1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính cá nhân riêng tư trong nhật ký văn học (khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và nhật ký văn học việt nam) (2018)

74 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 811,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen thuộc với những tác phẩm nhật ký của các tác giả trong nước như Nhật ký Đặng Thùy Trâm ĐặngThùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươ Nguyễn Văn Thạc, Ở rừng Nam Cao,…h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LƯU LY

TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ TRONG NHẬT KÝ VĂN HỌC

(Khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và

nhật ký văn học Việt Nam)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

S HOÀNG THỊ DUYÊN

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LƯU LY

TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ TRONG NHẬT KÝ VĂN HỌC

(Khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và

nhật ký văn học Việt Nam)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

ThS HOÀNG THỊ DUYÊN

Người hướng dẫn kho

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo từ thầy cô để khóa luận hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Lưu Ly

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của tôi, không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Lưu Ly

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Dự kiến đóng góp của khóa luận 6

8 Bố cục của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN HỌC VÀ TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ 7

1.1 Khái quát về thể loại nhật ký văn học 7

1.1.1 Khái niệm “nhật ký” 7

1.1.2 Phân loại nhật ký 9

1.1.2.1 Nhật ký ngoài văn học 9

1.1.2.2 Nhật ký văn học 10

1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại nhật ký văn học 12

1.1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học trên thế giới 12 1.1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học ở Việt Nam 14

1.2 Tính chất cá nhân riêng tư 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Đặc điểm của tính chất cá nhân riêng tư 17

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ TRONG SỰ VIẾT 19

2.1 Nhật ký viết riêng cho mình của chủ thể 19

Trang 6

2.1.1 Nhật ký tựa như một hình thức độc thoại 19

2.1.2 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong nhật ký văn học 23

2.1.2.1 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong một số thể loại ký 25

2.1.2.2 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong nhật ký văn học 28

2.2 Nhật ký là những trải nghiệm cá nhân của chủ thể 39

2.2.1 Nhật ký ghi chép những sự kiện hàng ngày của người viết 39

2.2.2 Nhật ký đưa đến một góc nhìn đa diện về cuộc đời của người viết 44

2.3 Nhật ký là thế giới bí mật của cá nhân người viết 48

2.3.1 Lời tự bộc bạch của thế giới nội tâm 48

2.3.1.1 Về chính mình 49

2.3.1.2 Về cuộc sống xung quanh 52

2.3.2 Những suy nghĩ, bí mật riêng tư không thể nói ra 53

Chương 3 BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CHÂT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ TRONG SỰ TIẾP NHẬN 55

3.1 Đọc nhật ký để thấy được cuộc sống hiện lên chân thực 55

3.2 Tiếp nhận nhật ký trên cơ sở “đọc ké” chuyện của người khác 62

KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thể loại ký ngày càng làm giàu khả năng phản ánh bằng một hệ thống

tiểu loại phong phú, bắt kịp tốc độ hiện đại hóa Trong sự vận động này, nó đã góp cho nền văn học một tiểu loại ký mới mẻ, được du nhập từ văn học phương Tây: đó là thể loại nhật ký

Ở Việt Nam, so với các tiểu loại khác trong thể ký như: ký sự, phóng sự, tùy bút, hồi ký,…nhật ký dường như ít được chú ý hơn không phải bởi nó ít

có giá trị mà là số lượng nhật ký được xuất bản, cả của tác giả nước ngoài và tác giả Việt Nam khá hiếm hoi Không chỉ vậy, nhật ký được coi là tài sản cá nhân, cho nên việc đọc nhật ký của người khác là có thể bị coi là một sự xâm phạm, vì vậy các tác phẩm nhật ký thường không quá thu hút bạn đọc như các thể loại khác

Tuy nhiên, trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhật ký được xuất bản nhiều tại nước ta, đặc biệt là “cơn sốt” mang tên nhật ký chiến trường với một số tác

phẩm như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký chiến trường,…đã thu hút một lượng lớn độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình

Bạn đọc bắt đầu có nhu cầu tìm đọc các cuốn nhật ký cả trong và ngoài nước Người đọc thưởng thức tác phẩm nhật ký cá nhân như một tác phẩm văn học thực sự Đồng thời, hình thức “giả nhật ký”, tức là một số truyện ngắn, tiểu thuyết,…viết dưới hình thức một cuốn nhật ký vốn không còn xa lạ càng trở nên “hot” hơn bao giờ hết, liên tục các tác phẩm như vậy được xuất bản làm phong phú, sôi động thêm diện mạo nền văn học dân tộc và có những tác động nhất định đến xã hội

1.2 Khác với các thể loại khác, nhật ký là văn bản viết cho chính người

viết, nó ghi chép cuộc sống hàng ngày và thế giới nội tâm thầm kín của chủ

Trang 8

thể Chính vì thế, tính chất cá nhân riêng tư của nhật ký sâu sắc hơn bất cứ thể loại nào Tính chất này nằm ở cả hai phía: người viết và người tiếp nhận Khi đọc một cuốn nhật ký, người đọc phải rất chú ý đến điểm này

Trong dự thảo chương trình môn Ngữ văn ở chương trình phổ thông mới vừa công bố chiều ngày 19/01/2018 [8], Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng đưa ra phụ lục các văn bản (ngữ liệu) bắt buộc và gợi ý cho các tác giả sách giáo khoa và giáo viên Trong đó, có khá nhiều tác phẩm nhật ký có mặt trong phần các văn bản gợi ý kéo dài từ chương trình tiểu học đến chương trình phổ

thông trung học như: Những tấm lòng cao cả, Một lít nước mắt, Nhật ký Anne Frank, Nhật ký Đặng Thùy Trâm,… Điều này cho thấy tầm quan trọng

của việc dạy và học các tác phẩm nhật ký Nắm rõ các đặc điểm của thể loại nhật ký, trong đó có yếu tố tính chất cá nhân riêng tư sẽ giúp cho các bạn sinh viên sắp ra trường khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo đang giảng dạy tại các trường học và các em học sinh một công cụ để đọc-hiểu, dạy và học các tác phẩm nhật ký văn học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Từ xưa đến nay, một bộ phận rất lớn người dân trên toàn thế giới đều

có thói quen ghi nhật ký hàng ngày Nhật ký xuất hiện từ lâu dưới góc độ là

sự ghi chép những sự kiện và cảm xúc ở thời hiện tại của chính người viết Nghĩa là về mặt thời gian, nhật ký đã xuất hiện từ rất sớm Ngay từ những bức

vẽ đơn sơ về sinh hoạt, săn bắn trên vách tường trong hang động của người nguyên thủy có thể được xem là một dạng nhật ký Tuy nhiên, để được khẳng định như một thể loại văn học, là một tiểu loại của thể ký với những đặc trưng riêng biệt thì chỉ mới ở thời gian gần đây (tất nhiên không phải bất kỳ một cuốn nhật ký nào cũng được xem là nhật ký văn học) Tính đến thời điểm hiện nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu ở nước ta đưa ra hệ thống

kiến thức lý luận về thể loại nhật ký văn học: 150 thuật ngữ văn học (Lại

Trang 9

Nguyên Ân), Từ điển thuật ngữ văn học (tập thể tác giả Trần Đình Sử-Lê Bá Hán-Nguyễn Khắc Phi), Lý luận văn học tâp 2-Tác phẩm và thể loại (Trần Đình Sử), Thể loại nhật ký trong đời sống xã hội và trong văn học (Trần Đình Sử), Lý luận văn học (Hà Minh Đức),… góp phần tạo nên bộ mặt khái

quát cho thể loại này Mặc dù vậy, các công trình này còn chưa thực sự đầy

đủ và cụ thể

2.2 Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen thuộc với những tác phẩm nhật ký của

các tác giả trong nước như Nhật ký Đặng Thùy Trâm (ĐặngThùy Trâm), Mãi mãi tuổi hai mươ (Nguyễn Văn Thạc), Ở rừng (Nam Cao),…hay các tác phẩm nhật ký nước ngoài như Nhật ký Anna Frank (Anne Frank), Một lít nước mắt (Kito Aya),…thậm chí là những cuốn tiểu thuyết viết dưới dạng nhật ký như Những tấm lòng cao cả (Edmondo De Amicis), Nhật ký công chúa (Meg Cabot), Nhật ký ngốc xít (Jim Benton),…Tuy nhiên, hầu như

chưa có bất kỳ một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về tất cả những tác phẩm trên

Trong những năm trở lại đây, đã có khá nhiều những bài viết hay công

trình nghiên cứu về mảng nhật ký của Việt Nam như: Nguồn tư liệu văn học đáng quý (Tô Phương Lan), Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm – nghĩ về văn hóa đọc (Nguyễn Hòa), Đặc trưng ngôn từ trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng (Hoàng Thị Duyên),…;hay các khóa luận tốt nghiệp về như: Người trần thuật trong Nhật ký Anne Frank (Nguyễn Thị Thảo), Nhật ký như một thể loại văn học (Hoàng Thị Thảo), Ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong thể loại nhật ký văn học (Nguyễn Anh Minh) Còn

những tác phẩm rất “hot”, gây được tiếng vang trên toàn thế giới khác như

Một lít nước mắt (Kito Aya), Nhật ký công chúa (Meg Cabot), Nhật ký ngốc xít (Jim Benton),… lại không có một công trình nghiên cứu chính thức nào

Trang 10

Cụ thể hơn, về vấn đề Tính chất cá nhân riêng tư trong thể loại nhật ký văn học đã có Cao Thị Hoa, sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình nhưng chỉ dừng lại ở việc

khảo sát các tác phẩm: Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký chiến trường, Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn mà chưa có cái nhìn phổ quát hơn, đặc biệt là ở các tác phẩm nhật ký

nước ngoài

Với mong muốn góp phần làm phong phú thêm cho diện mạo của thể loại

và cung cấp một nguồn ngữ liệu cho việc dạy và học tác phẩm nhật ký văn

học, chúng tôi chọn đề tài Tính cá nhân riêng tư trong nhật ký văn học (khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và nhật ký văn học Việt Nam) Với đề tài khóa luận này, chúng tôi tập trung khai thác đặc

trưng cơ bản nhất của nhật ký là sự riêng tư cá nhân trên phương diện sự viết

và sự tiếp nhận

3 Mục đích nghiên cứu

Nhật ký văn học đã không còn xa lạ với bất cứ ai trong mỗi chúng ta Nhật

ký mở ra phần bị khuất lấp trong cuộc đời của một người, đem đến cho ta cái nhìn toàn cảnh hơn về đời sống xã hội mà ta tưởng như nắm rõ Đọc nhật ký

là đang tiến đến gần nhất thế giới nội tâm của chủ thể, hiểu được rõ nhất những sự thực vốn bị ẩn giấu

Nghiên cứu về Tính chất cá nhân riêng tư trong nhật ký văn học, chúng

tôi muốn mang đến cái nhìn cụ thể hơn về một đặc trưng của thể loại nhật ký văn học, để dễ dàng phân biệt thể loại nhật ký với các tiểu loại khác trong thể

ký và để thêm một lần khẳng định nhật ký như một thể loại văn học

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi hi vọng bạn đọc có thể trang bị thêm cho mình một công cụ giúp đọc - hiểu nhật ký, để hiểu được nội dung của nhật ký và giá trị mà nó đem lại

Trang 11

4 Đối tượng nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu các tác phẩm nhật ký văn học trên phương diện tính chất cá nhân riêng tư trong sự viết và

sự tiếp nhận

5 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận này khảo sát một số tác phẩm nhật ký văn học sau:

- Nhật ký văn học nước ngoài:

+ Nhật ký Anne Frank

+ Nhật ký Hélène Berr

+ Nhật ký Che Guevara

+ Một lít nước mắt,…

- Nhật ký văn học Việt Nam

+ Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng

+ Nhật ký Đặng Thùy Trâm

+ Mãi mãi tuổi hai mươi

+ Nhật ký mang thai khi 17,…

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi đưa ra những phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: tìm hiểu, cắt nghĩa, lý giải những yếu tố thuộc về tính chất cá nhân riêng tư trong sự viết và sự tiếp nhận của nhật ký văn học

Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu giữa nhật ký với các tiểu loại trong thể loại ký văn học hay truyện ngắn, tiểu thuyết,…để tìm ra nét khác biệt, đặc trưng của nhật ký văn học

Trang 12

7 Dự kiến đóng góp của khóa luận

Với đề tài “Tính chất cá nhân riêng tư trong nhật ký văn học”, trên cơ

sở những kiến thức lý luận chung về tính cá nhân riêng tư, chúng tôi mong muốn mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về đặc trưng của thể loại, làm đa dạng hơn góc độ nghiên cứu thể loại nhật ký; từ đó góp phần trợ giúp cho việc dạy và học nhật ký trong nhà trường

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thể loại nhật ký văn học và tính chất cá nhân riêng tư

Chương 2: Biểu hiện của tính chất cá nhân riêng tư trong sự viết

Chương 3: Biểu hiện của tính chất cá nhân riêng tư trong sự tiếp nhận

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN HỌC VÀ

TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ

Nhật ký văn học ngày càng có sức lan tỏa mạnh mẽ và trở thành một trong những thể loại thu hút độc giả nhất trong cuộc sống hiện đại ngày nay Bản chất của nhật ký là sự ghi chép những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, những điều diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của người viết Chính yếu tố này đã tạo nên một đặc trưng nổi bật của nhật ký là tính chất cá nhân riêng tư

1.1 Khái quát về thể loại nhật ký văn học

1.1.1 Khái niệm “nhật ký”

Trong tiếng Anh, có hai từ đều mang ý nghĩa là nhật ký: “diary” và

“journal” Theo từ điển Oxford, “diary” có thể được hiểu là cuốn sách nơi mà bạn có thể ghi chép những suy nghĩ, cảm xúc hay sự việc xảy ra mỗi ngày (“book used for a daily record events, future appointment, etc” [34,123] ) còn

“journal” mang hai ý nghĩa, đầu tiên nghĩa là một cuốn tạp chí hay tờ báo liên quan đến một chủ đề cụ thể (“magazine or newspaper that deals with a particular subject” [34,240]), nghĩa thứ hai là sự ghi chép những kế hoạch hàng ngày (“daily written record of events” [34,240]) Tuy nhiên, khi sử dụng

để goi về thể loại nhật ký, người ta thường sử dụng từ “diary” như Anne Frank’s diary, Mrs Jones’s diary,…mà không dùng từ “journal” vì sự khác

biệt nhất ở hai khái niệm này là khía cạnh cảm xúc Nếu “journal” thường thiên về ghi chép những sự việc mang tính kế hoạch được đề ra hàng ngày để thực hiện thì “diary” là những sự kiện được ghi chép xảy ra trong ngày, mang đậm thái độ, cảm xúc của người viết về vấn đề được đề cập đến

Trang 14

Còn trong tiếng Việt, khái niệm “nhật ký” có thể hiểu theo lối chiết tự:

“nhật” là hàng ngày, còn “ký” là ghi chép Như vậy, có thể hiểu đơn giản nhật

ký là những ghi chép về cuộc sống hàng ngày Theo Từ điển Tiếng Việt, nhật

ký là “việc ghi chép hàng ngày”[18,654]

Kiến thức lý luận về thể loại nhật ký chỉ xuất hiện trong các bài viết, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam một cách sơ lược, khái quát trong một số

mục nhỏ như Từ điển thuật ngữ văn học (tập thể tác giả Trần Đình Sử - Lê

Bá Hán – Nguyễn Khắc Phi, Từ điển văn học (Lại Nguyên Ân),…

Một trong những công trình đầu tiên đề cập đến nhật ký như một thể loại

văn học độc lập là cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của tập thể các tác giả

Trần Đình Sử - Lê Bá Hán – Nguyễn Khắc Phi Tại mục “Ký”, ba tác giả đã

đưa ra định nghĩa về thể ký: “Một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo

chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du

ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy bút,…”[13,137] Từ đó, có thể thấy, các tác

giả khẳng định nhật ký là một tiểu loại của thể ký Đến mục “Nhật ký”, các

tác giả định nghĩa rằng: “Một thể loại thuộc loại hình ký Nhật ký là hình thức

tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến Khác với hồi ký, nhật ký thường chỉ ghi lại những sự kiện, những cảm nghĩ “vừa mới xảy ra” chưa lâu”[13,200] Cũng trong mục này, các tác giả còn phân chia nhật ký thành

các tiểu loại nhật ký văn học và nhật ký ngoài văn học Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là nhật ký văn học và nhật ký ngoài văn học thì chưa có nhận định rõ ràng

Trong Từ điển văn học, mục “Nhật ký”, tác giả Lại Nguyên Ân có nêu

định nghĩa về nhật ký, là “loại văn ghi chép sinh hoạt thường ngày Trong

văn học, nhật ký là hình thức trần thuật ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những

Trang 15

ghi chép hàng ngày có đánh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm; nó ít hồi cố; được viết

ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận.”[15,1257] Định nghĩa trên đã đưa ra được yêu cầu cho một tác phẩm

nhật ký văn học Tuy nhiên, ở quan điểm nhật ký văn học “được viết ra chỉ

cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận”

thì không hoàn toàn chính xác bởi có thể thấy rằng hiện nay có rất nhiều những tác phẩm nhật ký văn học mà thực chất là những tiểu thuyết, truyện ngắn sử dụng hình thức nhật ký để thu hút độc giả

Như vậy, từ những định nghĩa trên, có thể khẳng định rằng nhật ký là sự ghi chép cá nhân về những sự việc xảy ra hàng ngày và những suy nghĩ, cảm xúc thầm kín của người viết

1.1.2 Phân loại nhật ký

Có nhiều quan niệm về cách phân loại nhật ký nhưng chủ yếu vẫn là quan niệm chia nhật ký làm hai loại: nhật ký ngoài văn học và nhật ký văn học Tuy nhiên, trong mỗi loại nhật ký này lại có các tiểu loại nhỏ hơn chưa được thống nhất Với công trình nghiên cứu này, tôi xin mạnh dạn đưa ra cách phân loại của mình cũng dựa trên hai loại nhật ký ngoài văn học và nhật ký văn học như sau:

1.1.2.1 Nhật ký ngoài văn học

Nhật ký ngoài văn học là những cuốn nhật ký viết ra nhằm mục đích cá nhân hay ghi chép những sự vụ, kế hoạch hàng ngày mà bất cứ ai cũng có thể viết nhật ký dưới dạng này

Nhật ký ngoài văn học có thể được chia thành:

Nhật ký sự vụ (nhật ký công việc): Nhật ký ghi chép vắn tắt tiến trình công việc, có thể kể đến loại nhật ký công tác (có nội dung khoa học) hay nhật ký sự vụ chuyên biệt (như hải trình, một dạng nhật ký hàng hải) Các thể

Trang 16

loại nhật ký công việc này không được coi như là thể loại nhật ký văn học trừ một vài ngoại lệ

Nhật ký cá nhân: Nhật ký cá nhân thông thường được coi như một thể tài ngoài văn học hay cận văn học, là loại văn ghi chép của cá nhân trong đời sống hàng ngày Do vậy, nhật ký thường chân thành và công nhiên trong phát ngôn; bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã diễn ra, đã nếm trải, đã thử nghiệm, và ít khi hồi cố Nhật ký được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận, và đây là điểm phân biệt nó với nhật ký văn học Nhật ký cá nhân thường nói về các sự kiện của đời tư với tính chất xác thực đặc biệt Bên cạnh các sự kiện đời tư, nhật ký cũng nói lên những ý kiến nhận xét về cuộc đời, thường được rút ra từ các suy nghĩ về cuộc sống của bản thân người ghi Nhật ký là thể tài độc thoại, nhưng lời độc thoại của nhật ký có thể mang tính chất đối thoại bên trong, do tính đến ý kiến của người khác về cuộc đời và về bản thân người ghi nhật ký

Nhật ký điện tử (Blog): Blog cá nhân, trang thành viên Facebook cũng

có thể coi là một dạng nhật ký điện tử, tuy rằng trong thực tế blog hay trang mạng xã hội đáp ứng vai trò đa dạng hơn với chức năng trang chủ cá nhân, kho lưu trữ thông tin, nhật ký, các mối quan hệ v.v

1.1.2.2 Nhật ký văn học

Cũng như nhật ký ngoài văn học, nhật ký văn học cũng là những cuốn nhật ký viết ra nhằm mục đích cá nhân hay ghi chép những sự vụ, kế hoạch hàng ngày Mặc dù vậy, đặc điểm để phân chia hai loại này chính là ở điểm tất cả các tác phẩm nhật ký văn học đều được công bố đến độc giả và được độc giả đón nhận Nghĩa là dù ở dưới dạng đã xuất bản hay chỉ là những bài viết trên mạng, những tác phẩm này có giá trị thực sự ý nghĩa, sâu sắc và nhân văn đối với xã hội hơn là những ghi chép chỉ mang tính chất cá nhân Nhật ký

Trang 17

văn học đã vượt qua rào cản của một người để trở thành câu chuyện của cả một tập thể, một dân tộc

Nhật ký văn học bao gồm:

Nhật ký sự vụ, nhật ký cá nhân có tính chất văn học: một số nhật ký cá nhân, nhật ký sự vụ của nhà văn hoặc một nhân vật lịch sử đặc biệt được công

bố, phát hành đến công chúng sau khi họ mất hay muốn gửi gắm một thông

điệp nào đó cho xã hội, như Nhật ký Anne Frank (AnneFrank), Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Đặng Thùy Trâm), Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc), Nhật ký Thiện Nhân (Trần Mai Anh), Dọc đường lưu diễn (Nguyễn

Ngọc Bạch),… cũng có thể coi là một dạng nhật ký văn học, dù đặc trưng thể loại và hình thức của chúng không phải là một nhật ký văn học đích thực từ trong ý đồ dụng bút của người viết Những tác phẩm này đã xóa bỏ rào cản cá nhân để mang đến một cái nhìn chủ quan hơn, cụ thể hơn về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày

Nhật ký hư cấu: nhật ký hư cấu hay còn gọi là “hình thức giả nhật ký”

có thể hiểu đơn giản là những tiểu thuyết, truyện ngắn được nhà văn dùng hình thức nhật ký để sáng tác với dụng ý nhất định Kiểu nhật ký này không

hề xa lạ mà đã rất quen thuộc với bạn đọc qua hàng loạt những sáng tác nổi

tiếng như Những tấm lòng cao cả (Edmondo De Amicis), Nhật ký công chúa (Meg Cabot), Nhật ký chú bé nhút nhát (Jeff Kinney), Nhật ký mang thai khi mười bảy (Võ Anh Thơ),…Có thể khẳng định rằng dù nhật ký hư cấu

vẫn mang trong mình những đặc trưng của thể loại là sự ghi chép của cá nhân người viết, tức nhân vật “tôi” nhưng nếu như ở các loại nhật ký khác, tác giả chính là “tôi” thì nhân vật “tôi” trong trường hợp này lại là một nhân vật hư cấu do tác giả sáng tạo ra, hoàn toàn không có thật Lúc này, nhật ký hư cấu mang trong mình rất đậm nét những đặc trưng của tiểu thuyết, truyện ngắn,…:

Trang 18

viết ở ngôi kể thứ nhất và xây dựng những hình tượng nhân vật để phản ánh

xã hội

1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại nhật ký văn học

1.1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học trên thế giới

Như đã nhắc đến ở phần lịch sử vấn đề, nhật ký đã xuất hiện từ rất sớm Ngay từ những bức vẽ đơn sơ về sinh hoạt, săn bắn trên vách tường trong hang động của người nguyên thủy có thể được xem là một dạng nhật ký Chẳng hạn như ở Bhimbetka (Ấn Độ) có hơn 600 hang đá được trang trí với hàng trăm bức tranh khắc trên đá ấn tượng Các bức tranh chủ yếu vẽ cảnh sinh hoạt cũng như cuộc sống của người dân thời kỳ đó Các loài vật như bò rừng, hổ, sư tử và cá sấu cũng được mô tả rất nhiều Bức vẽ xưa nhất được cho là có niên đại khoảng 12.000 năm Và còn rất nhiều những bức tranh trong hang đá khác xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức ghi chép lại những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hàng ngày

Tuy nhiên, phải đến sau này, nhật ký mới dần được ý thức như một thể loại văn học, là một tiểu loại của ký Thực tế, người Nhật đã bắt đầu hình thành một dòng văn học gồm các đoạn văn xuôi được viết tùy hứng và tương đối ngắn gọn từ thời Heian Dòng văn học phát triển từ rất sớm ở Nhật và chảy xuyên suốt qua các thời đại của văn học Nhật Bản này được các nhà nghiên cứu hiện đại gọi là 日記文学 “Nikki bungaku” (Văn học Nhật ký)

Thuật ngữ “nhật ký” (日記)được dùng đầu tiên bởi Vương Sung

(27-97 TCN) trong Luận hành Vương Sung đã dùng tên gọi “nhật ký” để thay thế cho tên gọi “xuân thu”, vốn xuất hiện trong Kinh Xuân thu của Nho gia

và Tả truyện để chỉ các đoạn ghi chép các sự kiện theo mùa Mặc dù các

phiến đoạn trong tác phẩm của Vương Sung không được ghi chép theo ngày

Trang 19

nhưng ông lại sử dụng tên gọi “nhật ký”, và đây cũng là lần đầu tiên hai chữ

“nhật ký” xuất hiện trong văn tự Trung Hoa

Về sau, nhật ký trở thành một thể loại ghi chép những gì đã xảy ra,

mang tính chất hành chính và quan phương Lưu Hướng đời Hán, trong Tân

Tự tạp sự có định nghĩa về nhật ký như sau: “Nhật ký là những điều ghi chép

mỗi ngày về hành vi sai hay đúng của bậc quân chủ” (điển Chu Xá đi theo

Triệu Giản Tử để ghi chép) Lục Du đời Tống trong Lão Học Am bút ký cũng

coi nhật ký là thể loại “để chép chuyện nhà” Nhìn chung, nhật ký ở Trung Quốc mang nặng tính cửa công, hành chính, ít mang màu sắc và suy nghĩ cá nhân

Ở Nhật Bản, vào đầu thời Heian, “nikki” (nhật ký) cũng được sử dụng như ở Trung Quốc, để ghi chép các việc hàng ngày lại bằng chữ Hán Những người viết nhật ký loại này thường là các quan chức, sử dụng nhật ký như là một phương tiện để ghi nhớ những việc đã xảy ra “Nikki” viết bằng chữ Kana cũng đã xuất hiện vào thế kỷ X, ghi lại diễn biến các cuộc thi tài ở các hội thơ (Uta-awase) Nhưng thể loại “nikki” được sử dụng như một thể loại mang tính chất văn chương thì phải kể đến tác phẩm nikki đầu tiên của Kino

Tsurayuki, Tosa nikki vào năm 934 Đây là tác phẩm “nikki” viết bằng quốc

âm Kana, mang đậm màu sắc cá nhân, kể về chuyến du hành 55 ngày đêm của Tsurayuki từ vùng Tosa về lại kinh đô Kyoto sau khi mãn nhiệm Tsurayuki chọn giọng văn mang phong cách nữ tính để diễn tả tâm trạng lo lắng, mệt mỏi trong cuộc hành trình và niềm nhớ thương về đứa con gái nhỏ của mình

đã chết ở Tosa Với việc dùng quốc âm Kana làm phương tiện ngôn ngữ, tác giả dễ dàng bày tỏ cái nhìn riêng của mình về xã hội đương thời cũng như những cảm xúc, tâm trạng riêng tư của đời sống nội tâm Tuy được viết bởi

nam giới, song Tosa nikki lại mở đường cho một dòng văn học nhật ký thịnh

hành trong thời Heian bởi các nữ quý tộc cung đình Thể loại nhật ký của

Trang 20

Trung Hoa khi vào Nhật Bản, chỉ còn giữ lại cái vỏ tên gọi, còn về nội dung

và hình thức, “nikki” đã phát triển theo một đường hướng riêng phù hợp với bối cảnh xã hội thời Heian Văn hóa quý tộc thời Heian hình thành trên cơ sở học hỏi có chọn lọc từ văn hóa đại lục, đồng thời đã đến lúc tự phát triển theo hướng độc lập của riêng mình Không khí thời đại như thế cũng là một trong những nguyên nhân để “Nikki bungaku” của Nhật Bản phát triển theo đường hướng riêng, phù hợp với bản sắc thời đại và dân tộc

Ở Tây Âu, thể tài nhật ký phát triển trong văn học cuối thế kỷ 18 khi có

sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm con người, khi xuất hiện nhu cầu tự bạch và tự quan sát, khi “độc thoại nội tâm” và thủ pháp “dòng ý thức” được chú trọng Chúng ta có thể học được về thời Phục Hưng Anh qua nhật ký của Samuel Pepys, hay ở nhật ký của Virginia Woolf, ta thấy được một hiện đại khốc liệt của thế kỉ 20; tất cả đều được thể hiện qua những cảm xúc cá nhân của tác giả

1.1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học ở Việt Nam

So với nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn Tuy xuất hiện muộn nhưng nhật ký đã bước đầu manh nha trong nền văn học

dân tộc giai đoạn từ đầu thế kỷ XVIII đến trước năm 1930 Thượng kinh ký

sự của Lê Hữu Trác được đánh giá là đỉnh cao của thể ký thời trung đại…

Qua tác phẩm ta nhận ra được sự tài tình của tác giả khi kết hợp đồng thời nhiều tiểu loại của ký như du ký, nhật ký, hồi ký… Nói chung, đặc điểm của nhật ký đã bước đầu xuất hiện trong những tác phẩm ký thời trung đại

Cho đến tận kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), thể loại nhật ký mới bắt đầu nở rộ trên văn đàn nước ta Chiến tranh chính là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh nên một đội ngũ các nhà văn chuyên và không chuyên viết nhật ký để từ đó tạo nên thành tựu to lớn của thể loại này Các tác phẩm nhật ký tiêu biểu của các nhà văn chuyên nghiệp trong giai đoạn này

Trang 21

như cuốn nhật ký Ở rừng (1948) của Nam Cao, Một tháng đi theo pháo binh

(1948) của Hoài Thanh, nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng… Bên cạnh nhật ký của những nhà văn chuyên nghiệp là nhật ký của những người viết không chuyên như những trang nhật ký của Phan Phú - chính trị viên đại đội một đơn vị chủ lực được lưu lại trong cuốn sổ tay của Tô Hoài hay những trang nhật ký của Lê Nguyên - Đại đội trưởng Đại đội 156, Sư đoàn 308…

Giai đoạn 1955 - 1975 là giai đoạn nhật ký tiếp tục phát triển và vươn tới đỉnh cao nhất với nhiều cuốn nhật ký để lại giá trị to lớn cả về mặt tư liệu và mặt nghệ thuật Các cuốn nhật ký được sáng tác bởi đội ngũ các nhà

văn chuyên nghiệp giai đoạn này tiêu biểu như Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, nhật ký của

Nguyễn Thi - Nguyễn Ngọc Tấn, nhật ký của Nguyễn Minh Châu… Người viết không chuyên trong giai đoạn này xuất hiện nhiều hơn trong giai đoạn

kháng chiến chống Pháp tiêu biểu như Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc,…

Sau năm 1975, đặc biệt là từ những năm gần đây nhật ký ngày càng trở nên phổ biến và gần gũi với con người hơn nữa Con người ngày càng có nhu cầu ghi chép lại những gì xảy ra xung quanh, ghi lại cảm xúc của bản thân và nhật ký chính là nơi để mỗi cá nhân ký gửi những điều riêng từ đó Có một điều đặc biệt hơn so với các giai đoạn trước là bên cạnh những trang nhật ký được lưu lại trong các cuốn sổ tay, sau này được xuất bản thì ngày nay, có nhiều tác giả ưa chuộng hình thức nhật ký hư cấu để sáng tác, tiêu biểu như

Nhật ký mang thai khi 17 (Võ Anh Thơ),…làm thu hút nhiều đối tượng độc

giả hơn

Có thể khẳng định nhật ký ngày càng đến gần với con người hơn nữa Người ta đọc nhật ký, viết nhật ký… Nhật ký đã phát huy một cách tích cực sức mạnh đặc trưng của thể loại trong việc đáp ứng nhu cầu trong đời

Trang 22

sống tinh thần của con người cũng như tạo ra những nét mới về mặt thể loại cho nền văn học Việt Nam

1.2 Tính chất cá nhân riêng tư

Một trong những đặc điểm nổi bật của nhật ký văn học chính là tính chất

cá nhân riêng tư Nhận thức được rõ tính chất này trong nhật ký sẽ giúp ta hiểu rõ về tác giả cũng như đọc hiểu nhật ký một cách thuận lợi hơn

1.2.1 Khái niệm

Trước hết, theo quan niệm của triết học: thuật ngữ “cá nhân” xuất phát từ tiếng Hy Lạp “atomon” với nghĩa đen là “không thể phân chia được nữa” Quan niệm này được thể hiện rõ nhất trong nguyên tử luận của Leucippe và Democrite (hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại sống vào thế kỉ V TCN) Quan niệm “cá nhân” với nghĩa đó được hiểu là một sự vật, hiện tượng riêng lẻ, một hiện hữu riêng biệt và có thể phân biệt một cách rạch ròi với các sự vật, hiện tượng khác Nó được áp dụng đặc biệt vào con người nhằm để chỉ chủ thể đạo đức Còn triết học Marc – Lenin lại cho rằng “cá nhân” là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt, vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của mọi nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

xã hội

Theo Từ điển Hán – Việt [21,368], “Cá nhân” là một từ ghép Hán Việt

“Cá” được hiểu là (tính) đơn, lẻ, riêng, cá biệt, cá thể “Nhân” chỉ con người

“Cá nhân” là một người riêng biệt, từng người thể hiện bằng một ý chí và nhân cách riêng biệt, thống nhất và độc lập ở mức độ nhất định với xung quanh

Theo Từ điển Tiếng Việt do Quang Hùng chủ biên thì “cá nhân” là người

riêng lẻ, phân biệt với tập thể hoặc xã hội [19,112 ] Còn trong từ “riêng tư”

Trang 23

thì “riêng” nghĩa là của mình hay đặc biệt, không thường [19,756], “tư” nghĩa

là “riêng của một người” “Riêng tư” là riêng của cá nhân [19,756]

Nói tóm lại, tính chất cá nhân riêng tư chính là những việc riêng, của riêng, chuyện thầm kín của một người nào đó Cuộc sống xung quanh ta luôn bộn bề với bao nhiêu thứ bủa vây và nhiều lúc nó khiến ta bị choáng ngợp Chính vì vậy, để không gục ngã, để luôn giữ được ý thức về bản thân, mỗi con người không thể không có những riêng tư, thầm kín Nó là những điều không thể nói ra và cũng là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho con người

1.2.2 Đặc điểm của tính chất cá nhân riêng tư

Khi nhắc đến tính cá nhân riêng tư, người ta nghĩ ngay đến những gì thuộc

về cái riêng của chủ thể từ suy nghĩ đến hành động, là tất cả những gì gắn với bản thân người đó mà không thể nhận thấy ở bất cứ người nào khác Tính chất

cá nhân riêng tư được thể hiện trên nhiều phương diện

Trước hết, tính chất cá nhân riêng tư thể hiện ở đời sống tinh thần, tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, hành động của mỗi người Theo lẽ thông thường, con người không ai giống ai hoàn toàn nhất là về khía cạnh tinh thần Những cặp sinh đôi, sinh ba có thể giống nhau về ngoại hình nhưng chắc chắn tính tình, tình cảm, cảm xúc,…không thể nào giống nhau Tuy con người sống trong môi trường tập thể, nghĩa là mỗi cá nhân phải hòa hợp với cộng đồng nhưng suy cho cùng thì không ai có thể bắt người khác phải làm hay suy nghĩ theo ý muốn không phải của chính họ Do vậy, con người phải có tự do và cũng phải được tôn trọng quyền riêng tư cá nhân

Thứ hai, tính chất cá nhân riêng tư còn thể hiện trong các mối quan hệ của mỗi người với người khác như: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…hay trong tư tưởng tôn giáo, quan điểm chính trị,…thậm chí là những điều không thể để người khác biết được

Trang 24

Ngoài ra, sự riêng tư về thông tin cá nhân cũng được xem là một đặc điểm quan trọng Bất cứ cá nhân nào cũng cần có sự tự do trong việc bảo mật thông tin Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, số điện thoại, email,…Quyền của các cá nhân là được phép giữ kín những thông tin, tư liệu của chính mình Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha,

mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của

cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có

quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (điều 38 thuộc Bộ luật Dân

sự năm 2005)

Trong cuộc sống từ xưa đến nay, không phải bất kì chuyện gì, bất cứ suy nghĩ nào của mỗi người cũng có thể sẻ chia với người khác Ai cũng có những điều thầm kín, giữ riêng cho bản thân nhưng nhiều khi điều đó lại trở thành gánh nặng, nỗi phiền muộn Thể loại nhật ký ra đời như một điều tất yếu để giải tỏa nỗi lo ấy Người ta có thể thoải mái bộc bạch những tâm tư, tình cảm, những đánh giá, nhận xét của họ về những việc vừa trải qua Nhật ký là địa phận rất riêng tư, sâu kín mà mỗi người muốn giữ cho riêng bản thân mình Chính vì vậy mà càng ngày, thể loại nhật ký càng được ưa chuộng và có nhiều giá trị trong dòng chảy văn học Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

Có thể nói, tính chất cá nhân riêng tư là một đặc điểm quan trọng của nhật

ký văn học Nó chi phối đến việc tác giả sẽ viết nhật ký ra sao và độc giả khi đọc nhật ký phải tiếp nhận như thế nào

Trang 25

Chương 2

BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ

TRONG SỰ VIẾT

Không giống như các môn khoa học khác, văn học là một môn nghệ thuật

có chức năng nhận thức và khám phá đời sống, con người Nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc đáo do đó yêu cầu văn chương phải luôn vận động thay đổi mình trở nên mới mẻ từ thời đại này sang thời đại khác Nói như Nguyễn Tuân: “ Nhà văn chân chính nào cũng có một thế giới riêng Cái thế giới ấy là những hình tượng sáng tạo ra do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn

và phản ánh nên cái thực tế của thời đại” Là một thể loại của văn học, nhật

ký là một thế giới hoàn toàn mới mẻ và chân thực do tác giả ghi chép lại, một thế giới hoàn toàn riêng tư bí mật Người viết không cần cố gắng gồng mình

để cố tạo ra cái mới, cái lạ mà bản thân nhật ký đã là cái mới, cái lạ Bởi lẽ nhật ký là sự ghi chép riêng tư, là một tài sản cá nhân của người viết nên chắc chắn nó sẽ mang những đặc điểm cá nhân riêng tư chỉ có ở người đó

2.1 Nhật ký viết riêng cho mình của chủ thể

Nhu cầu viết nhật ký nảy sinh đầu tiên từ việc con người muốn lưu giữ lại những kí ức về cuộc sống hàng ngày Trong đó, họ không ngần ngại bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm cá nhân của bản thân cũng như nói lên những điều bình thường không dám nói Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng nhật ký là những điều mà chủ thể muốn viết riêng cho chính mình

2.1.1 Nhật ký tựa như một hình thức độc thoại

Khi thực hiện các hoạt động thường ngày, con người có xu hướng suy nghĩ và tự diễn giải lại tình hình xung quanh mình Giống như có một giọng nói trong đầu quyết định cách thức chúng ta nhìn nhận vấn đề Tâm lý học gọi giọng nói bên trong này là “self-talk”, độc thoại Đó là hành động bao gồm

Trang 26

suy nghĩ có ý thức và niềm tin, nhận định vô thức Cảm xúc và tâm trạng của bạn bắt nguồn từ suy nghĩ của bản thân thông qua việc độc thoại Độc thoại

có thể dẫn đến kết quả tích cực hay tiêu cực Chúng ảnh hưởng đến cách bạn nghĩ về bản thân cũng như cách ứng phó với hoàn cảnh sống Ghi nhật ký cũng chính là cách chúng ta độc thoại với chính bản thân mình

Độc thoại là một thủ pháp nghệ thuật nổi trội trong văn bản nghệ thuật của nhiều nhà văn, là một trong những yếu tố đánh giá giá trị của tác phẩm và tài năng của tác giả Độc thoại là lời nói của một người nào đó không nhằm vào một ai hoặc nói với chính mình Trong nhật ký, người viết không phải cố công xây dựng cho nhân vật của mình những hoàn cảnh độc thoại như các thể loại khác mà hiển nhiên, những ghi chép của nhân vật “tôi” đã như một hình thức độc thoại Nhật ký ghi chép lại những suy nghĩ, cảm xúc của con người khi không thể tâm sự cùng ai, vì vậy, việc ghi chép ấy cũng tựa như một cách độc thoại với chính bản thân mình Trong nhiều hoàn cảnh, viết nhật ký trở thành phương thức duy nhất để con người ta giải tỏa mọi căng thẳng trong lòng

Kito Aya vốn là một nữ sinh trung học hồn nhiên, vui vẻ và hoạt bát như bao đứa trẻ khác Cô luôn thích chơi đùa với mấy đứa em trong gia đình Nhưng cuộc sống của Aya hoàn toàn thay đổi khi cô phát hiện mình măc bệnh thoái hóa dây thần kinh tiểu não (Spinocerebellar Atrophy) Căn bệnh phát sinh do những tế bào của tiểu não đang dần thoái hóa một cách tự nhiên khiến

cơ thể khó di chuyển và vận động Ai mắc phải căn bệnh này sẽ mất khả năng kiểm soát hành động của cơ thể Từ một cô bé hay cười, vô tư, Aya trở thành một cô bé mau nước mắt và đắm mình trong những suy tư về cuộc đời Aya gửi những suy nghĩ đó vào những trang nhật ký và coi đó như cuộc chiến chống lại bệnh tật và chứng tỏ tinh thần của mình “mạnh mẽ và không từ

bỏ”:“Sắp hết năm rồi Mình hàm ơn mọi người đã quan tâm chăm sóc và lo

Trang 27

lắng cho mình trong năm vừa qua Năm sau sẽ còn vất vả khó khăn hơn nhiều, mình sẽ phải đấu tranh với chính bản thân Bởi Aya của hiện tại vẫn chưa chấp nhận bản thân là một kẻ tàn tật.” [3,78] Những trang nhật ký

thấm đẫm nước mắt , cùng với câu chuyện của Aya đã làm hàng triệu độc giả trên khắp thế giới cảm phục và rơi lệ Tinh thần của Aya đã truyền cảm hứng tới tất cả những người đang sống thông điệp mạnh mẽ về cuộc sống Ấy vậy

mà, Kito Aya trong những ngày tháng đối mặt với căn bệnh hiểm nghèo, không biết bao nhiêu lần cô đã phải tự hỏi chính bản thân:

“Mình vẫn có thể tiếp tục sống chứ

Mình mà chết thì sẽ chẳng để lại bất cứ điều gì

Tình yêu, sao mình chỉ có thể dựa dẫm vào điều đó, đáng buồn thay

Mẹ ơi, để một kẻ xấu xí như con sống trên thế giới này liệu có được không? Mẹ nếu nhìn thấy điều gì tỏa sáng ở con, thì xin hãy chỉ dạy, hãy hướng dẫn con đi.” [3,191]

Cô gái nhỏ bé bị căn bệnh tàn phá không chỉ cả ngoại hình mà nghiêm trọng hơn, nó đang dần bòn rút đi tâm hồn cô, sức sống của cô Những lúc đau khổ như thế này, Kito chỉ biết nói chuyện với nhật ký của mình, coi nó như một người bạn để tâm sự Nhật ký đã trở thành một người bạn thân thiết, một chỗ dựa tinh thần vững chắc để con người tìm đến vào lúc khó khăn, mệt mỏi nhất Tất cả những điều được ghi trong nhật ký văn học đều như những lời độc thoại của người kể Từ ngày này sang ngày khác, đặc biệt là khi xảy ra bất kì điều gì thực sự quan trọng, ta đều muốn tâm sự với người bạn này Nhưng dù thế nào thì đó cũng chỉ là một hình thức của độc thoại nội tâm bởi

sẽ không bao giờ có sự trao đổi, đáp lại từ những trang giấy đó

Trong nhật ký, không khó để bắt gặp những lời nói, lời tâm sự của người

kể với một ai đó Chẳng hạn trong Mãi mãi tuổi hai mươi, có những đoạn

Nguyễn Văn Thạc như đang nói chuyện với người bạn gái của mình: “Như

Trang 28

Anh ơi! Phải chăng đó là câu trả lời mà 4 năm sau T phải nói với Như Anh?” [30,133] hay có lúc lại: “Như Anh học giỏi không? Như Anh học giỏi không? Như Anh có được chứng kiến, được biết những con người, những cô gái trẻ, yêu đời đang làm thay cho Như Anh, cho các bạn Như Anh ở nhà học tập” [30,216] Những lời nói tràn đầy tình cảm, rồi có gì đó như sự đau xót,

nhớ nhung, trách móc của chàng trai dành cho người con gái mình yêu mà không thể gặp mặt, cũng không biết còn có thể gặp mặt Những lời ấy, Nguyễn Văn Thạc chỉ nói với chính mình, chỉ ghi lên những trang giấy trắng Bởi trong hoàn cảnh chiến tranh ấy, người ta nhớ gia đình, nhớ bạn bè, nhớ người yêu nhưng còn cách nào khác ngoài việc tự mình trút hết nỗi lòng của mình đâu Dương Thị Xuân Quý viết nhật ký cho mình, cũng là viết cho con:

“Ly ơi, sau này con sẽ đọc những dòng này, con sẽ hiểu, sẽ yêu và sẽ kiêu hãnh về bố mẹ hơn nhé! [25,90] Lời dặn dò, cũng tưởng như lời di chúc mà

chị gửi cho con viết nơi chiến trường, khi linh cảm về cái chết đang dồn dập kéo đến trong chị Không còn cách nào khác, chị chỉ có thể viết những dòng gửi gắm ấy vào nhật ký của mình mà không biết rồi mai sau con mình có thể đọc lại những dòng chữ này hay không Càng trong hoàn cảnh khó khăn, con người càng có xu hướng thu mình lại, tự mình gặm nhấm những nỗi đau của riêng bản thân Tất cả những ý nghĩ, những điều muốn nói với chính mình hay với bất kỳ ai, họ đều viết trong nhật ký

Trong cuộc sống, con người ai cũng có bí mật, có những suy nghĩ không thể nói ra, không thể bày tỏ cùng ai Xu hướng tất yếu là họ phải tìm cho mình một hướng đi, một lối thoát cho tâm hồn Nhiều người đã tìm đến nhật

ký Dù bản thân khi viết nhật ký cũng như đang tự độc thoại với chính mình thì viết nhật ký vẫn là một cách hữu hiệu để trang trải nỗi lòng, để cảm thấy mình nhẹ nhõm hơn

Trang 29

2.1.2 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong nhật ký văn học

Có thể khẳng định rằng con người ta không ai giống ai Điều này được thể hiện rõ ràng ở việc mỗi người sẽ có ngoại hình, hành động, cách nói năng, đi đứng, suy nghĩ,…khác nhau Vì vậy, nhật ký với bản chất là những trang giấy ghi chép cho chính bản thân nên nó thể hiện rõ “cái tôi tác giả” của người viết, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai

Trong triết học, “cái tôi” được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là “tôi”, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt “tôi” với những cá nhân khác Trong phân tâm học, “cái tôi” (“ego”) là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội “Cái tôi” được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài,

“cái tôi” học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận “Cái tôi” có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội

“Cái tôi” là cội nguồn của sáng tạo “Cái tôi” là tiền đề của sự cách tân, thước đo cõi sáng tạo của nhà văn “Cái tôi” đích thực, xuất hiện như một giá trị văn hoá, đậm tính nhân văn Tiếng nói riêng tư đó, dẫu biểu hiện dưới dạng thức nào đi nữa vẫn “cộng hưởng dư âm của tất cả những gì thuộc về nhân loại”, thuộc về thời đại, dân tộc Lịch sử nghệ thuật cho thấy điều làm nên giá trị của một tác phẩm lớn chính là ý thức về “cái tôi” của người nghệ sĩ Càng ngày người ta càng quan niệm cái đẹp chính là cái mang nhiều dấu ấn của chủ thể sáng tạo, là cái riêng, cái độc đáo

Chữ “tôi” được dùng với tư cách một đại từ trung lập chỉ con người trong nghĩa triết học, tức là con người đối mặt với vũ trụ Trong mọi nền văn minh, đại từ này bao giờ cũng là kết quả của một quá trình dài xây dựng ngôn ngữ, văn hóa, tư tưởng Ở Việt Nam, chữ “tôi” đầu tiên xuất hiện vào khoảng cuối

thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII Đến những năm 1804 -1807, trong Truyện Kiều,

Trang 30

“tôi” được nhân vật nữ sử dụng nhiều lần để kể về những bất hạnh đời mình

và vị trí thấp hèn của người đàn bà trong xã hội đương thời Khi cho Thúy

Kiều và Hoạn Thư thốt lên “Rằng tôi chút phận đàn bà”, Nguyễn Du đã

chứng tỏ một tư tưởng hiện đại Mang cái nhìn đồng cảm với các nhân vật nữ, tác phẩm của ông có thể coi là một bước tiến mới trong sự hình thành khái niệm cá nhân tại Việt Nam

Nếu nhà văn là thuật ngữ có chức năng xác định nghề nghiệp thì tác giả là khái niệm xác định vai trò của chủ thể gắn liền với cá tính sáng tạo, với phong cách của nhà văn trong mỗi tác phẩm cụ thể Tác giả là người trực tiếp tạo ra sản phẩm bằng năng lực của họ, đồng thời họ cũng chính là chủ tác phẩm Phạm trù tác giả không chỉ dùng để xác định danh tính mà còn có ý nghĩa đánh giá chất lượng của sự sáng tạo Có thể nghĩ gì về tác giả và vai trò tác giả trong sự sáng tạo tác phẩm văn chương? Ai cũng thấy đó là người “sáng tạo” toàn bộ tác phẩm Người ta có nói đến vai trò “đồng sáng tạo” của người đọc nhưng không thể đánh đồng hai chữ “sáng tạo” trong cách nói ấy Và về

lý luận, không ai lại không thấy tầm quan trọng của “tác giả” Theo nguyên lý giao tiếp thì người đọc cũng luôn chú ý đến tác giả, người giao tiếp với mình Nhưng là giao tiếp gián tiếp, người đọc chỉ có thể cảm nhận, hình dung ra tác giả qua sự sáng tạo tác phẩm của người đó Đó là những quan sát tinh tế, những hiểu biết về cuộc đời, về lòng người, tài năng tổ chức cốt truyện hoặc dựng hình tượng nhân vật trữ tình với những cảm xúc tinh tế của người đó, với tài năng sử dụng ngôn ngữ tài tình và đặc biệt ta hiểu thái độ, tình cảm của người đó và cả những rung động sâu xa khi người đó khai thác và truyền đạt những thông điệp giàu tính nhân văn “Văn là người” là một tổng kết xưa nay người ta vẫn thừa nhận

“Cái tôi tác giả” hay còn gọi là hình tượng tác giả, theo lý thuyết thi pháp học hiện đại là “sự nhập thân của ý thức người sáng tạo trong tác phẩm nghệ

Trang 31

thuật” Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm cá tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của “cái tôi” cá nhân được

ý thức đầy đủ Hình tượng một người “khao khát giao cảm” trong thơ Xuân Diệu, một người thích chơi ngông trong thơ Tản Đà, một nhà thông thái, nhân

ái trong thơ Hồ Chí Minh,… đều gắn với kinh lịch, tu dưỡng, đời sống cá

nhân của mỗi người

2.1.2.1 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong một số thể loại ký

Với đặc trưng riêng của thể loại, ký bộc lộ trực tiếp “cái tôi tác giả” Nếu cái tôi của nhà tiểu thuyết được ẩn vào trong những hình tượng nhân vật, vào cách đánh giá, cách nhìn đối với cuộc sống, được toát ra từ sự tương quan giữa nhiều cái nhìn, nhiều quan niệm, từ sự phức điệu đa thanh đặc trưng cho tiểu thuyết, và ở thơ “cái tôi tác giả” phải bộc lộ qua thao tác chuyển hóa thế giới nội tâm vào nhân vật trữ tình thì ở ký “cái tôi tác giả” là cái tôi tự biểu hiện Bằng “cái tôi” đó, nhà văn đã trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống thực của nhà văn – những gì mà nhà văn đã sống, đã trải qua, đã thấy, đã cảm bằng đôi mắt, bằng trái tim, bằng sự suy nghiệm của chính bản thân mình Không thể phủ nhận hư cấu nghệ thuật trong ký song xét cho cùng, những vấn đề chứa đựng trong tác phẩm ký phải giống như một thước phim tư liệu tạo ra khoái cảm đặc biệt đối với người đọc bằng những thông tin

thực sự chính xác (Một vài suy nghĩ về thể ký – Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Trong phóng sự, “cái tôi” bao giờ cũng là tác giả chứ không phải là thủ pháp nghệ thuật như trong truyện ngắn hay tiểu thuyết Tác giả kể lại rõ rành mạch những sự kiện đã xảy ra với tư cách là người trực tiếp chứng kiến và trình bày sự kiện “Cái tôi tác giả” trong phóng sự vừa là người dẫn chuyện, người trình bày, người lý giải, người kết nối các dữ kiện mà tác phẩm đề cập tới Ở một khía cạnh khác, cái tôi trần thuật còn góp phần tạo ra giọng điệu của tác phẩm xuất phát từ đối tượng mô tả, giọng điệu của phóng sự rất sinh

Trang 32

động khi nghiêm túc, lý lẽ, hài hước và khi lại tràn đầy cảm xúc Các tác

phẩm: Cạm bẫy người, Không một tiếng vang, Kỹ nghệ lấy Tây, Dứt tình

đã khẳng định sức căng, độ nhạy bén và đặc biệt là lối hành văn sắc sảo, hài hước, vô cùng hiện đại và hiện thực của Vũ Trọng Phụng Kể từ đây, một ngòi bút vừa xuất hiện đã gây chấn động làng báo, làng văn nước Việt trước cách mạng tháng Tám Giới cầm bút thời ấy tấn phong Vũ Trọng Phụng là

“ông vua phóng sự Bắc Kỳ” khi ông mới ở độ tuổi đôi mươi

Tùy bút của mỗi nhà văn có một khí hậu riêng in dấu ấn, cốt cách và cá tính của học Tùy bút đã trở thành một bộ phận đặc biệt quan trọng trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân, làm nên tên tuổi Nguyễn Tuân và chính Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ tài hoa đã truyền vào đó toàn bộ nội lực của mình Ông

đã thổi hồn vào nó và đem lại cho thể văn này một sắc diện mới, một sức sống

và linh hồn mới Đọc tùy bút Nguyễn Tuân, chúng ta ngỡ ngàng nhận ra cái tôi nhân chứng lịch sử ngoài cái tôi ngông nghênh, kiêu bạc và xê dịch qua các trang ký trải dọc theo chiều dài lịch sử dân tộc từ những ngày đầu kháng

chiến (Tùy bút kháng chiến) cho đến những năm cả nước hòa mình vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong (Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi)

Đó là cái tôi tài hoa của Nguyễn Tuân, cái tôi yêu nước, cái tôi uyên bác, thâm trầm với vốn sống, vốn hiểu biết dồi dào, phong phú về lịch sử, văn hóa, triết học, hội họa, thiên nhiên…

Ở thể loại bút ký, sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ phụ thuộc vào những ghi chép của tác giả với lượng tri thức phong phú, thông tin mới mẻ

mà còn tùy thuộc vào “duyên ngầm” của “cái tôi tác giả” Qua các tác phẩm

bút ký đặc sắc (Ai đã đặt tên cho dòng sông, Ngọn núi ảo ảnh, Hoa trái quanh tôi,…) , Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ bộc lộ mình như một

người nghệ sĩ có năng lực khảo cứu của một nhà khoa học, là một nhà khoa học mang trong mình cốt cách của người nghệ sĩ tài hoa mà còn thể hiện mình

Trang 33

như một nhà thơ viết văn xuôi, một nhà văn có tâm hồn thi sĩ Chính sự đan cài, “hai trong một” của các yếu tố ấy đã lam nên một hình tượng “cái tôi” đầy hấp dẫn, có sức mời gọi bạn đọc

Ma Văn Kháng viết hồi ký thể hiện một tấm lòng giàu tình yêu thương và

trách nhiệm với dòng họ, gia đình mình Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương với lối kể chuyện thiên về một giọng người kể chuyện

xưng “tôi”, hình tượng “cái tôi tác giả” hiện lên khá trọn vẹn Sự hòa quyện giữa cái say sưa nhiệt huyết, sự uyên bác, tài hoa và tinh thần trách nhiệm cao của một con người, một nhà văn đã làm nên một nét phong cách riêng, hoàn thiện thêm phong cách văn chương của tác giả Đến với những trang hồi kí của Ma Văn Kháng, người đọc như được khám phá một kho tri thức vô cùng phong phú, đa dạng về nhiều chuyên ngành khoa học và nhiều lĩnh vực của cuộc sống: lịch sử, địa lí, văn hóa, kinh tế, chính trị, luật pháp

Có thể thấy rằng, “cái tôi” trong tác phẩm ký văn học chính là cái tôi thẩm

mỹ “Cái tôi” ấy gắn liền với thế giới quan thẩm mỹ của tác giả Ở đó mỗi con

số, mỗi sự kiện, mỗi chi tiết, mỗi nhân vật tự bản thân nó đã bộc lộ cái nhìn,

sự đánh giá và luận giải của tác giả về thế giới thực tại bởi nó đã qua sự chọn lọc của nhà văn, nó được mài giũa bằng giác quan nghệ thuật tinh tế của nhà văn Trong thể ký, “cái tôi” là hình thức trực tiếp của hình tượng tác giả, đồng thời vừa như một phương thức trần thuật quan trọng với tư cách chức năng nghệ thuật “cái tôi” đi – nghe – kể – tả – suy ngẫm – ngợi ca – phê phán – đề nghị… do vậy, cái tôi nhà văn cũng là một yếu tố liên kết tác phẩm Để có

“cái tôi” nhập vai đó đòi hỏi người viết ký phải có tri thức, phải có bản lĩnh văn hóa hay nói đúng hơn là phải có chiều sâu về văn hóa và sự trải nghiệm cuộc sống Bằng cách đó người viết ký mới có thể trình diễn tư duy của mình qua từng con chữ

Trang 34

2.1.2.2 Hình tượng “cái tôi tác giả” trong nhật ký văn học

Nhật ký văn học là thể loại đặc biệt trong loại hình ký bởi nó ghi chép một cách trung thực những sự kiện, sự việc có thật, xảy ra với người viết hàng ngày, những tâm sự sâu kín của người viết không thể thổ lộ cùng ai, ghi chép không hướng đến người đọc nào mà chỉ để cho mình, để lưu giữ những kỉ niệm của bản thân Chính vì vậy, “cái tôi tác giả” trong nhật ký văn học cũng

sẽ có những điểm giống và điểm khác biệt so với các thể loại ký khác Nhật

ký là ghi chép ở thời hiện tại, với điểm nhìn của người kể chuyện luôn là ngôi thứ nhất, mang tính trung thực cao độ và tính cá nhân đậm nét Chính điều này tạo nên đặc trưng của “cái tôi tác giả” ở nhật ký, khu biệt nó với các thể loại khác

a Điểm nhìn của người trong cuộc, hình thức kể ở ngôi thứ nhất

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả đã đưa định nghĩa: “Điểm

nhìn nghệ thuật (tiếng Nga : khudojestvennaya tochka zreniya; tiếng Anh : point of view), vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật, Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự đổi thay của nghệ thuật bất đầu từ đổi thay điểm nhìn.” [14,113] Điểm nhìn nghệ thuật là vấn

đề cơ bản, then chốt của kết cấu Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm Điểm nhìn chỉ ra những cách thức mà một câu chuyện được kể đến - một hay nhiều phương thức được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối thoại, những hành động, sự sắp đặt và những sự kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm hư cấu Tựu chung lại có thể hiểu điểm nhìn là

Trang 35

phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới Nó là vị trí mà người kể dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá Với tư cách là người trong cuộc, mọi sự việc, mọi câu chuyện được ghi trong nhật ký đều là những gì mà người viết đã trải qua, những điều xảy ra xung quanh cuộc sống của họ Điểm nhìn của người kể ở đây là người trực tiếp tham gia vào câu chuyện và kể lại Vì vậy, bất kỳ đặc điểm nào thuộc về giới tính, lứa tuổi, trình độ,…của người viết đều thể hiện rõ nét trong nhật ký của mình

Trong nhật ký văn học, người kể chuyện xưng “tôi”, tự thú nhận, bộc bạch

về mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải, được coi là

“người phát ngôn tự sự” thứ nhất (người nắm quyền kể toàn bộ câu chuyện, không ngừng can dự vào câu chuyện dưới nhiều hình thức) Các tác phẩm đều bắt đầu và kết thúc bằng lời kể của người phát ngôn này Như vậy, vẫn mang đặc điểm chung của các truyện kể ở ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến kể theo điểm nhìn của ý thức nhân vật Ở đây, các trạng thái tinh thần: ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác… thường vẫn nổi lên trên chuyện Người kể không phải chỉ kể chuyện (miêu tả những gì “tôi thấy”) mà còn kể tâm trạng (miêu tả những gì “tôi cảm”, “tôi nghĩ”) Những cái “tôi” ấy không bao giờ đứng yên

mà nó “đang tư duy”, “đang cảm thấy”, nó đồng thời đảm nhiệm hai chức năng: nhận thức xã hội và ý thức về bản thân Do đó, nó luôn luôn sống động

và hết sức phức tạp Kể và suy ngẫm, kể và tự ý thức, kể và độc thoại là những biểu hiện đặc biệt của cách kể chuyện này

Vì kể ở ngôi thứ nhất nên người kể chuyện trong nhật ký thường sử dụng

những đại từ nhân xưng như “tôi”, “chúng tôi” (Nhật ký Che Guevara, Nhật

ký trong gian lao,…) chẳng hạn:

“Ngày 29 (Giáp Dần) Trời âm u Tôi sợ gió sẽ thổi mạnh nên đã cho thuyền đi tới Chil-choen-ryang Hữu thủy sử Lee lệnh công đã tới gặp tôi

Trang 36

Phó sử Sun-cheon, huyện giám Gwang-yang cũng tới Thủy sử Gyeong-sang (Won Gyun) cũng đã tới gặp tôi.” [26,101]

“Sáng sớm hôm sau chúng tôi mang vỏ ruột xe ra garage để vá lại Chúng tôi lại lên đường khi trời gần tối sau khi được đãi một bữa ăn thuần túy Chilê:

dạ dày bò và những món làm từ lòng bò, tất cả đều nhiều gia vị, cùng với rượu vang thật ngon Một lần nữa, lòng hiếu khách của nhân dân Chilê đã chiếm trọn vẹn cảm tình của chúng tôi.” [13,84]

Cũng có lúc là đại từ “mình” (Nhật ký Hélène Berr, Một lít nước mắt, Viết lên hy vọng, ), ví dụ:

“Ngày 13 tồi tệ…

Môi mình sưng vù, răng cửa bị gãy mất ba cái Mình lấy khăn tay chặn vết thương, nó vẫn còn chảy máu Dù gì mình cũng là con gái, bị gãy mất mấy cái răng cửa thế này, nhìn mới xấu xí làm sao

Căn bệnh này còn khủng khiếp hơn cả bệnh ung thư!

Nó đã hủy hoại dung nhan trẻ trung của mình!” [3,53]

“Nhật ký thân yêu,

Nếu bạn nhìn vào mắt mình, bạn sẽ thấy một cô bé đáng yêu

Nếu bạn nhìn vào nụ cười của mình, bạn sẽ cảm nhận được một điều: Chẳng có gì không ổn

Nếu bạn nhìn vào trái tim mình, bạn sẽ thấy những nỗi đau

Nếu bạn kéo ống tay áo của mình lên và nhìn vào cánh tay mình, bạn sẽ thấy những vết bầm tím.” [3,226]

Hay “tớ” (Nhật ký Anne Frank,…):

“Thứ bảy, ngày 7 tháng 8 năm 1943

Kitty vô cùng yêu quý,

Trang 37

Vài tuần trước tớ bắt đầu viết một truyện ngắn, một câu chuyện mà tớ bịa

từ đầu đến cuối, và tớ đã thích nó nhiều đến mức những sản phẩm của ngòi bút tớ cứ thế dày lên

Thân ái, Anne” [11,164]

Cũng có trường hợp người kể sử dụng xưng hô trong mối quan hệ hàng ngày với đối tượng được nhắc đến chủ yếu trong nhật ký Chẳng hạn như

cuốn Nhật ký Thiện Nhân, tác giả - người kể chuyện là Trần Mai Anh, mẹ

của bé Thiện Nhân, chính vì vậy, trong suốt cuốn nhật ký, chị luôn dùng đại

từ “mẹ” hay “mẹ Còi” để ghi lại hành trình cùng đứa con bé bỏng của mình đi chữa bệnh Những dòng chữ giống như bức thư mà chị viết để gửi gắm đến bé con thân yêu của mình:

“Ngày 2 tháng 11 năm 2011

Mẹ Còi cứ vội vã đủ chuyện nên giờ mới cho ba anh em ngủ để mai sắp đồ nhập viện Ngày kia Nhân phẫu thuật Lần này phẫu thuật tại Việt Nam, không phải xa xôi cách trở nên hình như mọi thứ cứ như bẵng quên Quên ngày, quên tháng, quên mai sẽ phải làm gì.” [2,137]

Thậm chí, trong một số tác phẩm nhật ký văn học, người viết còn không

hề xưng danh (Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, Dọc đường lưu diễn,…)

Ngày đăng: 28/08/2018, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w