1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực có vai trò quan trọng nhất của một quốc gia. Đây là nguồn tài nguyên quý nhất, có giá trị nhất và là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa, xã hội bền vững. Vì vậy, việc xây dựng, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực (NNL), đặc biệt là NNL có chất lượng cao là mối quan tâm của mọi nhà nước trên thế giới, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kỷ nguyên kỹ thuật số. Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người của một quốc gia bao gồm những người lao động làm việc trong tất cả các ngành, các lĩnh vực xã hội khác nhau, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu phát triển (nghiên cứu khoa học). NNL nghiên cứu khoa học là tập hợp đội ngũ các nhà khoa học tham gia vào hoạt động sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện ra những quy luật của tự nhiên, của xã hội; tìm tòi, phát minh, sáng chế ra những phương tiện, máy móc để từng bước làm thay đổi cuộc sống con người, cải thiện lao động, cải thiện đời sống của loài người. Sản phẩm khoa học và công nghệ được tạo ra bởi NNL khoa học. Vì vậy, nói đến khoa học và công nghệ không thể không đề cập đến NNL khoa học và công nghệ, trong đó, quan trọng nhất là NNL nghiên cứu khoa học. Có thể khẳng định những công nghệ hay các máy móc, phương tiện công cụ lao động sản xuất mới đều được hình thành từ kết quả lao động sáng tạo của những người làm công tác khoa học. Xã hội loài người đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, điều này ngày càng đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với NNL nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam, phát triển khoa học và công nghệ được Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đặc biệt quan tâm với hàng loại các chủ trương, chính sách được xây dựng và tổ chức thực hiện. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định:“Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[5]. Với sự quan tâm của Đảng ủy các cấp, sự quản lý của các cơ quan nhà nước NNL nghiên cứu khoa học nói chung, NNL nữ nghiên cứu khoa học nói riêng đã có sự phát triển nhanh cả về mặt số lượng và chất lượng, đã đáp ứng được một phần nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày một cao của xã hội thì NNL nữ nghiên cứu khoa học (NCKH) của Việt Nam còn hạn chế: yếu và thiếu về chuyên môn nghiệp vụ NCKH; đội ngũ cán bộ nữ NCKH còn thiếu chuyên gia đầu ngành giỏi; cơ cấu nhân lực khoa học theo ngành nghề và lãnh thổ còn mất cân đối. Ở nhiều tổ chức NCKH, đội ngũ nữ chuyên gia đầu ngành ngày một ít đi do thiếu nguồn kế cận. Những nhà khoa học nữ có trình độ chuyên môn cao, có những công trình đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới còn khiêm tốn hơn các nước trong khu vực và thế giới. Trình độ, kỹ năng ngoại ngữ, tin học ở nhiều nhà khoa học nữ, kể cả ở nhiều người có chức danh giáo sư và phó giáo sư, còn hạn chế. Trong thời gian qua, trên quy mô toàn cầu, ở nhiều quốc gia, việc phát triển NNL nữ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên mọi phương diện: trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động của xã hội; trong gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nam giới để phát triển và khẳng định bản thân. Những thập kỷ gần đây, hiện tượng cần ghi nhận ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới, số lượng phụ nữ nắm giữ các chức vụ chính quyền cấp cao, kể cả cấp cao nhất và bộ phận NNL nữ nghiên cứu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau tăng lên rõ rệt như Thụy Điển “phụ nữ Thụy Điển có tất cả các quyền bình đẳng tuyệt đối như nam giới, từ giáo dục cho đến các quyền thừa kế tài sản. Hiện có ½ phụ nữ tham gia lãnh đạo trong nghị viện, chính phủ và ban lãnh đạo các địa phương” [58,tr.107]. Thực tế chứng minh, NNL nữ không thua kém nam giới, xét trên phương diện trí tuệ, năng lực và những phẩm chất khác. Như vậy, việc phát triển NNL nữ, đặc biệt NNL nữ nghiên cứu khoa học là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay. Bởi nếu không ta sẽ đánh mất đi một nửa sức mạnh của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội. Đất nước đã trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có những đường lối, chủ trương, chính sách phát triển và sử dụng sức mạnh to lớn của NNL nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, để phát triển được NNL nữ nghiên cứu khoa học trong điều kiện hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn: khắc phục hậu quả chiến tranh; điều kiện xuất phát của đất nước vốn đã lạc hậu; tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” của Nho giáo nên vấn đề phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học là một nội dung quan trọng cần được quan tâm, nghiên cứu. Hiện nay, những cơ hội và thử thách đã và đang đặt ra hơn bao giờ hết, mọi tiềm năng quốc gia phải được khai thác hợp lý, trong đó có NNL nữ, đặc biệt là NNL nữ nghiên cứu khoa học. Đất nước ta đã có những chủ trương, chính sách, pháp luật để đạt được sự bình đẳng giới và phụ nữ đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của đất nước. Song, thực tế số cán bộ nữ tham gia hoạt động NCKH đạt hiệu quả cao còn ít. Sự bình đẳng trong hoạt động NCKH giữa nam và nữ còn một khoảng cách khá xa. Điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp bộ trở lên năm 2010 chiếm khoảng 10% trong tổng số đề tài từ cấp bộ trở lên của khoa học và công nghệ, trong đó phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước chỉ chiếm 0,2% [169]. Số liệu thống kê của UNESCO và tổ chức L’OREAL trong chương trình “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học” cho thấy, trên thế giới chỉ có 30% số sinh viên theo học các ngành khoa học là nữ giới; các nhà khoa học là nữ chỉ chiếm khoảng 25% tổng số các nhà khoa học toàn cầu và chỉ có 2,9% chủ nhân các giải Nobel là các nhà khoa học nữ. Vậy tại sao lại có sự mất cần đối trong hoạt động NCKH giữa hai giới như vậy? Và làm thế nào để khắc phục thực trạng trên, khơi dậy sức mạnh của phụ nữ trong NCKH? Đây thực sự là một bài toán đã và đang đặt ra cần phải giải quyết trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, cụ thể hơn là vấn đề bình đẳng giới trong hoạt động nghiên cứu khoa học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Xuất phát từ những lý do trên và từ vị trí công tác của bản thân nên tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam” để làm luận án Tiến sĩ nhằm giải quyết những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án có mục đích nghiên cứu là những cơ sở lý luận quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học; nghiên cứu thực trạng thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KIỀU QUỲNH ANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục đích nghiên cứu 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu: 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp luận 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án 7
6.1 Câu hỏi nghiên cứu của luận án 7
6.2 Giả thuyết khoa học của luận án 8
6 Đóng góp mới của luận án 8
6.1 Về lý luận 8
6.2 Về thực tiễn 8
7 Ý nghĩa của Luận án 9
8 Cấu trúc của Luận án 9
CHƯƠNG 1 11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 11
1.1.Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 11
1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực 11
1.1.2 Những công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 20
1.2 Nhận xét về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án 24
1.2.1 Những kết quả đạt được 24
1.2.2 Những khía cạnh, nội dung cần tiếp tục nghiên cứu 25
Trang 3Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2 28
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 28
2.1 Nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 28
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 28
2.1.1.1 Nguồn nhân lực nữ 28
2.1.1.2 Nghiên cứu khoa học 30
2.1.1.3 Nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 32
2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 34
2.1.3 Đặc điểm của nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 35
2.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học……… 37
2.2.1 Khái niệm & đặc điểm QLNN về phát triển NNL nữ NCKH……… …37
2.2.2 Tính cấp thiết của việc quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 40
2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 42 2.2.3.1 Xây dựng các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, chính sách, chương trình, dự án về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 43
2.2.3.2 Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 45
2.2.3.3 QLNN về tổ chức thực hiện tuyển dụng, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 46
2.2.3.4 Kiểm tra, kiểm soát, tổng kết, đánh giá việc tổ chức, quản lý NNL nữ NCKH 51
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 52
2.3.1 Những yếu tố chủ quan 52
2.3.2 Những yếu tố khách quan 55
2.4 Kinh nghiệm thế giới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 57
2.4.1 Kinh nghiệm thế giới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 57
2.4.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ 58
2.4.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 64
Trang 42.4.1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 67
2.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 72
Kết luận chương 2 79
CHƯƠNG 3 81
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở VIỆT NAM 81
3.1 Khái quát về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học và nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 81
3.1.1 Thực trạng nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học 81
3.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 84
3.2 Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam 89
3.2.1 Thực trạng việc xây dựng các kế hoạch, chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 89
3.2.2 Thực trạng công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 93
3.2.3 Thực trạng về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 96
3.2.4 Thực trạng việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, tôn vinh nguồn nhân lực nữ NCKH và hợp tác quốc tế về phát triển NNL nữ NCKH 102
3.2.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ nghiên cứu khoa học 116
3.3 Đánh giá thực trạng của quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam 120
3.3.1 Ưu điểm 120
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 122
3.3.2.1 Hạn chế 122
3.3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 124
Kết luận Chương 3 126
CHƯƠNG 4 128
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở VIỆT NAM 128
4.1 Quan điểm và định hướng về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 128
Trang 54.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu
khoa học 136
4.2.1 Hoàn thiện xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 136
4.2.2 Hoàn thiện thể chế pháp luật, chính sách về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 138
4.2.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về phát triển NNL nữ NCKH 143
4.2.4 Đổi mới QLNN về thực hiện một số hoạt động nhằm phát triển NNL nữ NCKH 144
4.2.5 Thanh tra, kiểm tra, giám sát thực thi các chính sách về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học 157
Kết luận Chương 4 159
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………160
1 Kết luận 160
2 Kiến nghị 163
2.1 Đối với Chính phủ 163
2.2 Đối với Bộ Khoa học và Công nghệ 163
2.3 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 164
2.4 Đối với các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học 164
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
PHỤ LỤC 180
PHỤ LỤC 1 180
PHỤ LỤC 2 185
PHỤ LỤC 3 192
PHỤ LỤC 4 196
PHỤ LỤC 5 201
Trang 6DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á (The Asian Development Bank)
2 CBQL Cán bộ quản lý
3 CBQLKH Cán bộ quản lý khoa học
4 HĐND Hội đồng nhân dân
5 NCKH Nghiên cứu khoa học
6 NNL Nguồn nhân lực
7 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for
Economic Co-operation and Development)
8 QLNN Quản lý nhà nước
9 UBND Ủy ban nhân dân
10 UNESCO Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
11 UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations
Development Programme)
12 VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
13 WB Ngân hàng thế giới (World Bank)
14 XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê NNL nghiên cứu khoa học theo loại hình kinh tế & vị trí hoạt động……….………… ……….… 81 Bảng 3.2.Thống kê NNL nghiên cứu khoa học theo khu vực và vị trí hoạt động 82 Bảng 3.3.Thống kê về chất lượng NNL nghiên cứu khoa học theo trình độ và theo khu vực công tác ……….…….… 83 Bảng 3.4 Thống kê về quy mô, số lượng NNL nữ NCKH theo khu vực kinh tế & theo chức năng làm việc……… ……….………85 Bảng 3.5 Thống kê về chất lượng NNL nữ NCKH theo khu vực kinh tế & theo trình độ chuyên môn……….………86 Bảng 3.6 Thống kê chất lượng NNL nữ NCKH theo khu vực hoạt động KH & theo trình độ chuyên môn……… ……….…… 87 Bảng 3.7 Kết quả khảo sát về quy mô & chất lượng NNL nữ NCKH….……… 88 Bảng 3.8 Kết quả khảo sát về số lượng & chất lượng của các kế hoạch chiến lược, quy hoạch phát triển NNL nữ NCKH……… ……….92 Bảng 3.9 Kết quả khảo sát thực tiễn về thực trạng thể chế pháp luật về phát triển NNL nữ NCKH ……… … 95 Bảng 3.10 Bậc lương & hệ số lương của các nhà KH ……….………106 Bảng 3.11 Kết quả khảo sát về thực trạng việc thực hiện đào tạo& bồi dưỡng NNL
nữ NCKH……….………… …110 Bảng 3.12 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra & xử lý những khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực phát triển NNL nữ NCKH……… 119 Bảng 4.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải đổi mới hoạt động đào tạo & bồi dưỡng NNL nữ NCKH……….……….144 Bảng 4.2 Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các nội dung hợp tác quốc tế trong phát triển NNL nữ NCKH……… ………156 Bảng 4.3 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển NNL nữ NCKH.……….…157
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thống kê về số lượng NNL nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực NCKH 84 Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo sát về chính sách tôn vinh đội ngũ các nhà khoa học nữ 112 Biểu đồ 4.1 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải hoàn thiện thể chế pháp luật liên quan đến phát triển NNL nữ NCKH……….139 Biểu đồ 4.2 Kết quả khảo sát về tính cần thiết phải cải cách hành chính trong hoạt động NCKH……….….152
Trang 9Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người của một quốc gia bao gồm những người lao động làm việc trong tất cả các ngành, các lĩnh vực xã hội khác nhau, trong
đó có lĩnh vực nghiên cứu phát triển (nghiên cứu khoa học) NNL nghiên cứu khoa học là tập hợp đội ngũ các nhà khoa học tham gia vào hoạt động sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện ra những quy luật của tự nhiên, của xã hội; tìm tòi, phát minh, sáng chế ra những phương tiện, máy móc để từng bước làm thay đổi cuộc sống con người, cải thiện lao động, cải thiện đời sống của loài người Sản phẩm khoa học và công nghệ được tạo ra bởi NNL khoa học Vì vậy, nói đến khoa học và công nghệ không thể không đề cập đến NNL khoa học và công nghệ, trong đó, quan trọng nhất là NNL nghiên cứu khoa học Có thể khẳng định những công nghệ hay các máy móc, phương tiện công cụ lao động sản xuất mới đều được hình thành từ kết quả lao động sáng tạo của những người làm công tác khoa học
Xã hội loài người đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, điều này ngày càng đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với NNL nghiên cứu khoa học Ở Việt Nam, phát triển khoa học và công nghệ được Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đặc biệt quan tâm với hàng loại các chủ trương, chính sách được xây dựng và tổ chức thực hiện Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định:“Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững”[5] Với sự quan tâm của Đảng ủy các cấp, sự
quản lý của các cơ quan nhà nước NNL nghiên cứu khoa học nói chung, NNL nữ nghiên cứu khoa học nói riêng đã có sự phát triển nhanh cả về mặt số lượng và chất lượng, đã đáp ứng được một phần nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn công
Trang 102
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu ngày một cao của xã hội thì NNL nữ nghiên cứu khoa học (NCKH) của Việt Nam còn hạn chế: yếu và thiếu về chuyên môn nghiệp vụ NCKH; đội ngũ cán bộ nữ NCKH còn thiếu chuyên gia đầu ngành giỏi; cơ cấu nhân lực khoa học theo ngành nghề và lãnh thổ còn mất cân đối Ở nhiều tổ chức NCKH, đội ngũ nữ chuyên gia đầu ngành ngày một ít đi do thiếu nguồn kế cận Những nhà khoa học nữ có trình độ chuyên môn cao, có những công trình đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới còn khiêm tốn hơn các nước trong khu vực và thế giới Trình độ, kỹ năng ngoại ngữ, tin học ở nhiều nhà khoa học nữ, kể cả ở nhiều người có chức danh giáo sư và phó giáo sư, còn hạn chế
Trong thời gian qua, trên quy mô toàn cầu, ở nhiều quốc gia, việc phát triển NNL nữ đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên mọi phương diện: trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động của xã hội; trong gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nam giới để phát triển và khẳng định bản thân Những thập kỷ gần đây, hiện tượng cần ghi nhận ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới, số lượng phụ nữ nắm giữ các chức vụ chính quyền cấp cao, kể cả cấp cao nhất và bộ phận NNL nữ nghiên
cứu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau tăng lên rõ rệt như Thụy Điển “phụ nữ Thụy
Điển có tất cả các quyền bình đẳng tuyệt đối như nam giới, từ giáo dục cho đến các quyền thừa kế tài sản Hiện có ½ phụ nữ tham gia lãnh đạo trong nghị viện, chính phủ
và ban lãnh đạo các địa phương” [58,tr.107] Thực tế chứng minh, NNL nữ không
thua kém nam giới, xét trên phương diện trí tuệ, năng lực và những phẩm chất khác Như vậy, việc phát triển NNL nữ, đặc biệt NNL nữ nghiên cứu khoa học là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay Bởi nếu không ta sẽ đánh mất đi một nửa sức mạnh của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội
Đất nước đã trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có những đường lối, chủ trương, chính sách phát triển và sử dụng sức mạnh
to lớn của NNL nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, để phát triển được NNL nữ nghiên cứu khoa học trong điều kiện hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn: khắc phục hậu quả chiến tranh; điều kiện xuất phát của đất nước vốn
Trang 113
đã lạc hậu; tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” của Nho giáo nên vấn đề phát triển NNL
nữ nghiên cứu khoa học là một nội dung quan trọng cần được quan tâm, nghiên cứu Hiện nay, những cơ hội và thử thách đã và đang đặt ra hơn bao giờ hết, mọi tiềm năng quốc gia phải được khai thác hợp lý, trong đó có NNL nữ, đặc biệt là NNL nữ nghiên cứu khoa học
Đất nước ta đã có những chủ trương, chính sách, pháp luật để đạt được sự bình đẳng giới và phụ nữ đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của đất nước Song, thực tế số cán bộ nữ tham gia hoạt động NCKH đạt hiệu quả cao còn ít
Sự bình đẳng trong hoạt động NCKH giữa nam và nữ còn một khoảng cách khá xa Điều tra của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp bộ trở lên năm 2010 chiếm khoảng 10% trong tổng số đề tài từ cấp bộ trở lên của khoa học và công nghệ, trong đó phụ nữ làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước chỉ chiếm 0,2% [169] Số liệu thống kê của UNESCO và tổ chức L’OREAL trong
chương trình “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học” cho thấy, trên thế giới chỉ có
30% số sinh viên theo học các ngành khoa học là nữ giới; các nhà khoa học là nữ chỉ chiếm khoảng 25% tổng số các nhà khoa học toàn cầu và chỉ có 2,9% chủ nhân các giải Nobel là các nhà khoa học nữ Vậy tại sao lại có sự mất cần đối trong hoạt động NCKH giữa hai giới như vậy? Và làm thế nào để khắc phục thực trạng trên, khơi dậy sức mạnh của phụ nữ trong NCKH? Đây thực sự là một bài toán đã và đang đặt ra cần phải giải quyết trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, cụ thể hơn là vấn đề bình đẳng giới trong hoạt động nghiên cứu khoa học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên và từ vị trí công tác của bản thân nên tác giả đã
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam” để làm luận án Tiến sĩ nhằm giải quyết những vấn đề có tính lý
luận cũng như thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích nghiên cứu là những cơ sở lý luận quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học; nghiên cứu thực trạng thực
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan những tài liệu, dữ liệu, số liệu thống kê,
những công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài luận án Trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét, đánh giá
về những kết quả đạt được, những khía cạnh chưa được nghiên cứu sâu của các học giả đi trước, kế thừa những giá trị tích cực của các công trình nghiên cứu trước và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu thêm
Thứ hai, nghiên cứu và hệ thống hóa những cơ sở lý luận về QLNN về phát
triển NNL nữ nghiên cứu khoa học gồm: những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài; phân tích tầm quan trọng, nội dung, nguyên tắc và những yếu tố tác động chủ yếu tới việc phát triển NNLN nghiên cứu khoa học
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng về NNL nữ nghiên cứu khoa học; thực trạng quản
lý phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở nước ta, qua đó đưa ra những đánh giá về kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại
và hạn chế trong công tác QLNN về NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Thứ tư, nghiên cứu những quan điểm của Đảng, chủ trương của nhà nước về
phát triển NNL nữ, qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNLN nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Luận án có đối tượng nghiên cứu là thực trạng thực hiện các nội dung QLNN
về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam (các biện pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học), qua đó đề xuất phương hướng hoàn thiện hệ thống những giải pháp QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 135
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu các nội dung QLNN về phát triển NNL
nữ nghiên cứu khoa học
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN về phát triển
NNL nữ nghiên cứu khoa học từ năm 2010 đến nay
- Về không gian: Nghiên cứu phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học tại các
cơ sở nghiên cứu khoa học công lậptrên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
Thực tiễn hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta khá đa dạng và phong phú ở nhiều cơ quan, tổ chức: các viện, cơ quan nghiên cứu của các Ban Đảng; các viện nghiên cứu thuộc Bộ, ngành; các trường đại học, cao đẳng; các viện nghiên cứu thuộc các cơ quan thuộc chính phủ; các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp; các cơ quan nghiên cứu ở địa phương; các tổ chức chính trị - xã hội…
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên những cở sở của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, NNL nghiên cứu khoa học, vai trò của phụ nữ, giải phóng phụ
nữ và những nghiên cứu về lao động nữ đã có
Luận án kết hợp lý thuyết về hành chính và phát triển theo quan điểm lý luận - thực tiễn, hệ thống - phát triển trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các ngành khoa học chính trị, xã hội và nhân văn Ngoài ra, tác giả còn gắn với thực tiễn dựa trên kết quả điều tra nghiên cứu về phát triển NNL tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
5.2.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu
lý thuyết về phát triển, chính sách phát triển, NNL, NNL nghiên cứu; các văn bản nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; báo cáo kết quả thực hiện các chương trình, dự án chính sách có liên quan
- Phương pháp chuyên gia: tác giả trực tiếp trao đổi, phỏng vấn và thảo luận với các nhà quản lý trong lĩnh vực hành chính, chính sách phát triển và các nhà
Trang 146
khoa học nghiên cứu về khoa học xã hội Nghiên cứu sinh đã trao đổi, phỏng vấn, xin ý kiến 06 chuyên gia về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến luận án: nội dung của quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực mà cụ thể là nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học; chính sách phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay; kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia trên thế giới…
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: sử dụng bảng hỏi lấy ý kiến đánh giá của 30 cán bộ quản lý khoa học (công chức), 270 nữ nghiên cứu viên ở 10 tổ chức, đơn vị NCKH, trong đó có 3 viện nghiên cứu và 7 trường đại học để tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về NNL nữ nghiên cứu khoa học
Địa bàn khảo sát: tiếp cận theo 3 vùng trung tâm nghiên cứu, đào tạo lớn của đất nước: Bắc, Trung, Nam, lựa chọn bằng phương pháp phi xác suất với 3 thành phố: Hà Nội; Đà Nẵng, Huế và TP Hồ Chí Minh Số lượng các viện, trung tâm nghiên cứu khảo sát xác định là 10 đơn vị, đơn vị khảo sát được lựa chọn theo phương pháp chuyên gia, bao gồm: Thành phố Hà Nội: khảo sát 2 viện nghiên cứu
và 3 trường đại học; TP Hồ Chí Minh: khảo sát 1 viện nghiên cứu và 2 trường đại học; TP Đà Nẵng khảo sát 01 trường đại học; Thừa Thiên Huế: 01 trường Đại học
Cụ thể:
Địa
phương Đơn vị khảo sát Số lượng phiếu
Thời gian thực hiện
Kết quả
Tháng 11/2016 30/30 Viện Hóa học
Viện địa chất
(Viện Hàn lâm KH&CNVN)
30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 12/2016 30/30 Viện Việt Nam học
Viện Khoa học, PT
(Đại học Quốc gia HN)
30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 3/2017 30/30 Trung tâm Hán Nôm; TT
Đa dạng sinh học
(Đại Học Sư phạm HN)
30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 3/2017 30/30 Viện Chính sách công và 30 (3 CBQLKH và Tháng 30/30
Trang 157
quản lý (Đại học Kinh tế
Quốc dân)
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 5/2017 30/30
Đại học Luật TP HCM 30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 5/2017 30/30 Viện Hợp tác, Nghiên cứu
và đào tạo quốc tế
(ĐH Tôn Đức Thắng)
30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 5/2017 30/30
Tháng 4/2017 30/30
Huế Viện Công nghệ sinh học
(Đại học Huế)
30 (3 CBQLKH và
27 nữ cán bộ NCKH)
Tháng 4/2017 30/30
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Luận án sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá sau:
+ Phương pháp phân tích, thống kê: chủ yếu là thống kê mô tả, thống kê so sánh Sử dụng các chỉ tiêu thống kê đánh giá chính sách Các bảng số liệu, biểu đồ
+ Phương pháp đánh giá hệ thống chính sách: dựa trên các tiêu chí cụ thể như tính đồng bộ, tính hiệu lực – hiệu quả, tính kết nối và tương tác, tính phù hợp và công bằng
Ngoài ra luận án còn sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu tình huống, phân tích tác động của chính sách, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp liên ngành của xã hội học và khoa học về giới
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án
6.1 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án là: Hoạt động QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay đang được thực hiện thế nào? Cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam trong giai đoạn kế tiếp?
Trang 168
Câu hỏi nghiên cứu phụ: Những ưu điểm và hạn chế trong QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học hiện nay? Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam?
6.2 Giả thuyết khoa học của luận án
Luận án có giả thuyết nghiên cứu là thực trạng hoạt động QLNN trong việc phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam đã đạt những kết quả nhất định, tuy nhiên còn những hạn chế; chất lượng NNL nữ nghiên cứu khoa học còn chưa cao, số lượng các nhà khoa học nữ đạt các giải thưởng sáng tạo trong nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và quốc tế chưa nhiều, chất lượng NNL nữ chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nếu nghiên cứu, tìm hiểu và chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong việc phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học thì sẽ xây dựng được một hệ thống các giải pháp QLNN phù hợp khắc phục những tồn tại và hoàn thiện một số chính sách phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học thì sẽ có được đội ngũ các nhà khoa học nữ đông đảo về số lượng, mạnh về chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế
7 Đóng góp mới của luận án
7.1 Về lý luận
Luận án sẽ góp phần làm sâu sắc hơn những cơ sở lý luận QLNN về NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam Nghiên cứu và làm sáng tỏ nội hàm của QLNN đối với phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học bao gồm: các khái niệm liên quan, chủ thể và đối tượng quản lý NNL nữ nghiên cứu khoa học; các nội dung QLNN về NNL nữ nghiên cứu khoa học và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay
7.2 Về thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu thứ cấp và thực tiễn tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn sâu các chuyên gia về thực trạng NNL nữ nghiên cứu khoa học, luận án sẽ cung cấp đầy đủ các số liệu, dữ liệu về tình hình đội ngũ cán bộ nữ NCKH ở Việt Nam Những điểm mạnh và hạn chế của đội ngũ cán bộ nữ NCKH ở Việt Nam hiện nay
Trang 17Dựa trên những cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra nghiên cứu thực tiễn; trên
cơ sở nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Đảng, định hướng phát triển NNL của nhà nước và những xu thế phát triển NNL xã hội quốc tế hiện nay, luận án đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nữ, góp phần nâng cao chất lượng NNL của đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
8 Ý nghĩa của Luận án
Việc nghiên cứu thành công luận án sẽ làm rõ hơn lý luận và thực tiễn QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam; trên cơ sở tổng hợp,
hệ thống hóa các văn bản pháp luật về giới, nhân lực nghiên cứu khoa học, nhân lực
nữ nghiên cứu khoa học để thấy được thực trạng những ưu điểm, hạn chế và bất cập, chỉ ra được nguyên nhân chủ quan và khách quan để đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học Luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển NNL nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng NNL xã hội phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách để xây dựng và thực hiện chính sách phát triển NNL nghiên cứu khoa học nói chung và phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hệ thống lý luận và thực tiễn của luận
án cũng có ý nghĩa thiết thực trong nghiên cứu giảng dạy chuyên đề QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học tại Học Viện Hành chính Quốc gia
9 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được chia thành 4 chương:
Trang 1810
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Cơ sở khoa học QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học Chương 3: Thực trạng của QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Trang 1911
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1.Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực
- Nicolaescu Victor, Journal of Community Positive Practices 13.4 (2013):
“Human Resource Formation in the Sector of Social Economy” (Cơ cấu NNL trong
khu vực kinh tế xã hội), đã đưa ra những nét chủ yếu về tầm quan trọng và vai trò đặc biệt của chương trình giáo dục có tác động mạnh đến kinh tế xã hội và nguồn lực con người có sức mạnh to lớn trong việc mang lại lợi ích cho xã hội [157]
- The World Bank (2008):“Vietnam Higher Education and Skills for
Growth, Human Development Department East Asia and Pacific Region” (Giáo
dục đại học ở Việt Nam và các kỹ năng cho sự tăng trưởng, Ban Phát triển con người Đông Á và khu vực Thái Bình dương), đã đánh giá hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam chưa có các công cụ cần thiết để thích ứng với sự phát triển và thay đổi theo nhu cầu của nền kinh tế luôn có nhiều biến động hiện nay Đây là báo cáo của Ngân hàng Thế giới sau khi đã có những điều tra khảo sát tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương [166]
- Hayden M and Thiep L.Q (2006), “A Vision 2020 for Vietnam”(Tầm nhìn
2020 cho Việt Nam), International HE, The Boston College Center for International
HE, number 44 summer 2006, pp.11-13, đã đề xuất sự đổi mới giáo dục đại học Việt Nam phải đổi mới công tác quản lý và đảm bảo quyền tự chủ cho các trường Tác giả đã chỉ ra được những khiếm khuyết trong quản lý của nhà nước dẫn tới sự thiếu tự chủ của các trường đại học, đặc biệt các trường đại học công lập xong tác giả lại chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để giải quyết được những khiếm khuyết
đó [153, tr.11-13]
- UNESCO (1998),“Higher Education in the Twenty – First Century –
Vision and Action”, World Conference on Higher Education, UNESCO, October
1998 (Giáo dục đại học ở thế kỷ 20 – Thế kỷ đầu tiên – Tầm nhìn và hành động, Hội thảo thế giới về giáo dục đại học; Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên
Trang 2012
hợp quốc, tháng 10 năm 1998), đã thông qua tuyên ngôn về giáo dục đại học với việc xác định sứ mạng cốt lõi của hệ thống giáo dục đại học và chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trong thế kỷ XXI Tại Hội nghị, chất lượng trong giáo dục đại học được xác định là một khái niệm đa chiều, bao trùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy, chương trình đào tạo, NCKH, đội ngũ giảng viên và sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường học thuật, trong đó, con người giữ vai trò quyết định Tuyên ngôn chỉ rõ cần có một chính sách mạnh mẽ về phát triển đội ngũ sao cho có thể nâng cao kỹ năng của họ, khuyến khích năng lực sáng tạo, phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo trong nghiên cứu và giảng dạy [163, tr.5-9]
- Trong cương vị người đứng đầu đất nước Singapore thời kỳ hậu độc lập, ông Lý Quang Diệu có ba mối quan tâm chính: an ninh quốc gia, kinh tế và những vấn đề xã hội, ông đã đưa ra những chính sách phát triển NNL hợp lý để đưa được Singapore đứng vững và phát triển Những khó khăn gặp phải trong quá trình xây dựng đất nước nói chung cũng như phát triển NNL nói riêng đã ít nhiều được đề cập
đến trong bài viết: Sự thật khó khăn để giữ Singapore bước đi (2011) (Hard Truths
To Keep Singapore Going), Tạp chí Straits Times Press của Lý Quang Diệu [156].
- Carol Hirschon Weiss đã chỉ rõ tầm quan trọng của khoa học và đặc biệt vai trò của khoa học xã hội và các liên hệ giữa nghiên cứu và chính sách công Một phần quan trọng của nghiên cứu khoa học xã hội là mục đích giúp các chính phủ cải thiện những dự án, chính sách và cách thực hiện để phục vụ công dân (Theo Carol
Hirschon Weiss, 2001, Các liên hệ giữa nghiên cứu và chính sách công: nghiên cứu
khoa học có ảnh hưởng như thế nào?)
Nghiên cứu về NNL và phát trỉển NNL là một chủ đề được nhiều học giả và các nhà quản lý hết sức quan tâm ở mọi quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới Ở Việt Nam, khi đất nước ta bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế, nghiên cứu
về phát triển NNL càng được các cấp, các ngành và các nhà khoa học quan tâm, có thể kể đến một số công trình sau:
- Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Mai: “Phát triển nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế”, luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1995
Nội dung của đề tài tác giả tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ một số những khái
Trang 2113
niệm liên quan và các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội; nghiên cứu và chỉ ra vai trò của NNL đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đề tài cũng tập trung nghiên cứu và đánh giá về thực trạng NNL Việt Nam giai đoạn 1976 đến 1993, dựa trên những cơ sở nghiên cứu, đề tài luận án đã có những đánh giá về mối quan hệ tác động giữa tăng trưởng kinh tế với NNL đất nước trong giai đoạn 1976 đến 2003, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những bất cập, hạn chế và chỉ ra một số phương hướng trong phát triển NNL đất nước trong giai đoạn tiếp theo [87]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thanh: “Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của
giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học, 2001
Nội dung luận án tác giả đã dựa trên những cơ sở quan niệm của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển con người; phân tích và làm rõ vai trò quyết định của NNL đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Luận án cũng đã nghiên cứu, phân tích và đánh giá rõ nét về thực trạng NNL ở Việt Nam (giai đoạn những năm 2000), và phân tích những định hướng của Đảng, Nhà nước trong phát triển NNL của đất nước Kết quả nghiên cứu của luận án đã khẳng định, yếu tố tiên quyết đối với sự phát triển NNL đất nước đó
Mác-là sự phát triển và đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Theo tác giả: “để nhanh
chóng có được NNL có chất lượng, có trí tuệ, đủ sức đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chúng ta phải tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, làm cho nó thực sự trở thành ‘Quốc sách hàng đầu’ tham gia trực tiếp và đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người Việt Nam” [113, tr.266]
- Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh: “Phát triển nguồn nhân lực đồng bằng
song Cửu long đến năm 2020”, Luận án tiến sĩ Kinh tế 2005, Đại học Kinh tế TP
Hồ Chí Minh Nội dung đề tài tác giả đã nghiên cứu và làm sáng tỏ một số những
cơ sở lý luận về NNL và phát triển NNL trên một vùng lãnh thổ và đánh giá thực trạng phát triển NNL vùng đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng những phương pháp luận trong nghiên cứu phát triển NNL trong một vùng lãnh thổ Luận án cũng
Trang 2214
đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm phát triển NNL vùng đồng bằng sông Cửu long đến năm 2020 [112, tr.125-146]
- Đề tài nghiên cứu của tác giả Dương Anh Hoàng: “Phát triển nguồn nhân
lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Đà Nẵng”, Luận án
tiến sĩ triết học, Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ, 2008 Luận án đã làm sáng
tỏ một số những cơ sở lý luận về NNL và phát triển NNL; vai trò của NNL đối với
sự nghiệp CNH, HĐH; mô tả được thực trạng phát triển NNL phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Đà Nẵng, phân tích và chỉ ra được những kết quả đạt được, những bất cập hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế Dựa trên những kết quả nghiên cứu, đề tài luận án đã đề xuất một số định hướng giải pháp cho việc phát triển NNL cho Đà Nẵng trong giai đoạn CNH, HĐH [70]
- Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Diệp: “Phát triển nguồn
nhân lực có chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức Việt Nam”, luận án tiến
sĩ chuyên ngành kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010 Nội dung đề tài luận án tác giả nghiên cứu những cơ sở lý luận về nguồn lực chất lượng cao, phân tích và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa NNL chất lượng cao với nền kinh tế tri thức Nghiên cứu thực trạng phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế thị trường, qua đó
đề xuất những giải pháp góp phần phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam [56]
- Nghiên cứu của tác giả Lê Quang Hùng với đề tài: “Phát triển nhân lực
chất lượng cao ở khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung”, đề tài luận án tiến sĩ
chuyên ngành kinh tế phát triển, Viện Chiến lược phát triển, 2012 Nội dung đề tài tác giả nghiên cứu và hệ thống hóa những cơ sở lý luận về NNL chất lượng cao, phát triển NNL có chất lượng cao, những đặc điểm của NNL chất lượng cao và chỉ
ra những nội dung phát triển NNL chất lượng cao Đề tài cũng chỉ ra những tiêu chí
để đánh giá NNL chất lượng cao bao gồm: chỉ số phát triển con người (Kinh tế, giáo dục, tuổi thọ trung bình); chỉ số năng lực cạnh tranh; chỉ số về thể lực, chỉ số về trí lực (trình độ học vấn, chuyên môn, khả năng sáng tạo) Theo tác giả, NNL chất lượng cao là yếu tố quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội [76]
Trang 2315
- Bài viết của Vũ Thị Mai Oanh: “Công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
và vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, Tạp chí Phát triển nhân lực số
2/2012 Theo tác giả trong những năm mới bước vào công cuộc đổi mới, chúng ta
đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, bước vào giai đoạn hội nhập, CNH, HĐH đất nước, mô hình phát triển kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên, khoáng sản và NNL rẻ không còn phù hợp và bộc lộ nhiều bất cập Để khắc phục những bất cập đó, chúng ta phải chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế cũ sang mô hình phát triển kinh tế tri thức, dựa trên NNL lao động có chất lượng cao [97, tr.32-36]
- Bài viết của tác giả Đặng Hữu Toàn: “Phát triển nguồn nhân lực trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020”, Tạp chí Phát triển nhân lực số
3/2013 Nội dung bài viết nghiên cứu về những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và phát triển con người; những định hướng phát triển NNL có chất lượng cao của nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2020 Theo tác giả: “để tiếp tục phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững hơn chúng ta phải tiếp tục tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới, những lợi thế cạnh tranh tạo ra năng xuất lao động cao hơn, mà theo kinh nghiệm của các nước phát triển đó là chất lượng cao của nguồn nhân lực” [132, tr.14-20]
- Bài viết của tác giả Trần Thị Lan: “Nâng cao chất lượng lao động của tri
thức giáo dục đại học – khâu quan trọng để thực hiện chiến lược nhân lực theo quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, Tạp chí Phát triển
nhân lực, số 5/2013 Nội dung bài viết tác giả tập trung luận giải mối quan hệ, logíc
và khoa học giữa việc nâng cao chất lượng lao động tri thức của giảng viên đại học với việc thực hiện chiến lược phát triển NNL của đất nước Theo tác giả việc phát triển NNL của đất nước phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học, điều này xuất phát từ 3 lý do: thứ nhất thế kỷ XXI là kỷ nguyên của cạnh tranh tri thức, nền kinh tế tri thức; thứ hai, do nước ta bước vào giai đoạn CNH, HĐH đất nước và thứ ba, do những yêu cầu cải cách nền kinh tế xã hội của đất nước sau 25 năm phát triển [83, tr.30-33]
Trang 2416
- Trong bài tham luận tại Hội thảo: “Chính sách phát triển đội ngũ giảng
viên các trường đại học ngoài công lập”, do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ
chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2009, tác giả Nguyễn Hải Thập, đã khẳng định: giảng viên giữ vai trò trực tiếp quyết định đến chất lượng đào tạo đại học, Nhà nước phải có khung chính sách phát triển giảng viên, bao gồm chính sách tuyển dụng, chính sách đào tạo bồi dưỡng, chính sách tiền lương, phụ cấp và các chính sách thu hút khác
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Phát triển con người Việt Nam 1999-
2004 những thay đổi và xu hướng chủ yếu”, do Đỗ Hoài Nam, Võ Trí Thành chủ
biên (2006), là một báo cáo cấp nhà nước với sự tham gia của nhiều học giả Đề tài
đề cập tới việc xây dựng các chỉ số HDI, PDI, GDI ở cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh, đề tài cũng đề cập tới những vấn đề và thách thức đối với phát triển con người
ở Việt Nam Tuy nhiên, phát triển NNL nữ đặc biệt là ở Miền núi phía Bắc chưa được đề cập nhiều trong tài liệu này [91]
- Trong cuốn“Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong Công
nghiệp hóa – Hiện đại hóa” của Phạm Tất Dong, tác giả đã trình bày tập trung vào
hai nội dung chính: tổng quát những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với đội ngũ trí thức nước ta; làm rõ vai trò rất quan trọng của trí thức không chỉ trong công cuộc xây dựng nền kinh tế - xã hội hiện đại, mà còn
cả trong việc góp phần quan trọng vào sáng tạo văn hóa, giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phân tích tương đối toàn diện cả về mặt lịch sử phát triển và thực trạng hiện nay của đội ngũ trí thức nước ta như: số lượng, cơ cấu, tâm trạng, những di biến động từ quốc doanh sang các thành phần kinh tế khác, chất lượng đào tạo, hiệu quả
sử dụng Đề xuất những định hướng chính sách về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2010 [49]
- Nghiên cứu của Trần Hòa Bình: “Quản lý nhà nước đối với giáo dục không
chính quy trong phát triển NNL đất nước”, luận án Tiến sĩ Quản lý công, Học viện
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học Viện Hành chính Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề đặt ra về mặt lý luận của giáo dục không chính quy và QLNN đối với
Trang 2517
giáo dục không chính quy trong việc phát triển NNL Tác giả còn đánh giá thực trạng giáo dục không chính quy và QLNN đối với giáo dục không chính quy của giáo dục Việt Nam trong 20 năm qua, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với giáo dục không chính quy, góp phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước [08]
- Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Hà, Trung tâm Thông tin Khoa học, Viện
Nghiên cứu lập pháp về: “Chính sách phát triển NNL khoa học và công nghệ” đã
làm rõ khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ, nêu thực trạng NNL khoa học công nghệ Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra định hướng phát triển NNL khoa học
và công nghệ và các giải phát phát triển NNL khoa học và công nghệ Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị sửa đổi bổ sung Luật Khoa học và công nghệ [56]
- Trong một số luận văn thạc sỹ, các tác giả đã đưa ra các chính sách phát
triển nhân lực khoa học và công nghệ của từng lĩnh vực cụ thể Chính sách phát
triển NNL khoa học và công nghệ trong lĩnh vực dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản (nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ), (2014) của tác giả Nguyễn Việt Phương
“Định hướng chiến lược phát triển NNL khoa học và công nghệ cuả VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình”, (2015) của tác giả Nguyễn Ngọc Hồi cũng
nêu được tầm quan trọng của việc phát triển NNL khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay và đưa ra những định hướng chiến lược cho phát triển nhân lực của Truyền hình Việt Nam nói chung và cụ thể VTV9 nói riêng Cũng trong luận văn thạc sỹ, tác giả Mai Thị Lĩnh đã đề cập đến NNL chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là cần thiết, đóng vai trò quan trọng, góp phần tích cực trong sự phát triển chung của đất nước Tác giả đã nêu rõ thực trạng của tỉnh Thái Nguyên và gợi mở những giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng
NNL trong “NNL chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
tỉnh Thái Nguyên hiện nay”(2000)
- Sách tham khảo:“Khoa học xã hội và Nhân văn với sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước” (2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tác
giả Nguyễn Khánh đã nêu rõ được vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [80, tr.14-56] Cũng trong
Trang 2618
cuốn này, tác giả Vũ Minh Giang đã cho ta thấy rõ nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [80]
- Trong sách chuyên khảo: “Chính sách phát triển NNL khoa học và công
nghệ”(2013), Nguyễn Thúy Hà đã làm rõ khái niệm nhân lực nghiên cứu khoa học
và công nghệ, cho thấy thực trạng và cơ cấu nhân lực khoa học và công nghệ ở nước ta còn bất cập, thiếu cân đối Nhìn chung, trong điều kiện còn hạn chế của môi trường khoa học, đội ngũ cán bộ khoa học ở nước ta còn ít về số lượng và hạn chế
về năng lực, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước Việc phân bố nhân lực và cơ cấu trình độ chưa hợp lý theo vùng, miền và lĩnh vực hoạt động Tình trạng hẫng hụt đội ngũ chưa được khắc phục, đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Chưa sử dụng và phát huy được trí tuệ của lực lượng trí thức, chuyên gia khoa học Việt Nam ở nước ngoài Một bộ phận không nhỏ nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao, đặc biệt là giảng viên trong các trường đại học không trực tiếp làm nghiên cứu và phát triển Phần lớn nhân lực khoa học và công nghệ hiện đang tập trung làm việc ở khu vực nhà nước, trong khu vực tư nhân
và doanh nghiệp còn rất thấp Tinh thần hợp tác nghiên cứu và kỹ năng làm việc nhóm của cán bộ khoa học và công nghệ còn chưa cao, khó hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành Thiếu sự hợp tác giữa các nhà khoa học đứng đầu các nhóm nghiên cứu [57]
- Tập thể tác giả sách tham khảo: “Kinh nghiệm của một số nước về phát
triển giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức”
(2010), đã cho thấy kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức và bài học kinh nghiệm về chính sách nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam Các tác giả chỉ rõ những chính sách hữu hiệu cho việc phát triển đội ngũ trí thức như: chính sách xây dựng giới trí thức phù hợp với phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ; chính sách thu hút người giỏi, người tài trong xây dựng giới trí thức [1, tr.178-189]
- Bài viết của Nguyễn Trọng Tuấn: “Thực trạng kỹ năng nghiên cứu khoa
học của giảng viên ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh”, đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 50 năm 2013, đã trình bày
Trang 2719
kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng nghiên cứu khoa học của giảng viên ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh Trong 9 kỹ năng nghiên cứu khoa học của giảng viên thì chỉ có duy nhất kỹ năng viết đề cương nghiên cứu khoa học ở mức tốt, số lượng đề tài thực hiện khá khiêm tốn dẫn đến sự hạn chế về kỹ năng nghiên cứu khoa học của giảng viên ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh [137, tr.23-28]
- Nguyễn Kiều Oanh, “Phát triển NNL giảng dạy và nghiên cứu khoa học
trong cơ sở giáo dục đại học – Kinh nghiệm từ Đại học Quốc gia Hà Nội”, Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và nhân văn số 26, đã nghiên cứu sự cần thiết để phát triển NNL giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, cần phải tiến hành đồng bộ các khâu: tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng và quản lý, sử dụng đội ngũ giảng viên [96, tr.107-111]
- Nguyễn Thị Giáng Hương: “Phát huy nguồn lực con người trong giáo dục –
đào tạo đại học”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2010, đã cho thấy chất lượng NNL
trong các trường đại học nằm cả bên trong và bên ngoài Trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào giảng dạy là khả năng tiềm ẩn của mỗi cá nhân, do quá trình đào tạo và tự đào tạo mà nên Bên ngoài là hiệu quả công tác quản lý và hiệu quả của mỗi giờ giảng Hiệu quả này thể hiện rõ ở phương pháp giảng dạy, ở nghệ thuật giáo dục và tinh thần trách nhiệm của giảng viên Chính
vì vậy, muốn nâng cao chất lượng NNL trong các trường đại học cần có những giải pháp cụ thể: đổi mới công tác quản lý; sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, giảng viên; đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên; tạo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ, giảng viên đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ, giảng viên [77, tr.55]
- Dự án Đào tạo và phát triển NNL của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2009)
của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam),
đã chỉ rõ cần phải làm gì để phát triển NNL của Viện Khoa học xã hội Việt Nam Vấn
đề này lại được làm rõ hơn trong Quy hoạch phát triển nhân lực của Viện Khoa học xã
hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (năm 2010) đã đề cập đến quy hoạch phát triển
nhân lực của Viện Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 [141]
Trang 2820
- Tiếp đó phải kể đến Kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng và hiệu quả về
công tác đào tạo cán bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012,
(tháng 10/2010), đã chỉ rõ việc cần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam [142]
- Đề tài nghiên cứu về “Đào tạo và phát triển NNL trong lĩnh vực khoa học
xã hội và nhân văn đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” (2010)
của Nguyễn Thị Kim Chi, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã chỉ rõ thực trạng
về đào tạo và phát triển NNL trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn để từ đó đưa ra một số giải pháp, định hướng về đào tạo phát triển NNL và nâng cao chất lượng đào tạo NNL này từ thực tiễn của trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn nhằm đáp ứng nhu cầu về NNL này của xã hội [33]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu QLNN về phát triển NNL nữ ở nước ta trong những năm gần đây đã và đang dần trở thành một chủ đề được các cơ quan quản lý và các học giả, các nhà nghiên cứu hết sức quan tâm, nhằm từng bước xây dựng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có thể kể đến một
số công trình sau:
- Sách chuyên khảo“Quản lý NNL ở Châu Á Thái Bình Dương” (Managing
Human Resources in Asia – Pacific) được biên tập bởi P.S Budhwar (Routledge,
London, 2004), tác giả đã đưa ra thực trạng những phát triển hiện tại trong việc quản lý NNL ở Châu Á; những nghiên cứu quan trọng ảnh hưởng đến việc quản lý
NNL ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; cuốn sách còn đề cập thẳng vấn đề “Sự
hội tụ - sự bất đồng” trong việc quản lý NNL của các học giả và các giáo sư Cuốn
sách bao gồm 14 chương (được viết bởi 21 tác giả) đã có những nghiên cứu về tương lai và các khía cạnh của chính sách trong việc quản lý NNL tại Châu Á – Thái Bình Dương [150]
- Bài viết: “Sự cạnh tranh, toàn cầu hóa và quản lý NNL trong chuyển đổi
kinh tế: Trường hợp của Việt Nam” (Globalization, Competitiveness and Human
Resource Management in a Trasitional Economy: The Case of Vietnam), Tạp chí
Trang 2921
Nghiên cứu Kinh doanh Quốc tế, quyển 18, số 1 tháng 6 năm 2010, của tác giả
Quang Trường, đã nghiên cứu về sự phát triển, cạnh tranh lành mạnh và quản lý NNL đang là tiêu điểm của các quốc gia hiện nay; tác giả còn chứng minh được sự quan trọng của yếu tố con người trong sự thành công của việc phát triển của đất nước [161, tr.75-100]
- Công trình nghiên cứu của Đỗ Thị Thạch: “Tri thức Việt Nam trong công
cuộc đổi mới hiện nay – tiềm năng và phương hướng xây dựng”, luận án tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 1999 Nội dung đề tài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận về tri thức và đội ngũ tri thức nữ Việt Nam, quá trình hình thành đội ngũ tri thức nữ Việt Nam Nghiên cứu những tiềm năng của đội ngũ tri thức nữ Việt Nam gồm: Tiềm năng trong lĩnh vực khoa học; tiềm năng trong lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội; tiềm năng trong lao động sản xuất và tiềm năng của đội ngũ tri thức người Việt ở nước ngoài Đề tài cũng chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của đội ngũ tri thức nữ Việt Nam gồm những đặc điểm từ thành phần xuất thân, đặc điểm nghề nghiệp, đặc điểm về trình độ Bằng những luận chứng cụ thể, đề tài luận án đã chỉ ra năng lực trí tuệ của người phụ nữ không thua kém so với nam giới và luận giải những yếu tố dẫn đến khả năng phát triển trí tuệ của người phụ nữ Chương cuối của đề tài đã đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy tiềm năng đội ngũ tri thức nữ vì sự tiến bộ của phụ nữ và sự phát triển của đất nước [111]
- Đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thúy: “Phát triển nguồn nhân lực nữ
nhằm tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc”,
Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương 2012 Những nghiên cứu của đề tài đã luận giải những vấn đề lý luận về NNL nữ, phát triển NNL
nữ Phân tích vai trò của NNL nữ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và công bằng
xã hội Đề tài cũng đã điều tra, mô tả thực trạng NNL nữ và vai trò của NNL nữ đối với sự phát triển kinh tế xã hội, công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc; đánh giá những ảnh hưởng của NNL nữ đối với sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc giai đoạn 2000 – 2011 và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
phát triển NNL nữ ở miền núi phía Bắc Việt Nam [130] Theo tác giả: “Phát triển
Trang 3022
NNL nữ ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc thực sự có đóng góp vào sự phát triển kinh tế
và công bằng xã hội; khi NNL nữ được phát triển gia tăng qua giáo dục, đào tạo và
y tế thì thu nhập được tăng lên, dân trí được cải thiện và công bằng xã hội cũng được đảm bảo hơn” [130, tr.135].
- Đề tài nghiên cứu của học giả Nguyễn Thị Giáng Hương: “Vấn đề phát
triển NNL nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2013 Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm sáng tỏ hệ thống những cơ sở lý luận về NNL nữ, NNL nữ chất lượng cao Theo tác
giả: “NNL nữ chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của NNL nữ, có trình độ học
vấn cao, có năng lực sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu, đặc biệt là có khả năng thích ứng cao, đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn, và quá trình lao động, sản xuất đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [78, tr.26] Đề tài luận án
cũng xây dựng hệ thống những cơ sở lý luận về phát triển NNL nữ chất lượng cao; chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển NNL nữ Nghiên cứu về thực trạng NNL nữ chất lượng cao cho thấy có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền; thể lực còn hạn chế; việc tham gia của NNL nữ chất lượng cao vào các
vị trí cao của xã hội còn hạn chế, đặc biệt là các vị trí lãnh đạo, quản lý còn thiếu ổn định, hạn chế; chất lượng NNL nữ làm việc trong lĩnh vực NCKH còn tương đối thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn so với nam giới [78, tr.84-137]
- Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Bá Thịnh: “Vai trò của phụ nữ trong công
nghiệp hóa nông thôn – Nghiên cứu khu vực đồng bằng Sông Hồng”, luận án tiến sĩ
Khoa học xã hội, 2001 Nội dung đề tài nghiên cứu khái quát về vai trò của người phụ nữ nông thôn trong lịch sử và trong giai đoạn đổi mới của đất nước Nghiên cứu của tác giả cho thấy: NNL nữ nông thôn có vai trò quan trọng trong việc đào tạo NNL cho CNH, HĐH của đất nước thông qua việc giáo dục con cái, chăm sóc gia đình Ở nông thôn, người phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ phần lớn đội ngũ các nhà giáo tại
hệ thống giáo dục quốc dân Bên cạnh những ưu điểm như: cần cù, sáng tạo, khéo tay, … thì NNL nữ nông thôn cũng có những hạn chế như về thể lực, tập quán, sức
ép về thu nhập, chỗ dựa tình cảm (do người nam thường phải xa nhà lao động để gia tăng thu nhập), thiếu tác phong công nghiệp, mặt trái của nền kinh tế thị trường
Trang 3123
[117, tr.72-126] Qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển NNL nữ nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng trong giai đoạn kế tiếp
- Đề tài nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thanh Hương:“Hoàn thiện chính
sách việc làm đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ quản lý
Hành chính công, Học viện Hành chính 2012 Nội dung đề tài tác giả đã xây dựng một hệ thống những cơ sở lý luận chung về lao động nữ và chính sách việc làm đối với lao động nữ ở Việt Nam, chỉ ra những đặc điểm lao động nữ tác động đến chính sách việc làm đối với lao động nữ Phân tích thực trạng chính sách việc làm đối với lao động nữ, đề tài đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách việc làm đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Hoa:“Quản lý nhà nước về phát
triển NNL nữ làm công tác phát thanh, truyền hình (từ thực tiễn đài phát thanh,
truyền hình Hà Nội)”, luận văn thạc sỹ quản lý Hành chính công 2013 Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa được một số những cơ sở lý luận QLNN về phát triển NNL nữ làm công tác phát thanh, truyền hình; đánh giá được thực trạng thực hiện một số nội dung QLNN về phát triển NNL nữ tại đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, qua đó có những phân tích và nhận xét về những ưu điểm và hạn chế trong phát triển NNL nữ tại đài phát thanh và truyền hình Hà Nội Qua tìm hiểu những nguyên nhân hạn chế, tác giả đã đề xuất 6 giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng NNL nữ tại đài phát thanh và truyền hình Hà Nội [65, tr.62-87]
- Bài viết của tác giả Đặng Ánh Tuyết:“Phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam, thực trạng và những thách thức”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học Công đoàn
tháng 9/2015 Bài viết tác giả luận giải một số quan niệm về NNL, NNL nữ ở Việt Nam Phân tích thực trạng NNL nữ ở nước ta về quy mô và cơ cấu NNL nữ; mô tả thực trạng và đánh giá về chất lượng NNL nữ trên các mặt sức khỏe, trí lực, trình độ chuyên môn và kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ và tin học và thực trạng tâm lực của
NNL nữ ở nước ta Theo tác giả: “NNL nói chung là nguyên khí quốc gia, trong đó
NNL nữ giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH và HĐH, có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của quốc gia” [139, tr.57]
Để phát huy hết tiềm năng của NNL nữ ở nước ta hiện nay, tác giả đã xây dựng và
Trang 3224
đề xuất 6 giải pháp nhằm phát triển NNL nữ cho giai đoạn hội nhập quốc tế của đất nước [139, tr.54-59]
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài:“Một số giải pháp phát triển
NNL nữ ở nước ta giai đoạn 2011 – 2020”, Tạp chí Khoa học xã hội số 8/2013 Nội
dung bài viết tác giả tập trung mô tả và đánh giá thực trạng NNL nữ ở Việt Nam giai đoạn trước năm 2012 bao gồm các mặt: sức khỏe; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; trình độ ngoại ngữ tin học và các kỹ năng mềm khác Thông qua phân tích và đánh giá thực trạng, bài viết cũng đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL nữ ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 [67, tr.36-43]
- Bài viết của Nguyễn Thị Phương Thủy:“Phát triển nguồn nhân lực nữ ở
Việt Nam: Thực trạng và những thách thức”, Tạp chí Cộng sản tháng 4/2017 Nội
dung bài viết tác giả mô tả thực trạng NNL nữ ở nước ta đến năm 2012 trên các phương diện: cơ cấu, chất lượng, trình độ kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ và tin học, khả năng sáng tạo, linh hoạt, thích ứng với công việc Qua đánh giá thực trạng về NNL nữ ở Việt Nam, bài viết cũng đề xuất một số những giải pháp nhằm phát triển NNL nữ ở nước ta hiện nay [131]
1.2 Nhận xét về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án
1.2.1 Những kết quả đạt được
Qua nghiên cứu và rà soát hệ thống các tài liệu, dữ liệu liên quan đến NNL, quản lý và phát triển NNL cho thấy hệ thống những tài liệu, dữ liệu đã đạt được những kết quả sau:
Một là, các công trình nghiên cứu về NNL ở nước ta khá đa dạng và phong
phú, tập trung chủ yếu ở các các khía cạnh nghiên cứu về NNL lao động, NNL phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, NNL có chất lượng cao Nghiên cứu những chủ trương quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về phát triển NNL của đất nước trong giai đoạn đổi mới
Hai là, nghiên cứu và xây dựng hệ thống những cơ sở lý luận khá đầy đủ,
hoàn thiện về NNL, NNL xã hội, NNL có chất lượng cao; một số giáo trình, sách
Trang 3325
tham khảo, sách chuyên khảo đã xây dựng khá hoàn thiện những cơ sở lý luận về NNL xã hội, nguồn gốc hình thành, yếu tố chi phối sự phát triển của NNL xã hội
Ba là, các tài liệu tổng quan cũng tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ mối
quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với sự phát triển NNL của đất nước Xây dựng được những cơ sở lý luận về vai trò của giáo dục và đào tạo
Bốn là, một số những công trình, bài viết nghiên cứu tập trung vào NNL nữ,
nguồn lao động nữ ở một số vùng miền, địa phương và ngành, lĩnh vực Nghiên cứu
về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội; về phụ nữ với
sự phát triển bền vững của đất nước và phụ nữ với công bằng xã hội
Năm là, một số các công trình, bài viết đi sâu tìm hiểu một số nội dung để
phát triển NNL như đào tạo, bồi dưỡng NNL; quy hoạch phát triển NNL; xây dựng
và thực hiện những cơ chế, chính sách đối với việc phát triển NNL lao động Một số các học giả, nhà khoa học lại đi nghiên cứu, tìm hiểu và so sánh chính sách phát triển NNL ở Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới
Sáu là, qua tìm hiểu nguồn dữ liệu về NNL và phát triển NNL cho thấy ở
nước ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu về những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, pháp luật nhà nước về quản lý và phát triển NNL; đào tạo và bồi dưỡng NNL đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế
Bảy là, một số đề tài khoa học, công trình, dự án cũng đã điều tra, nghiên
cứu về thực trạng NNL, thực trạng quản lý NNL nữ ở một số tổ chức, cơ quan, địa phương và đề xuất được những giải pháp quản lý
Tám là, NNL nữ lao động ở nông thông và vai trò của NNL nữ ở nông thôn
cũng được các học giả quan tâm, nghiên cứu
Chín là, một số học giả các nhà nghiên cứu cũng đã tìm hiểu các kinh
nghiệm quản lý phát triển NNL ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, qua nghiên cứu, các học giả cũng đã đề xuất những nội dung, kinh nghiệm quản lý
và phát triển NNL và chỉ ra những bài học đối với Việt Nam hiện nay
1.2.2 Những khía cạnh, nội dung cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả đạt được, các công trình nghiên cứu, các giáo trình, bài viết và các đề tài nghiên cứu khoa học còn có những khoảng trống, những nội
Trang 3426
dung chưa được nghiên cứu chuyên sâu và làm sáng tỏ Theo tác giả vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn ở nội dung của đề tài luận án
Thứ nhất, mặc dù các công trình nghiên cứu về NNL có nhiều nhưng chủ yếu
được tiếp cận dưới góc độ xã hội học, kinh tế học, chính sách công rất ít những công trình, bài viết nghiên cứu, xem xét dưới góc độ quản lý công Bên cạnh đó, nghiên cứu QLNN về phát triển NNL nữ cũng rất ít các học giả tiếp cận, xem xét và nghiên cứu
Thứ hai, hệ thống cơ sở lý luận về NNL đã được các học giả đi trước xây dựng
khá hoàn thiện, tuy nhiên, hệ thống những cơ sở lý luận, cơ sở khoa học về QLNN phát triển NNL nữ còn chưa được nghiên cứu và xây dựng đầy đủ, hoàn thiện
Thứ ba, điều tra, nghiên cứu về thực trạng NNL nữ, NNL nữ nghiên cứu
cũng chưa được các nhà khoa học ở Việt Nam chú ý, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung điều tra, nghiên cứu về thực trạng NNL nữ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Thứ tư, trong QLNN về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học, có nhiều
yếu tố tác động và ảnh hưởng đến hoạt động này, tuy nhiên hệ thống những cơ sở lý luận về nội dung này cũng chưa được nghiên cứu và làm sáng tỏ
Thứ năm, thực tế nghiên cứu hiện nay, chính sách đối với đội ngũ các nhà
khoa học nói chung và các nhà khoa học nữ ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, chưa thực sự tạo động lực, sức hút cho sự phát triển cho khoa học và công nghệ của đất nước
Thứ sáu, thực trạng về cơ sở vật chất, tài chính, ngân sách cho hoạt động
phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học cũng chưa được xem xét, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa cơ sở vật chất với việc đào tạo và bồi dưỡng NNL nữ nghiên cứu khoa học
Thứ bảy, hội nhập quốc tế và hợp tác trong hoạt động phát triển NNL nữ
nghiên cứu khoa học hiện nay cũng chưa được nghiên cứu và tìm hiểu Vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lý những vi phạm, trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển NNL nữ nghiên cứu khoa học cũng cần được nghiên cứu điều tra và làm sáng tỏ hơn
Trang 3527
Những khoảng trống trong các công trình, dữ liệu, tài liệu trên là những luận
cứ, luận chứng quan trọng để tác giả lựa chọn, xác định vấn đề và triển khai nghiên cứu đề tài luận án với sự giúp đỡ của các nhà khoa học Xuất phát từ bản thân là một người đang công tác tại một đơn vị NCKH lớn của đất nước, với mong muốn tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước để triển khai, nghiên cứu
đề tài luận án của mình, đóng góp một phần công sức của bản thân cho sự phát triển NNL nữ có chất lượng cao của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Kết luận chương 1
Chương 1, luận án đã đạt được một số kết quả sau:
Thứ nhất, nghiên cứu và khái quát hóa những công trình, tài liệu, dữ liệu liên
quan đến NNL, phát triển NNL và phát triển NNL nghiên cứu khoa học ở nước ngoài; những tài liệu dữ liệu về kinh nghiệm phát triển NNL của các quốc gia trên thế giới qua một số những tổ chức nghiên cứu và phát triển NNL thế giới
Thứ hai, nghiên cứu và khái quát hóa những công trình, tài liệu, những đề tài
NCKH, luận án, các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành về NNL, NNL phát triển kinh tế - xã hội, NNL lao động có chất lượng cao Nghiên cứu một
số những công trình, tài liệu về vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc phát triển NNL của đất nước
Thứ ba, luận án cũng đã nghiên cứu và khái quát hóa những tác phẩm, bài
viết; những công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ, thạc sĩ; những đề tài NCKH cấp nhà nước, cấp bộ về QLNN về phát triển NNL nữ ở nước ta
Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, tác giả đã hệ thống hóa, khái quát hóa những thành công và kết quả đạt được của những công trình, tài liệu, dữ liệu tổng quan, làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng những cơ sở lý luận của luận án Trên
cơ sở đó, tác giả cũng đã chỉ ra những khía cạnh, vấn đề nội dung mà các công trình, dữ liệu của các nhà khoa học đi trước chưa tập trung nghiên cứu sâu, đây chính là những cơ sở cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ cho tác giả trong việc thực hiện những nội dung tiếp theo của công trình luận án
Trang 3628
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1 Nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học
2.1.1.1 Nguồn nhân lực nữ
Như chúng ta đã biết, con người là nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức và quốc gia, là nguồn lực có vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội và như vậy, phụ nữ là một thành phần cơ bản cấu thành lên nguồn lực đó Với quy mô số lượng chiếm trên hoặc dưới một phần hai tổng quy mô dân số của một quốc gia, thì phụ
nữ luôn là nguồn lực quan trọng trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển xã hội ở mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới
Nguồn nhân lực nữ chính là nguồn lực lao động nữ, là một phần nửa của xã hội, gồm những người mà về mặt sinh học là nữ giới (giống cái), còn nửa kia của xã hội là nam giới, đây là hai giới tính truyền thống của xã hội con người Đã là con người thì cả nam giới và nữ giới đều giống nhau, họ vừa là thực thể của tự nhiên, vừa là thực thể của xã hội, tuy nhiên về mặt cấu tạo cơ thể khác nhau và có những đặc điểm sinh học khác nhau Do vậy, khi nghiên cứu về phụ nữ, NNL nữ cần phải lưu ý một số điểm sau:
Thứ nhất, phụ nữ mặc dù có những đặc điểm về mặt sinh học giống với nam
giới, tuy nhiên họ cũng có những đặc điểm cấu tạo sinh học khác biệt so với nam giới, đặc biệt là khả năng mang thai, sinh nở và duy trì nòi giống cho loài người
Những đặc điểm sinh học để thực hiện thiên chức duy trì giống nòi đã tác động đến người phụ nữ trên nhiều phương diện, làm cho người phụ nữ có những đặc điểm cơ thể, đặc điểm tâm sinh lý khác với nam giới Từ những đặc điểm khác biệt này đã dần này sinh và hình thành trong người phụ nữ những nhu cầu cao hơn nam giới về điều kiện sinh hoạt, lao động, học tập, đảm bảo vệ sinh, an toàn và chăm sóc sức khỏe nhất là trong độ tuổi dậy thì và trong giai đoạn mang thai, sinh
Trang 3729
sản Bởi vì, đây là giai đoạn không chỉ đòi hỏi người phụ nữ cần phải chăm sóc cho bản thân mà còn là tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, sức khỏe, thể trạng để đảm bảo cho quá trình mang thai; giai đoạn mang thai và nuôi con; họ không chỉ có nhiệm
vụ đảm bảo sức khỏe, sinh tồn cho bàn thân mà còn phải thực hiện thiên chức làm
mẹ, đảm bảo dinh dưỡng, sức khỏe cho người con Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy, tình trạng sức khỏe của người mẹ trong thời kỳ mang thai và nuôi con có ảnh hưởng lớn đến thể lực, sức khỏe của đứa trẻ khi trưởng thành Trình độ học vấn của người mẹ cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí tuệ của người con, do vậy một xã hội muốn phát triển bền vững thì trước tiên cần đầu tư vào nguồn lực con người, việc này cần phải bắt đầu ngay từ thời kỳ thai nghén, tiền mang thai của người phụ nữ hay nói khác hơn đó là đầu tư cho người phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ được phát triển bình đẳng và toàn diện
Ở Việt Nam, để thực hiện thiên chức làm mẹ, người phụ nữ thường phải mất khoảng thời gian từ 10 đến 12 năm do họ phải mang thai mỗi người con trong khoảng thời gian hơn 9 tháng cộng với việc chăm sóc đứa trẻ đến khi lên 5 tuổi, trung bình một cặp vợ chồng có hai người con nên người phụ nữ phải hy sinh thời gian, sinh lực, trí tuệ và cơ hội của mình để sinh sản, nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Với khoảng thời gian để thực hiện thiên chức như vậy, người phụ nữ khó có thể toàn tâm toàn ý đầu tư thời gian và trí tuệ cho công việc, học tập và mưu cầu danh vọng của bản thân
Thứ hai, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo “trọng nam, khinh nữ” đã ăn
sâu, bén rễ vào quan niệm của người phương Đông, trong đó có Việt Nam nên vai trò của người phụ nữ nhiều khi bị xem nhẹ trong gia đình và xã hội, điều này đã gây
ra những thiệt thòi không nhỏ đối với phụ nữ Ở Việt Nam, phụ nữ được xem là
“phái yếu” trong suy nghĩ của nhiều người nam giới thì phụ nữ phải có trách nhiệm
chăm lo gia đình, chăm sóc và nuôi dạy con cái và làm những công việc nội trợ, những công việc vặt hàng ngày, họ ít được tham gia vào các hoạt động xã hội bên ngoài, các hoạt động xã hội Do vậy, đây là những khó khăn không nhỏ trong việc giải phóng phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển bình đẳng với nam giới
Trang 3830
Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu khái niệm NNL nữ là những người lao động nữ trong một quốc gia, dân tộc, địa phương hay tổ chức có khả năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần
cho xã hội
2.1.1.2 Nghiên cứu khoa học
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển do sự vận động và biến đổi không ngừng của thực tiễn xã hội Nghiên cứu khoa học là một loại hình lao động trí óc, một dạng hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm thực tiễn của các nhà nghiên cứu Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Để tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học người nghiên cứu phải có trình độ và kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu, có kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp và họ phải thảo mãn một số những điều kiện cụ thể về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và năng lực nhất định
Có nhiều khái niệm khác nhau về khoa học, nếu xem xét khoa học dưới góc nhìn của hoạt động xã hội, khoa học là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm kiếm những điều chưa biết, là một loại lao động gian khó, nhiều rủi ro
Các nhà triết học coi khoa học là một hình thái ý thức xã hội, cùng tồn tại bên cạnh các hình thức xã hội khác, nhu một hình thức phản ánh thế giới khách quan và tồn tại xã hội vào ý thức của con người, như một sản phẩm của quá trình thực tiễn Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác
Theo Price, nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, khoa học có thể là
một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thế giới này hơn bất kỳ hơn bất kỳ một
sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào [160, tr.1-28] Thiết chế xã hội đó là một hệ
Trang 3931
thống các quy tắc, các giá trị và cấu trúc, là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất, được xã hội công khai, thừa nhận Các thiết chế xã hội bao gồm các thiết chế giáo dục, văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo
Theo Pierre Auger, khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của tự
nhiên, xã hội, tư duy [159, tr.17-19] Đây là một khái niệm được được UNESCO sử
dụng rộng rãi như một khái niệm chính thống trên phạm vi toàn thế giới Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn
xã hội và được chia ra ra thành hai hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống
hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, để giải thích những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội con người đã không ngừng tác động vào thế giới
tự nhiên, tác động thế giới khách quan để tìm ra những quy luật của tự nhiên, xã
Trang 4032
hội, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, hoạt động khám phá thế giới xung quanh đó được xem là hoạt động nghiên cứu khoa học
Luật Khoa học và Công nghệ 2013 có giải thích: Khoa học là hệ thống tri
thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [106].
2.1.1.3 Nguồn nhân lực nữ nghiên cứu khoa học
Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực KH&CN chưa được hiểu một cách thống nhất
Theo định nghĩa của UNESCO thì nhân lực KH&CN là những người trực
tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên
và nhân lực phù hợp Như vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời
Theo OECD (Organization for Economic Co-operation and Development –
Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế), định nghĩa nhân lực KH&CN dựa trên trình
độ và công việc Nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo); không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên, kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Ở Việt Nam, theo quan điểm của Bộ Khoa học và Công nghệ có 05 lực lượng làm KH&CN: nhân lực KH&CN làm quản lý KH&CN; nhân lực KH&CN làm việc trong các tổ chức KH&CN (các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu KH&CN); nhân lực KH&CN tại các doanh nghiệp; nhân lực KH&CN trong xã hội (là những người dân có sáng kiến cải tiến, có lòng yêu KH&CN và tìm các biện pháp áp dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sống); nhân lực KH&CN là người Việt Nam đang công tác, sinh sống tại nước ngoài
Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng đề án phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020, nhân lực