1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định

60 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 697 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A . MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội càng nhiều dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt.Qua đó con người đã nhận ra mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động Kinh tế - Xã hội – Môi trường tự nhiên.Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường và sự biến đổi đó đã tác động trở lại sự sống của con người.Vì vậy bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc hậu tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môi trường.Nhà nước có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễm cao, bên cạnh đó đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trong những mục tiêu quan trọng đó là việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hại trong đó có chất thải y tế. Theo thống kê của Cục Môi Trường Việt Nam năm 2004 về chất thải nguy hại mỗi năm nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại TP HCM mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cả nước.Theo đánh giá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có tới 20% dến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng 15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây lây nhiễm và truyền bệnh cao như : kim tiêm, dao mổ, các mô bênh, bông băng dính máu bệnh…Thành Phố Nam Định là nơi tập trung hầu hết các bệnh viện trên toàn tỉnh với lượng chất thải bệnh viện đáng kể được xả ra từ các bệnh viện trong thành phố.Trước kia lượng chất thải từ bệnh viện không được xử lý mà đem ra chôn lấp trực tiếp, từ khi xây dựng lò đốt rác thải y tế thì lượng chất thải y tế đem ra môi trường ngày một giảm. Đây là lý do để tôi chọn đề tài : “Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định “ 2.Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu chung : Quản lý tốt hoạt động thu gom, phân loại, xử lý và vận chuyển chất thải nguy hại được thực hiện ở Tỉnh Nam Định. Mục tiêu cụ thể : Quản lý được quá trình phân loại thu gom vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại của Tỉnh Nam Định. Thu thập số liệu, tính toán và phân tích chi phí, lợi ích về mặt kinh tế - xã hội – môi trường liên quan đến dự án xây dứng lò đốt chất thải y tế của Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Nam Định. Trên cơ sở của việc đánh giá sẽ góp phần giúp các cơ quan có trách nhiệm trong công tác quản lý chất thải y tế nguy hại có hướng đi đúng, lựa chọn phương án hiệu quả trong việc xử lý chất thải y tế nguy hại phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Tỉnh Nam Định. 3.Đối tượng nghiên cứu. Việc quản lý chất thải y tế nguy hại phát sinh từ các bệnh viện trên địa bàn Tỉnh Nam Định. Lò đốt chất thải y tế nguy hại của Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Nam Định. 4. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích. - Phương pháp thống kê, thu thập, liệt kế số liệu. - Phương pháp kế thừa so sánh. - Phương pháp tổng hợp, phân tích. - Tham khảo các tài liệu về quản lý chất thải nguy hại. 5. Bố cục của đề tài : Phần I : Phần mở đầu. Phần II: Nội dung : Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải nguy hại. Chương II: Khái quát về chất thải y tế nguy hại Chương III : Hiện trạng quản lý thu gom xử lý chất thải bệnh viện trên địa bàn Tỉnh Nam Định. Chương IV: Các kiến nghị và giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải bệnh viện nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định. Phần III: Kết luận. Phụ lục. Tài liệu tham khảo.

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT - Bộ tài nguyên môi trường

BRC - Tỷ suất lợi ích - chi phí ( Benefits Cost Ratio )

CBA - Phân tích chi phí lợi ích.

CTNH - Chất thải nguy hại.

CTR - Chất thải rắn.

CTRYT - Chất thải rắn y tế.

CTRYTNH - Chất thải rắn y tế nguy hại.

NPV - Giá trị hiện tại ròng ( Net Present Value ).

TCVN - Tiêu chuẩn Việt Nam.

URENCO - Công ty môi trường đô thị

WB - Ngân hàng thế giới.

WHO - Tổ chức y tế thế giới.

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH

Trang 2

Bảng 1 : Tình hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại ở một số nước trên thếgiới……… 14

Hình 1: Sơ đồ nguyên lý làm việc của lò đốt chất thải rắn ytế……… 16

Bảng 2 :Bảng sau trình bày sự so sánh các công nghệ thiêu đốt chất thải y tế

Bảng 9 : Danh mục nguyên liệu, vật liệu, phụliệu……… 40

Bảng 10 :Chi tiết kỹ thuật của buồng phản ứng……… ………

… 43

Bảng 11 :Kết quả phân tích không khí từ lò đốt HOVAL như sau………

… 45

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, việc khai thác tàinguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội càngnhiều dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt.Qua đó con người đãnhận ra mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động Kinh tế - Xã hội – Môitrường tự nhiên.Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường

và sự biến đổi đó đã tác động trở lại sự sống của con người.Vì vậy bảo vệ môitrường là trách nhiệm chung của toàn xã hội

Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạchậu tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môitrường.Nhà nước có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễmcao, bên cạnh đó đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trongnhững mục tiêu quan trọng đó là việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hạitrong đó có chất thải y tế

Theo thống kê của Cục Môi Trường Việt Nam năm 2004 về chất thảinguy hại mỗi năm nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại

TP HCM mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cảnước.Theo đánh giá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, trong thành phần chất thảibệnh viện có tới 20% dến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây lây nhiễm và truyền bệnh caonhư : kim tiêm, dao mổ, các mô bênh, bông băng dính máu bệnh…Thành PhốNam Định là nơi tập trung hầu hết các bệnh viện trên toàn tỉnh với lượng chấtthải bệnh viện đáng kể được xả ra từ các bệnh viện trong thành phố.Trước kialượng chất thải từ bệnh viện không được xử lý mà đem ra chôn lấp trực tiếp,

từ khi xây dựng lò đốt rác thải y tế thì lượng chất thải y tế đem ra môi trườngngày một giảm Đây là lý do để tôi chọn đề tài : “Đánh giá thực trạng quản

lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định “

2.Mục tiêu nghiên cứu.

Mục tiêu chung : Quản lý tốt hoạt động thu gom, phân loại, xử lý và vận

chuyển chất thải nguy hại được thực hiện ở Tỉnh Nam Định

Trang 4

Mục tiêu cụ thể :

Quản lý được quá trình phân loại thu gom vận chuyển và xử lý chất thải y

tế nguy hại của Tỉnh Nam Định

Thu thập số liệu, tính toán và phân tích chi phí, lợi ích về mặt kinh tế - xãhội – môi trường liên quan đến dự án xây dứng lò đốt chất thải y tế của BệnhViện Đa Khoa Tỉnh Nam Định

Trên cơ sở của việc đánh giá sẽ góp phần giúp các cơ quan có tráchnhiệm trong công tác quản lý chất thải y tế nguy hại có hướng đi đúng, lựachọn phương án hiệu quả trong việc xử lý chất thải y tế nguy hại phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh của Tỉnh Nam Định

3.Đối tượng nghiên cứu.

Việc quản lý chất thải y tế nguy hại phát sinh từ các bệnh viện trên địabàn Tỉnh Nam Định

Lò đốt chất thải y tế nguy hại của Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Nam Định

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích

- Phương pháp thống kê, thu thập, liệt kế số liệu

Phần II: Nội dung :

Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải nguy hại Chương II: Khái quát về chất thải y tế nguy hại

Chương III : Hiện trạng quản lý thu gom xử lý chất thải bệnh viện trênđịa bàn Tỉnh Nam Định

Chương IV: Các kiến nghị và giải pháp trong quản lý và xử lý chất thảibệnh viện nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định

Phần III: Kết luận.

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập cũng như làm luận văn tốt nghiệp, em đãnhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoaKinh tế và Quản lý Môi Trường & Đô Thị và sự giúp đỡ nhiệt tình của cáccán bộ công nhân viên của Sở Tài Nguyên Môi Trường Tỉnh Nam Định

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới PGS.TS Lê Thu Hoa, T.S Lê HàThanh cùng các thầy cô giáo trong khoa Đồng thời, em xin chân thành cảm

ơn tới anh Phạm Anh Chiến – Chuyên viên môi trường - Sở Tài Nguyên MôiTrường Nam Định và các anh chị làm việc tại dự án quản lý chất thải nguyhại đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập

Nam Định, ngày13 tháng 4 năm 2009

Sinh viên

Ngô Hưng Long

LỜI CAM ĐOAN

Trang 6

Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân em thựchiện, không sao chép, cắt ghép các tài liệu, chuyền đề, luận văn của ngườikhác, nếu vi phạm em xin chịu sự kỷ luật với nhà trường.

Nam Định,ngày 13 tháng 4 năm 2009

Trang 7

I Những lý luận chung về chất thải nguy hại.

1 Các khái niệm liên quan đến chất thải nguy hại.

1.1 Khái niệm chất thải nguy hại.

Thuật ngữ chất thải nguy hại ( CTNH ) lần đầu tiên xuất hiện là vàothập niên 70 của thế kỷ XX.Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển , tuỳthuộc vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm

và cách tiếp cận của các nước và các tổ chức hoạt động vì môi trường mà cónhững cách định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại trong các văn bản luật

về môi trường.Ví dụ như :

Philipin : Chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gâykích thích, hoạt tính, có thể gây cháy nổ và gây nguy hại cho con người vàđộng vật

Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc ( 12/1985 ) :Ngoài chấtthải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải ( dạng rắn, lỏng,bán rắn – semisolid và các chất chứa khí ) mà do hoạt tính hoá học, độc tính,

nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác gây nguy hại hay có khả năng gây nguyhại đến sức khoẻ của con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúnghay khi được tiếp xúc với các chất thải khác

Việt Nam : Theo điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường năm 2005 thì CTNH

là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễlây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác

1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại.

Do đặc tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt độngthương mại tiêu dùng trong cuộc sống mà chất thải nguy hại có thể phát sinh

từ nhiều nguông khác nhau.Nhìn chung chúng ta có thể chia thành 4 loại hìnhchính đó là :

- Từ hoạt động công nghiệp như hàn xì, mạ điện xử dụng Cyanide…

- Từ hoạt động nông nghiệp như việc sủ dụng thuốc bảo vệ thực vật

- Từ hoạt động thương mại như quá trình nhập khẩu các loại hàng hoáđộc hại không đạt tiêu chuẩn

- Từ hoạt động tiêu dung dân dụng ví dụ như việc sủ dụng các loại pinđồng hồ hay bình acqui…

Trang 8

Cùng với sự phát triển chung của tình hình kinh tế thế giới thì sự pháttriển của các loại hình công nghiệp, các loại hình dịch vụ, sự gia tăng của nhucầu về tiêu dùng, hưởng thụ vật chất cũng như các hoạt động về y tế khámchữa bệnh đã dẫn đến việc phát sinh một lượng lớn chất thải nguy hại.

Trên thế giới việc quản lý chất thải nguy hại đã hình thành và cónhững thay đổi mạnh mẽ trong thập niên 60 và đã trở thành một vấn đề môitrường được quan tâm hàng đầu trong thập niên 80 của thế kỷ XX Điều này

là hậu quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xãhội của các quốc gia trên toàn cầu

Theo số liệu thống kê của Cục môi trường về chất thải nguy hại năm

1999 của Việt Nam cho thấy cả nước một năm thải ra môi trường 109.468tấn/năm.Trong đó tập trung chủ yếu là ở TP HCM chiếm tới 42% lượng chấtthải của cả nước.Tính đến năm 2002, theo số liệu thống kê mới của dự án

“Quy hoạch tổng thể về quản lý chất thải nguy hại” của TP HCM vào khoảng70.500 tấn/năm, tăng 1,72 lần so với năm 1999.Theo đà phát triển hiện naycủa thành phố thì lượng chất thải sẽ vào khoảng 312000 tấn/năm vào năm2012.Qua đó, chúng ta thấy được tính phức tạp của vấn đề và nguy cơ gây ônhiễm của nguồn chất thải này là vô cùng lớn

Bên cạnh đó chúng ta còn phải giải quyết những ảnh hưởng tàn dư củacuộc chiến tranh chống Đế Quốc Mỹ, tình hình nhập lậu của các loại thựcphẩm hoá phẩm không rõ nguồn gốc và những chất thải công nghiệp của cácnước phát triển như : dầu động cơ đã qua sử dụng, các tầu chở hàng hết hạn

sử dụng co nguy cơ gây ô nhiễm cao được nhập về với mục đích làm nguyênliệu sản suất sắt thép Qua thực trạng trên về chất thải nguy hại, chúng ta cần

- Công ước Basel - quy chế quản lý chất thải nguy hại

1 Luật bảo vệ môi trường năm 2005

2.Luật lao động năm 1991

3 Luật bảo vệ sức khoẻ cộng đồng ban hành năm 1991

4 Luật dầu mỏ ban hành tháng 7 năm 1993

5 Luật đất đai ban hành năm 1993

6 Luật khoáng sản ban hành năm 1996

Trang 9

7 Luật thương mại ban hành năm 1996

8 Luất đầu tư nước ngoài 11/11/1996 và nghị định số 12-CP ban hành18/12/1996 về hướng dẫn Luật đầu tư nước ngoài

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn (Trong đó cómột phần về quản lý chất thải nguy hại)

- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc “Quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường”

- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ TNMT về danh mụcCTNH

- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT về việc “Hướng dẫn hành nghề vàthủ tục lập hồ sơ đăng ký cấp giấy phếp hành nghề, mã số quản lý CTNH”

Chiến lược BVMT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2021 theoquyết định số 256/2003/QĐ-TTg

TCVN 5507: 1991 về Hoá chất nguy hiểm-Quy phạm an toàn trong sảnxuất, sử dụng, bảo quản và vận chuyển: Tiêu chuẩn này áp dụng cho các cơ sởsản xuất, sử dụng, bảo quản và vận chuyển hoá chất nguy hiểm (Trừ thuốc nổ

và chất phóng xạ)

TCVN 6706: 2000 về Chất thải nguy hại - phân loại : được áp dụng đểphân biệt các chất thải nguy hại theo thuộc tính của chúng, phục vụ cho việcquản lý chất thải nguy hại một cách an toàn, hiệu quả và đúng theo quy địnhcủa Quy chế quản lý chất thải nguy hại

TCVN: 2000 về Chất thải nguy hại - dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa,quy định hình dạng, kích thước, màu sắc và nội dung của dấu hiệu cảnh báo,phòng ngừa sử dụng trong quản lý chất thải nguy hại nhằm phòng tránhnhững tác động bất lợi của từng loại chất thải nguy hại đến con người và môitrường trong lưu trữ, thu gom, vận chuyển xử lý chất thải nguy hại

Trang 10

TCVN 7209 : 1000 chất lượng đất - giới hạn tối đa cho phép của kimloại nặng trong đất: quy định giới hạn hàm lượng tổng số của các kim loạiAsen(As), Cadimi (Cd), Đồng(Cu), Chì (Pb) và Kẽm(Zn) trong tầng đất mặttheo mục đích sử dụng của đất.Tiêu chuẩn này dùng để đánh giá chất lượngcủa một khu đất cụ thể theo mục đích sử dụng, hoặc làm cơ sở trong việcquản ly, bảo vệ chức năng sử dụng đất đã định của tài nguyên đất và làm cơ

sở khi lựa chọn công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý chất thải cho phù hợpvới yêu cầu bảo vệ chất lượng môi trường đất

Các văn bản liên quan tới quản lý chất thải nguy hại do UBND TỉnhNam Định cung cấp :

- Quyết định số 3166/2006/QĐ-UBND ngày 25/12/2006 của UBNDTỉnh Nam Định về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải nguy hại trênđịa bàn Tỉnh Nam Định

3 Đặc tính của chất thải nguy hại.

Về cơ bản chất thải nguy hại bao gồm cả chất vô cơ và chất hữucơ.Trong đó các hợp chất hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong các chất thải nguy hạivới những tên gọi và cấu trúc hoá học phức tạp.Vì vậy trong quá trình quản lý

và xử lý chúng ta cần phải phân loại và năm rõ thành phần của chúng để cóthể đưa ra các biện pháp quản lý và xử lý cho có hiệu quả

3.1 Những tác động của chất thải nguy hại có thể gây ra.

Đối với môi trường sống.

Chất thải nguy hại nếu không được xử lý kịp thời trước khi thải bỏ ra

môi trường sẽ làm cho môi trường sống của con người bị ô nhiễm.Khi môitrường bị ô nhiễm nó sẽ tác động trở lại đối với cuộc sống của con người, lênsức khoẻ, lên nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như làm mất đi sựcân bằng sinh thái

Đối với sức khoẻ của con người

Khi môi trường bị ô nhiễm nó làm cho con người không có khả năngkháng được sự xâm nhập của các dịch bệnh.Hiện tại trên nước ta đã xuất hiệnnhững làng ung thư mà nguyên nhân một phần do sự ô nhiễm môi trường củacác khu công nghiệp nhà máy hay các làng nghề

Đối với nền kinh tế - xã hội.

Trang 11

Khi môi trường bị ô nhiễm nền kinh tế phải đứng ra giải quyết hậuquả, bên cạnh đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày bị hao hụt gây nên cáccuộc tranh chấp, chiến tranh để tranh giành tài nguyên thiên nhiên làm chonền kinh tế quốc gia ngày càng suy sụt, tình hình xã hội ngày mất ổn định.

Đối với hệ sinh thái.

Việc môi trường bị ô nhiễm các nguồn tài nguyên như đất, tài nguyênnước và không khí ngày một suy giảm kéo theo nó là hàng loạt hệ động thựcvật ở đó bị tiêu diệt.Hệ sinh thái bị phá vỡ dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng củacác loài động thực vật

3.2 Những lợi ích có được từ việc quản lý chất thải nguy hại.

Lợi ích trong ngăn ngừa phát sinh CTNH.

Trong lĩnh vực kinh tế chúng ta sẽ giảm bớt được chi phí cho công tácquản lý CTNH, giảm chi phí về nguyên liệu và năng lượng đầu vào do việc sửdụng có hiệu quả hơn và tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.Cải thiện đượchình ảnh của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng

Lợi ích đối với môi trường xã hội đó là hạn chế việc khai thác tàinguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên không tái tạo, môi trường đất, nước,không khí không bị ô nhiễm dẫn đến hệ sinh thái không bị tàn phá hay huỷdiệt.Môi trường xã hội được cải thiện, ý thức của người dân được nâng caocuộc sống của họ ngày càng được cải thiện như thế thì các vấn đề xã hội đượcdần cải thiện

Lợi ích trong tái sinh, tái chế CTNH.

Lợi ích kinh tế : Đem lại thu nhập cho người lao động, tiết kiệm chiphí mua nguyên liệu, khai thác tài nguyên, giảm chi phí xử lý chất thải nguyhại

Lợi ích môi trường - xã hội : chúng ta giảm được lượng CTNH thải ramôi trường phải xử lý Đồng thời làm giảm áp lực của cộng đồng tới môitrường xung quanh khu vực có chứa chất thải nguy hại

Lợi ích trong quản lý tổng hợp CTNH.

Nếu công tác quản lý chất thải nguy hại được tiến hành tốt sẽ giảm chiphí cho hệ thống quản lý chất thải, hạn chế đáng kể lượng thất thoát của

Trang 12

CTNH ra môi trường bên ngoài, tăng năng suất thu gom và xử lý CTNH, từ

đó làm giảm nguy cơ lây lan ô nhiễm ra môi trường bên ngoài

II Khái quát về chất thải y tế.

1 Chất thải rắn bệnh viện : chất thải phát sinh ra trong bệnh viện, rất

phức tạp về cả thể loại, thành phần, nguồn gốc phát sinh và lượng chấtthải.Phân loại chất thải là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình thugom, xử lý và

phân huỷ, nó tạo điều kiện cho quá trình phân huỷ và xử lý được đơn giảnhơn rất nhiều

2 Chất thải y tế là : các loại chất thải được phát sinh từ các cơ sở y

tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân, xét nghiệm, phòngnghiên cứu, đào tạo, trong các hoạt động đó chủ yếu từ các bệnh viện tuyếnhuyện và tuyến tỉnh

3 Thành phần chất thải y tế nguy hại là : chất thải y tế có một trong

những thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơquan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vất sắc nhọn, dược phẩm, hóachất và các chất phóng xạ dùng trong y tế.Nếu những chất này không đượctiêu hủy sẽ gây rất nhiều nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người

Hiện nay ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á ( trong đó cóViệt Nam ), chất thải rắn y tế ( CTRYT ) được phân loại thành 5 loại : Chấtthải lâm sàn, chất thải phóng xạ, chất thải hoá học, các bình chứa khí có ápsuất cao, chất thải sinh hoạt.Trong đó :

Chất thải lâm sàng là : loại chất thải nhiễm khuẩn, có nguy cơ gây ô

nhiễm cao, nó được chia thành 5 nhóm ( Quy chế quản lý chất thải của Bộ Y

Tế ) :

Nhóm A : Bao gồm các loại bông băng, găng tay, rác thải nhiễm bẩn

trong quá trình điều trị, đặc biệt là chất thải từ các ca bệnh lây, các mô tế bào

từ cơ thể bệnh nhân sau khi phẫu thuật, thí nghiệm Theo số liệu điều tra của

Bộ Y Tế cho thấy : Nếu không được xử lý kịp thời thì mỗi gam bệnh phẩmchứa tới 11 tỷ con vi khuẩn lây bệnh

Nhóm B : Chất thải do các dụng cụ phục vụ như kim, ống thuốc, lưỡi

dao mổ và các dụng cụ cứng khác hay mọi vật có thể gây ra các vết cắt hoặcchọc thủng

Trang 13

Nhóm C : Các chất thải phát sinh từ labo xét nghiệm ( giải phẫu bệnh,

huyết học, truyền máu, vi sinh…) và chất thải từ nhà dại thể mà không phảichất thải nhóm A

Nhóm D : Các chất thải dược hóa học ( các loại vắc xin, huyết thanh

qua hạn, các dung môi hữu cơ, vô cơ, các hóa chất xét nghiệm…)

Nhóm E : Các chất thải sinh hoạt từ các phòng điều trị của bệnh nhân,

người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế

Chất thải phóng xạ : Chất thải có hoạt độ riêng giống như các chất

phóng xạ được xử lý theo những quy định riêng

Chất thải hoá học : Chất thải hoá học phát sinh từ các phòng xét

nghiệm, có đặc tính gây độc, ăn mòn, dễ cháy…

Các bình chứa khí có áp suất : Bình đựng oxi, CO2, bình ga, …các

bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt, vì vậy phải thu gom riêng

Chất thải sinh hoạt : Phát sinh trong quá trình sinh hoạt của nhân thân,

bệnh nhân, các nhân viên y tế, đây là chất thải không nguy hại

III Tác động của chất thải rắn y tế nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng.

Chất thải y tế khi chưa qua loại bỏ hay xử lý triệt để sẽ rất nguy hiểm,không những nó gây ô nhiễm cho môi trường mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻcộng đồng, gây lây lan dịch bệnh, gây mất mỹ quan đô thị, gây ảnh hưởng tớiphát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trong thành phần CTRYT có các loại chất thải như : chất thải nhiễmkhuẩn, chất thải phẫu thuật có chứa nhiều mầm bệnh, vi trùng, vi khuẩn có thểxâm nhập vào cơ thể con người qua nhiều con đường, theo nhiều cách thứckhác nhau.Các vật sắc nhọn như kim tiêm, vỏ thuỷ tinh, dao mổ… làm xước

da chảy máu dễ gây nhiễm trùng, nhiễm khuẩn

Đồng thời trong thành phần chất thải y tế còn chứa các loại hoá chất vàdược phẩm có tính độc hại như : độc tính di truyền, tính dễ ăn mòn da, dễphẩn ứng, gây nổ, nguy hiểm hơn là chất thải phóng xạ phát sinh ra từ việcchuẩn đoán bệnh bằng hình ảnh như : chiếu chụp X – quang, trị liệu….Quản

lý không tốt chất thải y tế sẽ tạo điều kiện cho quá trình lây lan bệnh tật diễn

Trang 14

ra nhanh chóng đồng thời gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sứckhoẻ cộng đồng.

Trong quá trình quản lý chất thải rắn y tế thì những người chịu nhiềunguy cơ rủi ro do chất thải nguy hại thường là các y bác sỹ, các bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân, những người thu gom và vận chuyển chất thải y tế, cácnhân viên vệ sinh trong bệnh viện và người thu gom bới rác trong bãi rác.Dođặc thù công việc đầy rủi ro nên trong quá trình quản lý chất thải y tế các cơquan ban nghành nên chú trọng vào đội ngũ thu gom, phân loại vận chuyểnCTRYT

1 Công tác quản lý chất thải y tế nguy hại trên thế giới.

Hiện nay nền y học ở các nước phát triển trên thế giới đã đạt đếnnhững trình độ cao và có nhiều thành tựu lớn trong công tác phòng và khámchữa bệnh cũng như trong công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lýchất thải y tế.Họ đã áp dụng thành công nhiều công nghệ giải pháp khoa học

kỹ thuất tiên tiến nhất để quản lý thu gom và xử lý chất tải y tế.Tại mỗi nướctuỳ thuộc vào điều kiện địa lý, chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển màlựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế khác nhau

Bảng 1 : Tình hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại ở một số nước trên thế giới.

sở y tế/tậptrung

Xử lý bênngoài cơ sở

y tế/tậptrung

Xử lý tạichỗ/phấntán

Xử lý bênngoài cơ

sở y tế/tậptrung

Xử lý bênngoài cơ

sở y tế/tậptrung

Nguồn : Công ty BURGEAP – Pháp,2003.

Thu gom và vận chuyển chất thải y tế nguy hại, đối với các nước phát triển

có hai mô hình thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế :

- Hệ thống hút chân không tự động thu gom và vận chuyển chất thải

- Thu gom và vận chuyển bằng các xe chuyên dụng, đối với các dụng cụ,phương tiện thu gom đạt tiêu chuẩn quy định

Trang 15

Công nghệ xử lý CTRYT hiện hành trên thế giới bao gồm khử khuẩn vàthiêu đốt.Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi nước về khả năng tài chính, điềukiện công nghệ, diện tích đất đai, chiến lược, quan điểm và các tiêu chuẩn vềbảo vệ môi trường mà điều kiện lựa chọn công nghệ xử lý cho phù hợp.

Công nghệ khử khuẩn :

Khử khuẩn có mục đích là biến chất thải thành chất thải không nguyhại, tương tự như chất thải sinh hoạt.Chất thải sau khi được xử khuẩn sẽ đượcđem về nơi tiêu huỷ cuối cùng

Các công nghệ khử khuẩn chủ yếu hiện nay đang được áp dụng trên thếgiới hiện nay là :

Công nghệ thiêu đốt : là quá trình đốt ở nhịêt độ cao, kết quả là làm giảm

được phần lớn thể tích và khối lượng chất thải rắn, sơ đồ nguyên lý làm việccủa lò đốt chất thải rắn y tế như sau :

Hình 1: Sơ đồ nguyên lý làm việc của lò đốt chất thải rắn y tế

Trang 16

Buồng đốt Thu hồi nhiệt

( Tiêu huỷ cuối cùng và làm ổn định )

Nguồn : WHO (1999),Safe Management of waste from health – care activities, Geneva.

Lò đốt thiết kế chuyên dụng cho xử lý CTRYT được vận hành trongkhoảng nhiệt độ từ 10000C – 12000C.Phương pháp này xét về mặt kỹ thuậtkhông phức tạp, không đòi hỏi nhân viên vận hành có trình độ cao.Thiết bị xử

lý khói bụi và khí thải là bộ phận quan trọng nhất và đắt tiền nhất của lòđốt Khí thải từ lò đốt thường rất độc hại vì có chứa các chất dioxin, furan,kim loại nặng…

Bảng 2 :Bảng sau trình bày sự so sánh các công nghệ thiêu đốt chất thải y tế nguy hại.

Côngnghệ

thiêu đốt

Nhiệt độvận hành

Côngsuất

Thiết bịlàm sạchkhí thải

- Được sử dụng khá phổbiến

- Đầu tư thiết bị, vận hành

Khôngthể ápdụng

- Chỉ sử dụng khi chưa có

lò đốt nhiệt phân

- Nhiều khí thải

- Không nên lắp đặt ởnhững nơi mà vấn đề môitrường nổi cộm,theo mẻ

Tro xỉ

Trang 17

Lò quay 1200-1500 0.5 – 3ngày Cần thiết

- thiết bị, vận hành, bảo trìđắt tiền

- Nhân viên vận hành phải

có trình độ cao

- Theo mẻ và liên tục

Nguồn : Công ty BUREAP – Pháp, 2003.

3 Đặc trưng của lò đốt chất thải y tế nguy hại.

Những yêu cầu đặt ra đối với lò đốt :

- Lò đốt có khả năng thiêu đốt các loại chất thải có trị số calo khác nhau,bao gồm cả thành phần nhựa, nylon…

- Khi công suất yêu cầu >= 200 kg/h cần sử dụng hệ thống nạp chất thải

cơ khí hoặc tự động để bảo đảm năng suất của lò và hạn chế tối đa sựtiếp xúc trực tiếp của công nhân đối với chất thải

- Để đảm bảo tiêu huỷ hoàn toàn chất thải, nhiệt độ cần được duy trì từ

8500C – 11000C.Do vậy thường phải có một buồng đốt sau ( buồng phảnứng )

- Lò đốt phải có cấu tạo sao cho hạn chế mức tối thiểu khói, bụi, khí axitthải ra ngoài.Những chất ô nhiễm này phải nằm trong giới hạn cho phépcủa tiêu chuẩn của quốc gia sở tại.Nếu yêu cầu cần xử lý chất lượng khíthải cao thì lò đốt phải lắp thêm thiết bị xử lý khí thải

- Các thông số kỹ thuật phải được kiểm soát trong quá trình lắp đặt và vậnhành.Tránh do tiết kiệm mà giảm những bộ phận phục vụ cho công tácđảm bảo an toàn cho lò đốt trong quá trình vận hành và hoạt động sửachữa bảo hành

Nhiên liệu sử dụng cho quá trình đốt.

Với những yêu cầu đã đặt ra như trên, công nghệ đốt chất thải nguy hại vớikhối lượng lớn thường được sử dụng hai dạng nguyên liệu phổ biến đó là :dầu dienzel và khí gas, tuỳ theo điều kiện nguồn cung cấp nhiên liệu để lựa

Trang 18

chọn dạng nguyên liệu để sử dụng Để tiện cho quá trình hoạt động và linhhoạt trong quá trình đốt chất thải nhà sản xuất thường chế tạo lò đốt có khảnăng dùng cả hai loại nhiên liệu trên.

Lò đốt : với những yêu cầu là phải đốt cháy hoàn toàn các hợp chất hữu cơ

của chất axit, ít bụi nhất, đồng thời lượng tro tạo ra phải là ít nhất và ít nguyhại nhất Để đạt được điều này, lò đốt thường gồm hai giai đoạn : chất thảiđược sấy khô, cháy và khí hoá.Buồng đốt sau gồm ba giai đoạn : phối trộn,cháy ở dạng khí, oxi hoá hoàn toàn.Sự cân bằng năng lượng giữa hai buồngđốt này là vấn đề quan trọng nhất, chúng phải có kích thước phù hợp để nạpchất thải nhất định trong mỗi buồng đốt.Buồng đốt chính, buồng đốt sau, ốngkhói…phải có vật liệu chịu nhiệt và cách nhiệt cơ học để đảm bảo hiệu quảlâu dài

Thiết bị xử lý và làm mát khói thải : Công nghệ xử lý tiên tiến hiện naythường có hai phương pháp xử lý : Xử lý khô và xử lý ướt.Xử lý khô đơn giảnhơn, kinh tế hơn và đạt hiệu quả cao.Khí thải được làm mát đến nhiệt độ

1500C –

2000C theo nguyên lý trao đổi nhiệt, chúng ta có thể tận dụng một số lượngnhiệt lớn trong công đoạn này.Sau đó phun trực tiếp vôi bột vào ống khí thải,vôi sẽ phản ứng với các axit để tạo thành muối mới.Các muối này sẽ được các

bộ lọc bụi giữ lại

Các chất thải được đóng gói vào các túi nhựa hoặc các hộp cactông vàđược nạp vào lò bằng hệ thống nạp khí tự động.( Với công suất lớn như lò đốtchất thải tập trung )

Bộ phân loại bỏ tro ra khỏi bường đốt chính được thực hiện tự động đối vớiloại lò đốt liên tục ( 24h/ngày ) hoặc được loại bỏ theo chu kỳ làm việc đốivới lò đốt không liên tục.Với lò đốt công suất lớn thì tro được lấy ra khỏi đáybằng thiết bị cơ khí Điều này làm giảm độ nguy hiểm, tăng độ an toàn chocông việc lấy tro ra khỏi lò cho công nhân viên vận hành

Tất cả các hoạt động của lò được điều khiển tự động tại trung tâm điềukhiển với các bước : khởi động, dừng lò, kiểm soát quá trình cháy, nhiệt độ,điều khiển các quá trình làm mát và xử lý khí thải, hệ thống báo động, đồng

hồ đo áp suất…

IV Khái quát về các phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường – xã hội.

Trang 19

1 Khái quát về phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA).

1.1 Giới thiệu về CBA.

Trong thực tế cuộc sống, là bản thân mỗi chúng ta không ít lần đứng

trước nhiều sự lựa chọn đó có thể là nên mua một chiếc xe máy hay nên muachiếc điện thoại.Với những nhà quản lý thì sự lựa chọn càng phức tạp và khókhăn hơn rất nhiều như việc có nên đầu tư một bệnh viện hay không, xây

dựng một sân bay mới hay xây dựng thêm một đường băng vào sân bay

cũ.Những lựa chọn như vậy luôn đặt ra đối với mỗi chúng ta, đó là điềukhông thể tránh khỏi vì xã hội không bao giờ có đủ nguồn lực để thực hiện tất

cả các phương án sẵn có

Do đó để quyết định lựa chọn phương án này loại bỏ phương án kia thìchúng ta cần xem xét phân tích xem giữa lợi ích mà chúng ta thu được với chiphí mà chúng ta phải bỏ ra Đó là nền tảng của việc phân tích chi phí - lợiích.Tuy nhiên CBA là một phương pháp đánh giá giá trị kinh tế và giúp lựachọn các phương án.Nó đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương

án cạnh tranh nhau, khi lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra chotoàn xã hội.Nó tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từmột phương án cụ thể với các tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạtđược lợi ích đó

CBA có mục đích hỗ trợ những quyết định mang tính chất xã hội, trên cơ

sở có sự phân bổ nguồn lực nhằm đảm bảo tính hiệu quả.Kinh nghiệm của cácnước đi trước cho thấy khi tiến hành CBA, để có hiệu quả và tránh những thấtbại mang tính thị trường, thông thường trong bối cảnh cạnh tranh là thích hợpnhất ( vì có giá trị thị trường làm căn cứ tính toàn ), chúng ta thường gặp 3kiểu phân tích chi phí lợi ích đó là :

- Phân tích Exante

- Phân tích Expost

- Phân tích Inmedias Res

1.2 Các bước cơ bản khi thực hiện CBA.

Có 9 bước cơ bản khi tiến hành CBA :

Bước 1 : Xem xét xác định lợi ích thuộc về ai và chi phí là của ai.Tức là

phân định được chi phí và lợi ích để là rõ quyền được hưởng lợi ích và phải

bỏ ra chi phí thuộc về cá nhân nào, đối tượng điều chỉnh nào.Tại đây phảitrình bày tất cả các quan điểm nhìn nhận ( chú ý quan điểm toàn diện ) và đưa

ra mọi yếu tố tác động đến quan điểm nhìn nhận đó

Trang 20

Bước 2 : Lựa chọn danh mục các dự án thay thế.

Khi có bất kỳ dự án nào đưa vào làm CBA thì đều có nhiều giải pháp thaythế khác nhau, đó là cơ hội lựa chọn các phương án thay thế tốt nhất.Muốnvậy phải trải qua nhiều kỹ thuật phân tích, đòi hỏi phải có sự lựa chọn, sosánh và dự đoán

Bước 3 : Lựa chọn các ảnh hưởng tiềm năng và các chỉ số đo lường.Ta

phải phân tích các ảnh hưởng và ảnh hưởng tiềm năng sẽ xảy ra khi thực hiện

dự án đó Đặc biệt đối với các dự án về môi trường thì ảnh hưởng tiềm năng

về lâu dài là rất lớn và đa chiều.Đó là những ảnh hưởng có tính nhân quả

Bước 4 : Dự đoán các ảnh hưởng về lượng suốt quá trình dự án.Chúng

ta phải đưa ra những nhận định về khả năng có thể xảy ra và cố gắng lượnghoá các kết quả đó.Điều này có thể đạt được thông qua các phương pháp trựctiếp, gián tiếp hay kinh nghiệm đã có từ các dự án tương tự

Bước 5 : Lượng hoá bằng tiền tất cả các tác động.Người làm phân tích

cố gắng quy đổi các chỉ tiêu ra giá trị tiền tệ, sử dụng giá trị thị trường.Trườnghợp không có giá trị thị trường thì xây dựng “ giá trị tham khảo “ trên sơ sở

có tính khoa học và được thừa nhận bởi các nhà khoa học, nhà hoạch địnhchính sách hay xã hội.Cũng có khi không thể lượng hoá bằng tiền được thìdùng cách giải thích định tính để bổ sung cho kết quả đã tính toán được

Bước 6 : Quy đổi về giá trị hiện tại.Trong CBA chúng ta gặp phải trở

ngại về thời gian.Vì vậy, trong quá trình tiến hành CBA chúng ta cần quy đổigiá trị tiền tệ về cùng thời điểm để tiến hành phân tích chính xác.Chúng taphải sử dụng tỷ lệ chiết khấu hợp lý, thông thường là tỷ lệ chiết khấu xã hội

Bước 7 : Tổng hợp các chi phí và lợi ích.Những giá trị chi phí cộng

gộp lại với nhau, những giá trị lợi ích cộng gộp lại với nhau Để tránh nhầmlẫn giữa lợi ích và chi phí thì người ta phải xác định tính sở hữu và quyền tàisản

Bước 8 : Phân tích độ nhạy ( thực chất là những phép thử để kiểm tra

kết quả).Trên thực tế ta thường gặp những yếu tố nhạy cảm, sự thay đổi hệ sốchiết khấu.Vì vậy, việc thực hiện phép thử giúp ta có cách nhìn toàn diện hơn

về kết quả phân tích, từ đó đam bảo độ chính xác cao

Bước 9 : Tiến cử các phương án có lợi ích xã hội lớn nhất.Sau khi có

kết quả phân tích, người ta sắp xếp thứ tự ưu tiên các phương án có NPV lớn

Trang 21

nhất lên trước.Bên cạnh đó, mỗi phương án cần có sự giải thích để giúp ta lựachọn phương án tối ưu về mặt xã hội.

- Trong thực tiễn có những tác động có lợi hoặc gây thiệt hại mà ta cóthể biết được, cảm nhận được nhưng không thể tiền tệ hoá nó được.Những tácđộng này, đặc biệt xét về mặt môi trường là rất lớn, rất quan trọng.Nếu bỏ qua

nó trong nhiều trường hợp sẽ dẫn đến những quyết định thiếu chính xác

- Mục tiêu ngoài tính hiệu quả có liên quan đến dự án buộc người làmCBA phải tính toán xem xét.Vì vậy người ta tiếp cận phương pháp phân tích

đa mục tiêu và phương pháp chú trọng tới phân phối

2 Nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường - xã hội

Trước khi tiến hành CBA chúng ta cần phân loại rõ đâu là chi phí đâu là

lợi ích.Trên cơ sở đó chúng ta sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả

PVC : Tổng chi phí quy về thời điểm ban đầu

C0 : Chi chi phí đầu tư ban đầu

C : Chi phí hoạt động qua các năm quy về thời điểm ban đầu

2.1.1 Chi phí đầu tư ban đầu.

C0 bao gồm có : C0 = FC1 + FC2 + FC3

Trang 22

Trong đó :

C0 : Chi phí đầu tư ban đầu

FC1 :Chi phí cho mua sắm thiết bị

FC2 : Vốn xây lắp

FC3 : Vốn đầu tu cơ bản khác

2.1.2 Chi phí vận hành.

Gọi C1, C2 ….Cnlà chi phí của năm 1,2, n

M1, M2 ….Mn là khối lượng được thu gom và vận chuyển năm 1,2 …n

J : là tốc độ gia tăng chất thải hàng năm

r : là tỷ lệ chiết khấu qua từng năm

- EC1 :Chi phí khám chữa bệnh tăng lên

- EC2 : Thiệt hại về thu nhập do ảnh hưởng đến sức khoẻ

- EC3 :Thiệt hại về thu nhập do ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinhdoanh

Trang 23

- EC : Chi phí về mặt Xã hội – Môi trường.

2.2 Phân tích lợi ích.

Gọi B1, B2 …Bn là lợi ích của năm thứ nhất, thứ hai… thứ n

Tương ứng với lượng M1 thì lợi ích thu về là B1 .Với tốc độ tăng của chất thải

y tế nguy hại hang năm là j ( % ) thì lượng chất thải xử lý năm n là :

Mn = M1 * ( 1 + j )n – 1 cũng có nghĩa lợi ích thu về là Bn = B1 * ( 1 + J )n – 1

Tổng lợi ích các năm quy về giá trị hiện tại là :

B1 : Lợi ích của năm thứ nhất

EB : lợi ích về mặt xã hội và môi trường

EB = EB1 + EB2

Trong đó :

EB : Lợi ích về mặt xã hội – môi trường

EB1 : Khoản thu nhập tăng thêm do tạo việc làm

EB2 : Chi phí chữa bệnh tránh được

Bên cạnh đó còn có nhiều mặt tích cực do hoạt động quản lý vậnchuyển thu gom và xử lý đem lại nhưng không thể lượng hoá hết được bằngtiền

3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội.

Trang 24

3.1 Giá trị hiện tại ròng NPV.

Công thức hay sử dụng nhất trong phân tích tính hiệu quả kinh tế của

một chương trình hay dự án đó là giá trị hiện tại ròng.Công thức được sửdụng :

NPV = PVB – PVC

Trong đó :

PVB ; Gía trị hiện tại của các khoản thu ( lợi ích )

PVC : Gía trị hiện tại của các khoản chi ( chi phí )

Dự án được chấp nhận khí NPV >= 0 Khi đó các khoản thu về sẽ lớn

hơn các khoản chi ra sau khi đưa về giá trị hiện tại

NPV < 0 Khi đó dự án sẽ không được chấp nhận vì chi phí bỏ ra lớn hơn lợi

ích thu về

Còn NPV = 0 dự án vẫn có thể được cấp phép đầu tư vì có thểdự án có nhiều

lợi ích về môi trường – xã hội

3.2 Tỷ suất lợi nhuận – chi phí BCR.

Chương II:

Khái quát tình hình quản lý chất thải y tế trên địa bàn

Tỉnh Nam Định.

Trang 25

I. Khái quát về Tỉnh Nam Định.

Tỉnh Nam Định nằm ở phía Nam của vùng châu thổ sông Hồng, trảirộng từ 19052 đến 20030 vĩ độ Bắc và 105055 đến 106035 kinh độ Đông, phíaBắc giáp Tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp Tỉnh Thái Bình, phía Đông Nam

và phía Nam giáp biển Đông và phía Tây giáp Tỉnh Ninh Bình, diện tích toàntỉnh là 1.676 km2

Dân số năm 2000 vào khoảng 1.9 triệu người (đứng thứ 7 trong cả nước), mật độ dân số bình quân khá đông 1169 người/km2 cao hơn mật độ bìnhquân trung bình của cả nước và của đồng bằng Sông Hồng

Về các đơn vị hành chính: Tỉnh có 9 huyện và một thành phố loại IItrực thuộc tỉnh, 226 xã phường thị trấn.Thành phố Nam Định là trung tâm vănhoá chính trị xã hội của tỉnh, cách thủ đô Hà Nội 90 km về phía Nam.Vớimạng lưới giao thông liên lạc thuận tiện với các tỉnh bạn và với cả nước.Đường sắt xuyên Việt đi qua tỉnh dài 42 km với 5 ga, trục quốc lộ 21 và quốc

lộ 10 qua tỉnh dài 108 km đang tiếp tục được đầu tư nâng cấp thành đườngchiến lược ven biển của vùng Bắc Bộ, cùng với các con đường liên tỉnh, liênhuyện, liên xã trong đó có tới 80% đã được nâng cấp , rải nhựa hoặc đổ bêtông tạo điều kiện cho giao thông vận tải, vận chuyển hàng hoá được thuậnlợi

Các cửa song lớn thuộc hệ thống sông Hồng ( cửa Ba Lạt, cửa Hà Lan,cửa Ninh Cơ và cửa Đáy ) thông ra biển đều nằm trên địa bàn tỉnh.Cùng vớicác con sông lớn, các hệ thống các sông nhỏ, mương máng được phân bốtương đối đều tạo điều kiện cho việc cung cấp nước cho tưới tiêu, giao thôngđường thuỷ và nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 788 doanh nghiệp tư nhân hoạt độngtrong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, 31 hợp tác xã sản xuất công nghiệp đanghoạt động nằm trong thành phố Nam Định và các huyện trên địa bàn TỉnhNam Định.Trong tương lai đến năm 2010 sẽ có 18 cụm công nghiệp được phêduyệt cấp phép và cấp vốn xây dựng đi vào hoạt động.Ngoài ra trên địa bàntỉnh còn có khoảng 65 làng nghề sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệpđang hoạt động.Theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm

2010 các huyện đều có quy hoạch các cụm công nghiệp, điểm công nghiệp,như vậy đến khi đó sẽ có thêm các cụm các điểm công nghiệp mới nằm rải ráctại các huyện

Theo báo cáo “ Chiến lược quản lý CTNH Tinh Nam Định đến năm

2010 và tầm nhìn đến năm 2020” và trên thực tế cho thấy, hầu hết các loạichất thải nguy hại phát sinh chưa được xử lý và thu gom tại các cơ sở sản xuấtcông nghiệp, khu công nghiệp và các làng nghề cũng như một số bệnhviện.Tại các khu công ngiệp thì hoạt động thu gom vẫn chưa được chú trọng

Trang 26

quan tâm đúng mức.Tại các làng nghề chất thải rắn công nghiệp nói chung vàCTNH nói riêng cũng không được thu gom và xử lý, nó được người dân tự ýchôn lấp làm ao hồ hay đổ ra sông ngòi.

Chất thải công nghiệp, chất thải rắn công nghiệp nói chung và chất thảinguy hại nói riêng cũng chưa được thu gom và xử lý đã gây ô nhiễm nghiêmtrọng tới môi trường nước, môi trường không khí, gây nên nhiều vấn đề vềsức khoẻ cộng đồng.Bên cạnh đó là chất thải bệnh viện trên địa bàn tỉnh cũngchưa được thu gom và xử lý triệt để

chất thải rắn y tế ở Việt Nam.

1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ bệnh viện và các cơ sở trên

cả nước :

Theo số liệu của Bộ Y Tế năm 2001, cả nước có tất cả 11.227 cơ sở y

tế, trong đó có 970 bệnh viện với 117.562 giường bệnh.Hàng ngày, một lượngchất thải bệnh viện thải ra trong đó có nhiều chất thải rắn y tế nguy hại.Lượngchất thải phát sinh ra này chủ yêú tập trung ở các thành phố chiếm tới 70%tổng lượng thải

Lượng chất thải tính trung bình theo giường bệnh từ các bệnh viện là2.21 kg/BN/ngày, trong đó lượng chất thải y tế nguy hại chiếm tới 20%,tương đương là 0.44 kg/BN/ngày.Các bệnh viện đa khoa, bênh viện tuyến tỉnhhoặc thành phố là nơi chiếm nhiều chất thải hơn các bệnh viện tuyến huyện,thị xã

2.Thành phần và tính chất của chất thải rắn y tế được thể hiện qua bảng sau đây :

Bảng 3 : Thành phần và tỷ lệ chất thải rắn y tế.

Trang 27

B Thùng hộp kim loại 0.7

E Lọ, túi PE, PP, PVC (túi máu, ống dẫn lưu …) 10.1

Bảng 4 : các đặc trưng của chất thải rắn y tế.

STT Các đặc trưng vật lý của chất thải rắn y tế

2 Tỷ trọng chất thải rắn y tế nguy hại ( T/m3 ) 0.13 ( T/m3 )

3 Độ ẩm chất thải rắn y tế nguy hại ( % ) 50%

4 Tỷ lệ tro của chất thải rắn y tế nguy hại 10.3%

Theo đánh giá của World Bank 7/2004, thời gian công tác quản lý

CTRYT của Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể, đặc biệt từ saunăm 1993

Sau khi Luật Môi Trường của Việt Nam ra đời cùng một loạt các vănbản dưới luật về bảo vệ môi trường, hệ thống TCVN – 1995 là cở sở pháp lýrất quan

trọng đồng thời là động lực thúc đẩy quá trình công tác bảo vệ tài nguyên môitrường ở Việt Nam nhất là chất thải nguy hại, trong đó có chất thải y tế nguyhại

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố

Đà Nẵng chính quyền thành phố đã tích cực khuyến khích cho công tác đầu tư

và xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh, các cơ sở xử lý và có các đội xechuyên dụng trong công tác thu gom vận chuyển chất thải y tế

Tại các bệnh viện, bên cạnh việc đầu tư nâng cấp các cơ sở khám chữabệnh, mua sắm trang thiết bị y tế để phục vụ cho công tác khám chữa bệnh thì

Trang 28

ban giám đốc bệnh viện cũng rất quan tâm đến công tác thu gom và xử lý chấtthải y tế nhằm tạo ra một môi trường khám chữa bệnh trong sạch khôngnhiễm trùng và lây lan dịch bệnh.Thể hiện ở công tác đầu tư mua sắm trangthiết bị thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ CTRYT như : xe đẩy tay, thùng rácphân loại, xe chuyên dụng để vận chuyển CTRYT…

Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế : tổng kết đánh giá trong 3 nămthực hiện quy chế quản lý chất thải y tế - Bộ Y Tế do Vụ Điều trị - Bộ Y Tế tổchức tại Hà Nội 4/2001, chỉ có khoảng 30% trong tổng số các bệnh viện trêntoàn quốc thực hiện tốt quy chế này, 50% số bệnh viện chưa thực hiện mộtcách nghiêm túc và triệt để, 20% số bệnh viện còn lại thực hiện một cách đốiphó hay chưa thực hiện

Xử lý chất thải rắn y tế :

Cũng như một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đãchọn mô hình thiêu đốt với công nghệ thiêu đốt đa vùng để xử lý chất thải rắn

y tế nguy hại

Tuy nhiên do công tác phân loại tại nguồn và công tác thu gom chúng

ta làm chưa tốt làm cho một lượng lớn chất thải y tế vẫn còn tồn đọng trong

cơ sở y tế hay bị lẫn trong rác thải sinh hoạt, gây cản trở cho công tác thiêuđốt và không phát huy được hết khả năng tiêu huỷ của lò.Trên thực tế vẫn tồntại một số cơ sở tự xử lý hoặc chôn lấp và thường là không đúng cách vàkhông đạt tiêu chuẩn môi trường làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanhkhu vực tiến hành chôn lấp

Kết quả nghiên cứu của công ty BURGEAP – Pháp cho thấy trênphạm vi cả nước đến năm 2003 có tất cả 61 lò đốt chất thải y tế, trong đó có

14 lò đốt được sản xuất trong nước, có 2 lò đốt có công suất là ( > 1000kg/ngày ) được láp dặt bên ngoài bệnh viện để xử lý tiêu huỷ CTRYT tậptrung là xí nghiệp xử lý CTRYT Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ( doURENCO và CITENCO quản lý ) các lò đốt chất thải còn lại được lắp ngaytrong khuôn viên bệnh viện như tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh NamĐịnh.Trong số 61 lò đốt đó có 3 lò đốt có thiết bị xử lý khí thải.Theo số liệucủa Bộ Y Tế (b 7/2004 ) trong đó có 38 lò đốt nhập ngoại thuộc các dự án đầu

tư bằng nguồn vốn vay nước ngoài hoặc hỗ trợ từ nước ngoài,9 lò đốt còn lạicác bệnh viện tự lắp đặt.Hầu hêt các lò đốt đều là lò đốt đa vùng

III.Thực trạng quản lý chất thải y tế trên địa bàn Tỉnh Nam Định.

1 Khái quát tình hình chất thải y tế Tỉnh Nam Định.

Hiện nay trên toàn tỉnh có 16 bệnh viện bao gồm các loại hình sau:

Trang 29

TS BN điềutrrị nội trú

Bệnh viện tuyến huyện gồm có 10 bệnh viện, tính bình quân mỗihuyện có một bệnh viện riêng Thành phố Nam Định không có bệnh việntuyến tỉnh và huyện Nghĩa Hưng có tới 2 bệnh viện tuyến huyện.Các bệnhviện tuyến huyện cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác khám chữa

Trang 30

bệnh cho người dân, dưới đây là danh sách năng lực khám chữa bệnh của cácbệnh viện tuyến huyện :

Bảng 6 : Tên các bệnh viện trong tỉnh

bệnh

tổng số bệnhnhân điều trị nộitrú

+ Số bệnh nhân điều trị trung bình : 2027 / tháng Trung bình 45lần /BV /ngày

+ Số ca phẫu thuật trung bình :774 ca / tháng Trung bình 2 ca /BV/ ngày

Việc khám bệnh tại các phòng bệnh diễn ra nhanh chóng trong phạm

vi từ 1 giờ cho đến một buổi , bệnh nhân được nhập viện, chuyển viện hoặcđược kê đơn, mua thuốc và về trừ trường hợp nằm lưu lại theo dõi tại Phòngkhám, nhưng cũng chỉ trong phạm vi 24 – 48 giờ.Lưu lượng người tại phòngkhám tùy thuộc loại hình bệnh viện, đông nhất là các bệnh viện tuyến tỉnhnhư BV Đa Khoa trung tâm tỉnh ( 120000 lần / năm), BV Phụ Sản ( 22000 lànkhám /năm ), BV E ( 30000 lần khám / năm ) cho các chuyên khoa…

Công tác điều trị tại các bệnh viện cũng tùy thuộc loại hình bệnh viện,lưu lượng bệnh nhân đông, điều trị dài ngày vẫn là các bệnh viện tuyến tỉnh,

BV Đa Khoa Trung tâm trung bình 480 BN/ ngày, BV E trung bình 100 BN /ngày, BV Phụ Sản trung bình 150 BN / ngày … số ngày điều trị trung bình từ

Ngày đăng: 28/08/2018, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế ( 1999 ), Quy chế quản lý chất thải y tế,NXB Y Học, Hà Nội, tái bản ( 2000 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 1999
2. PGS.TS Nguyễn Thế Chinh ( chủ biên ) ( 2003 ), Giáo trình kinh tế và quản lý môi trường, Trường đại học KTQD, Hà Nội Khác
3. Công ty BURGEAP – Pháp ( 8/2003 ), Quy hoạch tổng thể xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam, Bộ Y Tế Khác
4. Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Nam Định Khác
5. Dự án nâng cao năng lực thu gom và xử lý chất thải y tế tại Tỉnh Nam Định Khác
6. Báo cáo kết quả điều tra đánh giá thực trạng chất thải thuộc hệ thống bệnh viện Tỉnh Nam Định năm 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w