Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1PHẠM THỊ MỸ
Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN GÂY BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP ĐƯỢC PHÂN LẬP TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Đại học chính quy Ngành : Công nghệ sinh học
Khóa học : 2013-2017
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 2PHẠM THỊ MỸ
Tên đề tài:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN GÂY BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP ĐƯỢC PHÂN LẬP TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Đại học chính quy Ngành : Công nghệ sinh học
Khóa học : 2013-2017 Người hướng dẫn BS Nguyễn Thị Huyền
ThS Bùi Đình Lãm
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm em được phân công đến thực tập tại Khoa Vi
sinh - Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên với đề tài: “Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên”
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bác sỹ Nguyễn Thị Huyền và toàn thể kỹ sư, kỹ thuật viên làm việc tại Khoa Vi sinh - Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên
đã luôn tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới ThS Bùi Đình Lãm – Giảng viên Khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô trong Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian học tập
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đươc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý Thầy/Cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức phục vụ cho việc học tập, công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Mỹ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1.Một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và tác nhân gây bệnh thường gặp3 Một số tác nhân gây bệnh thường gặp: 3
2.1.2.Đặc điểm sinh lý một số vi khuẩn tham gia gây bệnh đường hô hấp 3
2.1.2.1.Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn) 3
2.1.2.2.Vi khuẩn Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng) 5
2.1.2.3 Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae 6
2.1.2.4 Vi khuẩn Haemophilus influenzae 7
2.1.2.5 Vi khuẩn Moraxella catarrhalis 8
2.1.2.6 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh) 9
2.1.3 Thuốc kháng sinh và cơ chế tác dụng 11
2.1.3.1 Tổng quan về thuốc kháng sinh 11
Trang 52.1.3.2 Cơ chế tác dụng của kháng sinh 12
2.1.4 Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 14
2.1.5 Tình hình kháng kháng sinh hiện nay 15
2.1.6 Kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán (kháng sinh đồ) của Kirby- Bauer [4] 16
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng, phạm vi và vật liệu nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.1.3 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp thí nghiệm 22
3.3.1 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm 22
3.3.2 Phương pháp phân lập 23
3.3.3 Phương pháp nhuộm Gram 24
3.3.4 Các phương pháp định danh vi khuẩn 25
3.3.4.1 Các tính chất sinh vật hóa học định danh vi khuẩn 25
3.3.4.2 Hệ thống Api 20E test [6] 28
3.3.4.3 Hệ thống Api 20NE test [6] 28
3.3.5 Phương pháp khoanh giấy kháng sinh khuếch tán của Kibry-Barer 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả thu mẫu bệnh phẩm đường hô hấp của bệnh nhân tại bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 30
4.2 Kết quả phân lập và định danh các chủng vi khuẩn gây bệnh 30
Trang 64.3 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp phân lập
được tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 35
4.3.1 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae phân lập được tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 35
4.3.2 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Moraxella catarrhalis được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 37
4.3.3 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 39
4.3.4 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 41
4.3.5 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus influenzae được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 43
4.3.6 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella pneumoniae được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 45
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học [5] 12
Bảng 2.2 Kháng sinh được thử nghiệm và giới hạn vòng vô khuẩn 19
Bảng 3.1 Các loại thiết bị sử dụng trong nghiên cứu 21
Bảng 3.2 Các loại hóa chất sử dụng trong nghiên cứu 22
Bảng 3.3 Môi trường nuôi cấy cho từng loại bệnh phẩm 24
Bảng 4.1 Tổng hợp mẫu bệnh phẩm đường hô hấp thu được tại bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 30
Bảng 4.2 Số chủng vi khuẩn phân lập được từ mẫu bệnh phẩm 30
Bảng 4.3 Kết quả phân tích đặc điểm khuẩn lạc và hình thái tế bào vi khuẩn 31
Bảng 4.4 Kết quả thử nghiệm các tính chất sinh vật hóa học và Api test 32
Bảng 4.5 Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp phân lập được tại Bệnh Viện ĐKTW Thái Nguyên 33
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp do vi khuẩn theo nhóm tuổi tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 34
Bảng 4.7 Tỷ lệ kháng kháng sinh vi khuẩn Streptococcus pneumoniae 36
Bảng 4.8 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Moraxella catarrhalis được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 38
Bảng 4.9.Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 40
Bảng 4.10 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 42
Bảng 4.11 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus influenzae được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 44
Bảng 4.12 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Kebsiella pneumoniae được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên 46
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn S pneumonia 35
Hình 4.2 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn Moraxella catarrhalis 37
Hình 4.3 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus 39
Hình 4.4 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa 41
Hình 4.5 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn Haemophilus influenzae 43
Hình 4.6 Kháng sinh thử nghiệm chủng vi khuẩn Klebsiella pneumoniae 45
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CLSI Clinnical and Laboratory standards Institude (Viện Tiêu
chuẩn phòng thí nghiệm và Lâm sàng) CNSH - CNTP
Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm ĐKTW
Đa Khoa Trung Ƣơng
I Intermediate (Trung gian)
MHA Mueller - Hinton
MIC Nồng độ ức chế tối thiểu
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nhiễm khuẩn đường hô hấp không chỉ là gánh nặng bệnh tật, mà còn là bệnh
lý có tỷ lệ tử vong đứng đầu trong số 10 bệnh lý nhiễm khuẩn ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam [14] Theo một số khảo sát, chỉ riêng Hoa Kỳ có hơn 62 triệu người mắc bệnh lý đường hô hấp mỗi năm [40], trong khi ở Anh khoảng 8 triệu người bị bệnh phổi mãn tính và tử vong mỗi năm [38] Ở Canada, bệnh đường hô hấp chiếm 16% các ca tử vong và 10% số ca nhập viện [43] Ở Việt Nam tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến hệ hô hấp chiếm 17,27%; số ca tử vong 16,85% trong cơ cấu bệnh tật và tử vong thống kê năm 2014 [7] Ở các nước phát triển khác, đặc biệt các nước châu Phi, tình hình phức tạp và quản lý khó khăn hơn
do vấn đề xác định các yếu tố gây bệnh và điều trị gặp nhiều hạn chế [26]
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên gây ra các bệnh như: Viêm họng, viêm mũi họng, viêm tai giữa, viêm xoang… nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới gây viêm phổi, viêm phế quản, tràn dịch màng phổi… trong đó viêm phổi là bệnh chiếm tỉ lệ tử vong cao nhất do nhiễm khuẩn đường hô hấp đặc biệt là người cao tuổi và trẻ sơ
sinh Một số tác nhân vi khuẩn thường gặp gây nhiễm khuẩn hô hấp là S
pneumonia, M catarrhalis, S aureus, P aeruginosa, H influenza, K pneumoniae
và các vi khuẩn khác [33] Nhiễm khuẩn đường hô hấp được điều trị bằng kháng sinh, tuy nhiên khoảng một thập kỷ trở lại đây điều trị bằng thuốc kháng sinh trở nên phức tạp hơn khi xuất hiện nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh thông thường [27] Sự kháng thuốc của vi khuẩn là vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình và hiệu quả điều trị Đã có rất nhiều trường hợp sử dụng thuốc kháng sinh chưa hợp lý, gây gia tăng khả năng kháng thuốc và tỷ lệ lây lan vi khuẩn kháng thuốc trên toàn thế giới với tốc độ đáng báo động Trong khi đó, việc phát triển các kháng sinh mới đã chững lại từ hơn 30 năm nay và chỉ có một vài kháng sinh mới ra đời Kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai Theo WHO, mỗi năm có khoảng 700.000 trường hợp tử vong liên quan tới kháng kháng sinh
Trang 11Bên cạnh đó, virus cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp Chỉ dựa vào các triệu chứng lâm sàng khó có thể phân biệt được bệnh do vi khuẩn hay virus, vì vậy để chuẩn đoán và điều trị tốt nhất là phải dựa trên xét nghiệm vi khuẩn học Việc phát hiện, xác định vi khuẩn gây bệnh và khảo sát khả năng kháng kháng sinh của chúng là rất cần thiết, phục vụ trong quá trình điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường
hô hấp
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định được tác nhân gây bệnh đường hô hấp
Đánh giá được tình hình kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, được phân lập tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thu mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được chuẩn đoán mắc các bệnh về đường hô hấp tại Bệnh viện viện ĐKTW Thái Nguyên
- Xác định các loài vi khuẩn gây bệnh phân lập từ mẫu bệnh phẩm
- Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo, cho những nghiên cứu tiếp theo về vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp và khả năng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài góp phần vào quá trình điều trị các bệnh do vi khuẩn gây
ra ở đường hô hấp, sử dụng các loại kháng sinh phù hợp và hiệu quả nhất
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và tác nhân gây bệnh thường gặp
Theo tài liệu “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh” của Bộ Y tế (2015) [5] cho thấy: Có rất nhiều bệnh tật liên quan đến nhiễm khuẩn đường hô hấp và thường để lại những biến chứng nặng nề hay có thể gây tử vong Một số bệnh điển hình như: Bệnh giãn phế quản, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, áp xe phổi, tràn dịch màng phổi Những bệnh này có nhiều triệu chứng khác nhau, có thể không thể hiện ra khi mới mắc bệnh nên khó phát hiện và chữa trị
Một số tác nhân gây bệnh thường gặp:
- Vi khuẩn: S pneumoniae, H influenzae, M pneumoniae, C pneumoniae,
Legionella, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Enterobacter, Serratia spp., Proteus spp., và Acinetobacter spp., Streptococcus nhóm A, vi khuẩn kị khí, Neisseria meningitides, Francisella tularensis (tularemia), C burnetii (Q fever), và Bacillus anthracis
- Virus: Influenza virus, Parainfluenza virus, respiratory syncytial virus,
Adenovirus, Human metapneumovirus, Severe acute respiratory syndrome (SARS…
- Ngoài ra có nấm và các tác nhân từ môi trường: Khói, bụi…
2.1.2 Đặc điểm sinh lý một số vi khuẩn tham gia gây bệnh đường hô hấp
2.1.2.1 Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn)
Thuật ngữ Diplococcus pneumoniae được sử dụng năm 1926 do các đặc tính
của vi khuẩn xuất hiện khi nhuộm Gram mẫu bệnh phẩm đờm của bệnh nhân (cầu
khuẩn nối đôi) Năm 1928, những nghiên cứu trên vi khuẩn Pneumococcus gây bệnh
viêm phổi ở chuột đã giúp các nhà sinh học đi đến kết luận vật liệu chứa thông tin di truyền là DNA Sau đó vào năm 1974, qua nuôi cấy phân lập trên môi trường nhân tạo, các nhà khoa học đã phát hiện vi khuẩn này mọc thành chuỗi trong môi trường lỏng và
đổi tên thành Streptococcus pneumoniae (liên cầu gây viêm phổi hay phế cầu) [3]
Trang 13 Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy
S pneumoniae là 1 loại cầu khuẩn thường đứng thành đôi hình mắt kính hay
hình ngọn nến, nên còn được gọi là song cầu, có vỏ và không di động Hầu hết phế cầu khuẩn bắt màu Gram dương song đôi khi trong quá trình nuôi cấy có thể thay đổi thành Gram âm, do vi khuẩn bị tự ly giải hoặc do các hoạt tính bề mặt bị tác động bởi muối mật (sodium deoxycholate hoặc sodium dodecylsulfat) Trong môi trường lỏng phế cầu khuẩn mọc có khuynh hướng khuyếch tán và lắng cặn khi môi trường đã chuyển sang môi trường acid Trên môi trường thạch (thạch máu cừu hay thỏ), vi khuẩn có khuẩn lạc tròn bóng ướt do có vỏ, không sắc tố, có khuynh hướng lõm ở giữa vì sự hoạt động của một enzyme tự ly giải, đường kính khuẩn lạc 0,5 - 1,5mm, xung quanh khuẩn lạc có quầng tan huyết alpha [3][11]
Phế cầu khuẩn phát triển tốt trong các môi trường lỏng và trên các môi trường thạch có bổ sung 5% máu (cừu, ngựa, thỏ) đã lấy hết tơ huyết Không nên dùng máu người vì thường có chất kháng sinh và các chất ức chế vi khuẩn phát triển Phế cầu phát triển tốt trong khí trường có 5% CO2 ở 370C, nếu không có tủ ấm CO2 có thể dùng chuông thủy tinh kín và đốt nến, với cách này cũng tạo được khí trường có
CO2 nhưng chỉ dưới 5% và vi khuẩn vẫn phát triển được [11]
Tiêu chuẩn xác định phế cầu
- Hình thể khuẩn lạc trên môi trường thạch máu 5% (có hay không có gentamycin): Nhỏ, ướt, có xu hướng lõm giữa, tan huyết alpha
- Tính chất vi khuẩn: Song cầu hình ngọn nến hay cặp mắt kính, bắt màu Gram dương (cũng có thể đứng đơn hay tạo chuỗi ngắn)
- Nhạy cảm optochin: Đường kính vòng vô khuẩn ≥14mm
- Ít nhạy cảm với optochin (đường kính vòng vô khuẩn từ 9-13mm) nhưng tan trong muối mật, cũng kết luận là phế cầu khuẩn
Không phải là phế cầu khuẩn khi:
- Không nhạy cảm với optochin
- Có vùng ức chế phát triển bởi optochin với đường kính nhỏ hơn 14mm nhưng không tan trong muối mật
Trang 142.1.2.2 Vi khuẩn Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng)
Hình thái, đặc điểm sinh hóa
Staphylococcus aureus thuộc giống Staphylococcus, do đó mang những tính
chất chung của Staphylococcus S aureus là những vi khuẩn hình cầu, không di
động, gram dương, đường kính 0,5 - 1,5µm, tế bào xếp thành hình chùm nho Thành
tế bào kháng với lysozyme và nhạy với lysotaphin, một chất có thể phá hủy cầu nối pentaglycin của tụ cầu [3]
S aureus là những vi khuẩn hiếu khí hay kị khí tùy nghi, có enzyme catalase
phân giải oxy già giải phóng oxy và nước: H2O2 + (catalase) -> H2O + O2 S aureus
cho phản ứng đông huyết tương dương tính do chúng tiết ra enzyme coagulase Đây
được xem là tính chất đặc trưng của S aureus, là tiêu chuẩn để phân biệt S aureus
với các tụ cầu khác [32]
Một số dòng S aureus có khả năng gây tan máu trên môi trường thạch máu,
vòng tan máu phụ thuộc vào từng chủng nhưng chúng đều có vòng tan máu hẹp hơn
so với đường kính khuẩn lạc Hầu hết các dòng S aureus đều tạo sắc tố vàng,
nhưng các sắc tố này ít thấy khi quá trình nuôi cấy còn non mà thường thấy rõ sau 1-2 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ phòng Trên môi trường MSA (Manitol salt agar) hay còn gọi là môi trường shapman, khuẩn lạc tròn, bờ đều và lồi, màu vàng nhạt đến vàng đậm và làm vàng môi trường xung quanh khuẩn lạc (do lên men đường manitol) [35]
Điều kiện tăng trưởng và sự phân bố
Nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của Staphylococcus aureus thay đổi tùy thuộc vào từng dòng S aureus có khả năng phát triển trong khoảng nhiệt độ và
pH rất rộng, tuy nhiên ở môi trường 30 - 45 oC và pH từ 7 - 7,5 vi khuẩn phát triển tốt nhất Tụ cầu bền vững khi có nồng độ đường cao, nhưng bị ức chế bởi nồng độ 60%; nồng độ từ 33 - 55%, tụ cầu vẫn phát triển, trong khi các vi khuẩn khác như
Shigella và Salmonella bị ức chế S aureus khá nhạy với nhiệt độ, bị diệt ở 60oC từ
2 - 50 phút tùy từng loại thực phẩm và là vi sinh vật cạnh tranh yếu, dễ bị các vi
sinh vật khác ức chế Có 10 - 50% dân số vẫn sống khỏe mạnh dù mang S aureus
Trang 15[30] Tuy nhiên khả năng nhiễm vào thực phẩm và gây bệnh của S aureus cũng rất
lớn do chúng phân bố ở khắp nơi và có khả năng sinh độc tố
Đặc điểm gây bệnh
Staphylococcus aureus (Tụ cầu vàng) thường ký sinh ở da và mũi họng Vi
khuẩn này gây bệnh cho những người bị suy giảm đề kháng do chúng có nhiều yếu
tố độc lực Tụ cầu vàng là vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất và có khả năng gây nhiều bệnh khác nhau [3] Viêm phổi do tụ cầu vàng chỉ xảy ra sau khi viêm đường
hô hấp do virus hoặc sau nhiễm khuẩn huyết Tuy vậy cũng có viêm phổi tiên phát
do tụ cầu vàng ở trẻ em hoặc người suy yếu Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân này khá cao, vì thế nó được coi là bệnh nguy hiểm
2.1.2.3 Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae
Năm 1884, nhà khoa học người Đan Mạch Hans Christian Gram (1853
-1938) đã phát triển kĩ thuật nhuộm Gram để phân biệt Klebsiella pneumoniae và
Streptococcus pneumoniae Klebsiella được đặt theo tên nhà vi khuẩn học người
Đức thế kỉ 19, Edwin Klebs Trong chi Klebsiella, Klebsiella pneumoniae là thành
viên quan trọng nhất về bệnh học và đã trở thành một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện nghiêm trọng trong những năm gần đây [3]
Đặc điểm hình thái, sinh hóa và phân bố
Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn Gram âm, không di động, có vỏ
polysacharide đặc trưng Lớp áo này giúp vi khuẩn tránh được hàng rào phòng vệ của tế bào chủ
K pneumoniae sống kị khí tùy tiện, có khả năng lên men lactose K pneumoniae có phản ứng indole âm tính và có khả năng tăng trưởng với cả elezitose
và 3-hydroxybutyrate Vi khuẩn này có mặt khắp nơi trong tự nhiên như ở đất, nước, các sản phẩm thực vật, những thức ăn có hàm lượng đường và acid cao
Klebsiella pneumoniae phân lập được từ các bệnh phẩm trên người như viêm phổi,
áp xe phổi, viêm phổi, viêm màng não, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng huyết
Đặc điểm gây bệnh và tình hình đề kháng kháng sinh
Trang 16Klebsiella pneumoniae là một trong những tác nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn
bệnh viện và cộng đồng Chúng có thể gây bệnh viêm phổi, áp xe phổi, viêm màng phổi… [19]
Yếu tố nguy cơ để nhiễm các chủng này ở bệnh viện là do bệnh nhân thời gian nằm viện kéo dài, hệ miễn dịch suy yếu, nằm chung giường với người nhiễm bệnh hay thực hiện những thủ thuật xâm lấn như đặt ống thông tiểu, đặt nội khí
quản,…Tuy nhiên, nhiễm khuẩn bệnh viện do Klebsiella tăng cao chủ yếu do việc
sử dụng kháng sinh làm gia tăng những chủng kháng thuốc.Tính đề kháng kháng sinh của chúng là rất cao [16]
2.1.2.4 Vi khuẩn Haemophilus influenzae
H influenzae là vi khuẩn thuộc giống Haemophilus, được phát hiện lần đầu trong
bệnh phẩm đờm của một bệnh nhân viêm phổi ở vụ dịch cúm năm 1892 bởi Robert Pfeifer Tên vi khuẩn là sự kết hợp của đặc tính phát triển cần các yếu tố có ở máu
(haemophilus: ưa máu) và có mối liên quan lịch sử với cúm (influenzae) của vi khuẩn [21]
Đặc điểm hình thái tế bào và khuẩn lạc
Thuộc loại đa hình thể: hình cầu, trực khuẩn ngắn, trực khuẩn dài, cầu trực khuẩn Hình thể vi khuẩn còn thay đổi theo môi trường sống Nhìn chung vi khuẩn
có kích thước mảnh nhỏ: 1 - 1,5 x 0,3µm; bắt màu Gram âm (màu hồng nhạt hơn các vi khuẩn Gram âm khác do bản chất mỏng mảnh của vi khuẩn) Trên môi trường thạch, khuẩn lạc của chủng có vỏ ướt bóng, óng ánh khi chiếu sáng, sau 24 đến 48 giờ trạng thái mất vỏ xuất hiện, tính óng ánh biến mất Trong môi trường lỏng, tình trạng mất vỏ xảy ra sớm hơn Vì vậy nếu muốn xác định vỏ cần chọn một thời điểm nuôi cấy thích hợp (khoảng 18 giờ) [3]
Khuẩn lạc của các chủng H influenzae không có vỏ không phát quang, có sự
thay đổi từ khuẩn lạc dạng S sang dạng R (thường gặp ở các chủng vi khuẩn phân lập từ đường hô hấp trên) Tình trạng này cũng có thể xảy ra khi môi trường nuôi
cấy không đủ yếu tố phát triển cần thiết cho vi khuẩn H influenza có vỏ
Vi khuẩn không nhuộm màu acid, không di động và không hình thành bào tử
Đặc điểm nuôi cấy
Trang 17Muốn phân lập được H influenzae, môi trường nuôi cấy giàu chất dinh
dưỡng thông thường cần phải có thêm các yếu tố sau:
* Yếu tố X (Heamin): yếu tố này có trong máu (trong huyết tương) và cả trong hồng cầu
* Yếu tố V (NAD = Nicotinamide-Adenine-Dinucleotide): yếu tố này thường chỉ có trong hồng cầu (cũng có thể có trong huyết tương một số động vật nhưng không tồn tại lâu do bị các enzyme ly giải)
Môi trường nuôi cấy thích hợp: 35 - 370C; 5 - 10% CO2
H influenzae có tính đề kháng với Bacitracin, do vậy với mục đích chỉ phân
lập H influenzae, trong môi trường nuôi cấy có thể bổ sung Bacitracin 300μg/ml để
loại bỏ vi khuẩn khác
Sau 16 -18 giờ nuôi cấy, H influenzae phát triển thành các khuẩn lạc bóng
mờ, vồng nhẹ, đường kính từ 1 - 2mm và không gây tan huyết Các chủng có vỏ có thể tạo các khuẩn lạc sáng bóng, nhày ướt và có đường kính lớn hơn Vi khuẩn thuần nhất có mùi tanh đặc biệt (mùi chuột chù) [19]
2.1.2.5 Vi khuẩn Moraxella catarrhalis
M catarrhalis thuộc họ Nesseriaceae gồm 4 chi: Neisseria, Moraxella, Kingella và Acinetobacter Ở chi Moraxella loài điển hình nhất được tìm thấy ở
người là Moraxella catarrhalis M catarrhalis là căn nguyên của các bệnh nhiễm
trùng ở người, từ những năm đầu thế kỷ 20 Tuy nhiên, gần đây người ta mới có
nghiên cứu đầy đủ về khả năng gây bệnh M catarrhalis gây nhiều bệnh nhiễm
trùng ở người Những bệnh như viêm màng trong tim, viêm não cấp, viêm tai giữa, viêm xoang, viêm phế quản - phổi là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao [3]
Đặc điểm gây bệnh:
M catarrhalis là một trong ba căn nguyên gây nhiễm trùng hô hấp, chúng
có thể phối hợp thêm với các căn nguyên khác, làm cho bệnh nặng thêm [23]
Trang 18M catarrhalis là vi khuẩn gây nhiễm trùng cơ hội cư trú ở đường hô hấp
trên của trẻ khỏe, viêm tai giữa và viêm tai giữa dẫn đến viêm xoang, thường xuất hiện sau khi tăng tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn từ nơi cư trú; viêm phổi bắt đầu từ nhánh phế quản nhỏ của phổi Phần lớn bệnh nhân mắc viêm phế quản cấp và viêm
phổi cấp tính đều tìm thấy M catarrhalis trong đờm bằng phương pháp nhuộm Gram Nhưng vai trò của M catarrhalis trong viêm phổi là rất khó xác định nhất là đối với bệnh phẩm đờm, do M catarrhalis là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp [3]
Đặc điểm nuôi cấy, phân lập
M catarrhalis có thể mọc trên môi trường nuôi cấy thông thường; nhưng
phát triển tốt trên môi trường có máu và một số yếu tố khác như CO2 Một số môi
trường chọn lọc có acetazolamide (giảm sự phát triển của các Neisseria),
vancomycin, trimethoprim và amphotericin B (ức chế sự phát triển của các vi khuẩn
thuộc hệ vi khuẩn bình thường) được dùng trong nuôi cấy và phân lập M
catarrhalis Phân lập và xác định vi khuẩn dựa vào hình thể, tính chất bắt màu của
vi khuẩn, đặc điểm của khuẩn lạc và các tính chất sinh vật hoá học [3]
Tiêu chuẩn để xác định M catarrhalis:
Song cầu bắt mầu Gram (-) Không phân giải các loại đường
Không mọc trên MacConkey
Oxidase (+), DNase (+)
2.1.2.6 Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh)
Pseudomonas aeruginosa, trước đây gọi là Bacterium aeruginosa, do
Schroeter mô tả năm 1872 Năm 1900, Migula chuyển chúng sang giống
Pseudomonas, từ đó, vi khuẩn mang tên Pseudomonas aeruginosa Ngay từ trước
khi phân lập được vi khuẩn này, người ta đã có nhận xét rằng, trong một số trường hợp, vết thương sinh ra một loại mủ đặc biệt có màu xanh như màu gỉ đồng, hiện tượng này là do vi khuẩn đã sinh ra một loại sắc tố có màu xanh Chính vì vậy,
người ta thường gọi Pseudomonas aeruginosa là trực khuẩn mủ xanh [3][11]
Trang 19Đặc điểm hình thái
Trực khuẩn mủ xanh Gram âm, thẳng hoặc hơi cong nhưng không xoắn, hai đầu tròn Kích thưóc từ 0,5 - 1,0µm x 1,5 - 5,0µm Có một lông duy nhất ở một cực Các pili của trực khuẩn mủ xanh dài khoảng 6 nm, là nơi tiếp nhận nhiều loại phage
và giúp cho vi khuẩn gắn vào bề mặt của tế bào vật chủ Trực khuẩn mủ xanh không sinh nha bào
Đặc điểm nuôi cấy
Trực khuẩn mủ xanh mọc dễ trên các môi trường nuôi cấy thông thường (thạch thường, thạch máu, canh thang), hiếu khí tuyệt đối Nhiệt độ tối ưu là 37°C, nhưng chúng có thể mọc được trong khoảng dao động rộng (5 - 42°C), pH thích hợp
từ 7,2 - 7,5 (dao động 4,5 - 9,0)
Trên môi trường đặc, có thể gặp hai loại khuẩn lạc: một loại to, nhẵn, dẹt, giữa lồi lên trông giống như quả trứng ốp; một loại khác thì xù xì; cũng có khi gặp loại thứ ba, khuẩn lạc nhầy Trong các bệnh phẩm, thường gặp loại thứ nhất; trong các mẫu lấy từ môi trường, thường gặp loại thứ hai Tính chất đặc trưng của trực khuẩn mủ xanh là sinh sắc tố và chất thơm Có hai loại sắc tố chính: Pyocyanin (có màu xanh lá cây), Pyoverdins (sắc tố huỳnh quang)
Đặc điểm hóa sinh
Trực khuẩn mủ xanh có đủ các cytochrom (b, c, a và oxidase) trong hệ thống vận chuyển điện tử Trong thực hành, người ta thường dùng “oxidase test” để tìm sự
có mặt của cytochrom oxidase Các tính chất hóa sinh thường sử dụng trong lâm sàng gồm: urease (-), indol (-), H2S (-); citrat Simmons, arginin dihydrolase và gelatinase (+); khử NO3 đến N2 Trên môi trường OF (Oxidation-Fermentation), nhiều loại carbohydrat bị thoái hóa theo lối oxy hóa có sinh acid: glucose, mannitol, glycerol, ethanol, arabinose, fructose và galactose [3]
Đặc điểm gây bệnh
Trang 20Trực khuẩn mủ xanh là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện Khi cơ thể bị suy giảm miễn dịch (tự nhiên hoặc mắc phải), bị mắc các bệnh ác tính hoặc mãn tính, dùng lâu dài corticoid, kháng sinh hoặc các chất chống ung thư thì dễ mắc bệnh nhiễm trùng nội sinh hoặc ngoại sinh do trực khuẩn mủ xanh [20]
Trực khuẩn mủ xanh từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở Tại chỗ xâm nhập, chúng gây viêm có mủ (điển hình, mủ có màu xanh); nếu cơ thể suy giảm sức đề kháng, chúng có thể xâm nhập vào và gây viêm các phủ tạng (xương, đường tiết niệu, tai giữa, phê quản, màng não) hoặc gây bệnh toàn thân (nhiễm khuẩn huyết, viêm nội tâm mạc) Về bệnh sinh học, có giả thuyết cho rằng, các sản phẩm ngoại tiết như sắc tố, độc tố tan máu, độc tố ruột, ngoại độc
tố A (độc tố gây chết) có vai trò chính [20]
2.1.3 Thuốc kháng sinh và cơ chế tác dụng
2.1.3.1 Tổng quan về thuốc kháng sinh
Năm 1928, nhà khoa học Alexander Flemming người Scotland lần đầu tiên thấy trong môi trường nuôi cấy tụ cầu vàng nếu có lẫn nấm penicilium thì khuẩn lạc gần nấm này sẽ không phát triển được, sau đó chất peniciline đã được chiết xuất từ nấm để dùng trong điều trị Vào năm 1941, peniciline trở thành kháng sinh đầu tiên được tìm ra và được sản xuất để dùng trong lâm sàng Khi đó, kháng sinh được coi
là những chất do vi sinh vật tiết ra (vi khuẩn, vi nấm), có khả năng kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật khác, từ gốc Hy Lạp là antibiotic, nghĩa là chống lại sự sống
Về sau, với sự phát triển của khoa học, người ta đã có thể tổng hợp, bán tổng hợp các kháng sinh tự nhiên và nhân tạo, do đó định nghĩa kháng sinh đã thay đổi: kháng sinh
là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp với nồng độ rất thấp có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi khuẩn
Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử, thường là một vị trí quan trọng của vi khuẩn hay một phản ứng trong quá trình phát triển của vi khuẩn
Trang 21Có nhiều cách để phân loại kháng sinh: dựa vào khả năng tác dụng, nguồn gốc hoặc cấu trúc hóa học Cách phân loại dưới đây dựa vào cấu trúc hóa học của kháng sinh, dựa trên tài liệu "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh" của Bộ Y tế
Bảng 2.1 Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học [5]
1 Beta-lactam
Các penicilin Các cephalosporin Các beta-lactam khác Carbapenem Monobactam Các chất ức chế beta-lactamase
2.1.3.2 Cơ chế tác dụng của kháng sinh
Sau khi vào tế bào, kháng sinh được đưa tới đích tác động đến 4 thành phần cấu tạo cơ bản của tế bào và phát huy tác dụng: kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn, đặc biệt có hiệu quả ở các vi khuẩn đang sinh trưởng
và phát triển mạnh (giai đoạn 2/ log phase - phát triển theo cấp số nhân), bằng cách:
Trang 22 Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: Các kháng sinh nhóm
beta-lactam, fosfomycin và vancomycin ngăn cản sinh tổng hợp lớp peptidoglycan nên không tạo được khung murein - tức là vách không được hình thành Tế bào con sinh
ra không có vách, vừa không sinh sản được vừa dễ bị tiêu diệt hoặc bị li giải, đặc biệt ở vi khuẩn Gram dương Như vậy, những kháng sinh này có tác dụng diệt khuẩn nhưng chỉ với những tế bào đang phát triển (degenerative bactericide)
Gây rối loạn chức năng màng bào tương: Chức năng đặc biệt quan trọng
của màng bào tương là thẩm thấu chọn lọc; khi bị rối loạn các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài và nước từ bên ngoài ào ạt vào trong, dẫn tới chết, ví
dụ polymyxin B, colistin Với cơ chế tác động này, polymyxin có tác dụng diệt khuẩn tuyệt đối (absolute bactericide), tức là giết cả tế bào đang nhân lên và cả tế bào ở trạng thái nghỉ - không nhân lên
Ức chế sinh tổng hợp protein: Tham gia sinh tổng hợp protein ngoài
ribosom còn có các RNA thông tin và các RNA vận chuyển Điểm tác động là ribosom 70S của vi khuẩn: tại tiểu phần 30S ví dụ như aminoglycosid (nơi RNA thông tin trượt qua), tetracyclin (nơi RNA vận chuyển mang acid amin tới) hoặc tại tiểu phần 50S (nơi acid amin liên kết tạo polypeptid) như erythromycin, cloramphenicol, clindamycin Kết quả là các phân tử protein không được hình thành hoặc được tổng hợp nhưng không có hoạt tính sinh học làm ngừng trệ quá trình sinh trưởng và phát triển
Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic, gồm ba cấp độ:
- Ngăn cản sự sao chép của DNA mẹ tạo DNA con, ví dụ do kháng sinh gắn vào enzym gyrase làm DNA không mở được vòng xoắn, như nhóm quinolon
- Ngăn cản sinh tổng hợp RNA, ví dụ do gắn vào enzym RNA-polymerase như rifampicin
- Ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hóa cần thiết cho tế bào: quá trình sinh tổng hợp acid folic - coenzym cần cho quá trình tổng hợp các purin và pyrimidin (và một số acid amin) bị ngăn cản bởi sulfamid và trimethoprim
Trang 23Như vậy, mỗi kháng sinh chỉ tác động lên một vị trí nhất định trong thành phần cấu tạo, ảnh hưởng đến một khâu nhất định trong các phản ứng sinh học khác nhau của tế bào vi khuẩn, dẫn đến ngừng trệ sinh trưởng và phát triển của tế bào
Nếu vi khuẩn không bị li giải hoặc không bị nắm bắt (thực bào) và tiêu diệt, thì khi không còn tác động của kháng sinh (ngừng thuốc) vi khuẩn sẽ có thể hồi phục/ sống trở lại (reversible) Chỉ cần 1 tế bào sống sót, với tốc độ sinh sản nhanh
chóng, sau vài giờ số lượng tế bào vi khuẩn đã không thể đếm được (ví dụ E coli
nếu 20 phút “đẻ 1 lứa” thì sau 5 giờ: từ 1 tế bào mẹ - ban đầu phát triển thành 215 tế bào và sau 10 giờ lên đến hơn 1 tỷ); sẽ nguy hiểm hơn nữa nếu tế bào sống sót đó
đề kháng kháng sinh
2.1.4 Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
Định nghĩa
- Một vi khuẩn được gọi là đề kháng khi nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của
vi khuẩn đó cao hơn nồng độ ức chế đa số các chủng vi khuẩn khác của cùng loài
đó Các mức độ của MIC xác định cho tính nhạy cảm, tính trung gian và tính đề kháng đối với mỗi loài vi khuẩn được một phòng thí nghiệm độc lập xác định và được Viện nghiên cứu các Tiêu chuẩn Phòng thí nghiệm và Lâm sàng (gọi tắt là CLSI) cập nhật đều đặn Thực tế, một chủng được gọi là “đề kháng” khi nồng độ kháng sinh mà vi khuẩn có thể chịu đựng được tăng cao hơn nồng độ kháng sinh đạt
được trong cơ thể sau khi dùng thuốc
- Đôi khi, sự đề kháng với kháng sinh này lại gây ra đề kháng cho kháng sinh khác, gọi là đề kháng chéo Vi khuẩn được gọi là đa đề kháng (multiresistant) sau khi có tích lũy đề kháng tự nhiên và mắc phải, chúng chỉ nhạy cảm với rất ít kháng sinh và đề kháng với rất nhiều kháng sinh hoặc nhiều nhóm kháng sinh
Cơ chế đề kháng
- Gen đề kháng tạo ra sự đề kháng bằng cách:
+ Làm giảm tính thấm của màng nguyên tương, ví dụ kháng tetracyclin, oxacillin; gen đề kháng tạo ra một protein đưa ra màng, ngăn cản kháng sinh thấm vào tế bào; hoặc làm mất khả năng vận chuyển qua màng do cản trở protein mang (carrier protein) và kháng sinh không được đưa vào trong tế bào
Trang 24+ Làm thay đổi đích tác động: do một protein cấu trúc hoặc do một nucleotid trên tiểu phần 30S hoặc 50S của ribosom bị thay đổi nên kháng sinh không bám được vào đích (ví dụ, streptomycin, erythromycin) và vì vậy không phát huy được tác dụng
+ Tạo ra các isoenzyme không có ái lực với kháng sinh nữa nên bỏ qua (không chịu) tác động của kháng sinh, ví dụ kháng sulfamid và trimethoprim
+ Tạo ra enzyme: Các enzyme do gen đề kháng tạo ra có thể:
- Biến đổi cấu trúc hóa học của phân tử kháng sinh làm kháng sinh mất tác dụng Ví dụ acetyl hóa hoặc phospho hóa hay adenyl hóa các aminozid hoặc chloramphenicol
- Phá huỷ cấu trúc hóa học của phân tử kháng sinh, ví dụ beta-lactamase làm cho các kháng sinh nhóm beta-lactam mất tác dụng
Một vi khuẩn kháng kháng sinh thường là do phối hợp các cơ chế riêng rẽ kể trên, ví dụ trực khuẩn Gram âm kháng beta lactam là do beta lactamase cộng với giảm khả năng gắn PBPs (penicillin binding protein = protein gắn penicillin) và giảm tính thấm của màng sinh chất
2.1.5 Tình hình kháng kháng sinh hiện nay
Kháng sinh là thuốc thuộc danh mục thuốc kê đơn của Bộ Y Tế Và muốn được sử dụng thuốc kháng sinh chúng ta phải được kê đơn của bác sĩ và chỉ định dùng trong từng trường hợp riêng phải được các bác sĩ hướng dẫn cụ thể Tuy nhiên theo khảo sát mới đây nhất của Bộ Y tế (2016) thì tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh ở trên cả nước là đang đáng báo động Với >90% tình trạng sử dụng kháng sinh
là không được kê đơn bởi bác sĩ được điều trị các bệnh phổ biến như viêm họng, viêm phế quản, và các bệnh viêm nhiễm cơ bản khác [22] Chính do tình trạng sử dụng kháng sinh tại nhà tràn làn như vậy nên hiện nay ngay tại các bệnh viện tình trạng kháng thuốc đang rất phức tạp Có những loại thuốc mới đưa vào thị trường Việt Nam chưa đầy 10 năm đã giảm độ nhạy cảm với vi khuẩn và làm giảm hiệu quả điều trị với thuốc rất lớn [12] Vấn đề kháng kháng tinh là vấn đề toàn cầu chứ không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam Tuy nhiên thì tình trạng đang diễn ra ngày càng phức tạp đối với những nước đang phát triển như Việt Nam Tình trạng
Trang 25này là do dân trí của người dân chưa được nâng cao Cùng với đó là quy chế quản lý thuốc của chúng ta chưa thực sự chặt dẫn tới tình trạng các nhà thuốc thoải mái có thể bán những loại thuốc kháng sinh để dân tự dùng dẫn tới tình trạng nhờn thuốc
và kháng thuốc ngày càng tăng lên
Trong khi đó, việc phát triển các kháng sinh mới đã chững lại từ hơn 30 năm nay và chỉ có một vài kháng sinh mới ra đời, trong khi tỷ lệ kháng của vi khuẩn ngày càng gia tăng Kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai Theo WHO, mỗi năm có khoảng 700.000 trường hợp tử vong liên quan tới kháng kháng sinh Ngân hàng Thế giới cũng dự báo tới năm 2050, tình trạng kháng kháng sinh sẽ làm giảm từ 1,1 - 3,8% GDP toàn cầu do phải bỏ tiền để ứng phó với kháng kháng sinh và rất có thể nó sẽ làm cho nhiều người bị bệnh kháng kháng sinh phải rơi vào nghèo đói [13]
2.1.6 Kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán (kháng sinh đồ) của Kirby- Bauer
Kháng sinh đồ là phương pháp được sử dụng để xác định loại kháng sinh còn nhạy với vi khuẩn gây bệnh và mức độ nhạy của kháng sinh đối với vi khuẩn đó Việc lựa chọn kháng sinh tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: vị trí nhiễm trùng, tuổi bệnh nhân… trong đó kháng sinh đồ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc chọn lựa kháng sinh để điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra [4]
Ở Việt Nam từ những năm 1989 được sự tài trợ của tổ chức SIDA - Thụy Điển, chương trình ASTS đã thống nhất về kỹ thuật kháng sinh đồ trong toàn quốc
là kỹ thuật của Kirby - Bauer cải tiến: Phương pháp khoanh giấy kháng sinh khuếch tán trong thạch Đây là phương pháp đơn giản và có thể tiến hành ở các phòng thí nghiệm hàng ngày không cần nhiều trang thiết bị và máy móc [4]
(1) Nguyên lý:
Dùng khoanh giấy có đường kính và độ dày nhất định, vô trùng đã tẩm sắn kháng sinh với một nồng độ nhất định (dựa vào hiệu lực của từng kháng sinh) đặt lên một đĩa môi trường đã nuôi cấy vi khuẩn Nồng độ vi khuẩn cũng đã được qui định trước Để tủ ấm cho vi khuẩn mọc và đo đường kính vòng ức chế vi khuẩn
Trang 26xung quanh khoanh giấy kháng sinh, dựa vào đó xác định mức độ nhạy cảm của vi khuẩn được thử với kháng sinh đó [4]
(2) Môi trường
Thạch Mueller – Hinton (MHA)
Môi trường phải là chuẩn hoá cao, giúp các vi khuẩn gây bệnh thông thường
có thể mọc tốt Có rất nhiều loại môi trường nhưng thạch Mueller - Hinton là thạch tốt nhất để làm thử nghiệm kháng sinh đồ vì:
- Có đầy đủ các yếu tố giúp cho hầu hết các vi khuẩn gây bệnh có thể phát triển được
- Ức chế thấp với sulfonamide, trimethoprim, tetracyclin
- Chất lượng môi trường ổn định từ mẻ này đến mẻ khác
- Đã được tiến hành nghiên cứu với số lượng lớn Nếu môi trường không thích hợp, nghèo dinh dưỡng, vi khuẩn kém phát triển thì vòng vô khuẩn sẽ lớn dẫn đến kết quả sai
Các yếu tố cần thiết để vi khuẩn phát triển
Một số vi khuẩn cần thêm 5% máu cừu hoặc thỏ thì mới phát triển được như các loại liên cầu, phế cầu ) Tuy nhiên ở môi trường có máu thì vòng vô khuấn sẽ nhỏ lại như khoanh giấy của oxacillin, methicillin (nhỏ 2 - 3 mm), vòng vô khuẩn to
ra ở xung quanh khoanh giấy sulfonamide và trimethoprim
Một số vi khuẩn cần thêm các yếu tố bổ trợ để phát triển như vitamin, yếu tố
X, V để phát triển (H influenzae)
Thymidine hoặc Thymine
- Môi trường có chứa số lượng quá lớn thymidine hoặc thymine có thể dẫn đến việc ức chế sulfonamide, trimethoprim làm cho vòng vô khuẩn nhỏ hơn, thậm chí không có vòng vô khuẩn, dẫn đến kết quả sai
- Thêm thymidine phosphorylase hoặc máu cừu bị ly giải có thể làm tăng rõ ràng vòng vô khuẩn của sulfonamide và trimethoprim khi thử với đa số các loại vi khuẩn gây
bệnh (trừ Enterococci) Vì vậy, nên sử dụng chủng mẫu Enterococcus faecalis ATCC
29213 để kiểm tra chất lượng của môi trường có thêm máu cừu hoặc thỏ
- Thạch Mueller - Hinton có chứa sẵn một lượng vừa đủ thyamine tự do
Trang 27- Độ pH còn ảnh hưởng tới hoạt động của kháng sinh:
- pH thấp làm hoạt động kháng sinh giảm và vòng vô khuẩn nhỏ như đối với aminoglycoside, clindamycin, erythromycin, quynolon
- pH thấp làm hoạt động kháng sinh tăng và vòng vô khuẩn rộng như tetracycline, nitrofuratoin, novobiocin, methicillin, oxaciclin
- Khi hấp lò ở nhiệt độ cao, thời gian kéo dài sẽ làm pH giảm, môi trường sẽ
Các môi trường đặc biệt
- Thạch Mueler - Hinton có máu cho S pneumoniae, M catarrhalis
- Thạch Mueler Hinton có yếu tố X và V hoặc thạch socola cho
Haemophilus
(3) Khoanh giấy kháng sinh
Bảo quản kháng sinh: mỗi khoanh giấy kháng sinh được thấm một hàm lượng nhất định tính bằng µg/ml Mỗi kháng sinh có độ bền khác nhau Nhiệt độ và
độ ẩm cao dễ làm bất hoạt kháng sinh nhất là kháng sinh họ β-lactam Vì vậy, đối với kháng sinh sử dụng hàng ngày phải được bảo quản ở 2 - 8°C (ngăn dưới tủ lạnh) Các kháng sinh bảo quản lâu hơn phải bảo quản ở -20°C (ngăn đá)
Hướng dẫn lựa chọn khoanh kháng sinh theo CLSI (2016): Việc lựa chọn các loại kháng sinh phù hợp nhất cho thử nghiệm và báo cáo là quyết định do các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng kết hợp thảo luận với Bác sỹ chuyên khoa Truyền nhiễm, khoa Dược, cũng như với Hội đồng Thuốc và Điều trị, Khoa Chống
Trang 28nhiễm khuẩn của bệnh viện và dựa vào tài liệu CLSI Quá trình cân nhắc đánh giá cho từng nhóm kháng sinh để thử nghiệm dựa trên hiệu quả lâm sàng, tình trạng kháng kháng sinh, giảm thiểu nguy cơ kháng kháng sinh, giá thành, tăng hiệu quả chữa trị Thử nghiệm đối với các loại thuốc kháng sinh chọn lọc có thể sử dụng cho mục đích chống nhiễm khuẩn
Bảng 2.2 Kháng sinh được thử nghiệm và giới hạn vòng vô khuẩn
1 β-lactam
Trang 292.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu về vi khuẩn kháng kháng sinh và phương pháp kháng sinh đồ được sử dụng ở nhiều bệnh viện lớn trên khắp cả nước Điển hình như nghiên cứu của TS Phan Lê Thanh Hương (2014) [12] đã nghiên cứu và phân lập các vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong đó có nhiều loài vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp Nghiên cứu của PGS TS Đoàn Mai Phương về cập nhật tình hình kháng kháng sinh tại Việt Nam TS BS Phạm Hùng Vân và cộng sự [14], [13], [23], [24 đã có rất nhiều nghiên cứu về vi khuẩn gây nhiễm trùng đường hô hấp và tình hình kháng kháng sinh của chúng… Những nghiên cứu này là nền tảng để phát triển kỹ thuật vi sinh trong việc phát hiện vi khuẩn gây bệnh và khảo sát tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở các nước Châu Âu, Châu Mĩ khoa học kỹ thuật phát triển, kỹ thuật vi sinh
đã được sử dụng từ rất lâu trong việc phát hiện vi khuẩn để chẩn đoán bệnh và khảo sát tình hình kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, tìm ra hướng điều trị phù hợp và hiệu quả nhất Đã có rất nhiều nghiên cứu trong đó một
số đề tài tiêu biểu như đề tài của D W Taura và cộng sự đã phân lập được 43 chủng vi khuẩn từ 200 mẫu bệnh phẩm đường hô hấp và đưa ra tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn phân lập được Đề tài của Li-min Wang (2016), của C Manikandan và
cộng sự (năm 2013) cho thấy các vi khuẩn phổ biến được phân lập là: S
pneumoniae, K pneumoniae, S aureus, P aeruginosa, các vi khuẩn khác và đưa ra
tỷ lệ kháng thuốc của từng loại vi khuẩn Một nghiên cứu khác của R.N Ndip và cộng sự về “Kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp” tại Trường đại học Fort Hare, Nam Phi (năm 2008) cũng đã đưa ra được kết quả thống kê các loài
vi khuẩn gây bệnh và tỷ lệ kháng thuốc của chúng
Trang 30Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các chủng vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp phân lập được tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên
Bảng 3.1 Các loại thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
1 Cân phân tích Daihan, Hàn Quốc
Trang 31 Hóa chất
Bảng 3.2 Các loại hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
1 Brilliance Uti agar Mast Group, Anh
2 Columbia agar Mast Group, Anh
3 Fucshin Scharlau, Tây Ban Nha
4 Khoanh kháng sinh BioMerieux SA, Pháp
5 Kligler iron agar BioMerieux SA, Pháp
7 MacConkey agar Mast Group, Anh
8 Mueller hinton agar Mast Group, Anh
9 Manitol salt agar BioMerieux SA, Pháp
10 Natri Clorid 0,9% Việt Nam
11 Tím tinh thể BioMerieux SA, Pháp
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Thu mẫu và xử lý mẫu bệnh phẩm đường hô hấp tại Bệnh viện
ĐKTW Thái Nguyên
Nội dung 2: Phân lập, tuyển chọn và xác định vi khuẩn gây bệnh
Nội dung 3: Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn đã định danh 3.3 Phương pháp thí nghiệm
3.3.1 Phương pháp thu mẫu bệnh phẩm
Tùy vào vị trí tổn thương, mẫu bệnh phẩm được lấy ở vị trí đường hô hấp trên hoặc đường hô hấp dưới:
- Bệnh phẩm đường hô hấp trên: dịch mũi, dịch hầu họng, dịch súc họng, dịch rửa mũi, dịch tỵ hầu, dịch mũi họng
- Bệnh phẩm đường hô hấp dưới: dịch phế quản, dịch phế nang, đờm, đầu catheter
Dịch tỵ hầu:
- Sử dụng ống tăm bông chuyên dụng
Trang 32- Được tiến hành cho những người có tràn dịch màng phổi
- Người bệnh thường được đặt ở tư thế ngồi ôm lấy lưng của ghế, thầy thuốc ngồi phía sau lưng, sau khi khám, phát hiện vùng có dịch màng phổi, bác sỹ thường dùng kim nhỏ chọc qua thành ngực vào khoang màng phổi của bệnh nhân để hút dịch
- Trong trường hợp tràn dịch màng phổi nhiều, bác sỹ có thể tiến hành tháo tiếp dịch màng phổi cho bệnh nhân, lượng dịch tháo ra tối đa không quá 1000ml cho một lần chọc dịch màng phổi
Hút dịch phế quản
- Trong những trường hợp không lấy được đờm, hoặc bệnh nhân có tổn thương phổi nhưng chưa có chẩn đoán chắc chắn bệnh, hoặc nghi ngờ có tổn thương trong lòng đường thở, khi đó bệnh nhân sẽ được giải thích là cần phải tiến hành nội soi phế quản
- Trong nội soi, nếu phát hiện có tổn thương ở bề mặt đường thở, khi đó bác sỹ thường sẽ sinh thiết lấy một số mảnh ở vùng tổn thương Trong trường hợp không thấy tổn thương, có thể tiến hành bơm dịch vào vùng phổi tổn thương được thấy trước trên phim chụp phổi hoặc chụp cắt lớp phổi Dịch bơm rửa sau đó được hút lại
Trang 33Bảng 3.3 Môi trường nuôi cấy cho từng loại bệnh phẩm
Bệnh phẩm
Môi trường
Số lượng (đĩa) Tủ ấm
Số lượng (đĩa) Tủ ấm
Số lượng (đĩa) Tủ ấm
- Sau khi cấy, vi khuẩn được nuôi trong tủ ấm khoảng 24 - 48 giờ
- Quan sát hình thái khuẩn lạc, nhuộm gram và định danh bằng các phương pháp khác nhau
3.3.3 Phương pháp nhuộm Gram
đó cố định tiêu bản trên lam kính bằng cách hơ cao tren ngọn lửa đèn cồn
- Nhỏ thuốc nhuộm tím gentian lên tiêu bản trong 2 phút, rửa nước
- Nhỏ dung dịch lugol lên trong 2 phút, rửa nước;
- Tẩy màu bằng cồn 960 tới khi hết màu;
- Nhỏ thuốc nuộm fucshin kiềm lên trong 1 phút;
- Rửa qua nước;
- Thấm khô bằng giấy hoặc để khô tự nhiên
Soi dưới vật kính dầu (100X)
Vi khuẩn gram dương bắt màu tím sẫm gentian
Vi khuẩn gram âm bắt màu đỏ fucshin
Trang 343.3.4 Các phương pháp định danh vi khuẩn
3.3.4.1 Các tính chất sinh vật hóa học định danh vi khuẩn
(1) Thử nghiệm oxidase [6]
Quy trình:
- Lấy giấy đã được thấm tetramethyl-p-phenylenediamine dihydrochloride;
- Làm ướt giấy bằng nước cất vô trùng;
- Nhặt 1 khuẩn lạc bằng que gỗ hoặc que cấy bạch kim, phết lên tấm giấy;
- Quan sát vị trí đã phết khuẩn lạc lên trong vòng 10 - 30 giây xem có màu xanh đậm hoặc màu tím xuất hiện không
Kết quả Oxidase test
- Dương tính: Xuất hiện vùng có màu tím đen (indophenols) trong khoảng
10 giây
- Âm tính: Màu giấy giữ nguyên
(2) Thử nghiệm Coagulase (đông huyết tương) [15]
Nguyên tắc: Phát hiện sự có mặt của men Coagulase bằng phản ứng đông huyết tương thỏ
- Là phản ứng phân biệt tụ cầu gây bệnh và không gây bệnh
- Cho vào ống nghiệm 0,5ml huyết tương thỏ, sau đó nhỏ vào ống nghiệm 0,5ml dịch cấy vi khuẩn, Ủ ấm 37oC trong 18 - 24h
- Phản ứng dương tính: Xuất hiện khối đông tụ Nếu sau 24h không thấy xuất hiện khối đông tụ: Phản ứng âm tính
(3) Thử nghiệm phân giải hồng cầu (tan huyết) [6]
Một số vi khuẩn có khả năng phân giải hồng cầu có thể quan sát thấy trên thạch máu Vùng tan máu được hình thành xung quanh khuẩn lạc Có ba dạng tan máu:
Tan máu (ß): vùng trong suốt xung quanh khuẩn lạc
Tan máu (α): vùng xám xanh xung quanh khuẩn lạc
Tan máu (γ): không có vùng tan máu
Trang 35(4) Phản ứng ngưng kết [5]
Ngưng kết định tính trên phiến kính:
Lấy khuẩn lạc thuần trộn lẫn với kháng huyết thanh, nếu tương ưng đặc hiệu
sẽ xảy ra hiện tương ngưng kết: có các hạt ngưng kết li ti, nước xung quanh trong
Ngưng kết định lượng trong ống nghiệm:
- Pha loãng huyết thanh chia ra các ống nghiệm;
- Cho khuẩn lạc thuần vào ống, ủ 370C trong 24 giờ;
- Nếu ngưng kết: có các hạt li ti, làm nước trong lại
(5) Thử nghiệm trên môi trường shapman [6]
Là môi trường chọn lọc dùng để phát hiện, phân lập và định lượng tụ cầu khuẩn gây bệnh tụ càu khuẩn có thể chịu được nồng độ muối cao 7,5% trường môi trường shapman, đồng thời ghi nhận tụ cầu khuẩn nào gây đông tụ huyết tương thỏ
sẽ hình thành khuẩn lạc vàng trên môi trường shapman, môi trường có khả năng ức chế hầu hết vi khuẩn khác
Quy trình
- Cấy vi khuẩn thuần lên môi trường shapman;
- Nuôi trong tủ ấm 370C, trong 24 giờ
Kết quả thử nghiệm trên môi trường shapman
- Dương tính: Vi khuẩn phát triển làm đổi màu của môi trường shapman từ
đỏ sang vàng
- Âm tính: vi khuẩn không phát triển, môi trường shapman không bị đổi màu
(6) Thử nghiệm Optochin [6]
Quy trình
- Cấy dày lên đĩa thạch máu 5% vi khuẩn;
- Đặt khoanh giấy optochin lên vùng đĩa đã cấy vi khuẩn;
- Ủ ấm 35 - 370C, trong 16 - 24 giờ;
- Quan sát : nếu quanh khoanh giấy optochin xuất hiện vòng vô khuẩn với đường kính ≥ 14mm là dương tính; nếu xung quanh khoanh optochin không có vòng vô khuẩn hoặc có vòng vô khuẩn với đường kính ≤ 14mm là âm tính
Trang 36(7) Thử nghiệm X, V [6]
Yếu tố X (heamin) và yếu tố V (nicotinamide-adenine-dinucleotide, NAD) là các yếu tố cần thiết để phân loại các loài Haemophilus, đặc biệt là dùng để xác định Haemophilus influenzae
Quy trình
- Cấy vi khuẩn lên đĩa thạch;
- Đặt khoanh X, V lên môi trường đã cấy vi khuẩn, khoảng cách giữa 2 khoanh là 1,5-2cm;
- Ủ ấm ở 370C, trong 18-24 giờ
Đọc kết quả
- Dương tính với Haemophilus influenzae khi thấy vi khuẩn chỉ mọc giữa 2
khoanh X và V (có thể hơi lệch về phía X vì V khuếch tán nhanh hơn), do vi khuẩn cần cả 2 yếu tố để phát triển
- Nếu vi khuẩn chỉ mọc quanh khoanh giấy X là H aphrophilus
- Nếu chỉ mọc quanh khoanh giấy V là H parainfluenzae
- Nếu chỉ mọc quanh X và V nhưng có vòng tan huyết (trên môi trường
- Môi trường được sử dụng là môi trường Kligler (KIA): Có nồng độlactóe gấp 10 lần nồng độ giucose Được đổ trong ống nghiệm dài: Phần đứng (3cm), phần nghiêng (3cm)
Quy trình
- Vi khuẩn được cấy ria lên môi trường KIA trong ống thạch nghiêng
- Nuôi ở 370C, trong 18-24 giờ
Trang 37 Kết quả
- Phần đướng và phần nghiêng màu đỏ kiềm: Không lên men đường
- Phần đứng màu vàng, phần nghiêng màu đỏ: Lên men glucose và không lên men lactose
- Cả 2 phần đều vàng: Lên men cả glucose và lactose
3.3.4.2 Hệ thống Api 20E test [6]
Api 20E là một hệ thống chuẩn để định danh những trực khuẩn đường ruột
và các trực khuẩn Gram (-) khác, sử dụng thanh bao gồm 21 test tiểu sinh hóa và một cơ sở dữ liệu Danh sách hoàn chỉnh của những tổ chức vi khuẩn trên có thể xác định bằng hệ thống này được đưa ra trong Bảng định danh ở cuối của bản hướng dẫn sử dụng
Quy trình:
Mẫu bệnh phẩm là các khuẩn lạc Gram âm thuần
Thực hiện phản ứng Oxidase và ghi kết quả vào giếng thứ 21 của thanh
(1) Chuẩn bị thanh
(2) Chuẩn bị chủng
(3) Cho hỗn dịch vào giếng
(4) Đọc thanh Api:
3.3.4.3 Hệ thống Api 20NE test [6]
API 20 NE là một hệ thống chuẩn để định danh những trực khuẩn ngoài
đường ruột, và các Gram (-) dễ thích ứng (ví dụ: Pseudomonas, Acinetobacter,
Flavobacterium, Moraxella, Vibrio, Aeromonas, v v ) kết hợp giữa 8 test thường
quy, 12 test đồng hóa và một cơ sở dữ liệu Danh sách hoàn chỉnh của những vi khuẩn có thể xác định bằng hệ thống này được đưa ra trong Bảng định danh ở cuối của bản hướng dẫn sử dụng
Quy trình
(1) Lựa chọn mẫu
API 20NE chỉ nên được sử dụng đối với các loại trực khuẩn Gram (-) dễ thích nghi không thuộc họ Vi khuẩn đường ruột
Trang 38Thử Oxidase và ghi kết quả vào giếng thứ 21
(2) Chuẩn bị thanh
(3) Chuẩn bị chủng
(4) Cấy chủng vào thanh
(5) Đọc và dịch kết quả
3.3.5 Phương pháp khoanh giấy kháng sinh khuếch tán của Kibry-Barer
Mục đích: Tìm hiểu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh giúp
đánh giá tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp [15]
Cách tiến hành [4][6]
- Chuẩn bị môi trường: Tùy từng loại vi khuẩn cần chuẩn bị môi trường
thích hợp: môi trường thạch máu, MHA, socola
- Pha hỗn hợp dịch vi khuẩn đạt nồng độ 106 vi khuẩn /ml so sánh với độ đục chuẩn của Mc Farland 0,5
- Cấy vi khuẩn: để khô mặt thạch bằng cách đặt thạch vào tủ ấm 15 phút trước khi cấy vi khuẩn Dùng tăm bông vô trùng, thấm huyễn dịch vi khuẩn đã pha cấy đều lên khắp mặt thạch
- Đặt khoanh kháng sinh: dùng kim tiêm đặt khoanh kháng sinh tiếp xúc hoàn toàn với mặt thạch, cách đều nhau khoảng 2cm, cách thành đĩa khoảng 1cm
- Để ở nhiệt độ phòng 20 phút trước khi nuôi trong tủ ấm
- Ủ ấm ở 37 0C, trong 18 - 24h
Đọc và diễn giải kết quả [4]
Đo đường kính vòng vô khuẩn xung quanh khoanh giấy kháng sinh, đường kính tính bằng milimet Đường kính này được chia thành các mức độ: Nhạy cảm (S), trung gian (I) và kháng (R) dựa vào bảng chuẩn theo hướng dẫn của CLSI
2016
Trang 39Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả thu mẫu bệnh phẩm đường hô hấp của bệnh nhân tại bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên
Trong thời gian nghiên cứu từ ngày 21/11/2016 đến ngày 10/5/2017 nhóm nghiên cứu đã thu thập được 370 bệnh phẩm đường hô hấp từ bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện ĐKTW Thái Nguyên Kết quả được thống kê dưới bảng sau:
Bảng 4.1 Tổng hợp mẫu bệnh phẩm đường hô hấp thu được tại bệnh viện
Qua bảng 4.1 cho thấy bệnh phẩm được lấy từ các vị trí khác nhau của đường
hô hấp như: Đờm, dịch tỵ hầu, dịch phế quản và dịch màng phổi Trong đó: bệnh phẩm dịch tỵ hầu có tỷ lệ nhiều nhất chiếm 43,8 %; bệnh phẩm đờm 26,5%; bệnh phẩm dịch phế quản 15,4% và số lượng ít nhất là bệnh phẩm dịch màng phổi 14,3%
4.2 Kết quả phân lập và định danh các chủng vi khuẩn gây bệnh
Sử dụng 370 mẫu bệnh phẩm đường hô hấp thu được từ bệnh nhân tại Bệnh viện Đa Khoa Thái Nguyên nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng thích hợp, thu được kết quả như sau:
Bảng 4.2 Số chủng vi khuẩn phân lập được từ mẫu bệnh phẩm