnh hành 2 loại gió chính là gió Đông bắc và gió Đông nam:

- Gió Đông bắc: Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió từ 2 - 4 m/s Gió mùa đông bắc tràn về theo đợt, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, trong những đợt gió mùa đông bắc đạt tới cấp 5, cấp 6, ngoài khơi cấp 7 đến cấp 9 Đặc biệt gió mùa đông bắc tràn về thường lạnh, giá rét, ảnh hưởng đến mùa màng, gia súc và sức khoẻ con người

- Gió Đông nam: Thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 9, gió thổi từ biển vào mang theo nhiều hơi nước tạo nên không khí thoáng mát Tốc độ gió trung bình từ 2- 4 m/s

Huyện Vân Đồn chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão đổ bộ từ biển vào Bão thường xuất hiện vào tháng 6 đến tháng 10, tốc độ gió từ 20 – 40 m/s, bão thường kèm theo mưa nhiều gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế

Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới đổi mới đất nước, nền kinh

tế của huyện có những chuyển biến khá rõ nét, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó nông nghiệp nông thôn đã có những bước chuyển biến quan trọng, đời sống của người dân từng bước được cải thiện; tăng trưởng kinh

Trang 38

tế đạt mức khá: giai đoạn 2015 - 2017 (tăng trưởng kinh tế bình quân 8,5%/năm) Tổng giá trị sản xuất năm 2017 đạt 903 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt 510,3 tỷ; giá trị sản xuất ngành công nghiệp

- xây dựng đạt 122,7 tỷ đồng; thương mại - dịch vụ đạt trên 270 tỷ đồng

Bảng 3.1 Thực trạng phát triển kinh tế của huyện Vân Đồn (2015-2017)

TTCN-XD Tỷ đồng 100,7 112,7 122,7 107,31 118,79 113,05 +TM-DV Tỷ đồng 179,5 195,5 270 106,30 131,54 118,92

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017 [18]) 3.1.2.2 Dân số

* Số dân:

Theo kết quả tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2017 của Phòng thống kê huyện Vân Đồn, toàn KKT Vân Đồn có 39.384 người với 10.303 hộ Tổng dân số toàn KKT Vân Đồn được phân bố trên 12 đơn vị hành chính Dân cư tập trung đông nhất tại Thị trấn Cái Rồng với dân số là 7.574 người

Xã có số dân đông nhất là xã Hạ Long với dân số 8.803 còn xã có số dân ít nhất là Ngọc Vừng với dân số 880 người

Trang 39

Bảng 3.2 Kết quả tổng điều tra về dân số năm 2017

Trang 40

Bảng 3.3 Dân số và mật độ dân số phân theo xã năm 2017

thị trấn

Diện tích

tự nhiên (km 2 )

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017 [18])

* Cơ cấu dân số và dân tộc:

Dân số sinh sống trong huyện Vân Đồn gồm 7 nhóm dân tộc khác nhau sinh sống như: Kinh, Sán Dìu, Hoa, Dao, Tày, Mường, Cao Lan Trong đó, chiếm đa số là người Kinh 84,74% tổng dân số và người Sán Dìu 12,95% Cơ cấu dân số phân theo giới tính là 19.814 nam, chiếm 50,31% và nữ là 19.570 người, chiếm 49,69% so với tổng số Tỷ lệ dân số theo giới tính là 0,99:1

* Dân số đô thị và tỷ lệ đô thị hóa:

Thị trấn Cái Rồng, khu vực đô thị loại V, là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa huyện Vân Đồn, dân số đô thị là 7.574 người, tỷ lệ đô thị hóa rất thấp 18,55%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ đô thị hóa chung toàn tỉnh (toàn tỉnh 44,6%) Tính đến ngày 30/6/2017, dân số toàn KKT Vân Đồn có 39.384 người/10.303 hộ, trong đó, dân số đô thị là 8.115 người chiếm 20,60%, dân số nông thôn là 31.269 người chiếm 79,39%;

Ngày đăng: 29/08/2018, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w