Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn những năm tiếp theo là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 2
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa với các nội dung chính: Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mở cửa giao lưu Quốc tế trong đó nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá; Đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Cùng với đó, công cuộc cải cách hành chính của nước ta đã và đang đi được những chặng đường có ý nghĩa sâu sắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Mặc dù đã có rất nhiều thay đổi so với những năm trước, nhưng nền hành chính nước ta vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phục vụ nhân dân trong tình hình hiện nay Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước vẫn chưa đáp ứng một cách tốt nhất đòi hỏi của cuộc sống, của công cuộc đổi mới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đánh giá tiến trình cải cách hành chính trong giai đoạn trước khi Đại hội tiến hành như sau: “Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu cương quyết và hiệu quả thấp” Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính cũng nêu rõ: “So với yêu cầu và mục tiêu đề ra, nhìn chung công tác cải cách hành chính vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém, tiến độ cải cách còn chậm, hiệu quả thấp, chưa đồng bộ”
Thời gian qua, thủ tục hành chính của nhiều cơ quan Nhà nước các cấp ban hành rất rườm rà, không rõ ràng, thiếu thống nhất và chồng chéo lên nhau Nhiều thủ tục không được công khai, tùy tiện và luôn thay đổi, do đó
đã gây nhiều phiền hà, giảm lòng tin của dân đối với cơ quan Nhà nước Tệ quan liêu, thiếu trách nhiệm của công chức là một trong những vấn đề cơ bản
mà cải cách thủ tục hành chính cần phải giải quyết kiên trì, triệt để, vì mọi sự thành bại của đất nước đều phụ thuộc không nhỏ vào yếu tố con người
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới kinh tế-chính trị-xã hội và cải cách bộ máy quản lý hành chính Nhà nước trong giai đoạn mới nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết
Trang 3Đại hội IX và Đại hội lần thứ X của Đảng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 38/CP ngày 04/5/1994 về Cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, xác định rõ đây là yêu cầu bức xúc của nhân dân và cũng là của Nhà nước, khâu đột phá trong công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia
Những bài học thu được trong cải cách hành chính thời gian qua cũng như yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa hiện nay là cơ sở để Chính phủ quyết định triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001–2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ)
Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn những năm tiếp theo là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa
II NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1 Bối cảnh ra đời của tình huống
Vào thời điểm năm 2001, khi trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã nhận xét: Từ đầu năm đến nay có tới 18.000 lượt người, 470 đoàn đông người kéo lên khiếu kiện ở Trung ương và ngay từ đầu kỳ họp Quốc hội (tháng 12/2001) đã có tới 621 người kéo đến địa điểm họp và vào tận nhà lãnh đạo Con số này phần nào nói lên tình trạng khiếu kiện hết sức bức xúc của người dân Khi đó, ông Nguyễn Công Tạn nhận định: “Dân có bất bình mới khiếu kiện Mà phần sai
là thuộc về Nhà nước chúng ta”, Ông cũng chỉ rõ một số cái sai của cơ quan Nhà nước: Sai mà không nhận, nhận mà không sửa, sửa thì cũng không đến nơi đến chốn nên dân đấu tranh tới cùng Ông nhấn mạnh cần phải xử lý cán
bộ của mình rồi nói lại cho dân thì dân sẽ không khiếu kiện nữa
Trang 4Không chỉ ở vào thời kỳ đầu những năm 2000, tình trạng này vẫn còn tiếp diễn và có chiều hướng gia tăng Người dân bức xúc không chỉ chờ đến khi Quốc hội họp mới khiếu kiện, kêu oan mà sự việc này diễn ra thường xuyên ở các tuyến đường Hùng Vương, đường Trần Hưng Đạo, đường Trần Phú nơi tập trung nhiều cơ quan của Đảng và Nhà nước Mới đây, trước kỳ họp Quốc hội tháng 10/2008, nhiều đoàn người cũng đã tập trung ở các tuyến đường xung quanh Hội trường Ba Đình để gửi đơn khiếu kiện và kêu cứu
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung đã thừa nhận: “Thủ tục hành chính còn nhiều mặt tồn tại, hành dân còn nhiều” Ông nhận định cải cách hành chính là rất cần thiết, muốn thực hiện cải cách hành chính thì một trong những biện pháp là phải làm từ trên xuống, đồng bộ, cụ thể và kiên quyết vì nó đụng chạm đến lợi ích con người và tổ chức bộ máy
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, trong tiểu luận này, bằng 2 sự việc
có thật đã xảy ra ở Nghệ An và Thái Bình, đồng thời với những kiến thức thu nhận được qua lớp Bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính, tôi muốn trình bày một vấn đề đang tạo những bức xúc trong xã hội Đó là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn
đề khiếu kiện của công dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng và được bảo đảm thực hiện theo đúng pháp luật Qua đó cho thấy rõ những ách tắc, khiếm khuyết của thủ tục hành chính thông qua những sự việc có thật Trên cơ sở đó tôi cũng mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước,
hy vọng góp một phần nhỏ vào việc cải cách một bước thủ tục hành chính
2 Diễn biến của tình huống:
Câu chuyện thứ nhất xảy ra ở Diễn Châu, Nghệ An.
Tại xã Diên Hồng, Diễn Châu, Nghệ An có gia đình bà Nguyễn Thị H
là mẹ liệt sĩ Trần Văn C hy sinh tại chiến trường Quảng Trị năm 1972 Bà H gửi một lá đơn kêu cứu đẫm nước mắt đến các cấp chính quyền nhờ xử lý vụ ngang nhiên đập phá nhà mẹ liệt sĩ Bà H trình bày: vào ngày 22/6/2006, “Khi tôi đã khoá cửa đi chợ để chuẩn bị giỗ con trai là Liệt sĩ Trần Văn C thì nghe
Trang 5bà con trong xã báo tin nhà tôi đang ở bị một số người dùng xe công nông, búa và xà beng húc đổ và đập phá Tôi vội vàng chạy về thì thấy cảnh tượng thật khủng khiếp: Kẻ lái xe công nông sau khi húc đổ quán bán hàng nhà tôi, tiếp tục lái xe húc đổ tường và cột trụ bê tông nhà, còn hơn chục người khác thì đang dùng búa và xà beng đập phá tường, trèo lên nóc nhà dỡ ngói ném xuống, họ hùng hổ phá hoại tài sản công dân bất chấp bà con can ngăn Cầm đầu những người phá nhà tôi là vợ chồng Phạm Văn N và Nguyễn Thị M, là người cùng xã, hiện sống tại Hà Nội và mở xưởng đúc sắt thép tại xã Diên Hồng Khi anh Trần Xuân T, con trai của tôi ở gần đó chạy đến yêu cầu không được đập phá, chờ pháp luật quyết định và chờ sự có mặt của chủ nhà, thì N
và M tuyên bố: Mất tiền tỷ tôi cũng đền được, tôi còn có thể mua được cả ông trời Những kẻ đến phá nhà tôi đều là thợ làm công ở xưởng đúc của N và M”
Cũng theo đơn của bà H, khi những người kia đang ngang nhiên đập phá nhà bà thì có một số người là cán bộ xã như ông Th – Phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, ông Ch và ông S – công an viên đứng ở đó, nhưng họ không có phản ứng gì, bất chấp tiếng kêu khóc van xin của một bà mẹ Liệt sĩ già yếu mà lẽ ra phải được chính quyền địa phương bảo vệ, chăm sóc
Vì sao một gia đình có công với cách mạng, hiền lành và ngoài người con trai cả đã hy sinh thì còn có những 3 người con trai cũng từng là công an các cấp (riêng anh T từng là phó Công an xã) nay lại rơi vào thảm cảnh như vậy?
Ngôi nhà bà H đang ở nằm trên mảnh đất 330 m2 (mặt đường 1A) do UBND xã Diên Hồng bán cho bà năm 1991 theo tiêu chuẩn gia đình Liệt sĩ Năm 1992 con trai út của bà H là Trần Văn A đi lao động ở Liên Xô (cũ) về
đã cưới vợ là Hồ Thị X (người xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, cùng đi lao động với A), bà H cho vợ chồng A mượn mảnh đất này để ở Mặc dù bản thân trở lại làm ruộng, nhưng A đã tạo điều kiện cho vợ đi học Trung cấp sư phạm và X trở thành cô giáo tại xã Diễn Vạn, Diễn Châu
Năm 2000, không hiểu vì lý do gì, X đưa đơn ly hôn A và làm mọi thủ tục với TAND huyện Diễn Châu Toà án nhân dân huyện Diễn Châu
Trang 6nhanh chóng ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho X với A mà A.
và gia đình bà H không hề hay biết Có thể nói đây là vụ án ly hôn lạ lùng trong lịch sử tư pháp Việt Nam vì người chồng bị vợ bỏ, toà án cho ly hôn
mà người chồng không được biết, hai năm sau đó vẫn chung sống với vợ và con gái Mãi đến năm 2002, khi Đội thi hành án huyện Diễn Châu đến yêu cầu A phải trả nhà và đất ở (mảnh đất mượn của bà H.) theo như quyết định
số 52/2000 mà TAND huyện đã phán quyết 2 năm trước, thì A mới biết là mình bị vợ lừa đau đớn Do anh không biết có bản án, không được toà mời đến xét xử, không được tống đạt bản án nên không thể kháng án Vì vậy, án
sơ thẩm có hiệu lực đã tước mất quyền kháng cáo của anh
Bất bình với quyết định ly hôn trái pháp luật của TAND huyện, nhưng
A vẫn phải bàn giao chìa khoá và ra khỏi nhà cho đội thi hành án niêm phong nhà (ngày 17/12/2002) Sau đó do X không hề về ở và không có nhu cầu ở, mà bà H lại bức xúc vì bỗng dưng bị tước đoạt mất tài sản của mình nên bà xé niêm phong vào ở Thế là A bị lôi ra vành móng ngựa TAND huyện Diễn Châu xử 6 tháng tù giam vì tội “không chấp hành án”, TAND tỉnh Nghệ An xử phúc thẩm cũng y án, bất chấp tiếng kêu oan của A., bất chấp việc luật sư bào chữa cho anh đã vạch ra những sai trái của án ly hôn,
đó là: trong hồ sơ vẫn còn lưu lời khai mới nhất của A trước thẩm phán Hoàng Thị Hg là nếu ly hôn phải trả lại mảnh đất mượn của mẹ Trên thực
tế bà H không hề làm thủ tục cho, tặng, bán mảnh đất cho vợ chồng A., nhưng trong thời gian ở nhờ, X – A đã bán 1/2 diện tích (165 m2) cho ông bác của X lấy tiền gửi bố đẻ X hưởng lãi 3%/tháng Vậy mà TAND huyện
đã làm một việc trái pháp luật nghiêm trọng, ra 2 quyết định cùng số, cùng ngày, cùng một người ký (là thẩm phán Hoàng Thị Hg.) nhưng có nội dung khác nhau cho một vụ án ly hôn của A – X với mục đích có lợi cho X., toà cho X hưởng toàn bộ 165 m2 đất còn lại sau khi trả cho A 2 triệu đồng (trong số 42,5 triệu đồng tiền bán 165 m2 đất mà bố X đang giữ) Mặt khác
165 m2 đất Toà quyết định giao cho X cũng không chỉ rõ đó là nửa nào, trong khi ngôi nhà nằm giữa khu đất 330 m2, vì vậy đội thi hành án cũng
Trang 7không biết phải thi hành phần đất nào nên đã giao toàn bộ 330 m2 đất của bà
H cho X
Như vậy, chỉ vì một quyết định cho ly hôn trái pháp luật của TAND huyện Diễn Châu đã cùng lúc tước bỏ của A tất cả: Vợ, con, tài sản, nhà cửa, đẩy anh ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng, đồng thời bản án còn “giúp” cô con dâu Hồ Thị X tước đoạt khu đất hợp pháp của mẹ chồng Còn anh trai của A
là Trần Xuân T., Phó trưởng công an xã vì “không vận động được mẹ và em chấp hành án nên đã bị xã buộc thôi việc” (theo giải trình của lãnh đạo xã)
Trong khi con trai (A.) bị đi tù, bà H tiếp tục gửi đơn kiện đòi xem xét trả lại mảnh đất của bà, nhưng chưa được các cấp ngành ở Nghệ An lắng nghe, giải quyết thoả đáng Bà cũng không biết vợ chồng N – M lấy tư cách
gì để đến đập phá nhà bà? Phải chăng pháp luật ở xã Diên Hồng hoặc huyện Diễn Châu chỉ nằm trong tay những người có tiền?
Câu chuyện thứ hai xẩy ra ở xã Vũ Hoà, huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình
Ông N.T.T có con trai là N.V.S nhập ngũ ngày 16/4/1963, đến ngày 01/8/1963 trong khi làm nhiệm vụ tại tỉnh Nghệ An, anh S đã hy sinh
Sau khi con trai hy sinh, ông N.T.T nhận được giấy báo tử số 21 ngày 05/10/1963 do thiếu tá N.X.T – Phó chính uỷ Công an vũ trang tỉnh Nghệ An
ký, với nội dung “Chúng tôi thương tiếc báo tin: Đồng chí N.V.S, cấp bậc binh nhì, chức vụ chiến sỹ, đơn vị Đồn biên phòng 141 Công an vũ trang tỉnh Nghệ An, nguyên quán: xã Vũ Hoà, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; nhập ngũ ngày 16/4/1963, hy sinh ngày 01/8/1963 tại bản Xốp Linh, xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Hy sinh trong trường hợp tuần tra bảo vệ biên giới Được xác nhận là liệt sĩ”
Kèm theo giấy báo tử là biên bản quân tư trang và một Huân chương kháng chiến hạng Ba do Nhà nước trao tặng
Sau khi có giấy báo tử, Đảng ủy, UBND xã và địa phương đã tổ chức
lễ truy điệu cho liệt sĩ N.V.S Ông N.T.T, bố của liệt sĩ đã được hưởng chế
độ liệt sĩ từ tháng 8/1963 đến tháng 11/1968
Trang 8Từ tháng 12/1968 đến tháng 12/2000, do tách huyện Vũ Tiên (nay là huyện Vũ Thư), xã Vũ Hoà thuộc về huyện Kiến Xương Do việc bàn giao
hồ sơ của cơ quan chính sách thiếu cẩn trọng, đã dẫn tới quyền lợi của thân nhân liệt sĩ N.V.S bị bỏ quên và đến thời điểm của đầu năm 2001 vẫn chưa được giải quyết
Khi còn sống ông N.T.T làm nhiều đơn thư gửi Phòng Tổ chức – Lao động – Thương binh – Xã hội huyện Kiến Xương, Sở LĐ-TB-XH tỉnh Thái Bình và Bộ LĐ-TB-XH đòi giải quyết chế độ liệt sĩ, yêu cầu được cấp bằng
Tổ quốc ghi công Song đơn thư chỉ được các cơ quan chức năng kính chuyển rồi trở lại gia đình Năm 1996 ông N.T.T qua đời, con trai ông T (em trai của liệt sĩ) là N.T.M thay cha thờ anh và lại tiếp tục gửi đơn đến các cơ quan chức năng Nhưng rồi đơn thư vòng vo về xã, lên huyện, lên tỉnh, lên
Bộ, rồi lại trở về gia đình
Ngày 17/9/1997, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An đã có công văn số 782 do phó chỉ huy trưởng Nguyễn Văn Lương ký, gửi Sở LĐ-TB-XH tỉnh Thái Bình và phòng Tổ chức LĐ-LĐ-TB-XH huyện Kiến Xương đề nghị giải quyết chế độ chính sách cho gia đình Liệt sĩ N.V.S
Phòng tổ chức LĐ-TB-XH huyện Kiến Xương, phòng Chính sách Sở LĐ-TB-XH tỉnh Thái Bình yêu cầu: Gia đình liệt sĩ phải làm đơn đề nghị Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Nghệ An cần làm giấy báo tử lại, trong khi đã có giấy báo tử số 21 ngày 05/10/1963 của Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Nghệ An rồi
Vậy là một người hy sinh cách đây 38 năm, có đầy đủ giấy báo tử, giấy chứng nhận quân tư trang, có Huân chương kháng chiến hạng Ba do Nhà nước truy tặng, mà vẫn không được cấp bằng Tổ quốc ghi công và suốt
33 năm (tính đến năm 2000) gia đình liệt sĩ không được thụ hưởng chế độ liệt sĩ
Và cứ thế, một việc tưởng như đơn giản, ai cũng thấy được sự vô lý trong kết quả giải quyết của các cơ quan hành chính Nhà nước, thế mà suốt hơn 3 thập kỷ qua đi khiếu kiện, cho đến lúc qua đời ông T vẫn không được yên tâm nhắm mắt xuôi tay
Trang 9III PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1 Cơ sở lý luận
Từ hai câu chuyện có thật đã nêu ở trên, chúng ta xem xét mối quan hệ giữa một bên là cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền và một bên là công dân Đây là nhóm quan hệ phổ biến nhất của luật hành chính vì nó là mối quan hệ phát sinh hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống Có thể nói, con người từ lúc sinh ra đến khi chết đi đều có quan hệ với các cơ quan hành chính Nhà nước
Trong mối quan hệ này, chủ thể vi phạm hành chính là các cơ quan hành chính Nhà nước, còn khách thể là các quan hệ xã hội tác động tới hành
vi của công dân Phương pháp tác động đơn phương, một chiều và mục đích hướng tới là bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh, các quyền lợi hợp pháp của công dân được tôn trọng và thực hiện
Như chúng ta đã biết, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận hợp thành của bộ máy Nhà nước, nó có những đặc điểm chung của cơ quan Nhà nước: Cơ quan hành chính Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước để thực hiện nghĩa vụ hành chính, nó có quyền thay mặt Nhà nước sử dụng các phương tiện hành pháp và hành chính theo pháp luật để thực hiện nghĩa vụ
và bắt buộc thi hành các quyết định của Nhà nước Cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền nhất định do pháp luật quy định Trong phạm vi thẩm quyền, các cơ quan hành chính hoạt động có tính chủ động, thường xuyên, sáng tạo, linh hoạt để huy động mọi hoạt động xã hội, và để đáp ứng diễn biến đa dạng, phức tạp của việc quản lý Nhà nước Đồng thời các cơ quan hành chính Nhà nước có những đặc điểm riêng, tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc, thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước bằng các phương thức quản lý, tổ chức điều hành và phối hợp hành động Cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Cơ quan hành chính Nhà nước thể hiện quyền lực Nhà nước bằng bộ máy, bằng các văn bản pháp luật, bằng quan hệ phối hợp, bằng đội ngũ công chức thi hành công vụ và công sở
Trang 10Như vậy, trong việc giải quyết vụ việc của ông N.T.T các cán bộ cơ quan hành chính ở Phòng LĐ-TB-XH huyện Kiến Xương, Sở LĐ-TB-XH tỉnh Thái Bình cần suy nghĩ về trách nhiệm và bổn phận của mình Tương tự như vậy các cán bộ cơ quan hành chính ở xã Diên Hồng, TAND huyện Diễn Châu, Nghệ An nghĩ sao về sự vô trách nhiệm của mình khiến cho một bà
mẹ có con hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc đang được hưởng chế độ
mẹ Liệt sĩ phải chịu cảnh vô lý, bất công trước sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của một số cán bộ trong bộ máy hành chính Nhà nước
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đó là truyền thống quý báu của dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước ta tôn trọng Quan tâm chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước vừa là trách nhiệm của toàn dân, nhằm bảo đảm cho những người hưởng chính sách ưu đãi có cuộc sống tinh thần vui vẻ, có mức sống vật chất không thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xã hội, của một người dân bình thường
Pháp luật Việt Nam quy định quyền hạn, nghĩa vụ và bảo đảm pháp lý cho cán bộ, công chức thi hành công vụ Một trong các quyền và nghĩa vụ đó
là cán bộ công chức Nhà nước phải nêu cao tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, nghiêm cấm mọi thái độ và hành động quan liêu, cửa quyền, hách dịch, vô trách nhiệm đối với nhân dân
2 Phân tích xử lý tình huống
Ở câu chuyện thứ nhất: Tại sao khi nhà bà Nguyễn Thị H mẹ Liệt sĩ
Trần Văn C ở xã Diên Hồng, huyện Diễn Châu, Nghệ An bị những người có hành vi như những kẻ côn đồ đập phá tài sản riêng của công dân mà chính quyền, công an xã khoanh tay đứng nhìn, không can ngăn, thờ ơ trước nỗi đau của một cụ già đã 76 tuổi ?
Tại sao TAND huyện Diễn Châu làm sai nguyên tắc, làm sai luật khi
xử vụ án ly hôn giữa Trần Văn A (con trai bà H., mẹ liệt sĩ) với Hồ Thị X.,
A không có mặt tại phiên toà, không được biết bản án liên quan đến chính mình được công bố như thế nào ?