Nói cách khác, một nền CNHT đồng bộ có khả năng đáp ứng những yêu cầu về số lượng và chất lượng của nền công nghiệp chế tác và lắp ráp được coi “ bà đỡ” cho việc phát triển công nghiệp c
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TRƯƠNG MINH TUỆ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TRƯƠNG MINH TUỆ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Lê Văn Ái
2 TS Nguyễn Thị Lan
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án " Chính sách tài chính nhằm phát triển công
nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam " là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư
liệu sử dụng trong luận án là trung thực và có nguồn gốc, có xuất xứ rõ ràng và được ghi trong tài liệu tham khảo.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
TRƯƠNG MINH TUỆ
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 .11
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 11
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 11
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm CNHT 11
1.1.2 Vị trí của công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi cung ứng giá trị 17
1.1.3 Nội dung và điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ 19
1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 25
1.2.1 Tài chính công và chính sách tài chính công 25
1.2.2 Những tác động của chính sách tài chính công thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ 40
1.2.3 Những tiêu chí đánh giá tác động của chính sách tài chính công đến phát triển công nghiệp hỗ trợ 45
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng việc sử dụng chính sách tài chính công phát triển công nghiệp hỗ trợ 49
1.3 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ - BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 53
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 53
1.3.2 Bài học về sử dụng chính sách tài chính công thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ cho Việt Nam 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 63
CHƯƠNG 2 .64
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG THÚC ĐẨY 64
Trang 5PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 64
2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 64 2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 75
2.2.1 Văn bản pháp luật thực thi chính sách tài chính công thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ 75
2.2.2 Thực tiễn áp dụng chính sách tài chính công trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở một số ngành cụ thể 79
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 86
2.3.1 Tình hình thực hiện chính sách tài chính công thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam 86
2.3.2 Đánh giá chung 100
2.3.3 Những hạn chế 103
2.3.4 Các nguyên nhân 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 110
CHƯƠNG 3 .111
GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 111
3.1 CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 111
HỖ TRỢ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 111
3.1.1 Cơ hội và thách thức phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến 2020111 3.1.2 Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 112
Trang 63.2 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
CÔNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐẾN NĂM 2020 114
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH CÔNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 118
3.3.1 Một số giải pháp chung 118
3.3.2 Các giải pháp cụ thể hoàn thiện chính sách tài chính công phục vụ phát triển CNHT theo quy hoạch đến năm 2020 125
3.3.3 Các giải pháp có tính bổ trợ 142
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 155
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 - Mô hình phân chia của các công nghiệp hỗ trợ 17
Sơ đồ 1.2: công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi giá trị của nhà lắp ráp 18
Sơ đồ 1.3 Sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ 19
Sơ đồ 1.4: Các yếu tố của một chính sách theo cách tiếp cận khung logic 28
Bảng 2.1 Kim ngạch nhập khẩu và thuế nhập khẩu một số công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2010-2014 888
Biểu đồ 2.1: Tổng hợp kim ngạch nhập khẩu và thuế nhập khẩu một số công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2010-2014 899
Sơ đồ 3.1 Khả năng xuất khẩu 1533
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNHT: Công nghiệp hỗ trợ
JETRO: Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CNĐT: Công nghiệp điện tử
NCKH: Nghiên cứu khoa học
NCS: Nghiên cứu sinh
ĐTPT: Đầu tư phát triển
CNH & HĐH: Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP: Tổng thu nhập quốc dân
KTQT: Kinh tế quốc tế
TCNN: Tài chính Nhà nước
NSNN: Ngân sách Nhà nước
FTA: Hiệp định thương mại tự do
BHXH: Bảo hiểm xã hội
KT-XH: Kinh tế - xã hội
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
GTGT: Giá trị gia tăng
Trang 9TSCĐ: Tài sản cố định
WTO: Tổ chức Thương mại Quốc tế
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
ODA: Đầu tư gián tiếp nước ngoài
CKD: Việc lắp ráp ôtô sử dụng hoàn toàn các linh kiện đồng bộ từ
nguồn nhập khẩu.
IKD: Việc lắp ráp ôtô sử dụng kết hợp các linh kiện không đồng bộ
từ nguồn nhập khẩu và các linh kiện nội địa hoá
SKD: Việc lắp ráp ôtô sử dụng chủ yếu các linh kiện nhập khẩu, kết
hợp một số ít linh kiện nội địa hoá
VDB: Ngân hàng Phát triển Việt Nam
EU: Liên minh châu Âu
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, là một công cụ giúp cho các nền kinh tế phát huy nội lực để phát triển Nhờ hội nhập kinh tế quốc
tế, các quốc gia có thể tận dụng được nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý và những tiến bộ khoa học kỹ thuật của các chủ thể kinh tế trên thế giới để phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước Tuy nhiên, để thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế thì ngoài cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, chính sách đầu tư thông thoáng, các quy định, thủ tục pháp lý đơn giản, hiệu quả, đồng bộ, kịp thời có thể hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp nước ngoài cũng như doanh nghiệp trong nước còn yêu cầu một sự hỗ trợ, hợp tác mạnh
mẽ từ các doanh nghiệp nội địa Mặt khác, khi trình độ phân công lao động quốc tế
và phân chia quá trình sản xuất đã đạt đến mức độ rất cao, thì không một sản phẩm công nghiệp nào còn được sản xuất tại một không gian, địa điểm hay một công ty duy nhất của một quốc gia mà được phân chia thành nhiều công đoạn ở các công ty đặt tại các vùng lãnh thổ, quốc gia, châu lục khác nhau.
Thực tiễn đã chứng minh, một trong những tiền đề quan trọng để thu hút và
hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp nói riêng, và nền kinh tế nói chung, chính là sự phát triển mạnh mẽ của các CNHT Nói cách khác, một nền CNHT đồng bộ có khả năng đáp ứng những yêu cầu về số lượng và chất lượng của nền công nghiệp chế tác và lắp ráp được coi “ bà đỡ” cho việc phát triển công nghiệp chế tác lắp ráp tạo ra sản phẩm hàng hóa cuối cùng đưa vào lưu thông…
Trong thời gian qua ở Việt Nam, môi trường đầu tư - kinh doanh từng bước được cải thiện, phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế Việt Nam đang trở thành
Trang 11điểm hấp dẫn đầu tư ở khu vực châu Á, trong đó có ngành công nghiệp Song, Việt Nam còn nhiều vấn đề phải giải quyết để đón nhận có hiệu quả làn sóng đầu tư mới này, trong đó có vịêc phát triển CNHT.
Ở Việt Nam, phát triển CNHT là một vấn đề mới được nhận thức và quan tâm trong những năm gần đây, cho dù sản phẩm của nó vẫn có mặt trong các doanh nghiệp nhà nước sản xuất công nghiệp Về tổng thể CNHT ở Việt Nam vẫn chưa được định hình rõ nét và càng thiếu các cơ chế tài chính cần thiết để hỗ trợ phát triển CNHT Mặc dù tính pháp lý ở mức thấp, nội dung còn chung chung và còn chậm trễ, song Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 và Quyết định 1483/2011/QĐ-TTg ngày 26/08/2011 của Thủ tướng Chính phủ được coi là luồng gió mới đối với vấn đề nhận thức và chính sách phát triển CNHT Việt Nam.
Hơn nữa, cả trong lý thuyết và thực tế quản lý nhà nước, còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu sâu, toàn diện cần thiết về phát triển CNHT nhìn từ góc độ tài chính.
Trong bối cảnh đó, đề tài “Chính sách tài chính nhằm phát triển công nghiệp
hỗ trợ ở Việt Nam” là có tính cấp thiết cả về khoa học và thực tiễn.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
“Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã được nhắc đến trong “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” [78] Trong đó, cụm từ này đã được phân tích như là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia [78] Nhưng các nghiên cứu về CNHT nhiều nhất vẫn là ở các quốc gia Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời khái niệm CNHT Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng
cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã được phân tích trong “Nền kinh tế
không biên giới” [79]; Trong công trình đó, nhóm tác giả Fujita, M., Krugman, P.,
Trang 12and Venables, A (1999) đã chỉ ra chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Inđô-nê-xi-a đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản.
Năm 2008, Kimura F đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT trong cuốn
“The Mechanics of Production Networks in Southeast Asia: The Fragmentations
Theory Approach” [81] Đây là tài liệu hữu ích cho các nước đang phát triển về
chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Các chính sách này tập trung vào một số điểm chính: thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT, quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp, như là điều kiện tiên quyết để phát triển CNHT.
Năm 1998, nghiên cứu của Goh Ban Lee, đại học Sains, Ma-lay-xi-a “Liên kết giữa các Tập đoàn đa quốc gia và các CNHT nội địa” (Linkage between the
Multinational Corporations and Local Supporting Industries) đã đánh giá rất cao vai trò của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính phủ Ma-lay-xi-a giữa các tập đoàn Đầu tư giáo dục của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử.
Năm 2002, Noor, Halim, Clarke, Roger, Driffield và Nigel Năm 2002, Noor,
Halim, Clarke, Roger, Driffield và Nigel chỉ ra vai trò quan trọng của hỗ trợ từ phía chính phủ cho đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp nội địa trong phát
triển cung ứng cho ngành điện tử, trong: “Tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công
nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Ma-lay-xi-a” (Multinational cooperation and technological effort
by local firm: a case study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry).
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Trang 13Tháng 3 năm 2004, báo cáo nghiên cứu điều tra “Xây dựng và đẩy mạnh CNHT ở Việt Nam” do JETRO thực hiện được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về
các CNHT ở Việt Nam Tác giả đã khẳng định CNHT ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành Mặc dù nhận thức của các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp thời điểm đó còn rất thấp, các doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp FDI đang vươn lên và khá chủ động trong việc nắm bắt các cơ hội.
Năm 2004, Nguyễn Kế Tuấn đăng trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, “Phát triển CNHT trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” đã đề cập đến: khái
niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đề xuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNHT, đặc biệt là quan điểm để lựa chọn xây dựng chính sách phát triển CNHT cho Việt Nam.
Năm 2005, Trần Văn Thọ, “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam”, đã phân tích con đường phát triển công nghiệp ở Việt Nam
theo hướng toàn cầu hoá, thông qua phát triển CNHT như là lĩnh vực của hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Tại Hội thảo về CNHT của JETRO.
Năm 2005, Phan Đăng Tuất, trong “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản – Con đường nào cho Việt Nam”, trong “Kế hoạch hành động về phát triển CNHT Việt Nam” tại Diễn đàn Liên kết hội nhập cùng phát triển.
Năm 2008 và trong “CNHT, vấn đề trọng đại” đăng trên Báo Công Thương số
Tết 2009, đã khẳng định các vai trò quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, yêu cầu về DNNVV và sự hợp tác với Nhật Bản trong phát triển CNHT ở Việt Nam.
Năm 2007, Bộ công nghiệp (nay là Bộ công thương) đã phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 Trong quy hoạch
này, lần đầu tiên khái niệm CNHT được chính thức hoá ở Việt Nam Theo quy hoạch này, kế hoạch và các giải pháp phát triển CNHT: tạo dựng môi trường đầu
Trang 14tư, phát triển khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp đã được đề xuất cho 5 ngành công nghiệp ưu tiên: Điện tử tin học, Dệt may, Da giày, sản xuất lắp ráp ô tô, Cơ khí.
Năm 2014, Bộ trưởng Bộ công thương đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển CNHT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có 3 lĩnh vực ưu tiên: Linh kiện phụ tùng, Dệt may - da giày, Công nghệ cao.
Cuốn “Xây dựng các CNHT ở Việt Nam”, GS Ohno chủ biên năm 2007, đã
trình bày các kết quả khảo sát về thực trạng các CNHT.
Cuốn “CNHT Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”;
Nguyễn Thị Xuân Thuý đã tổng kết lịch sử ra đời của khái niệm CNHT và đề xuất
khái niệm cho Việt Nam trong chương 2 “CNHT, Tổng quan về khái niệm và sự
phát triển”; đề xuất việc xây dựng cơ sở dữ liệu CNHT ở chương IV “Thiết kế cơ
sở dữ liệu cho CNHT”.
Năm 2005, trong cuốn sách “Cải thiện hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam”, Mitarai với chương “Các vấn đề của ngành công nghiệp điện tử ở các nước ASEAN và khuyến nghị với Việt Nam” đã phân tích bài học về tận dụng lợi thế cạnh tranh quốc gia của các nước ASEAN khi phát triển CNĐT, Mori trong chương “Chiến lược mua sắm tối ưu: Các yếu tố quyết định tỷ lệ nội địa hoá trong bối cảnh cạnh tranh và liên kết khu vực” đã chỉ ra các vấn đề liên quan đến phát triển CNHT cho Việt Nam ở một số ngành, trong đó có CNĐT.
Năm 2006, Bộ Bưu chính Viễn thông đã công bố “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2006 -2010”
với các kết quả phân tích đánh giá kỹ lưỡng ngành CNĐT do Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử thực hiện năm 2006 và đề xuất các định hướng phát triển đến năm
2010, trong đó có các chính sách quan trọng cho CNHT.
Trang 15Năm 2008, Đại học Ngoại thương có đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam” do
Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm Nghiên cứu này chỉ ra rằng, trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, Việt Nam nên tập trung vào công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác của các tập đoàn điện tử quốc tế, chứ chưa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi giá trị.
Ngoài ra, có thể kể đến các công trình đã nghiên cứu về CNHT và tài chính thúc đẩy CNHT như sau:
- Vũ Nhữ Thăng(2013) - Giải pháp tài chính phát triển CNHT, đề tài NCKH
cấp Bộ, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách- Bộ Tài chính Đây là đề tài giải quyết những vấn đề về tài chính đối với phát triển CNHT Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu này còn nặng về phân tích thực tế, phần lý luận về nội hàm CNHT và công cụ Tài chính không được nhóm tác giả tập trung nghiên cứu nhiều.
- Hoàng Văn Châu (2008), Chính sách phát triển CNHT của Việt Nam, Đề tài
NCKH cấp nhà nước Công trình nghiên cứu dưới góc độ chính sách, phần nghiên cứu khía cạnh lý luận về tài chính tác động đến nền CNHT chưa được nhiều.
- Trương Đình Tuyển – Bộ Thương mại “ Phát triển CNHT Kiến nghị cách
tiếp cận và chính sách cho Việt Nam ” tại cuộc hội thảo do Viện Chiến lược và
chính sách – Bộ tài chính phối hợp với Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp đồng tổ chức tháng 12 năm 2011 tại Hà nội Đây là bài tham luận có nhiều ý tưởng độc đáo xét trên góc độ lý luận cũng như thực tiễn.
- Trương Thị Chí Bình (2011),“Chính sách tài chính cho phát triển CNHT ở
Việt Nam” Hội thảo khoa học Viện Chiến lược và chính sách - Bộ tài chính phối
hợp với Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp.Bài tham luận nêu bật những bất cập của chính sách tài chính cho phát triển CNHT ở Việt Nam và đề
Trang 16cập đến kinh nghiệm sử dụng chính sách tài chính thúc đẩy phát triển CNHT ở một
số nước Đặc biệt bài tham luận phân tích làm rõ những bất cập về chính sách chung và chính sách tài chính đối với vấn đề phát triển CNHT thể hiện trong Quyết định 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ, từ đó đưa ra những đề xuất hoàn thiện.
- Trần Đình Thiên và Lê Văn Hưng (2011)- CNHT: khái niệm, kinh nghiệm
phát triển và gợi ý- Hội thảo Viện Chiến lược và chính sách - Bộ Tài chính phối
hợp với Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp Những quan niệm
về CNHT ở các nước và trình bày chứng kiến của hai tác giả về CNHT dưới góc
độ nhận thức về khái niệm, đặc biệt bài tham luận đã đưa ra những gợi ý về phát triển CNHT của Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước.
- Vũ Nguyên Thức (2014) “Phát triển CNHT – Gỡ từ cơ chế, chính
sách”-Tạp chí Kinh tế- dự báo Bài báo phân tích vị trí tầm quan trọng của cơ chế chính sách đối với CNHT, phân tích những bất cập trong cơ chế, chính sách đối CNHT ở Việt Nam và định hướng các giải pháp.
2.3 Khoảng trống trong nghiên cứu
Các nghiên cứu kể trên đã phản ánh được nhiều mặt về CNHT và phát triển CNHT ở Việt Nam, trong đó có công nghiệp điện tử Chính sách tài chính công tác động đến phát triển CNHT Đây đều là các tài liệu có giá trị tham khảo cao Tuy nhiên, ở tầm vĩ mô, các nghiên cứu chưa đề cập đến bản chất của CNHT, chưa phân tích thấu đáo các yếu tố tác động đến phát triển CNHT, chưa đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ tác động của chính sách tài chính công phát triển CNHT.
Từ đó chưa chỉ ra các căn cứ để xác định cách thức phát triển CNHT cho quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt là trước tác động ngày càng gia tăng của toàn cầu hoá Ở quy mô ngành, các nghiên cứu mới chỉ phân tích CNHT trong nội
vi ngành công nghiệp hạ nguồn như CNĐT, mà chưa đặt trong tổng thể các ngành
Trang 17cung ứng khác Vì vậy, các đề xuất chính sách và giải pháp phát triển CNHT ở Việt Nam vẫn chưa thuyết phục và thiếu tính khả thi.
Về tổng thể, các nghiên cứu trên chưa tập trung sâu và toàn diện vào nghiên cứu các chính sách tài chính phát triển CNHT trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam, nhất là chưa làm rõ những bất cập và định hướng khắc phục để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hỗ trợ phát triển CNHT của những chính sách này.
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nhằm phát triển CNHT thông qua tác động của các công cụ tài chính công.
- Phân tích một số lý luận cơ bản về CNHT; vai trò và tác động của cơ chế, chính sách tài chính trong phát triển CNHT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá thực tế xây dựng và thực thi chính sách tài chính hỗ trợ phát triển CNHT để luận giải và minh chứng cho những tồn tại và bài học thực tiễn CNHT
ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu và những giải pháp tài chính chung chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của CNHT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về CNHT và các giải pháp tài chính nhằm phát triển CNHT;
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 18+ Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các giải pháp về Tài chính công như: Thuế, chi NSNN, tín dụng và các quỹ tài chính Nhà nước ngoài NSNN nhằm phát triển CNHT;
Nói đến chính sách tài chính công bao giờ cũng gắn liền với nhà nước Đối với Việt Nam nền công nghiệp hỗ trợ đang trong bước đi ban đầu Chính vì vậy, để có thể phát triển được nhất thiết phải có sự hỗ trợ, can thiệp của Nhà nước Với cách đặt vấn đề như vậy, mặc dù là tên đề tài luận án là chính sách tài chính, song nghiên cứu sinh giới hạn phạm vi nghiên cứu là chinh sách tài chính công
+ Phạm vi không gian và thời gian, luận án nghiên cứu ở Việt Nam với thực trạng trong giai đoạn 2009 - 2014 và các đề xuất về giải pháp tài chính công nhằm phát triển CNHT được nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phương pháp được luận án sử dụng trong qúa trình nghiên cứu:
Phương pháp kế thừa: Luận án sử dụng kết quả nghiên cứu và số liệu thứ cấp
từ các công trình khoa học có liên quan đến CNHT và một số ngành công nghiệp
cụ thể.
Phương pháp thống kê so sánh và phân tích đánh giá tổng hợp: Luận án phân
tích hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian về CNHT, công nghiệp điện tử và công nghiệp ô tô, công nghiệp chế tạo…và những tác động của Việt Nam trong các giai đoạn, có so sánh với các quốc gia khác.
Trang 196 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, đề tài góp phần hệ thống hóa những nhận thức cơ bản về lý luận CNHT, nguồn lực tài chính và tài chính công, phương thức tác động của các chính sách tài chính công đối với nền kinh tế nói chung và CNHT nói riêng.
Về mặt thực tiễn, đề tài phân tích và đánh gía thực tiễn phát triển CNHT và tác động của mốt số chính sách tài chính công đến phát triển CNHT của Việt Nam
5 năm qua Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cơ bản về chính sách tài chính công để thúc đẩy phát triển CNHT của Việt Nam trong thời điểm mà CNHT vẫn còn non trẻ như hiện nay.
Chương 3: Giải pháp về chính sách tài chính công nhằm phát triển CNHT ở
Việt Nam đến năm 2020.
Trang 20Chương 1.
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH CÔNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm CNHT
1.1.1.1 Khái niệm CNHT
Khái niệm công nghiệp hỗ trợ bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ 20, phổ biến ở Nhật Bản và lan dần sang các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới ở châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan Đến nay, cách hiểu về thuật ngữ này vẫn chưa thống nhất.
CNHT là một khái niệm của công nghiệp hiện đại, được kế thừa từ những khái niệm có liên quan và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố trung gian đầu vào cũng như các yếu tố hỗ trợ cho các ngành công nghiệp then chốt, có giá trị kinh tế cao và quá trình sản xuất phức tạp CNHT không được xem xét trong hệ thống phân loại ngành kinh tế theo quan điểm truyền thống (phân biệt theo lĩnh vực sản xuất) mà chỉ được xem xét như một ngành công nghiệp với sự tái định nghĩa các ngành công nghiệp theo cấu trúc dọc (phân biệt theo hoạt động sản xuất) dưới áp lực của chuyên môn hóa quy trình và tái cấu trúc doanh nghiệp công nghiệp.
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách quan niệm về CNHT Ở góc
độ hẹp, CNHT là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh Ở góc độ rộng hơn, CNHT được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm Khái niệm CNHT trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự
Trang 21kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, CNHT phải được hiểu một cách tổng quát như toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố hỗ trợ.
Xét về quy mô thì CNHT là một khu vực công nghiệp rộng lớn, bao gồm nhiều ngành, nhiều loại hình doanh nghiệp và chiếm phần chủ yếu của giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp CNHT được ví như chân núi cho một nền công nghiệp bền vững, còn công nghiệp hoàn thiện, công nghiệp lắp ráp được coi là phần ngọn Tùy vào chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tùy vào năng lực nội tại và bối cảnh phát triển mà khu vực CNHT được chú trọng ưu tiên phát triển, kéo theo khu vực công nghiệp lắp ráp phát triển tương ứng.
Từ những công đoạn của quá trình sản xuất: Chế tạo vật liệu; Sản xuất gia công phụ tùng, linh kiện; Lắp ráp hoàn chỉnh, CNHT được hiểu như sau:
- Theo định nghĩa của Cục phát triển CNHT Thái Lan: CNHT là ngành công nghiệp cung cấp các linh kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra, đóng gói cho các ngành công nghiệp cơ bản và nhấn mạnh rằng các bộ phận kim loại và công nghiệp chế tạo, sản xuất phụ tùng ô tô, phụ tùng điện, điện tử là những CNHT quan trọng Cục phát triển CNHT Thái Lan chia các ngành sản xuất thành 3 cấp
độ khác nhau: (1) cấp độ lắp ráp, (2) cấp độ sản xuất linh phụ kiện, (3) cấp độ các ngành hỗ trợ [77]
- Khái niệm có tính chất chung nhất đó là CNHT không phải là một ngành cụ thể mà bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian (linh kiện,
bộ phận) cung cấp cho ngành lắp ráp [2] Khái niệm này hoàn toàn khác với
Trang 22nghiệp cơ khí, công nghiệp điện - điện tử, công nghiệp dệt may - da giầy.v.v… Dựa trên mức độ phức tạp của ba công đoạn sản xuất chính là: (1) chế tạo vật liệu, (2) sản xuất gia công phụ tùng, linh kiện, (3) lắp ráp hoàn chỉnh CNHT thuộc về công đoạn (2) là sản xuất gia công phụ tùng, linh kiện.
- Một số khái niệm khác cho rằng CNHT là ngành công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính CNHT rất đa dạng bao gồm cả ngành đúc nhựa và chế tạo khuôn đúc, gia công cơ khí, đúc, rèn, hàn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt Sản xuất những linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm… bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế công đoạn 1 và 2 Sản phẩm CNHT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa [29]
Hiện nay các CNHT còn được hiểu là các ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu Bắt đầu từ việc sản xuất nguyên vật liệu công đoạn 1 đến gia công chế tạo các sản phẩm phụ tùng, linh kiện, nguyên phụ liệu bằng các công nghệ chuyên môn hóa sâu công đoạn 2, đáp ứng cho ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp các sản phẩm thuộc công cụ, tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng công đoạn 3 CNHT có tính chất đan chéo nhau, nghĩa là có thể gia công, cung cấp sản phẩm đồng thời cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau Thông thường ở các nước phát triển, CNHT phát triển trước làm cơ sở để ngành công nghiệp chính như: ngành công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử, dệt may, da giầy, viễn thông phát triển Trên thực tế cũng có quốc gia mà hai CNHT và chính yếu phát triển song song: CNHT phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chính yếu phát triển đồng thời kích thích CNHT phát triển theo.
Tóm lại, cho đến nay ít nhất có hai quan niệm tương đối khác nhau về CNHT:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: CNHT bao gồm những ngành sản xuất sản
phẩm trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng
Trang 23nhất định Tuỳ từng loại sản phẩm cụ thể cần sản xuất, những sản phẩm trung gian có thể bao gồm nguyên, vật liệu, linh kịên phụ tùng, các bộ phận (chi tiết)
lẻ, phụ liệu, bao bì, nhãn mác Đây là quan niệm gắn với yêu cầu của sản phẩm cuối cùng để xác định sản phẩm trung gian cần có - Sản phẩm CNHT.
- Quan niệm thứ hai cho rằng: CNHT là toàn bộ những sản phẩm công
nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất tạo ra các thành phẩm chính Chúng bao gồm những linh kiện, phụ kiện, nguyên liệu, sơ chế, phụ liệu phụ tùng, bao
bì, sản phẩm trung gian Như vậy, các quan niệm trên vừa đề cập đến nhiều loại sản phẩm vừa đề cập tới một loại sản phẩm Do dó, có thể nói "CNHT” là một thuật ngữ khá mơ hồ, nếu không có một khái niệm cụ thể thì khó có thể xác định được ngành công nghiệp nào là CNHT và hỗ trợ cái gì và cho ai? Do có sự tương đối trong khái niệm của CNHT nên việc phân biệt phạm vi của CNHT cũng chưa được thống nhất.
Như vậy, CNHT không phải là một ngành cụ thể mà chúng bao hàm toàn bộ
những lĩnh vực sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng Đây là quan niệm của NCS về CNHT và sẽ được sử dụng xuyên suốt trong
qúa trình nghiên cứu luận án.
Có thể nói thêm, CNHT cần được coi là một cơ sở công nghiệp hoạt động với nhiều chức năng để phục vụ số lượng lớn các ngành lắp ráp, chứ không nên coi chúng đơn giản chỉ là ngành “thu thập” ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không liên quan CNHT không chỉ sản xuất linh kiện mà quan trọng hơn là thực hiện quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận nhựa và kim loại, chẳng hạn như cán, ép dập khuôn.
Trang 24Hơn nữa, không nên quan niệm một cách đơn giản CNHT chỉ gồm những sản phẩm trung gian được sản xuất một cách rời rạc ở những doanh nghiệp đơn độc mà nên quan niệm CNHT là một ngành cho dù sản phẩm của nó rất đa dạng nhiều chủng loại Nhận thức CNHT là một ngành công nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược đầu tư của Nhà nước và trong sự liên kết tạo ra sức mạnh cạnh tranh.
Trên thực tế, khái niệm CNHT thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất những sản phẩm có sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt.
1.1.1.2 Đặc điểm của CNHT
Một là, CNHT phát triển gắn kết với ngành/phân ngành công nghiệp hoặc sản
phẩm công nghiệp cụ thể nào đó (đối tượng hỗ trợ) và tích hợp theo cả chiều dọc
và chiều ngang Đồng thời, sự phát triển của CNHT có tác dụng thúc đẩy những ngành công nghiệp (sản phẩm) phát triển và thu hút đầu ra của các cơ sở sản xuất
hỗ trợ cấp dưới.
Hai là, sử dụng nhiều vốn và mức độ lành nghề của công nhân có yêu cầu cao
hay không cao còn tùy thuộc vào mỗi ngành là đối tượng hỗ trợ CNHT cần thiết cho cả công nghiệp lắp ráp (ô tô, xe máy, điện tử…) và công nghiệp chế biến (dệt may, giầy da…) Tuy nhiên, đối với mỗi ngành thì CNHT lại có những đặc điểm
và yêu cầu chính sách khác nhau: CNHT cho công nghiệp lắp ráp đòi hỏi nguồn lao động có kỹ năng cao hơn, sản phẩm chủ yếu là các linh kiện kim loại, nhựa, cao su và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của sản phẩm; trong khi đó, CNHT cho công nghiệp chế biến lại không đòi hỏi nguồn nhân lực có kỹ năng cao, sản xuất ít loại linh phụ kiện và không tác động lớn đến chất lượng của sản phẩm.
Trang 25Ba là, CNHT xuất hiện phổ biến trong các hình thức tổ chức sản xuất công
nghiệp theo kiểu thầu phụ/vệ tinh, trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và có tính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chủ đạo và các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ.
Bốn là, đối với một ngành/phân ngành và nhất là các sản phẩm cụ thể nào đó,
các tổ chức hoạt động trong CNHT thường có quy mô vừa và nhỏ với mức độ chuyên môn hoá sâu, dải sản phẩm hẹp, dễ thay đổi mẫu mã, có sức sống và sức cạnh tranh cao.
Năm là, sản phẩm của CNHT có thể được cung cấp cho cả thị trường trong
nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Sáu là, giá trị của sản phẩm CNHT chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm cuối
cùng đưa ra thị trường, thậm chí có lên tới 80-90%.
Trong việc hoạch định chính sách phát triển CNHT của Nhà nước, cần tùy theo phân ngành của CNHT để có thể xác lập chính sách thích hợp, nhất là chính sách tài chính.
Trang 26CNHT đặc thù là các ngành cung cấp các sản phẩm công nghiệp đặc thù, chỉ
sử dụng được trong một hoặc một số ngành Công nghiệp chủ yếu như dệt may, da
giầy, công nghiệp chế biến.
Nguồn: [5]
Sơ đồ 1.1 - Mô hình phân chia của các công nghiệp hỗ trợ
Việc phân loại nền CNHT là để xác định chiến lược đầu tư và quản lý thích
hợp, cả vi mô, cũng như vĩ mô.
1.1.2 Vị trí của công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi cung ứng giá trị
Việc xác định chính xác vị trí của CNHT trong chuổi cung ứng giá trị có ý
nghĩa quan trọng việc xác định phương hướng đầu tư của các chủ thể trong nền
kinh tế.
CNHT là một thuật ngữ đề cập tới một nhóm các hoạt động công nghiệp là
trung gian cung cấp các đầu vào cho sản xuất (không bao gồm nguyên liệu và sản
phẩm cuối cùng) ở các ngành công nghiệp hạ nguồn [2] Nói cách khác, CNHT ở
vị trí giữa trong dây chuyền sản xuất theo chiều dọc từ thượng nguồn đến hạ
nguồn K.Ohno(2005) cho rằng: mặc dù CNHT được gọi là một ngành công nghiệp
nhưng không được phân loại như các ngành công nghiệp điện tử, dệt may [45].
Công nghiệp hỗ trợ cơ bản: chế biến
nhựa và kim loại (cắt , nén, rèn ,đúc…)
Quần áo, da, phụ kiện…
nông, lâm, ngư nghiệp
Dệt may và giầy dép
Chế biến thực phẩm
Xe máy Điện
tử
Nghe nhìn
ô tô
Trang 27Phạm vi, ví trí của CNHT theo mô hình sau:
Nguồn: [4]
Sơ đồ 1.2: Công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi giá trị của nhà lắp ráp
Như vậy, theo sơ đồ trên, vị trí của CNHT nằm trong chuỗi giá trị lắp ráp Nói cách khác để tạo ra được chuỗi giá trị lắp ráp cần thiết phải có CNHT.Thiếu CNHT không thể tạo ra được chuỗi giá trị lắp ráp.Với cách xem xét vị trí của CNHT như vậy, cho thấy cần phải đầu tư phát triển CNHT.
Tùy theo năng lực công nghệ, tài chính mà các chủ thể trong nền kinh tế tham gia vào vị trí của CNHT khác nhau.
Một nghiên cứu khác chỉ ra các doanh nghiệp của Việt Nam chỉ tham gia được theo mức sản xuất chi tiết đơn giản.
Trang 28Nguồn: [5]
Sơ đồ 1.3 Sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
1.1.3 Nội dung và điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ
Hiểu một cách đơn giản ngắn gọn nhất, song không kém phần chuẩn xác, phát triển CNHT là làm thay đổi hiện trạng về quy mô, cơ cấu, chất lượng của CNHT theo hướng gia tăng, đảm bảo yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp hạ nguồn (lắp rắp, chế tác, chế biến… tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng phục vụ sản xuất và tiêu dùng).
1.1.3.1 Phát triển quy mô công nghiệp hỗ trợ
Số lượng doanh nghiệp tham gia sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
Sản xuất một số chi tiết (thường là bí quyết công nghệ) và lắp ráp các cụm nhóm thành sản phẩm cuối cùng
Sản xuất một số chi tiết có độ phức tạp cao hơn nữa và lắp ráp các chi tiết này với các chi tiết nhóm 3 thành bộ phận
Sản xuất một số chi tiết có độ phức tạp cao và lắp ráp các chi tiết này với các chi tiết từ nhóm 4 thành cụm chi tiết
Sản xuất phần lớn các chi tiết có độ phức tạp không cao (bao gồm các chi tiết tiêu chuẩn)
Các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI
Chủ yếu là các doanh nghiệp FDI
Chủ yếu là các doanh nghiệp FDI
Trang 29Quy mô của CNHT thường được xác định dựa trên các tiêu chí chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, số doanh nghiệp tham gia vào sản xuất sản phẩm thuộc CNHT Số
doanh nghiệp tham gia vào sản xuất sản phẩm thuộc CNHT phụ thuộc vào hai yếu
tố cơ bản: (i) nhu cầu phát triển CNHT và (ii) khả năng sinh lời của CNHT Như chúng ta biết để phát triển ngành công nghiệp hạ nguồn (lắp ráp, chế tác, chế biến…) tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng phục vụ sản xuất và tiêu dùng, tất yếu cần thiết phải phát triển CNHT Đó là nhu cầu tất yếu, tuy nhiên, nhu cầu này
có được doanh nghiệp đáp ứng hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong số các yếu tố đó, yếu tố khả năng sinh lời của sản xuất sản phẩm CNHT có ý nghĩa quyết định bởi lẽ mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng vào mục tiêu tối thượng là lợi nhuận Do đó, để có thể gia tăng được số lượng các doanh nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực CNHT đòi hỏi về phía Nhà nước phải có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất sản phẩm CNHT.
Thứ hai, quy mô nguồn vốn đầu tư của xã hội cho phát triển CNHT
Nguồn vốn đầu tư của xã hội cho phát triển CNHT bao gồm nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp, nguồn tài trợ của các tầng lớp dân cư của các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước Quy mô nguồn vốn đầu tư xã hội càng lớn chứng tỏ sự quan tâm của xã hội đối với phát triển CNHT càng nhiều.
Thứ ba, giá trị của sản phẩm CNHT so với giá trị tổng sản phẩm xã hội hoặc
so với giá trị sản phẩm sản xuất của toàn ngành công nghiệp Tỷ trọng này càng lớn cho thấy quy mô phát triển CNHT càng lớn.
Đương nhiên, yêu cầu phát triển quy mô CNHT phải hợp lý, nghĩa là vừa phải đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp hạ nguồn, vừa phải phù hợp với nguồn lực hiện có để phát triển CNHT.
Trang 30Phát triển cơ cấu CNHT, cơ cấu CNHT được hiểu là số lượng nhóm ngành và
tỷ trọng của từng nhóm ngành trong lĩnh vực CNHT Phát triển cơ cấu CNHT là sự thay đổi hiện trạng về cơ cấu CNHT hướng tới một cơ cấu CNHT hợp lý và tích cực Tính hợp lý và tích cực của cơ cấu CNHT liên quan mật thiết với tính hợp lý, tích cực cơ cấu ngành công nghiệp hạ nguồn (công nghiệp lắp ráp, chế tác, chế biến) Khi có sự thay đổi cơ cấu các ngành công nghiệp hạ nguồn bắt buộc phải thay đổi cơ cấu CNHT một cách thích hợp.
1.1.3.2 Nâng cao chất lượng công nghiệp hỗ trợ
Chất lượng CNHT được thể hiện qua chất lượng chủng loại sản phẩm của nó Chất lượng chủng loại sản phẩm của CNHT phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng các yếu tố đầu vào như nguồn nhân lực, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, nguyên nhiên vật liệu tạo ra sản phẩm CNHT Do đó, phát triển chất lượng CNHT chính là nâng cao chất lượng các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm CNHT Phát triển chất lượng CNHT là nội dung quan trọng có tính chất quyết định đến sự hiện diện của CNHT và tạo ra khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp hạ nguồn.
Tóm lại, phát triển quy mô, cơ cấu, chất lượng CNHT là ba nội dung quan trọng của sự phát triển CNHT Tuy nhiên, để có thể thực hiện được ba nội dung trên cần phải có những điều kiện nhất định.
1.1.3.3 Điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, điều kiện về thị trường
Đề cập đến điều kiện về thị trường cho sự phát triển bền vững CNHT là đề cập các yếu tố chủ yếu sau đây:
- Nhu cầu thị trường linh phụ kiện
Qui mô thị trường này phải đủ lớn và ổn định để lôi kéo các doanh nghiệp công nghiệp tham gia vào lĩnh vực cung ứng Ở Việt Nam, hiện nay dung lượng thị
Trang 31trường một số ngành đã đủ lớn để tập trung phát triển ngành cung ứng linh kiện và phụ tùng, đặc biệt là ngành Điện tử.
- Khả năng liên kết
Đặc điểm của các thị trường các nước đang phát triển là sự chênh lệch về khả năng công nghệ và quản lý giữa các doanh nghiệp hạ nguồn và các doanh nghiệp nhỏ, sự hạn chế về thông tin, pháp luật và các rào cản đến từ văn hóa và tập quán kinh doanh sẽ là những trở ngại cho việc thiết lập các quan hệ liên kết công nghiệp lâu dài Nếu việc liên kết không được bảo đảm bền vững lâu dài giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ nhằm đảm bảo đầu ra cho các sản phẩm CNHT thì khả năng lôi kéo các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào lĩnh vực CNHT sẽ rất khó khăn Mặt khác, sự chênh lệch khá lớn cũng hạn chế đến việc lựa chọn đối tác, tìm nhà cung ứng của các doanh nghiệp lớn Ở đây các cơ quan Chính phủ phải đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là cầu nối giữa các doanh nghiệp CNHT và khách hàng.
- Điều kiện về lợi thế so sánh
Điều kiện cuối cùng trong các điều kiện thị trường là việc tạo dựng các động
cơ để các doanh nghiệp chế tạo và lắp ráp thực hiện các chiến lược nội địa hoá và mua ngoài Động cơ cơ bản nhất để các công ty nước ngoài lựa chọn chiến lược là lợi thế so sánh mà chiến lược sử dụng nội địa hoá và thuê ngoài mang lại, bao gồm lợi thế về chi phí như các khoản thuế và lợi thế về công nghệ và tính chủ động của qui trình sản xuất.
Thứ hai, điều kiện hạ tầng công nghiệp
Các hoạt động CNHT được hình thành trên cơ sở phát triển chung của các ngành cơ bản này, như ngành vật liệu và các công nghệ công nghiệp cơ bản.
Sự cân đối khu vực thượng nguồn bao gồm các ngành cung ứng và sản xuất
Trang 32bao gồm các ngành công nghiệp chế biến, lắp ráp và chế tạo (điện tử, ô tô, xe máy, ) sẽ là điều kiện cần thiết để phát triển khu vực trung gian-CNHT Trong lợi thế
so sánh về qui mô kinh tế, việc phải nhập khẩu phần lớn các vật liệu cơ bản đã làm các sản phẩm CNHT nội địa giảm tính cạnh tranh.
Các công nghệ cơ bản công nghiệp như công nghệ đúc, hàn, ép, xử lý bề mặt,
xử lý nhiệt và chế tạo khuôn mẫu quyết định việc hình thành CNHT Sự sẵn sàng
về nguồn lực, công nghệ, nhân lực và vốn trong khu vực này đảm bảo CNHT phát
triển bền vững.
Thứ ba, điều kiện về nguồn nhân lực
Khi vấn đề dung lượng về thị trường đã được giải quyết, thị trường có nhu cầu thì nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển CNHT là nguồn lao động có kỹ năng cao do hàm lượng công nghệ trong sản phẩm CNHT Chất lượng nguồn nhân lực quan trọng hơn nhiều so với máy móc Công nhân có trình độ cao vận hành máy móc cũ thậm chí còn hiệu quả hơn công nhân có trình độ thấp vận hành máy móc mới.
Thứ tư, khả năng công nghệ sản xuất
Phần lớn sản phẩm CNHT đều có hàm lượng công nghệ khá cao, vì vậy, CNHT đòi hỏi phải có sự đầu tư chiều sâu về thiết bị, máy móc và công nghệ sản xuất Các doanh nghiệp lắp ráp luôn đặt ra những yêu cầu khắt khe, nghiêm ngặt về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các loại linh, phụ kiện Vì thế nếu các doanh nghiệp không áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại trong sản xuất thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nhà lắp ráp Sản phẩm CNHT thường xuyên thay đổi theo yêu cầu của các Tập đoàn lắp ráp, vì vậy công nghệ và thiết kế của các doanh nghiệp CNHT cũng phải thay đổi để phù hợp với nhu cầu khách hàng Tuy nhiên, đây là
Trang 33vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, loại hình chủ yếu sản xuất sản phẩm CNHT.
Các Tập đoàn lắp ráp thiết kế và chế tạo các sản phẩm ở hạ nguồn đặt ra những yêu cầu cho khu vực CNHT phải triển khai nghiên cứu và sản xuất những vật liệu, bộ phận hay chi tiết sản phẩm phù hợp.
Theo chiều ngược lại, việc áp dụng các thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào chế tạo các sản phẩm CNHT có tính dẫn dắt khu vực hạ nguồn nhờ tạo ra những bộ phận chi tiết hoặc vật liệu mới góp phần tạo ra sự thay đổi căn bản trong
thiết kế và chế tạo sản phẩm ở khu vực hạ nguồn.
Thứ năm, nguồn lực tài chính
Đối với lĩnh vực đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao như CNHT thì sự đầu tư nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng Đầu tư vào lĩnh vực CNHT thời gian thu hồi vốn dài, có độ rủi ro nên khiến các nhà đầu tư e ngại khi đầu tư sản xuất các sản phẩm CNHT Điều này cho thấy, việc cân đối nguồn lực vốn của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm CNHT phát triển có hiệu quả, bền vững.
Hiện nay, năng lực của các doanh nghiệp CNHT vẫn còn rất kém một phần cũng vì không có đủ tiềm lực tài chính Các tổ chức tín dụng Việt Nam chưa có đánh giá tín dụng tốt về CNHT cho các doanh nghiệp Vì thế, chính sách giúp huy động tối đa nguồn lực tài chính, bao gồm các nguồn lực trong và ngoài nước có thể coi là bước đi quyết định trong quá trình hình thành và phát triển CNHT.
Thứ sáu, khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp
Đóng vai trò tích cực trong các mối liên kết khu vực và toàn cầu hiện nay chính là các Tập đoàn đa quốc gia Với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và đặc biệt thương hiệu mạnh, các tập đoàn này thiết lập mạng lưới sản xuất và phân
Trang 34Mỗi chi nhánh trong mạng lưới đó sẽ được chuyên môn hóa hợp lý nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và chi phối thị trường theo khu vực Theo
đó, theo lợi thế so sánh, những bộ phận hay chi tiết nhất định được sản xuất ở 1 quốc gia để cung cấp cho chi nhánh ở các quốc gia khác Việc sản xuất như vậy tạo điều kiện cho các chi nhánh, bộ phận phát huy tối đa lợi thế so sánh của mình, bổ trợ cho nhau, tập trung nguồn lực để có thể tạo ra những sản phẩm có giá thành cạnh tranh, chất lượng đảm bảo.
Ngày nay, không một Tập đoàn nào còn thực hiện sản xuất khép kín theo mô hình tích hợp dọc từ sử dụng nguyên liệu sơ chế để sản xuất các linh kiện, phụ tùng cho đến lắp ráp hoàn chỉnh Các công đoạn khác nhau trong qui trình sản xuất được thực hiện tại các chi nhánh khác nhau của doanh nghiệp hoặc mua từ các doanh nghiệp hỗ trợ khác ngoài mạng lưới Do quá trình toàn cầu hóa, một sản phẩm hoàn chỉnh có xuất xứ từ một nước nhưng các chi tiết, phụ tùng của nó có thể xuất phát từ nhiều nước khác nhau Quá trình chuyên môn hóa này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp CNHT phát triển, nhưng lại tùy thuộc vào khả năng hội nhập KTQT.
Như vậy, để có thị trường, theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp khi sản xuất các loại linh kiện và phụ tùng không chỉ dựa vào nhu cầu của các nhà lắp ráp nội địa mà cần phải chủ động tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu của các khách hàng nước ngoài, từ đó tham gia vào mạng lưới sản xuất của họ Để tạo lập
và sử dụng nguồn lực tài chính, tất yếu phải sử dụng một hệ thống chính sách tài chính quốc gia nói chung, đặc biệt là chính sách tài chính công nói riêng sao cho thích hợp với yêu cầu thực tế.
1.2.CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.2.1 Tài chính công và chính sách tài chính công
1.2.1.1 Tài chính công
Trang 35Tài chính là một phạm trù kinh tế lịch sử, ra đời và tồn tại trong những điều kiện nhất định.
Tài chính trước hết được hiểu là một số tiền (quỹ tiền tệ) được hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu của Nhà nước, của các đơn vị kinh tế, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình [15]
Theo tác giả luận án, Tài chính là quan hệ phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về tài chính công, song nhìn chung đều cho rằng tài chính công là một bộ phận của tài chính nhà nước gắn với việc thực hiện các chức năng của Nhà nước Tài chính nhà nước bao gồm:
- Tài chính chung của Nhà nước
- Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước
- Tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập
- Tài chính của các doanh nghiệp nhà nước
Theo các nhà nghiên cứu về tài chính cho rằng loại trừ tài chính các doanh nghiệp nhà nước, tất cả bộ phận còn lại của tài chính nhà nước thuộc phạm trù tài chính công Cơ sở quan trọng để các nhà nghiên cứu tài chính quan niệm các bộ phận: tài chính chung của Nhà nước, tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập vào phạm trù tài chính công vì hoạt động của các bộ phận này không vì mục tiêu lợi nhuận và được điều chỉnh bởi luật công Tài chính chung của Nhà nước là một phận quan trọng nhất của tài chính công, đó là các quỹ tiền tệ chung của Nhà nước bao gồm; quỹ NSNN, một số quỹ thuộc NSTW (Quỹ dự trữ ngoại tệ; Quỹ điều hòa lưu thông tiền tệ; Quỹ dự bắt buộc đối với hệ thống NHTM nhà nước…) các quỹ tiền tệ có nguồn gốc từ NSNN gọi là các quỹ TCNN ngoài NSNN (Quỹ bình ổn giá, Quỹ dự trữ nhà nước, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu; Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài; Quỹ quốc gia giải quyết việc
Trang 36làm….) Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ kể trên là quá trình Nhà nước tham gia phân bổ các nguồn lực tài chính thông qua hoạt động , chi tài chính công gắn với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, Tài chính công được coi là phương
tiện bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Từ đó, có thể hiểu: “Tài
chính công là các hoạt động thu, chi công do Nhà nước tiến hành nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của xã hội” [15].
1.2.1.2 Chính sách tài chính công
Chính sách tài chính công thúc đẩy phát triển CNHT được hiểu là tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc, các mục tiêu, các giải pháp và các công cụ, phương tiện sử dụng phạm trù tài chính công của Nhà nước để thúc đẩy phát triển CNHT Thực chất chính sách tài chính công phát triển CNHT là sự thể hiện, sự can thiệp của Nhà nước đối với quá trình phát triển CNHT bằng việc sử dụng các công cụ của tài chinh công (NSNN, Tín dụng nhà nước, Các quỹ TCNN ngoài NSNN) Chính sách tài chính công cũng như các chính sách khác thúc đẩy phát triển CNHT thường bao gồm các yếu tố: các yếu tố đầu vào, các hành động, đầu ra, kết quả và tác động của chính sách:
- Đầu vào (Inputs): đây là các nguồn lực của chính sách, trong chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm CNHT gồm: nhân lực, tài lực, vật lực và thông tin liên quan tới hoạt động đổi mới công nghệ trong lĩnh vực CNHT.
- Hoạt động (Activities): là những hành động thực hiện chính sách, đối với chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ sản xuất sản phẩm CNHT gồm: (i) xây dựng khung thể chế thực thi chính sách như ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đổi mới công nghệ, (ii) xác định đối tượng doanh nghiệp thụ hưởng và các mức ưu đãi nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ (ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, hỗ trợ trực tiếp), và (iii) xác
Trang 37định phương thức đào tạo, thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Sơ đồ 1.4: Các yếu tố của một chính sách theo cách tiếp cận khung logic
Nguồn: [15 ] Nguồn: [15]
Sơ đồ 1.4 Các yếu tố của một chính sách theo cách tiếp cận khung logich
Đặc điểm cơ bản của chính sách tài chính công thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:
Trang 38Thứ nhất, Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền thiết lập, vận hành chính
sách tài chính công, gắn liền với quyền lực chính trị Ngoài Nhà nước ra, không một chủ thể nào trong nền kinh tế được quyền thiết lập và vận hành chính sách tài chính công trong đời sống kinh tế xã hội, bởi lẽ việc thiết lập, vận hành chính sách tài chính công đụng chạm đến lợi ích chung của quốc gia Nhà nước là tổ chức đại diện cho lợi ích chung đó Việc thiết lập, vận hành chính sách tài chính công không cho phép lấy lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân để chi phối.
Thứ hai, chính sách tài chính công hàm chứa những quy định của Nhà nước
không chỉ liên quan đến các vấn đề tài chính một cách đơn thuần mà liên quan chặt chẽ đến các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước Mọi quy định thu, chi đối với tài chính công đều được đặt trên tầm nhìn về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập, mở cửa của đất nước, tham gia vào sân chơi
theo những luật lệ chung của thế giới, các quy định trong chính sách tài chính công luôn chịu sự chi phối bởi những quy định về luật lệ của thế giới.
Nhận thức rõ những đặc điểm trên đây của tài chính công, có ý nghĩa quan trọng trong cân nhắc, tính toán đến việc thiết lập vận hành chính sách tài chính công của Nhà nước.
1.2.1.3 Cấu thành chính sách tài chính công
Như chúng ta đã biết, chính sách tài chính công là chính sách của Nhà nước điều chỉnh các bộ phận cấu thành tài chính công Do đó, cấu thành của chính sách tài chính công bao gồm: chính sách NSNN Chính sách tín dụng nhà nước, chính sách các quỹ TCNN ngoài NSNN.
a Chính sách NSNN ,thường được hiểu là chính sách tài khóa
Trang 39NSNN là khâu quan trọng nhất đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính công; là bản dự toán hàng năm về toàn bộ nguồn lực tài chính huy động cho Nhà nước và dự trù việc sử dụng nguồn lực tài chính dự kiến huy động được nhằm bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của Nhà nước trong năm kế hoạch Về khía cạnh hiện vật NSNN được coi là nguồn lực quan trọng để tiến hành thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước Hoạt động của NSNN bao gồm: hoạt động thu, (chủ yếu thuế); hoạt động chi và cân đối NSNN Hoạt động thu NSNN bao gồm hoạt động thu thuế, phí lệ phí và hoạt động các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Hoạt động chi NSNN bao gồm quy định các khoản chi thường xuyên và chi ĐTPT.
Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế) Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt.
Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.
Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:
- (i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc
- (ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc
- (iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu
từ thuế.
Trang 40Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách.
Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách:
- (i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc
- (ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc
- (iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.
Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó.
b Thuế
Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước nhằm tập trung một
bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thuế có những đặc điểm nổi bật cần lưu ý.
Thuế là một khoản thu có tính chất bắt buộc của Nhà nước Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực của mình để huy động sự đóng góp bắt buộc
Thuế là khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp Tính không bồi hoàn ở đây được hiểu là người nộp thuế phải nộp một khoản tiền vào Ngân sách Nhà nước nhưng không được nhận các đối khoản trực tiếp hữu hình, mà nhận được các “hàng hóa vô hình” như được đảm bảo về an ninh quốc phòng… và không cảm nhận được một cách trực tiếp.