1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)

76 322 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHÙNG ĐỨC HIẾU

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH VẬT HỮU ÍCH SAGI BIO XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TRONG CHĂN NUÔI BÒ SỮA

QUI MÔ GIA TRẠI TẠI BA VÌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Hà Nội, 2017

Trang 3

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

DANH MỤC BẢNG vi

LỜI CẢM ƠN vii

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa 3

1.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam 3

1.1.3 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì, Hà Nội 4

1.2 Tình hình ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam 5

1.3 Một số biện pháp xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi 9

1.3.1 Xử lý bằng biện pháp sử dụng hầm Biogas (hệ thống khử Biogas) 9

1.3.2 Xử lý bằng công nghệ ép tách phân 10

1.3.3 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (composting) 11

1.3.4 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học 14

1.4 Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý chất thải chăn rắn nuôi bò ở Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 19

2.1 Địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Vật liệu nghiên cứu 19

2.3 Đối tượng nghiên cứu 19

2.4 Các thiết bị sử dụng trong quá trình nghiên cứu 19

2.5 Các phuơng pháp phân tích 19

2.5.1 Phương pháp xác định nitơ tổng 19

2.5.2 Xác định Photpho tổng 21

2.5.3 Phương pháp xác định tổng chất hữu cơ 21

2.5.4 Phương pháp xác định khí H2S và NH3 phát sinh từ quá trình ủ xử lý chất thải rắn 23

Trang 4

ii

2.5.5 Phương pháp vi sinh vật 23 2.6 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26 2.6.1 Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật hữu ích Sagi Bio quy mô pilot 26 2.6.2 Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật hữu ích Sagi Bio quy mô gia trại 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Điều tra khảo sát hiện trạng chất thải rắn và xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa tại các nông hộ huyện Ba Vì 28 3.2 Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật hữu ích Sagi Bio quy mô pilot 30 3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nhiệt độ trong quá trình ủ xử lý quy mô pilot 30 3.2.2 Biến động vi sinh vật trong quá trình ủ 33 3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio sự biến động của khí NH3 và H2S trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn bò sữa quy mô pilot 37 3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio lên sự biến động của các chỉ tiêu hóa lý trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn bò sữa quy

mô pilot 40 3.3 Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio quy mô gia trại 44 3.3.1 Sự biến động của nhiệt độ trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 44 3.3.2 Sự biến động của các nhóm vi sinh vật hữu ích trong quá trình ủ

xử lý chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 45 3.3.3 Sự biến động của nhóm vi sinh vật gây bệnh trong quá trình ủ xử

lý chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 46 3.3.4 Sự biến động của khí NH3 và H2S trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 47

Trang 5

iii

3.3.4 Đánh giá chất lượng mùn hữu cơ thu được từ quá trình ủ xử lý chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 49 3.4 Đề xuất quy trình sử dụng chế phẩm vi sinh Sagi Bio để ủ chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón quy mô gia trại 51

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

PHỤ LỤC

Trang 6

iv

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Biểu đồ tổng số đàn bò của các xã thuộc huyện Ba Vì năm 2015 [5] 5 Hình 1.2 Bể khí sinh học composite và túi khí dự trữ 10 Hình 2.1 Mô hình ứng dụng chế phẩm Sagi Bio để xử lí chất thải rắn chăn nuôi

bò sữa quy mô pilot 26 Hình 2.2 Quy cách đống ủ xử lý chất thải rắn từ chăn nuôi bò sữa 27 Hình 3.1 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nhiệt độ

trong quá trình ủ xử lý 33 Hình 3.2 Biểu hiện khuẩn lạc vi khuẩn Samonella trong môi trường SS agar -

sau 1 tuần ủ (vi khuẩn Samonella có mầu đen ánh kim) 36 Hình 3.3.Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ khí

NH3 trong quá trình ủ xử lý 38 Hình 3.4 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ khí

H2S trong quá trình ủ xử lý 39 Hình 3.5 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ

tổng hữu cơ (OM) trong quá trình ủ xử lý 41 Hình 3.6 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của độ ẩm của

chất thải rắn trong quá trình ủ xử lý 42 Hình 3.7 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ N-

tổng trong chất thải rắn trong quá trình ủ xử lý 42 Hình 3.8 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ P-

tổng chất thải rắn trong quá trình ủ xử lý 43 Hình 3.9 Sự biến động của nhiệt độ của các đống ủ xử lý chất thải rắn của bò

sữa quy mô gia trại 44 Hình 3.10 Sự thay đổi nồng độ NH3 trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn của bò

sữa quy mô gia trại 47 Hình 3.11 Sự thay đổi nồng độ H2S trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn của bò

sữa quy mô gia trại 48 Hình 3.12 Sơ đồ quy trình xử lý chất thải rắn từ chăn nuôi bò sữa 51

Trang 7

v

Hình 3.13 Nhà chứa phân có mái che 52

Hình 3.14 Tập kết chất thải rắn về khu vực ủ 52

Hình 3.15 Đống ủ hoàn thành sau khi phủ bạt 53

Hình 3.16 Vi sinh vật phát triển trong đống ủ sau 2 tuần ủ 53

Hình 3.17 Phân hữu cơ sau khi kết thúc quá trình ủ 54

Trang 8

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng số đàn bò quý II năm 2015 trên địa bàn huyện Ba Vì,

Hà Nội [5] 4

Bảng 1.2 Một số chế phẩm vi sinh sử dụng trong xử lý môi trường trong chăn

nuôi gia súc, gia cầm 14

Bảng 3.1 Lượng chất thải rắn trung bình của 1 con bò sữa trong 1 ngày tại các

hộ nuôi bò sữa 28

Bảng 3.2 Các hình thức xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa qua điều tra của

các hộ chăn nuôi tại huyện Ba Vì 29

Bảng 3.3 Kết quả phân tích thành phần của chất thải rắn chăn nuôi bò sữa 29

Bảng 3.4 Sự biến động của nhiệt độ trong quá trình ủ xử lý chất thải rắn ở qui

mô pilot 31

Bảng 3.5 Sự biến động của vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces ưa

nhiệt trong quá trình xử lý ở quy mô pilot 33

Bảng 3.6 Mật độ vi sinh tổng số kỵ khí trong quá trình ủ, (CFU/g) 35

Bảng 3.7 Biến động mật độ vi sinh vật gây bệnh trong quá trình ủ 35

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ khí

NH3 trong quá trình ủ xử lý 37

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của nồng độ khí

H2S trong quá trình ủ xử lý 38

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của chế phẩm Sagi Bio đến sự biến động của các chỉ tiêu

hóa lý trong quá trình ủ xử lý 40

Bảng 3.11 Sự biến động của vi khuẩn Bacillus và xạ khuẩn Streptomyces ưa

nhiệt trong quá trình ủ xử lý quy mô gia trại 45

Bảng 3.12: Sự biến động của nhóm vi sinh vật gây bệnh trong quá trình ủ xử lý

chất thải rắn của bò sữa quy mô gia trại 46

Bảng 3.13 Chất lượng mùn hữu cơ thu được từ quá trình ủ xử lý chất thải rắn

của bò sữa quy mô gia trại sau 5 tuần ủ 49

Trang 9

vii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Tăng Thị Chính – Nguyên Trưởng phòng Vi sinh vật môi trường – Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp trong phòng Vi sinh vật môi trường – Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ và có những góp ý bổ ích cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại Viện

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tại đây

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu và học tập

Tôi xin chúc các thầy cô giáo và các bạn mạnh khỏe, học tập, công tác thật tốt, cống hiến phục vụ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhiều hơn nữa, góp phần cải thiện cuộc sống, bảo vệ môi trường sống cho hôm nay và mai sau

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

PHÙNG ĐỨC HIẾU

Trang 10

viii

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Phùng Đức Hiếu - Học viên lớp Cao Học K19-Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp là kết quả do chính tôi thực hiện trong quá trình thí nghiệm theo hướng dẫn của PGS TS Tăng Thị Chính

có đượcvà không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học khác đã được công bố

Hà nội, ngày tháng năm 2017

Học viên thực hiện

Phùng Đức Hiếu

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

Chăn nuôi bò sữa giữ một vai trò quan trọng đối với ngành nông nghiệp của nước ta Trong những năm gần đây, do tác động của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phục hồi và tác động tốt đến Chương trình phát triển bò sữa của nước ta ở giai đoạn mới Đàn bò sữa của nước ta hiện nay đang tăng nhanh cả về số và chất lượng Theo số liệu thống kê tính đến ngày 01/10/2016 đàn bò sữa cả nước đạt khoảng 282.990 trong đó Hà Nội đạt khoảng15385 chiếm gần 5,4% đàn bò sữa cả nước

Huyện Ba Vì là một trong những vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng Với quy mô tổng đàn bò sữa năm 2010 là 2.950 con đến tháng 6/2015 đạt 9.300 con Toàn huyện có 20 xã chăn nuôi bò sữa, trong đó, tập trung chủ yếu ở 3 xã Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh Chất lượng đàn bò sữa Ba Vì từng bước được cải tiến, giống

bò chủ yếu là bò lai HF, bò trưởng thành chiếm 75% tổng đàn, trong đó số bò đang cho sữa chiếm 64% và năng suất bình quân 14-15kg sữa/ngày Việc chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện chủ yếu theo hình thức chăn nuôi nông hộ gia đình, với khoảng 1.600 hộ chăn nuôi bò sữa, bình quân mỗi hộ nuôi 5-6 con, một số hộ có quy mô từ 20-30 con Chăn nuôi bò sữa những năm qua đã trở thành nghề cho thu nhập khá, nhiều hộ có thu nhập từ 300-500 triệu đồng/năm, giúp nhiều hộ xóa đói, giảm nghèo và làm giàu trên chính quê hương mình Đàn bò sữa tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đã thải ra khối lượng chất thải rắn rất lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tại địa phương Tại Ba Vì, Hà Nội hiện nay hầu hết các hộ gia đình và trang trại chăn nuôi đều sử dụng hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, nhưng do lượng chất thải

từ bò sữa quá nhiều nên hầm Biogas đã không còn là biện pháp khả thi nữa Chất thải từ chăn nuôi bò sữa sau khi qua bể tách rắn lỏng thường được đưa ra bón cho đồng cỏ Lượng lớn chất thải không qua xử lý gây ra mùi hôi thối, ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng sữa của đàn bò Mặt khác chất thải chăn nuôi bò sữa nếu được xử lý đúng cách sẽ tạo ra nguồn phân sạch, giàu dinh

Trang 12

2

dưỡng cung cấp cho nhu cầu sử dụng tại địa phương

Xuất phát từ các lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại tại Ba Vì” vừa xử lý mùi phát sinh

trong chuồng nuôi và xử lý chất thải rắn thành phân bón trong các hộ chăn nuôi

bò sữa ở Ba Vì, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm phân

bón an toàn cho nông nghiệp

2 Mục tiêu

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh vật Sagi Bioxử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa qui mô gia trại, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp

sử dụng chế phẩm Sagi Bio để xử lý chất thải chăn nuôi bò sữa có hiệu quả, bảo

vệ môi trường tại địa phương

3 Nội dung nghiên cứu

+ Điều tra khảo sát hiện trạng chất thải rắn và xử lý chất thải rắn chăn nuôi

bò sữa tại các nông hộ huyện Ba Vì

+ Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật Sagi Bio quy mô pilot vàtại gia trại

+ Đề xuất quy trình sử dụng chế phẩm Sagi Bio để xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi bò sữa quy mô gia trại

Trang 13

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Tình hình chăn nuôi bò sữa

1.1.1.Tình hình chăn nuôi bò sữa trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có khoảng 264 triệu con bò sữa nhưng được phân bố không đều giữa các châu lục Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý tự nhiên mỗi nước và tập trung chủ yếu ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Úc.Các nước có nền kinh tế kém phát triển ở Châu Phi và Châu Á chủ yếu chăn nuôi bò hướng thịt và cày kéo (FAOSTAT, 2012) [23]

Trong những năm gần đây, một số nước đã chú trọng và có nhiều dự án để phát triển chăn nuôi bò sữa, đặc biệt một số nước Châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Thái Lan và Việt Nam Trong đó, một số nước đã thành công với các dự án phát triển này như Trung Quốc tổng sản lượng sữa sản xuất đã đáp ứng 70-80% tiêu dùng trong nước, Đài Loan tự sản xuất và đáp ứng được trên 70% nhu cầu về sữa, Thái Lan đã đáp ứng được 40% nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước…

1.1.2.Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam

Là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao khoảng 1,2%/năm, tỷ lệ tăng trưởng GDP 6 – 8%/năm, thu thập bình quân đầu người tăng 14,2%/năm, kết hợp với xu thế cải thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng cao.Theo đánh giá của Euromonitor International, năm 2014, doanh thu ngành sữa Việt Nam đạt 92.000 tỷ đồng, tăng trưởng 23% Trong những năm tới, ngành sữa vẫn có tiềm năng lớn, khi nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng 9%/năm.Chính vì vậy, tiềm năng phát triển của thị trường sữa tại Việt Nam vẫn còn rất lớn (Luc Thi Thu Huong, 2016) [10]

Số liệu thống kê của Cục chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cho thấy trong hơn 10 năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa của Việt Nam

có bước phát triển vượt bậc so với dự kiến ban đầu Tính đến hết năm 2014, số lượng bò sữa cả nước là 227.600 con (tăng hơn 22% so với năm 2013).Sản

Trang 14

4

lượng sữa trong nước sản xuất ước tính là 549.533 tấn Đến năm 2015, cả nước

có khoảng 260,8 nghìn con bò sữa (tăng 24,48 % so với cùng kì năm trước) Sản lượng sữa tươi đạt 645,6 nghìn tấn, tăng 21,02% so với cùng kỳ năm 2014 [Cục chăn nuôi, 2015) [5]

1.1.3 Tình hình chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì, Hà Nội

Ba Vì có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm nói chung, chăn nuôi bò sữa nói riêng Ngoài điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi trên địa bàn huyện còn có Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ (trước đây là Nông trường Ba Vì) hỗ trợ, hướng dẫn người dân về kĩ thuật chăn nuôi bò sữa; có nhà máy chế biến sữa (Nestlé, IDP, công ty cổ phần sữa Ba Vì) đồng hành cùng người chăn nuôi, tạo đầu ra ổn định để người dân phát triển sản xuất Chính vì vậy, ngay từ những năm 1990 Huyện uỷ- UBND huyện Ba Vì đã xác định phát triển chăn nuôi bò sữa là một hướng đi mới của huyện, giúp các

hộ xoá đói giảm nghèo và có thể vươn lên làm giàu Năm 1990, đàn bò sữa của huyện mới có khoảng 350 con; năm 2000 có 1.200con, đến hết năm 2015 đàn bò sữa của huyện đạt 8.800 con; sản lượng sữa đạt 67 tấn/ngày

Đàn bò sữa của huyện chiếm khoảng 65% tổng đàn bò sữa toàn thành phố Toàn huyện, có 20 xã có hộ nông dân chăn nuôi bò sữa, tập trung chủ yếu ở các

xã Vân Hoà, Yên Bài, Tản Lĩnh (chiếm 85% tổng đàn của huyện)

Bảng 1.1: Tổng số đàn bò quý II năm 2015 trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà

Trang 15

5

Hình 1.1: Biểu đồ tổng số đàn bò của các xã thuộc huyện Ba Vì năm 2015 [5]

Hình thức chăn nuôi: Chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện chủ yếu theo hình thức nông trại hộ gia đình Tổng số hộ chăn nuôi bò sữa toàn huyện là 1.700 hộ Năm 2010 bình quân mỗi hộ nuôi 2-3 con, đến nay đã có sự liên kết, đầu

tư phát triển chăn nuôi, bình quân nuôi 5-6 con/hộ; một số hộ quy mô từ 20-30 con, một số hộ quy mô trang trại chăn nuôi lớn Chăn nuôi bò sữa trở thành một nghề thu nhập khá, nhiều hộ có thu nhập từ 300-500 triệu đồng/năm từ nuôi bò sữa Chất lượng đàn bò sữa được cải tiến, giống bò chủ yếu là bò lai HF; bò trưởng thành chiếm 75% tổng đàn, trong đó bò đang vắt sữa chiếm 63% Năng suất sữa bình quân/ tổng đàn bò khai thác năm 2010 đạt 10,5kg/con/ngày đến nay đã được nâng lên đạt 14-15 kg/con/ngày

1.2 Tình hình ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam

Tại Việt Nam phương thức chăn nuôi bò sữa nhỏ và phân tán Tính đến

2015, theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi, hơn 95% số bò sữa được nuôi phân tán trong các nông hộ Cả nước có khoảng 19.639 hộ chăn nuôi bò sữa, trung bình 5,3 con/hộ Trong đó phía nam là 12.626 hộ, trung bình khoảng 6,3 con/hộ và phía Bắc có 7.013 hộ, trung bình khoảng 3,7 con/hộ Các khu vực chăn nuôi bò sữa tập trung chủ yếu ở miền Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 83% tổng

Tản Lĩnh 30%

Vân Hoà 43%

Yên Bài

20%

Các xã còn lại 7%

Trang 16

6

số đàn bò trong cả nước Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 69.500 con, chiếm 64% tổng số đàn bò cả nước Tiếp theo đó là các tỉnh như Long An (5.157 con); Sơn La (4.496 con) và Hà Nội (3.567 con) Nước ta có 5 địa bàn chăn nuôi bò sữa trọng điểm là: huyện Ba Vì (Hà Nội); huyện Mộc Châu (Sơn La); Đà Lạt (Lâm Đồng), xã Phù Đổng (huyện Gia Lâm – Hà Nội) và ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh Quy mô chăn nuôi còn nhỏ khi chỉ có 384 hộ gia đình

và công ty chăn nuôi có quy mô đàn từ 20 con trở lên (chiếm 1,95%) Tuy nhiên, hiện đang có sự dịch chuyển về quy mô theo đó quy mô đàn dưới 5 con đang giảm dần và quy mô từ 5-10 con trở lên đang tăng (Cục chăn nuôi, 2015) [5] Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa kéo theo một loạt các vấn đề về môi trường.Theo tính toán của Viện Môi trường Nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi bò sữa mỗi năm gây phát sinh trên 85 triệu tấn chất thải rắn (phân, lông, da) và hàng trăm triệu tấn nước thải (nước tiểu, nước rửa chuồng) Mặc dù có lượng phát sinh chất thải lớn nhưng mới chỉ có 8,7% hộ chăn nuôi có

sử dụng hầm khí sinh học, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi được xử lý chiếm chưa đầy 10% Kết quả khảo sát của Viện Môi trường Nông nghiệp cũng cho thấy chỉ có 10% chuồng trại chăn nuôi của bà con đạt yêu cầu về vệ sinh và chỉ 0,6% số hộ chăn nuôi có cam kết bảo vệ môi trường và còn nhiều hộ, ước tính trên 40% không áp dụng bất kỳ hình thức hoặc phương pháp xử lý chất thải nào trong chăn nuôi(Chung Anh Dũng, 2014) [6]

Chất thải chăn nuôi bò sữa là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường tự nhiên do lượng lớn các khí thải và chất thải từ vật nuôi Các khí thải từ vật nuôi cũng chiểm tỷ trọng lớn trong các khí thải gây hiệu ứng nhà kính Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), chất thải của gia súc toàn cầu tạo ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao gấp 296 lần so với khí CO2 Độngvật nuôi còn thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu, 37% lượng khí Methane (CH4) – loại khí có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần khí CO2 Theo số liệu ước tính của Cục Chăn nuôi, tổng số chất thải rắn hằng năm từ đàn gia súc, gia cầm ở Việt Nam khoảng 73 - 76 triệu tấn Phần lớn

Trang 17

7

chất thải chăn nuôi được sử dụng làm phân bón Tuy nhiên trước khi đưa vào sử dụng, việc xử lý chất thải chăn nuôi có sự khác nhau theo quy mô chăn nuôi Với quy mô chăn nuôi trang trại và gia trại thì việc xử lý chất thải được coi trọng hơn, còn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gắn với sản xuất nông nghiệp, chất thải chăn nuôi chủ yếu được vận chuyển trực tiếp từ chuồng nuôi ra ngoài đồng bón cho cây trồng, số lượng được xử lý rất ít(Trần Viết Cường, 2014) [2]

Hiện nay, nhiều trang trại, gia trại chăn nuôi bò hàng ngày thải ra một lượng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẫn ngứa và ghẻ lở cao Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên đất và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước v.v còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi (Nguyễn Khoa Lý, 2008) [13] Điển hình như trang trại chăn nuôi bò của Công ty cổ phần Chăn nuôi Gia Lai (thuộc Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai) tại địa bàn xã Thành An-thị xã An Khê ( Gia Lai) bắt đầu nuôi bò từ tháng 3/2015 với số lượng 7500 con, trên diện tích 70ha, nhưng chưa có hệ thống xử lý chất thải, toàn bộ nước tải từ quá trình chăn nuôi được thu gom về hồ chứa có dung tích 1500m3

sau đó xả thải trực tiếp ra sông Ba gây ô nhiễm nghiêm trọng Từ khi trang trại đi vào hoạt động,

đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, nhất là tình trạng ô nhiễm, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân Ruồi xanh ngày càng nhiều và nhiều hộ gia đình sống gần trang trại phải mắc màn mới có thể ăn cơm [28]

Các nguồn gây ô nhiễm trong chăn nuôi bò (Nguyễn Khoa Lý, 2008;

Phùng Đức Tiến và cộng sư, 2009)[13, 19]:

Trang 18

8

+ Chuồng trại và sử dụng nước

Trong chăn nuôi bò chuồng trại kiên cố còn rất thấp: nông hộ 17,42%; gia trại 20,69% và trang trại 27,24% Chủ yếu là chuồng trại bán kiên cố: nông hộ 51,61%, gia trại 58,62% và trang trại 58,62% Chuồng trại đơn giản vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao tương ứng là 24,97; 20,69 và 20,4% Nước dùng trong chăn nuôi bò cũng chủ yếu dùng nước giếng khoan với tỷ lệ: nông hộ 74,19%, gia trại 75,86% và trang trại 86,21% Vẫn còn tỷ lệ nước ao hồ cho bò: nông hộ 11,29%, gia trại 6,9% và trang trại 6,9% Như vậy chuồng trại vẫn đa phần là bán kiên

cố, diện tích chuồng hẹp nên khó khăn cho công tác vệ sinh xử lý môi trường

+ Xử lý chất thải

Tỷ lệ hộ có khu xử lý chất thải thấp ở cả 3 phương thức nuôi: nông hộ đạt 48,39%; gia trại đạt 55,17% và trang trại đạt 51,72% Trong đó khu xử lý thường liền kề khu chăn nuôi: nông hộ 91,94%, gia trại 89,66% và trang trại 96,85% Trong đó chăn nuôi bò xử lý chất thải bằng biogas rất thấp Với chất thải rắn: nông hộ 32,23%, gia trại 6,9% và trang trại 69% Với chất thải lỏng tương ứng

là 15,42; 17,24 và 13,79% Ủ phân tươi chiếm một tỷ lệ khá lớn: nông hộ 38,71%, gia trại 34,48% và trang trại 24,14% Lượng nước thải trực tiếp ra môi trường xung quanh nông hộ: 76,51%, gia trại: 65,52% và trang trại 75,86% Như vậy chăn nuôi

bò tuy mật độ không lớn nhưng phương thức xử lý chất thải là ít nhất trong 3 loại chăn nuôi nên cũng gây ô nhiễm môi trường xunh quanh

+Ô nhiễm không khí chuồng nuôi

Chăn nuôi bò sữa góp phần gây ô nhiễm môi trường không khí Tiến hành đo nồng độ NH3 tại các gia trại chăn nuôi bò cho thấy nồng độ NH3 khoảng 0,11 mg/m3, cao hơn 11 lần mức cho phép, trang trại đạt 0,13 mg/m3 cao hơn mức cho phép 13 lần Độ nhiễm khuẩn không khí: nông hộ đạt: 36.722 VK/m3 cao hơn 22,4 lần mức cho phép; gia trại đạt: 38.800 VK/m3 cao hơn mức cho phép là 20,71 lần

+ Nước thải

Trong nước thải chăn nuôi bò sữa, trừ độ pH còn lại tất cả các chỉ tiêu phân tích đều cao hơn mức cho phép Hàm lượng Coliform: nông hộ đạt 390500

Trang 19

9

MPN/100ml cao gấp 78,1 lần mức cho phép; gia trại đạt 935.133 MPN/ 100ml cao gấp 187,02 lần mức cho phép và trang trại đạt 779.000 cao hơn mức cho phép là

155,8 lần E.coli: nông hộ đạt 30 MPN/100ml; gia trại đạt 28.855 MPN/100ml cao

gấp 57,71 lần mức cho phép; trang trại đạt 79.232 cao hơn mức cho phép 158,46 lần

Trong gia trại và trang trại có 20% và 33,33% mẫu dương tính với Salmonella

+ Nước cấp

Nướccấp trong chăn nuôi bò cũng bị ô nhiễm Nhu cầu oxi hoá học (COD): nông hộ đạt 15,50 mg/l cao hơn 1,55 lần cho phép, trang trại đạt 94,60 mg/l gấp 9,46 lần cho phép Nhu cầu oxi sinh học (BOD): nông hộ đạt 62,61 mg/l cao hơn 10,43 lần cho phép, gia trại đạt 50,70 mg/l cao hơn 8,45 lần cho phép, trang trại đạt 135,27 gấp 22,54 lần cho phép Coliform: nông hộ đạt 382.784 MPN/100 ml cao hơn 12759 lần cho phép, gia trại đạt 64320 MPN/100

ml cao hơn 2144 lần cho phép, trang trại đạt 47960 gấp 1598 lần cho phép

1.3 Một số biện pháp xử lý chất thải rắn trong chăn nuôi

1.3.1 Xử lý bằng biện pháp sử dụng hầm Biogas (hệ thống khử Biogas)

Trong thực tiễn, tuỳ vào điều kiện từng nơi, từng quy mô trang trại mà ta có thể sử dụng các loại hầm khí sinh học cho phù hợp.Xử lý chất thải chăn nuôi bằng công trình khí sinh học được đánh giá là giải pháp hữu ích nhằm giảm khí thải methane (khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính) và sản xuất năng lượng sạch.Đến năm 2014, với trên 500.000 công trình khí sinh học hiện có trên cả nước đã sản xuất ra khoảng 450 triệu m3

khí gas/năm Theo thông báo quốc gia lần 2, tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của phương án này khoảng 22,6 triệu tấn CO2, chi phí giảm đối với vùng đồng bằng là 4,1USD/tCO2, đối với miền núi 9,7USD/tCO2, mang lại giá trị kinh tế khoảng 1200 tỷ đồng về chất đốt Hiện nay, việc sử dụng hầm Biogas đang được người chăn nuôi quan tâm vì vừa bảo vệ được môi trường vừa có thể thay thế chất đốt hoặc có thể được sử dụng cho chạy máy phát điện, tạo ra điện sinh hoạt gia đình và điện phục vụ trang trại

Trang 20

10

Hình 1.2 Bể khí sinh học composite và túi khí dự trữ

Công trình khí sinh học góp phần giảm phát thải theo 3 cách sau: thứ nhất giảm phát thải khí methane từ phân chuồng, thứ hai giảm phát thải khí nhà nhà kính do giảm sử dụng chất đốt truyền thống, thứ ba giảm phát thải khí nhà kính

do sử dụng phân từ phụ phẩm khí sinh học thay thế phân bón hóa học Như vậy nhờ có công trình khí sinh học mà lượng lớn chất thải chăn nuôi trong nông hộ

sẽ được xử lý tạo ra chất đốt và chính điều đó sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính rất hiệu quả

và ra ngoài để xử lý riêng còn lượng nước theo đường riêng chảy ra ngoài hoặc xuống hầm khí sinh học xử lý tiếp Độ ẩm của sản phẩm (phân khô) có thể được điều chỉnh tùy theo mục đích sử dụng Phần rắn sau khi phân tách có thể tiếp tục được xử lý bằng phương pháp sinh học (60%), bằng phương pháp hóa lý (25%) và phương pháp nhiệt (15%) để làm phân bón cho cây trồng hoặc để sản sinh năng lượng Phương pháp này được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó ở Hà Lan có khoảng 80 nhà máy, ở Pháp có khoảng 600 trang trại [7, 8, 20]

Trang 21

11

Quá trình xử lý này tuy đầu tư ban đầu tốn kém hơn nhưng rất hiện đại, nhanh, gọn, ít tốn diện tích và đang là một trong những biện pháp hiệu quả nhất

đối với các trang trại chăn nuôi lợn, trâu bò theo hướng công nghiệp hiện nay

1.3.3 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (composting)

Kỹ thuật ủ compost đã được ghi nhận tại Ai Cập từ 3000 năm trước Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới Người Trung Quốc đã ủ chất thải cách đây 4000 năm, người Nhật đã sử dụng compost làm phân bón trong nông nghiệp từ nhiều thế kỷ trước Tuy nhiên, đến năm 1943 quá trình ủ compost mới được nghiên cứu một cách khoa học và báo cáo bởi Giáo sư người Anh, Sir Albert Howard thực hiện tại Ấn Độ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) [1] Đến nay đã có nhiều tài liệu viết về quá trình ủ compost và nhiều mô hình công nghệ ủ compost quy mô lớn được phát triển trên thế giới Compost là sản phẩm giàu chất hữu cơ và có hệ vi sinh vật dị dưỡng phong phú, ngoài ra còn chứa các nguyên tố vi lượng có lợi cho đất

và cây trồng Sản phẩm compost được sử dụng chủ yếu làm phân bón hữu cơ trong nông nghiệp hay các mục đích cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cây trồng Ngoài

ra, compost còn được biết đến trong nhiều ứng dụng như: các sản phẩm sinh học trong việc xử lý ô nhiễm môi trường, các sản phẩm dinh dưỡng chữa bệnh cho vật nuôi và cây trồng Trong kỹ thuật ủ compost, hệ vi sinh vật đóng vai trò rất quan trọng, kiểm soát tốt các điều kiện môi trường ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật chính là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình ủ compost, giúp giảm phát sinh mùi ô nhiễm và loại bỏ các mầm vi sinh vật gây bệnh [7]

Để rút ngắn thời gian ủ cũng như hạn chế tối đa các ảnh hưởng không có lợi của quá trình chế biến phân ủ đến môi trường, kỹ thuật ủ nhanh (Rapid Composting) đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi tại Ấn Độ, Philipin, Mỹ, Canada,… Ngoài các yếu tố cân bằng tỉ lệ C/N, điều khiển nhiệt độ, độ thông khí của khối ủ, các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến vai trò của lượng vi sinh vật bổ sung thêm vào môi trường (Vi sinh vật hoạt hóa – microbial activator), vi sinh vật này còn có vai trò làm giàu thêm dinh dưỡng cho phân ủ Kết quả nghiên cứu của

Trang 22

12

các nhà khoa học cho thấy, việc bổ sung các loại vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose, protein, tinh bột, phosphat hữu cơ, v.v,cùng các nguyên tố dinh dưỡng như đạm dạng hữu cơ, lân dạng quặng phosphorit và một số điều kiện môi trường khác đã giúp rút ngắn thời gian ủ phân chuồng từ 4-6 tháng xuống còn 2-4 tuần, giảm lượng H2S, NH3 phát thải vào môi trường không khí [12]

Quá trình ủ sẽ cho phân bón có giá trị hơn, giảm thiểu mùi phát tán trong không khí và giảm chi phí vận chuyển phân vì phân sau ủ nhẹ hơn phân tươi Thời gian ủ không những phụ thuộc vào vòng đời sinh học của vi sinh vật trong đống ủ mà còn phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và trạng thái di truyền của

vi sinh vật Trong quá trình ủ phân, vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ thành các axit hữu cơ, các khí CO2, H2O và NH3 Đặc biệt trong quá trình ủ, nhiệt độ tăng 50-600C trong nhiều ngày có thể tiêu diệt vi sinh vật gây hại và làm ung trứng giun [11]

* Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình ủ compost:

Vi sinh vật khởi động và vi sinh vật làm giàu dinh dưỡng: việc lựa chọn các chủng vi sinh vật khởi động cần dựa vào các nguyên tắc như các chủng vi sinh vật phải có hoạt tính sinh học mạnh (khả năng sinh phức hệ enzym phân hủy các hợp chất hữu cơ cao và ổn định, sinh trưởng tốt trong điều kiện đống ủ,

có ưu thế cạnh tranh được với vi sinh vật có sẵn trong đống ủ, có khả năng chịu nhiệt, không gây độc với người, vật nuôi và vi sinh vật hữu ích, nuôi cấy dễ dàng, sinh trưởng tốt trên môi trường tự nhiên, thuận lợi cho quá trình nhân giống thu sinh khối [3]

Độ ẩm: Nước là yếu tố rất cần thiết cho quá trình chuyển hóa của vi sinh

vật Nếu độ ẩm của nguyên liệu khô quá, quá trình phân hủy của các hợp chất hữu cơ sẽ diễn ra chậm, nếu độ ẩm quá cao thì trong đống ủ sẽ diễn ra quá trình phân giải yếm khí Nên điều chỉnh độ ẩm ban đầu từ 50-60%, sản phẩm sau quá trình ủ sẽ đạt khoảng 30%

Nhiệt độ: Quá trình ủ compost luôn gắn liền với việc giải phóng năng

lượng Nhiệt độ đống ủ tăng nhanh hay chậm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu

Trang 23

13

và sự hoạt động của vi sinh vật Nhiệt độ phù hợp nhất cho quá trình ủ được nghiên cứu xác định khoảng 550C Khi nhiệt độ tăng quá 600C quần thể vi sinh vật trong đống ủ sẽ giảm mạnh Với nhiệt độ trên 700C độ hoạt động của vi sinh vật sẽ giảm 10-15% so với ở nhiệt độ 600C và không xác định được sự hoạt động của vi sinh vật ở nhiệt độ 75-820

C

pH môi trường đống ủ: Khoảng pH thích hợp cho quá trình ủ compost rất

rộng, tuy nhiên đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu cho thấy giá trị pH trong quá trình ủ compost không nên cao hơn 8 pH cao là nguyên nhân làm bay hơi khí NH3 dẫn đến tình trạng thất thoát đạm ra không khí

Kích cỡ nguyên liệu, nồng độ oxy và quá trình thông khí: Oxy rất cần

thiết cho các vi sinh vật hiếu khí Để đảm bảo oxy cung cấp cho vi sinh vật, thể tích khí trong đống ủ phải đạt 20-30% Điều này phụ thuộc vào tính chất vật lý của nguồn nguyên liệu, khoảng cách giữa các đơn vị nguyên liệu với nhau và áp suất khí trao đổi Kích thước nguyên liệu nhỏ có tác dụng làm tăng khả năng phân giải của vi sinh vật song lại hạn chế lưu lượng khí trao đổi, vì vậy phải cân đối sao cho hai yếu tố này không đối nghịch nhau Cung cấp khí trong quá trình

ủ có tác dụng ổn định nhiệt độ khối ủ và làm khô nguyên liệu, đồng thời tăng cường oxy cho vi sinh vật hoạt động Lượng khí cần thiết được xác định khoảng 2,5l/1kg nguyên liệu khô

Thành phần dinh dưỡng: vi sinh vật có nhu cầu sử dụng C, N, P, K như

những nguồn dinh dưỡng cơ bản Tỉ lệ C/N tốt nhất là từ 25: 1 đến 30:1 Nếu tỉ lệ cao hơn 40:1 sẽ hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật, làm cho quá trình ủ bị kéo dài Nếu tỉ lệ C/N thấp hơn 20:1 sẽ dẫn đến sự bay hơi đạm trong quá trình ủ Tỉ lệ tốt nhất khi kết thúc quá trình ủ là 10:1 đến 15:1 Tỉ lệ C/P phù hợp trong quá trình phân giải được xác định là 75:1 đến 150:1 Để tạo thuận lợi cho các chủng vi sinh vật phát triển, thông thường người ta bổ sung thêm rỉ mật vào đống ủ nhằm cung cấp nguồn đường và axit amin cần thiết cho các chủng vi sinh vật

Đảo trộn: khi quá trình phân giải trong đống ủ bắt đầu thì sự đảo trộn

được xem như một quá trình cung cấp không khí cho vi sinh vật phát triển Sự

Trang 24

14

đảo trộn không những cung cấp không khí cho quá trình ủ mà còn tạo ra hiệu ứng làm giảm nhiệt độ của đống ủ Nhiệt độ cao sẽ hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật và làm gián đoạn quá trình chuyển hóa nguyên liệu

1.3.4 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học

a Xử lý môi trường bằng chế phẩm sinh học

Từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước người ta đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là “Chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu” Ban đầu các chất này được nhập từ nước ngoài nhưng ngày nay các chế phẩm sinh học đã được sản xuất nhiều ở trong nước Các chế phẩm sinh học nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như: dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi, dùng trộn vào thức ăn… Dưới đây là một vài trong số những chế phẩm sinh học bổ sung làm giảm ô nhiễm trong chăn nuôi được sản xuất và nhập khẩu

Bảng 1.2 Một số chế phẩm vi sinh sử dụng trong xử lý môi trường trong

chăn nuôi gia súc, gia cầm

Nhật

3 EMC Thảo mộc khoáng chất

thiên nhiên Giảm sinh NH3, H2S, SO2 Việt Nam

4 Kemzym Enzym tiêu hoá Tăng hấp thụ thức ăn,

giảm bài tiết các chất

Thái Lan, Đức

Trang 25

15

dinh dưỡng qua phân

5 Pyrogreen Hoá sinh thiên nhiên Giảm khả năng sinh NH3 Hàn Quốc

Shaccharomyces

Tăng hấp thụ thức ăn, giảm bài tiết các chất dinh dưỡng qua phân

Thái Lan, Đức

Đức

8 Sarsapomn

30, DK Chất chiết từ thảo mộc Giảm khả năng sinh NH3 Hoa Kì

1.4 Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh vật xử lý chất thải rắn chăn nuôi bò ở Việt Nam

Ở Việt Nam thường sử dụng phương pháp compost để xử lý chất thải hữu

cơ dạng rắn Phương pháp này bao gồm các loại như: ủ nóng, ủ nguội và phối hợp ủ nóng trước, ủ nguội sau [12] Nguyên lý của quá trình ủ phân chuồng là dưới tác động của các vi sinh vật hiếu khí và yếm khí ở điều kiện tối ưu, các chất hữu cơ phân tử lớn sẽ chuyển thành chất hữu cơ phân tử nhỏ, các khoáng chất khó tiêu chuyển thành dễ tiêu, nhờ đó cây trồng tăng khả năng sử dụng nhanh các chất dinh dưỡng cần thiết Thông thường để chất thải chăn nuôi hoai mục hoàn toàn đòi hỏi thời gian ủ từ 3-6 tháng [11]

Từ năm 1998-2000, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ sản xuất chế phẩm EM ứng dụng trong nông nghiệp và vệ sinh môi trường Khi chăn nuôi quy mô lớn thì lượng phân thải tập trung nhiều, tạo ra mùi hôi đặc trưng là môi trường thuận lợi hấp dẫn loài ruồi đến sinh sôi, nảy nở Sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi có thể giảm thiểu mùi hôi của các chuồng trại, giảm ô nhiễm môi trường [18]

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giới thiệu phương pháp ủ phân tại chỗ quy mô hộ gia đình giúp tận dụng nguồn phân gia súc, phế phụ phẩm chăn nuôi tại địa phương, sản xuất thành phân bón giúp tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí sản xuất nông nghiệp, đồng thời góp phần

Trang 26

16

cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái

Năm 2011, Đặng Xuyến Như và cộng sự thuộc Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ đã hoàn thiện quy trình, trong đó có sử dụng chế phẩm sinh học

xử lý phế thải chăn nuôi lợn ở trang trại quy mô hộ gia đình giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng nguồn chất thải làm phân bón hữu cơ sinh học [14]

Chế phẩm Bio – F do Võ Bích Hạnh và cộng sự nghiên cứu sản xuất năm

2005 chứa các vi sinh vật như: xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp và vi khuẩn Bacillus sp có tác dụng phân hủy nhanh các hợp

chất hữu cơ, làm mất mùi hôi trong phân lợn, gà và bò Sau 3 ngày các vi sinh vật hữu ích phát triển mạnh, phân giải và làm mất mùi hôi Nhiệt độ trong đống ủ cũng tăng lên tới 60-700C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7-10 ngày, tiếp tục ủ chín giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ chất lượng cao, có tác dụng chống nấm gây hại cây trồng [9] Năm 2005, bộ môn Vi sinh vật – Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã sản xuất thử nghiệm thành công chế phẩm Compost Maker phục vụ cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ nguồn phế thải chăn nuôi [16] Từ năm 2008 – 2011, trong chương trình Công nghệ Sinh học Nông nghiệp và nguồn tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và Viện Môi trường Nông nghiệp đã sản xuất thử nghiệm thành công và chuyển giao công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh vật cho sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ nguồn phế thải chăn nuôi tại

nhiều tỉnh thành trong cả nước Chế phẩm chứa các chủng Streptomyces, Bacillus,

nấm men và vi khuẩn lactic có tác dụng phân hủy nhanh các hợp chất hữu cơ trong chất thải, làm mất mùi hôi Sau 7-10 ngày, giai đoạn kết thúc sản phẩm thu được là phân hữu cơ sinh học với chất lượng dinh dưỡng cao, đáp ứng được yêu cầu phục

vụ sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững [17]

Kết quả nghiên cứu lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường của Viện Chăn nuôi giai đoạn 2008 – 2010 cho thấy thử nghiệm xử lý phân lợn ở vùng chăn nuôi trang trại tập trung với các chế phẩm sinh học (EM thứ cấp, EM Bokaski, và Compost Marker) cho phép rút

Trang 27

17

ngắn trung bình khoảng 1/3 thời gian so với ủ phân bằng phương pháp truyền thống, giảm nồng độ NH3, H2S gây mùi hôi thối và giảm các mầm bệnh vi sinh vật, ký sinh trùng Sử dụng chế phẩm đơn giản, dễ làm, phù hợp với các trang trại quy mô tập trung Phân lợn sau khi xử lý đáp ứng được các yêu cầu của phân hữu cơ sinh học cho cây trồng [15]

Các kết quả nghiên cứu sản xuất và ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong

xử lý chất rắn chăn nuôi bò ở Việt Nam trong thời gian qua đã cho thấy, sử dụng chế phẩm vi sinh có tác dụng phân hủy chất thải nhanh hơn rút ngắn thời gian, giảm phát sinh mùi hôi thối, giảm được các vi sinh vật gây bệnh có trong chất thải Tuy nhiên, như chúng ta đã biết quá trình phân hủy các chất thải hữu cơ là quá trình hoại sinh, nhiệt độ của đống ủ tăng lên nhanh chóng sau 3-5 ngày ủ, nhiệt độ có thể đạt tới 60-700C, do vậy, khi đạt nhiệt độ trên, các chủng vi sinh vật ưa ấm sẽ bị ức chế, không sinh trưởng được, chỉ còn lại các chủng vi sinh vật chịu nhiệt và ưa nhiệt mới có thể tồn tại và sinh trưởng được

c Xử lí bằng chế phẩm vi sinh Sagi Bio

Chế phẩm Sagi Bio dùng cho xử lí chất thải sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, phân gia súc, gia cầm, than bùn, vỏ cà phê, các loại rau quả …)

và chất thải công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩn giàu hữu cơ [3]

Chế phẩm có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình phân huỷ chất thải hữu

cơ (chất thải sinh hoạt, phụ phẩm nông nghiệp: rơm rạ, phân gia súc, gia cầm, than bùn…) ở nhiệt độ cao 55-60oC, rút ngắn thời gian xử lý, biến chất thải hữu

cơ thành phân bón hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp và cải tạo đất

Ức chế và diệt các vi sinh vật gây bệnh trong chất thải và giảm phát sinh mùi hôi thối và làm sạch môi trường [4]

Chế phẩm Sagi Bio gồm có: các chủng vi sinh vật hữu hiệu thuộc nhóm chịu nhiệt và ưa nhiệt (nhiệt độ sinh trưởng tối ưu 45-50oC) sinh tổng hợp mạnh

các enzym ngoại bào (xenlulaza, amylaza và proteinaza)

+Xạ khuẩn thuộc chi Streptomyces

+ Vi khuẩn thuộc chi Bacillus

Trang 29

19

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

+ Quy mô pilot: Phòng Vi sinh vật môi trường, Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

+ Quy mô thực địa: Xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, Hà Nội

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Chất thải rắn chăn nuôi bò: phân bò, thức ăn dư thừa, chủng vi sinh vật

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Chế phẩm Sagi Bio của phòng Vi sinh vật môi truờng - Viện Công nghệ môi trường:

- Máy lắc (Shel lab)

- Bộ dụng cụ xác định H2S trong chất thải rắn (Gastec 201H)

- Máy đo mật độ quang

2.5 Các phuơng pháp phân tích

2.5.1 Phương pháp xác định nitơ tổng

 Cách tiến hành

a Lấy mẫu

Trang 30

20

Truớc hết chọn mẫu trung bình của phân chuồng từ khối luợng lớn của phân Từ mẫu trung bình trộn đều lấy mẫu trung bình trộn đều lấy mẫu phân tích của phòng thí nghiệm

Cân 10g mẫu từ mẫu phân tích vào bình 250ml sao cho mẫu không dính vào thành bình

Rót vào 30ml sunfophenol (nếu không cần phân tích NO3- thì không dùng phenol) lắc nhẹ đều

Thêm vào 1-2g bột Zn, đun nhẹ trên ngọn lửa và sau đó đun sôi

Khi dịch lỏng trong bình có ánh đỏ thì lấy bình ra khỏi bếp, thêm 0,1g Se bột hay 0,59g CuSO4

Tiếp tục đun sôi cho đến khi dung dịch trong bình trắng hoàn toàn, đun thêm nửa giờ

Lấy bình ra để nguội, thêm một ít nuớc cất và chuyển toàn bộ dung dịch vào thiết bị chưng cất đạm Thể tích trong bình cất khoảng 300ml, thêm khoảng 2-3 giọt phenolphtalein

Sau đó rót cẩn thận 120ml NaOH 30% vào bình cất đồng thời lấy 75ml H2SO4 0,1N có 2-3 giọt metyl da cam để hấp thụ NH3 thoát ra sau khi cất

Để biết quá trình chưng cất đã kết thúc hay chưa thì lấy vài giọt cuối cùng chảy ra từ ống và thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Nestle, nếu có màu vàng thì còn

NH3, việc cất NH3 chưa kết thúc

Sau khi kết thúc thì chuẩn độ luợng thừa H2SO4 còn lại sau khi hấp thụ bằng dung dịch kiềm có nồng độ tiêu chuẩn cho tới khi chuyển màu từ màu đỏ sang hơi vàng (chỉ thị metyl)

Trang 31

2.5.3 Phương pháp xác định tổng chất hữu cơ

Tổng chất hữu cơ (OM) được xác định theo TCVN 9294 : 2012 (Phân bón – xác định cacbon hữu cơ tổng số bằng phương pháp Walkley – Black)

Cách tiến hành:

a Hóa chất

+ Dung dịch tiêu chuẩn kali dicromat (K2Cr2O7) M/6: Cân 49,040 g K2Cr2O7 (đã sấy khô ở 105 oC trong 2 h, để nguội trong bình hút ẩm) cho vào cốc dung tích

1000 ml, thêm 400 ml nước cất, khuấy tan, chuyển vào bình định mức dung tích

1000 ml, thêm nước cất đến vạch định mức, lắc đều Bảo quản kín ở 20 o

C

+ Dung dịch muối Mohr [FeSO4(NH4)2SO4.6H2O] nồng độ khoảng 0,5 M: Cân 196 g [FeSO4(NH4)2SO4.6H2O] vào cốc dung tích 1000 ml, thêm 50 ml axit

Trang 32

22

H2SO4đặc, thêm 450 ml nước cất, khuấy tan, chuyển vào bình định mức dung tích

1000 ml, thêm nước cất đến vạch định mức, lắc đều, để cho lắng trong, nếu đục phải lọc Bảo quảnkín trong lọ màu nâu ở 20oC, tránh xâm nhập của không khí + Dung dịch chỉ thị màu ferroin O phenanthrolin: Cân 0,695 g sắt hai sunphat (FeSO4.7H2O) và 1,485 g O.phenanthrolin monohydrate (C12H8N2 H2O), hòa tan trong 100 ml nước cất

+ Dung dịch chỉ thị màu bari diphenylamin sunfonat 0,16%:Cân 0,16 g bari diphenylamin sunfonat, hòa tan trong 100 ml nước cất

+ Dung dịch chỉ thị màu axit N – phenilanthranilic:Cân 0,1 g axit N- phenylanthranilic và 0,1 g Na2CO3 trộn đều với một ít nước cất, sauhòa tan thành 100 ml

b Chuẩn bị mẫu thử

+ Mẫu đem đến phòng thí nghiệm được đảo trộn đều, trải phẳng trên khay nhựa hoặctấm ni lông, lấy mẫu trung bình theo phương pháp đường chéo góc, trộn đều, lấy hai phầnđối diện và loại bỏ dần cho đến khi còn khoảng 500 g + Chia mẫu trung bình thành hai phần bằng nhau, cho vào hai túi PE, buộc kín, ghimã số phân tích, ngày, tháng, tên mẫu (và các thông tin cần thiết), một túi làm mẫu lưu,một túi làm mẫu phân tích

+ Nghiền mịn mẫu rồi qua rây 0,2 mm, trộn đều làm mẫu phân tích

+ Các mẫu có độ ẩm cao có thể cân một lượng mẫu xác định, sấy khô ở nhiệt độ 70oC, xác định độ ẩm, nghiền mịn mẫu khô qua rây 0,2 mm làm mẫu phân tích Lưu ý khitính kết quả phải nhân với hệ số chuyển đổi từ khối lượng mẫu khô sang khối lượng mẫuthực tế ban đầu

+ Các mẫu không thể xử lý có thể lấy một lượng mẫu khoảng 20 g,nghiền thật mịn làm mẫu phân tích

+ Cân khoảng 0,1 g đến 0,2 g mẫu đã được xử lý chính xác đến 0,0001 g, cóhàm lượng không quá 50 mg các bon, cho vào bình tam giác chịu nhiệt dung tích 250 ml

Trang 33

23

+ Thêm 20,0 ml dung dịch tiêu chuẩn K2Cr2O7 M/6

+ Thêm nhanh 40 ml H2SO4 đậm đặc từ ống đong, lắc nhẹ, trộn đều

+ Đặt lên tấm cách nhiệt, để yên trong thời gian 30 phút

+ Thêm 100 ml nước cất và 10 ml H3PO4 85%, để nguội đến nhiệt độ trong phòng

+ Tiến hành đồng thời 2 mẫu trắng, cùng cách chuẩn bị như mẫu thử

c Tính toán

+ Hàm lượng các bon hữu cơ theo phần trăm (% OC) khối lượng phân

được tính theo công thức:

Trong đó:

V: Thể tích dung dịch K2Cr2O7 sử dụng tính bằng mililit (ml);

a: Thể tích dung dịch muối Mohr chuẩn độ mẫu trắng tính bằng mililit (ml); b: Thể tích dung dịch muối Mohr chuẩn độ mẫu thử tính bằng mililit (ml); m: Khối lượng mẫu cân để xác định tính bằng gam (g);

3: Đương lượng gam của các bon tính bằng gam (g);

100/75: Hệ số quy đổi (do phương pháp này có khả năng oxy hóa 75% tổng lượng các bonhữu cơ)

+ Công thức chuyển đổi từ OC sang OM

% OM = % OC x 2,2

2,2: Hệ số chuyển đổi các bon hữu cơ sang chất hữu cơ

2.5.4 Phương pháp xác định khí H 2 S và NH 3 phát sinh từ quá trình ủ xử lý chất thải rắn

Phương pháp lấy mẫu và phân tích khí H2S và NH3 trong mẫu không khí tuân theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 676-2006 và 10TCN 677-2006 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 34

24

- Lấy mẫu phân tích nồng độ khí H2S bằng cách hấp thụ vào dung dịch cadimi hydroxit Máy bơm lấy mẫu khí SKC Universal PCXR4 (hình 2 trên đây) được sử dụng ở tốc độ hút 1l/phút Thời gian hút mẫu khí trong buồng cô lập là

10 phút còn trong không gian chuồng nuôi là 20 phút

- Sau khi hiện màu bằng phản ứng với N, N-dimetyl-p-phenylendiamin sunfua và clorua Fe(III), dung dịch được đo quang trên máy DR 2500 (HACH-Mỹ) ở bước sóng 670nm

- Lấy mẫu khí NH3 bằng cách hấp thụ trong dung dịch H2SO4 0,1 N Máy bơm lấy mẫu khí SKC Universal PCXR4 được sử dụng ở tốc độ hút 1l/phút Sau khi hiện màu bằng thuốc thử salicylat và hypoclorit cùng natri nitroprusside dung dịch được đo quang ở bước sóng 630 nm trên máy đo DR 2500 (HACH-Mỹ)

Tính toán nồng độ khí H2S và NH3 (X) trong không khí theo biểu thức:

X ( mg/m3 ) = (A x B) x 103 /C xV0

Trong đó:

- A là nồng độ H2S (hay NH3) trong dung dịch hấp thu (mg/l)

- B là tổng thể tích dung dịch mẫu thử (ml)

- C: Thể tích dung dịch lấy để phân tích (ml)

- V0 là thể tích khí đã được hút qua dung dịch hấp thu tính theo điều kiện tiêu chuẩn (lit)

2.5.6 Phương pháp vi sinh vật

Phương pháp xác định Coliform

Phương pháp nhiều ống với chỉ số MPN để kiểm tra số luợng E.coli trong

đất, nuớc và thực phẩm khác

Chuẩn bị môi trường nuôi cấy (phần phụ lục) Phần dung dịch môi truờng

đã chuẩn bị vào các ống nghiệm có chứa sẵn các ống Durham, mỗi ống chứa 4,5ml (hoặc 9ml) môi trường, khử trùng, đuổi hết bọt khí trong ống ra

Trang 35

25

Lấy 10g mẫu chất thải rắn cho vào bình nón chứa 90ml dung dịch đệm đã

vô trùng lắc cho mẫu tan đều Khi đó đựơc mẫu pha loãng đến nồng độ 10-1

Sử dụng pipet hút 1ml mẫu đã pha loãng ở nồng độ 10-1 vào ống nghiệm chứa 9ml dung dịch đệm đã vô trùng, ta đưọc độ pha loãng 10-2 Tiếp tục cho đến khi dung dịch mẫu đuợc pha loãng tới nồng độ thích hợp

Bổ sung 0,5ml dung dịch mẫu đã pha loãng vào các ống nghiệm chứa môi trường coliform

Làm ở 3 nồng độ liên tiếp, mỗi nồng độ lặp lại 10 lần

Ở mỗi nồng độ: nuôi 5 ống ở 37oC (xác định coliform tổng số), 5 ống ở

45oC Sau 24 giờ lấy ra quan sát khả năng sinh hơi(lên men) trong các ống nghiệm, ghi lại các ống duơng tính(các ống sinh hơi lên men lactoza) ở các nồng

độ khác nhau, đối chiếu với bảng chỉ số MPN để xác định số luợng E.coli xuất

hiện trong 1g mẫu nghiên cứu

Phương pháp xác định tổng Salmonella:

Môi trường: SS agar (Merck)

Pha loãng mẫu vật nghiên cứu đến một mức độ nhất định trong các ống nghiệm chứa 9ml nước vô trùng Lấy 0.1 ml dịch mẫu đã pha loãng ở 3 nồng độ khác nhau cho vào các hộp peptri chứa môi trường vô trùng đã chuẩn bị trước Dùng que trang, trang đều trên bề mặt thạch Nuôi trong tủ ấm ở 370

C trong vòng 48 h

Quan sát, đếm các khuẩn lạc hình thành trong các hộp thạch ở các nồng độ

khác nhau (chỉ đếm các khuẩn lạc tâm có màu đen)

Mật độ vi sinh vật được xác định theo công thức sau:

X = a xb x10 (CFU/g)

a: trung bình số khuẩn lạc có tâm màu đen trên đĩa thạch b: nghịch đảo nồng độ pha loãng

Trang 36

+ Mẫu đối chứng (ĐC): 100kg phân bò

+ Mẫu thí nghiệm (TN): 100kg phân bò+ 100g chế phẩm vi sinh Sagi Bio Các mẫu được ủ trong điều kiện tự nhiên trong nhà ủ, dùng nilong phủ kín đống ủ để giữ nhiệt độ.Các mẫu thí nghiệm đuợc kiểm tra định kì 1 tuần 1 lần và đảo trộn Tiến hành lấy mẫu 7 ngày 1 lần để xác định nitơ tổng số, photpho tổng

số và một số nhóm vi sinh vật Còn nhiệt độ, NH3, H2S được đánh giá theo ngày Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần

Hình 2.1.Mô hình ứng dụng chế phẩm Sagi Bio để xử lí chất thải rắn chăn

nuôi bò sữa quy mô pilot

2.6.2 Đánh giá hiệu quả xử lý chất thải rắnchăn nuôi bò sữa thành phân bón hữu cơ của chế phẩm vi sinh vật hữu ích Sagi Bio quy mô gia trại

+ Mẫu đối chứng (ĐC): sử dụng 2000 kg chất thải rắn từ nuôi bò sữa và

không bổ sung chế phẩm Sagi Bio

+ Mẫu thí nghiệm (TN): sử dụng 2000 kg chất thải rắn từ nuôi bò sữa + 2kg chế phẩm vi sinh Sagi Bio

Trang 37

27

Các mẫu thí nghiệm được ủ thành đống có chiều rộng 2m, chiều dài 3m, chiều cao 1,5 m, dùng nilong phủ kín, mỗi tuần đảo trộn 1 lần Lấy mẫu định kỳ

để đánh giá khả năng xử lý (Hình 2.2)

Hình 2.2 Quy cách đống ủ xử lý chất thải rắn từ chăn nuôi bò sữa

Tiến hành lấy mẫu 7 ngày 1 lần để xác định nitơ tổng số, photpho tổng số

và một số nhóm vi sinh vật Còn nhiệt độ, NH3, H2S được đánh giá theo ngày

Trang 38

28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều tra khảo sát hiện trạng chất thải rắn vàxử lýchất thải rắntrong chăn nuôi bò sữa tại các nông hộ huyện Ba Vì

Chất thải rắn chăn nuôi bò sữa

Kết quả điều tra khảo sát thực tế các hộ nuôi bò sữa tại xã Vân Hòa, Ba Vì cho thấy, tần suất thu gom phân thải 2 lần/ngày trước khi rửa chuồng để vắt sữa vào các thời điểm: sáng (6h) - chiều (17h) Đối với chăn nuôi bò sữa, phân thải

và thức ăn thừa được các hộ thu gom riêng (86 hộ), hót và đem đi bón trực tiếp cho trồng cỏ voi làm thức ăn cho bò, đem đổ ra nơi khác để ủ phân sinh học, bán hoặc cho người khác sử dụng

Việc khảo sát khối lượng chất thải rắn thải ra hàng ngày tại 3 chuồng bò khác nhau trong 3 ngày, để tính được trung bình khối lượng chất thải rắn chăn nuôi bò sữa bình quân (con/ngày) được thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Lượng chất thải rắn trung bình của 1 con bò sữa trong 1 ngày tại

các hộ nuôi bò sữa

Chuồng Số lượng

(con/chuồng)

Ngày 1 (kg)

Ngày 2 (kg)

Ngày 3 (kg)

Lượng chất thải rắn trung bình 1 ngày/1 con bò sữa (kg/ngày)

Kết quả điều tra các hình thức xử lý chất thải rắn tại các hộ nuôi bò sữa được tổng hợp tại bảng 3.2

Ngày đăng: 29/08/2018, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w