Xuất phát từ những lý do trên và từ vị trí công tác của bản thân nên tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam” để làm luận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KIỀU QUỲNH ANH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
Người hướng dẫn 1: PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải
Người hướng dẫn 2: GS.TS Phạm Văn Đức
Phản biện 1: ……… Phản biện 2: ………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện
Địa điểm: Phòng bảo vệ luận án tiến sĩ - Phòng họp… Nhà ……,
Học viện Hành chính Quốc gia
Số 77 Đường Nguyễn Chí Thanh - Quận Đống Đa - Hà Nội
Thời gian: Vào hồi ……… giờ … ngày … tháng … năm ………
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
hoặc thư viện của Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua, trên quy mô toàn cầu, ở nhiều quốc gia, việc phát triển NNL nữ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên mọi phương diện: trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động của xã hội; trong gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia
sẻ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nam giới để phát triển và khẳng định bản thân Những thập kỷ gần đây, hiện tượng cần ghi nhận ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới, số lượng phụ nữ nắm giữ các chức vụ chính quyền cấp cao, kể cả cấp cao nhất và bộ phận NNL nữ nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau tăng lên rõ rệt Thực tế chứng minh, NNLnữ không thua kém nam giới, xét trên phương diện trí tuệ, năng lực và những phẩm chất khác Như vậy, việc phát triển NNL nữ, đặc biệt NNL nữ nghiên cứu khoa học là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay Đất nước đã trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có những đường lối, chủ trương, chính sách phát triển và sử dụng sức mạnh to lớn của NNL nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, để phát triển được NNL nữ nghiên cứu khoa học trong điều kiện hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn: khắc phục hậu quả chiến tranh; điều kiện
xuất phát của đất nước vốn đã lạc hậu; tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” của
Nho giáo nên vấn đề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học là một nội dung quan trọng cần được quan tâm, nghiên cứu Hiện nay, những cơ hội và thử thách đã và đang đặt ra hơn bao giờ hết, mọi tiềm năng quốc gia phải được khai thác hợp lý, trong đó có NNL nữ, đặc biệt là NNL nữ nghiên cứu khoa học
Trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để đạt được sự bình đẳng giới và phụ nữ đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của đất nước Song, thực tế số cán bộ nữ tham gia hoạt động NCKH còn ít Sự bình đẳng trong hoạt động NCKH giữa nam và nữ còn một khoảng cách khá xa Điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp bộ trở lên năm
2010 chiếm khoảng 10% trong tổng số đề tài từ cấp bộ trở lên của khoa học
và công nghệ, trong đó phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước chỉ chiếm 0,2%.Số liệu thống kê của UNESCO và tổ chức L’OREAL trong
chương trình “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học” cho thấy, trên thế
giới chỉ có 30% số sinh viên theo học các ngành khoa học là nữ giới; các nhà khoa học là nữ chỉ chiếm khoảng 25% tổng số các nhà khoa học tòan cầu và chỉ có 2,9% chủ nhân các giải Nobel là các nhà khoa học nữ Vậy tại sao lại có sự mất cần đối trong hoạt động NCKH giữa hai giới như vậy? Và làm thế nào để khắc phụcthực trạng trên, khơi dậy sức mạnh của phụ nữ trong NCKH? Đây thực sự là một bài toán đã và đang đặt ra cần phải giải quyết trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, cụ thể hơn là vấn
Trang 4đề bình đẳng giới trong hoạt động nghiên cứu khoa học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên và từ vị trí công tác của bản thân nên
tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực
nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam” để làm luận án Tiến sĩ quản lý công
vừa có giá trị lý luận và vừa có giá trị thực tiễn cao
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích nghiên cứu là thực trạng thực hiện những nội dung QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về phát triển NNL nữNCKH đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xã hội trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan những tài liệu có liên quan đến đề tài luận án;
hệ thống hóa những cơ sở lý luận về QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học; nghiên cứu thực trạng về NNL nữ nghiên cứu khoa học; thực trạng quản lý phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở nước ta và nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng thực hiện các nội dung QLNNvề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa họcở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu các nội dung QLNN về phát triển
NNL nữ nghiên cứu khoa học tại các cơ sở nghiên cứu khoa học công lập
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN về
phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học từ năm 2010 đến nay
- Về không gian: Nghiên cứu phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được tổ chức nghiên cứu dựa trên những cở sở của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, NNL nghiên cứu khoa học, vai trò của phụ nữ, giải phóng phụ nữ và những nghiên cứu về lao động nữ đã
có
4.2.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận án, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Phương pháp thu thập thông tin, số liệu; phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp phân tích,
Trang 5đánh giá; phương pháp phân tích, thống kê; phương pháp bảng hóa và biểu
đồ hóa Ngoài ra luận án còn sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu tình huống, phân tích tác động của chính sách, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp liên ngành của xã hội học và khoa học về giới
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án
5.1 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Hoạt độngQLNNvề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay đang được thực hiện thế nào? Những ưu điểm và hạn chế trong QLNNvề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học hiện nay? Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam? Cần phải làm gì để nâng cao hiệu QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam trong giai đoạn kế tiếp?
5.2 Giả thuyết khoa học của đề tài
Giả thuyết nghiên cứu là thực trạng hoạt động QLNN trong việc phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam đã đạt những kết quả nhất định, tuy nhiên còn những hạn chế Nếu nghiên cứu và chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế thì sẽ xây dựng được một hệ thống các giải pháp QLNN phù hợp khắc phục những tồn tại và hoàn thiện một số chính sách phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học thì sẽ có được đội ngũ các nhà khoa học nữ đông đảo về số lượng, mạnh về chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế
6 Đóng góp mới của Luận án
6.1 Về lý luận
Luận án sẽ góp phần làm sâu sắc hơn những cơ sở lý luận về QLNN vềNNL nữ NCKH ở Việt Nam;làm rõ nội hàm của QLNN đối với phát triển NNL nữ NCKH, bao gồm: các khái niệm liên quan, chủ thể và đối tượng quản lsy NNL nữ NCKH; các nội dung QLNN về NNl nữ NCKH và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển NNL nữ NCKH ở Việt Nam hiện nay
6.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp cho độc giả, những nhà quản lý một bức tranh tổng quan tình hình QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở nước ta bao gồm những thực trạng thực hiện các nội dung quản lý, những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế cũng như những nguyên nhân dẫn đến những kết quả đó trong QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Luận án đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng NNL của đất nước trong bối cảnhxây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
7 Ý nghĩa của Luận án
Luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng NNL
Trang 6xã hội phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách để xây dựng và thực hiện chính sách phát triển NNLnghiên cứu khoa học nói chung và phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hệ thống lý luận và thực tiễn của luận án cũng có
ý nghĩa thiết thực trong nghiên cứu giảng dạy chuyên đề QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học tại Học Viện Hành chính Quốc gia
8 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở khoa học QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Chương 3: Thực trạng của QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa họcở Việt Nam
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiệnQLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan những công trìnhnghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồnnhân lực
Nghiên cứu về NNL và phát triển NNL là một chủ đề nhận được sự quan tâm Nghiên cứu về NNL và phát trỉển NNL là một chủ đề được nhiều học giả và các nhà quản lý hết sức quan tâm ở mọi quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới Ở Việt Nam, khi đất nước ta bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế, nghiên cứu về phát triển NNL càng được các cấp, các ngành và các nhà khoa học quan tâm, có thể kể đến một số công trình: Nghiên cứu của Trần
Thị Tuyết: “Phát triển nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế”, luận án tiến
sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 1995;Nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Thanh: “Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục và đào tạo
đối với sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sỹ Triết học, Viện Triết học 2001; nghiên cứu
của Bùi Thị Thanh: “Phát triển nguồn nhân lực đồng bằng song Cửu long đến
năm 2020”, đề tài luận án tiến sỹ Kinh tế 2005, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí
Minh, …
Nghiên cứu về NNL và phát triển NNL còn được trao đổi trên các tạp chí chuyên ngành, có thể kể đến một số bào viết như: Bài viết của Vũ Thị
Mai Oanh:“Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam và vấn đề nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực”, Tạp chí phát triển nhân lực số 2/2012; Đặng
Hữu Toàn: “Phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế -
Trang 7xã hội 2011 – 2020”, Tạp chí phát triển nhân lực số 3/2013; Trần Thị Lan:
“Nâng cao chất lượng lao động của tri thức giáo dục đại học – khâu quan trọng để thực hiện chiến lược nhân lực theo quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Tạp chí phát triển Nhân lực, số 5/2013, …
1.1.2 Những công trình nghiên cứu QLNN về NNL nữ nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu QLNN về phát triển NNL nữ ở nước ta trong những năm gần đây đã và đang dần trở thành một chủ đề được các cơ quan quản lý và các học giả, các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm, nhằm từng bước xây dựng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có thể kể đến một số công trình như: Nghiên cứu của Đỗ Thị
Thạch: “Tri thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay – tiềm năng
và phương hướng xây dựng”, luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh 1999; nghiên cứu của Lê Thị Thúy: “Phát triển
nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
ở miền núi phía Bắc”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Viện Nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương 2012; nghiên cứu của Nguyễn Thị Giáng Hương: “Vấn
đề phát triển NNL nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2013; nghiên cứu của
Nguyễn Bá Thịnh: “Vai trò của phụ nữ trong công nghiệp hóa nông thôn –
Nghiên cứu khu vực đồng bằng Sông Hồng”, luận án tiến sĩ Khoa học xã
hội, 2001 Bài viết của Đặng Ánh Tuyết: “Phát triển nguồn nhân lực nữ ở
Việt Nam, thực trạng và những thách thức”, Tạp chí nghiên cứu khoa học
nữ lao động ở nông thông và vai trò của NNL nữ ở nông thôn cũng được các học giả quan tâm, nghiên cứu
Trang 81.2.2 Những khía cạnh, nội dung cần tiếp tục nghiên cứu:Rất ít những
công trình, bài viết nghiên cứu NNL dưới góc độ quản lý công Bên cạnh
đó, nghiên cứu QLNN về phát triển NNL nữ cũng rất ít các học giả tiếp cận, xem xét và nghiên cứu.Hệ thống cơ sở lý luận về phát triển NNL nữ còn chưa được nghiên cứu và xây dựng đầy đủ, hoàn thiện.Điều tra, nghiên cứu về thực trạng NNL nữ, NNL nữ nghiên cứu cũng chưa được các nhà khoa học ở Việt Nam chú ý, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung điều tra, nghiên cứu về thực trạng NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.Thực tế nghiên cứu hiện nay, chính sách đối với đội ngũ các nhà khoa học nói chung và các nhà khoa học nữ ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập Về cơ sở vật chất, tài chính, ngân sách phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học cũng chưa được xem xét, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa
cơ sở vật chất với việc đào tạo và bồi dưỡng NNL nữ nghiên cứu khoa học Hội nhập và hợp tác quốc tế trong hoạt động phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học hiện nay cũng chưa được nghiên cứu và tìm hiểu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2.1 Nguồn nhân lực nữ NCKH và phát triển NNL nữ NCKH
2.1.1 Khái niệm NNL nữnghiên cứu khoa học
2.1.1.1 Nguồn nhân lực nữ
NNL nữ được hiểu là một thuật ngữ dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của tổng thể nữ giới có khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu, truyền thống dân tộc, kinh nghiệm và thành tựu xã hội mà
bộ phận nữ giới đó đạt được trong quá khứ và khả năng đạt được trong tương lai
2.1.1.2 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học đó là sự phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, là quá trình tìm và sáng tạo ra phương pháp mới với phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục đích hoạt động sống, tồn tại và phát triển của con người
Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi, sáng tạo và phát hiện ra cái mới, những quy luật và bản chất của sự vật, hiện tượng, những phương tiện
và kỹ thuật mới để phục vụ cho nhu cầu của xã hội, của con người
2.1.1.3 NNL nữ nghiên cứu khoa học
NNL nữ nghiên cứu khoa học là một khái niệm dùng để chỉ bộ phận những phụ nữ đang hoạt động, công tác trong lĩnh vực khoa học, nhằm tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp
và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn
Trang 92.1.2 Phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học
Phát triển nhân lực nữ nghiên cứu khoa học là tổng thể các chính sách, hình thức và biện pháp nhằm nâng cao về số lượng và chất lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tạo sự bình đẳng giới để đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước
2.1.3 Đặc điểm của NNL nữ nghiên cứu khoa học: Là nguồn lực lao
động có chất lượng cao.Đối tượng lao động của NNL nữ nghiên cứu khoa học là những kiến thức, tri thức mới, sự vật, hiện tượng, quy luật mới Phương thức và phương pháp lao động của NNL nữ nghiên cứu khoa học cũng có sự khác biệt rất lớn đối với các phương thức, phương pháp lao động của các lĩnh vực khác Hình thức lao động của NNL nữ nghiên cứu khoa học cũng rất phong phú, đa dạng.Sản phẩm hoạt động của NNL nữ nghiên cứu khoa học không có thời gian cụ thể.Thời gian lao động của đội ngũ cán bộ nữ NCKH không xác định được cụ thể, có thể trong giờ hành chính nhưng cũng có thể ngoài giờ hành chính vì điều này phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu khoa học Do các hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng, phong phú nên phạm vi hoạt động NCKH cũng rất đa dạng, phong phú, nhiều hoạt động NCKH đòi hỏi chuyên gia, nhà nghiên cứu phải có sự kiên trì, dũng cảm và đức hy sinh.Khác biệt với NNL nam nghiên cứu khoa học, NNL nữ nghiên cứu khoa học ngoài nhiệm
vụ về hoạt động nghiên cứu thì họ phải thực hiện thiên chức làm mẹ, làm
vợ, việc thực hiện thiên chức này người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới trong cuộc sống, cũng như cơ hội thăng tiến ở cơ quan
nghiên cứu
2.2 Sự cần thiết QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
2.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN về phát triển NNL nữ NCKH
Khái niệm quản lý nhà nước
Theo các nhà nghiên cứu quản lý hành chính nhà nước: “QLNN là sự
tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.”
QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Có thể hiểu một cách ngắn gọn, QLNNvề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học là sự tác động có tổ chức, có mục đích và bằng quyền lực và pháp luật của nhà nước nhằm định hướng sự phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học, khai thác và sử dụng có hiệu quả NNL nữ nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước
2.2.2 Tính cấp thiết của việc QLNN về phát triển NNL nữ NCKH
Trang 10NNL nữ nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọng: Là nguồn lao
động xã hội, đây là NNL lao động nữ có chất lượng cao của xã hội; Là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng những luận cứ khoa học, là những căn
cứ quan trọng cho các ngành và chính quyền các cấp xây dựng những chủ
vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng tạo NNL nghiên cứu khoa học cho đất nước trong tương lai NNL nữ nghiên cứu khoa học còn có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo chuyên môn, hướng dẫn nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên, trợ lý nghiên cứu, cộng tác viên tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học; Tham gia nghiên cứu tìm hiểu các quy luật vận động của tự nhiên và
xã hội, cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới khoa học và công nghệ NNL nữ nghiên cứu khoa học tham gia vào các hoạt động chủ trì các hoạt động nghiên cứu khoa học; Tham gia vào các công tác đoàn thể, công tác xã hội; Tham gia vào công tác cán bộ, các hoạt động tuyển dụng, bố trí, điều động, luân chuyển, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ
2.2.3 Nội dung QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Tiếp cận dưới khía cạnh khoa học quản lý công, QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học bao gồm các nội dung:Xây dựng các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chính sách, chương trình, dự án về đối phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học;Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học;Tổ chức bộ máy QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học;Tuyển dụng, đào tạo, sử dụng NNL nữ nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học;Thanh tra, kiểm soát, tổng kết, đánh giá hoạt động phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
2.3.1 Những yếu tố chủ quan
2.3.2 Những yếu tố khách quan
2.4 Kinh nghiệm thế giới QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
2.4.1 Kinh nghiệm thế giới QLNN về phát triển NNL nữ NCKH
Khái quát hóa về kinh nghiệm phát triển NNL của một số quốc gia
đã rất thành công trong phát triển NNL nói chung và NNL nữ có chất lượng cao, là những bài học quý cho sự phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam Các quốc gia đó là: Mỹ , Nhật Bản, Trung Quốc
2.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam: Cần xác định rõ mục tiêu cụ
thể trong phát triển NNL nữ khoa học trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể; Xây dựng khung thể chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và hỗ trợ cho người phụ nữ khi tham gia lao động đặc biệt là lao động khoa học; Đổi mới giáo dục và đào tạo toàn diện, tập trung vào việc đổi mới giáo dục đại học; Tuyển chọn và tuyển dụng nhân tài công bằng; Xây dựng chính sách sử dụng và đãi ngộ đối với tài năng khoa học; Tạo môi trường nghiên cứu khoa học hiện đại, dân chủ; Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của người phụ nữ; Quản lý tốt sự phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Trang 11CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁTTRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NCKH Ở VIỆT NAM
3.1 Khái quát về NNL nghiên cứu khoa học và NNL nữ NCKH
3.1.1 Thực trạng NNL nghiên cứu khoa học
Về quy mô và số lượng NNL nghiên cứu khoa học
Theo số liệu của các cuộc điều tra, nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ những năm gần đây cho thấy, năm 2015, cả nước có 164.744 người tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học (hay còn được gọi là nghiên cứu phát triển) Đây là toàn bộ số người tham gia nghiên cứu khoa học bào gồm cả tham gia nghiên cứu toàn bộ thời gian và bán thời gian
Về chất lượng NNL nghiên cứu khoa học
Kết quả điều tra cho thấy, tính đến hết năm 2015 hiện cả nước có 128.997 người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học có trình độ từ cao đẳng trở lên Trong đó tiến sĩ là 12.261 người; thạc sĩ có 45.223 người; đại học có 66.684 người và cao đăng có 4.827 người
3.1.2 Thực trạng NNL nữ nghiên cứu khoa học
Về quy mô, số lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết năm 2014, tổng số NNL nữ nghiên cứu khoa học trên phạm vi cả nước là 73.700 người, trong
đó khu vực nhà nước có 61.862 người chiếm đại đa số 83,94% tổng số NNL nữ nghiên cứu khoa học; số lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học ngoài khu vực nhà nước có 9.772 người và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 2.066 người Nếu so với tổng số NNL nghiên cứu khoa học của cả nước thì NNL nữ nghiên cứu khoa học còn khá thấp chiếm tỷ lệ 44,74%
Bảng 3.4: Thống kê về quy mô, số lượng NNL nữ NCKH theo khu vực kinh tế và theo chức năng làm việc
Thành phần kinh tế
Tổng nhân lực nghiên cứu
Chia theo chức năng làm việc
Cán bộ nghiên cứu
Cán bộ
kỹ thuật
Nguồn: Tổng hợp từ Điều tra NC&PT 2014 và Điều tra doanh nghiệp 2014
Nghiên cứu NNL nữ nghiên cứu khoa học theo chức năng làm việc cho thấy tổng số NNL nữ trực tiếp làm nhiệm vụ nghiên cứu có 56.846
Trang 12người, chiếm tỷ lệ 77,13%; NNL nữ là cán bộ kỹ thuật có 5.033 người, chiếm tỷ lệ 6,83%; NNL nữ làm nhiệm vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học có 8.412 người, chiếm tỷ lệ 11,41% và NNL làm những nhiệm vụ khác là
3.068 người, chiếm tỷ lệ 4,63%
Về chất lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu về chất lượng NNL nữ trực tiếp làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho thấy số lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học có trình độ tiến
sĩ là 3.667 người, chiếm tỷ lệ 6,46 %; số lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học có trình độ thạc sĩ là 23.503 người, chiếm tỷ lệ 41,36 %; số lượng NNL
nữ nghiên cứu khoa học có trình độ đại học chiếm đại đa số với 27.672 người, tỷ lệ là 48,71 %; còn lại là trình độ cao đẳng với 2.004 người, chiếm
Cao đẳng
Nguồn: Tổng hợp từ Điều tra NC&PT 2014 và Điều tra doanh nghiệp 2014
Nghiên cứu Bảng 3.6 cho thấy, NNL nữ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao tập trung chủ yếu ở khu vực đại học với 2,632 người có trình độ tiến sĩ và 17.737 người có trình độ thạc sĩ; các viện, trung tâm nghiên cứu
có 647 tiến sĩ và 3.022 thạc sĩ; các đơn vị sự nghiệp khác có 165 tiến sĩ và 1.196 có trình độ thạc sĩ Còn lại ở các khu vực khác NNL nữ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao rất ít, chưa đến 100 người có trình độ tiến sĩ trên phạm vi cả nước
Kết quả khảo sát về quy mô số lượng và chất lượng của NNL nữ nghiên cứu khoa học cho thấy các nhóm khách thể được khảo sát đã đánh giá khá tương đồng nhau, các khách thể tham gia khảo sát đều nhận định
Trang 13NNL nữ nghiên cứu khoa học tuy đông đảo về số lượng nhưng chưa đảm bảo về chất lượng, thể hiện có 18/30 số ý kiến CBQL khẳng định NNL nữ nghiên cứu khoa học đông đảo về số lượng, nhưng chưa đảm bảo về chất lượng, chiếm tỷ lệ 60%; trong khi đó cũng nội dung này, có 118/270 số ý kiến nữ cán bộ NCKH đồng ý, chiếm tỷ lệ 43,7% Chung cả hai nhóm đối tượng khảo sát là 136 ý kiến, chiếm tỷ lệ 68,0%
Về thực trạng cơ cấu NNL nữ nghiên cứu khoa học, kết quả khảo sát đều khẳng định NNL nữ nghiên cứu khoa học tập trung đông ở khu vực nhà nước, số lượng nữ cán bộ NCKH ở khu vực ngoài khu vực nhà nước và
ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn mỏng, kết quả khảo sát cũng đã phản ánh đúng thực trạng điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ, đây thực sự là vấn đề cần quan tâm trong việc phát triển NNL nghiên cứu khoa học nói chung và phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học nói riêng
3.2 Thực trạng thực hiện các nội dung QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
3.2.1 Thực trạng việc xây dựng các kế hoạch, chiến lược, quy hoạch phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu về thực trạng số lượng và chất lượng của các chiến lược,
kế hoạch, quy hoạch phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học cho thấy: phần lớn các ý kiến khảo sát đều cho rằng hiện nước ta chưa có đầy đủ các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học, thể hiện có 59% số ý kiến được hỏi cho là các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học chưa đầy đủ, và chưa đảm bảo về chất lượng, trong đó nhóm khách thể CBQL đánh giá là 53%, nhóm khách thể nữ cán bộ NCKH đánh giá là 59,63% Kết quả khảo sát này cũng phù hợp với thực tiễn hiện này, mặc dù chúng ta có nhiều chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển NNL, nhưng hầu hết chỉ là những kế hoạch, quy hoạch mang tính tổng thể của cả nước cho phát triển NNL đất nước, NNL khoa học và công nghệ Bên cạnh đó, những chiến lược, kế hoạch này mang tính chất định hướng chung cho cả phát triển NNL nghiên cứu khoa học nam và nữ Một số bộ, ngành và một số địa phương có xây dựng chiến lược phát triển NNL nữ nhưng hầu hết là lồng ghép với những chiến lược,
kế hoạch phát triển của bộ, ngành và của địa phương, kế hoạch phát triển NNL nữ đưocự đề cập trong các văn bản này còn mờ nhạt, không cụ thể, rõ ràng, không có giải pháp thực hiện cụ thể và cũng không có nguồn lực để thực hiện Chất lượng quy hoạch, kế hoạch phát triển NNL cũng còn nhiều nội dung cần phải xem xét, đặc biệt là mục tiêu, chỉ tiêu và nguồn lực thực hiện mục tiêu của chiến lược, quy hoạch
3.2.2 Thực trạng công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học
Nhìn nhận và đánh giá về thực trạng thể chế pháp luật về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học cho thấy trong những năm gần đây, đặc biệt