Trong số truyện ngắn của Akutagawa, Bốn bề bờ bụi là tác phẩm phản ánh những lầm tưởng của con người về bản thân mình, thể hiện sự hoài nghi... Trong các công trình nghiên cứu về tác gi
Trang 1CỦA AKUTAGAWA RYUNOSUKE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI- 2018
Trang 2CỦA AKUTAGAWA RYUNOSUKE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT
HÀ NỘI- 2018
Trang 3Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa luận này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Mai Thị Hồng Tuyết Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Các tài liệu sử dụng trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục khóa luận 4
NỘI DUNG 6
Chương 1: BẢN CHẤT CỦA SỰ THẬT VÀ DIỄN GIẢI 6
1.1 Bản chất của sự thật 6
1.1.1 Khái niệm “sự thật” 6
1.1.2 Sự thật trong tư cách là phi đích thực 7
1.2 Bản chất của diễn giải 18
1.2.1 Khái niệm “diễn giải” 18
1.2.2 Tái diễn và diễn giải 19
Chương 2 SỰ THẬT VÀ DIỄN GIẢI TRONG TÁC PHẨM BỐN BỀ BỜ BỤI CỦA AKUTAGAWA RYUNOSUKE 22
2.1 Sự thật là lời? 22
2.2 Diễn giải 25
2.2.1 Những diễn giải đằng sau mặt nạ 25
2.2.2 Những diễn giải của người kể chuyện 41
2.2.3 Những diễn giải dưới cái nhìn diễn ngôn 44
2.2.4 Những diễn giải của độc giả 53
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Akutagawa Ryunosuke (1892- 1927) bậc thầy của thể loại truyện ngắn,
là một trong những đại biểu đầu tiên của chủ nghĩa hiện đại Nhật Bản, ngòi bút của ông đi sâu phân tích tinh tế những niềm vui, nỗi buồn, những lo âu, dằn vặt, ham muốn của con người Ông xuất hiện như một hiện tượng hiếm có
và cho đến nay, vai trò của ông trên văn đàn Nhật Bản vẫn chưa ai thay thế
nổi Dịch giả Phong Vũ trong lời giới thiệu Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông, đã nhận định: “Ông sống vào một thời kỳ phức tạp của
Nhật Bản khi những cái cũ bị phá vỡ, những khái niệm mới, những trào lưu tư tưởng mới đang được sinh ra Akutagawa được coi là bậc thầy ưu tú của truyện ngắn, là một trong những người khởi đầu của nền văn học hiện đại Nhật Bản, người đã góp phần quan trọng để đưa nền văn học ấy hòa với dòng chung của văn học thế giới Đó không chỉ là nhận định riêng của Phong Vũ,
mà có thể còn là nhận định chung của nhiều trang viết về Akutagawa và sự nghiệp của ông Akutagawa không chỉ là bậc thầy của truyện ngắn Nhật Bản
mà ông còn là người đưa văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX hòa vào dòng chảy văn học phương Tây và văn học thế giới! Trong những sáng tác của mình, Akutagawa chú trọng đến ngoại hình lẫn đời sống nội tâm của nhân vật, từ đó phác họa nên những bức chân dung sống động Các tình huống, chi tiết trong truyện được sắp xếp để nhân vật dần dần tự bộc lộ Người đọc cảm thấy như được nhìn qua một ống kính vạn hoa những sắc thái tâm lí vô cùng phức tạp
và thú vị của con người Theo đó, mỗi hoàn cảnh, mỗi chi tiết đều phản ánh sâu sắc xung đột sâu xa bên trong tâm hồn con người, réo gọi họ đi đến những hành động, quyết định mà ngay cả bản thân cũng không thể lí giải nguyên nhân”
Trong số truyện ngắn của Akutagawa, Bốn bề bờ bụi là tác phẩm phản
ánh những lầm tưởng của con người về bản thân mình, thể hiện sự hoài nghi
Trang 7sâu sắc về bản chất của sự thật Đọc tác phẩm người đọc bị kích thích, bị cuốn vào “trò chơi” tìm kiếm sự thật, nhưng khi càng đi sâu kiếm tìm thì càng hoài nghi sâu sắc không biết đâu mới là sự thật Vấn đề tìm kiếm sự thật chưa bao giờ lại được đặt ra một cách cấp thiết như vậy, nó buộc người đọc phải chú ý
và cùng với tác giả đi tìm kiếm sự thật
Vấn đề sự thật và diễn giải là một vấn đề đã được đặt ra từ rất lâu trong lịch sử nghiên cứu, nó vừa là vấn đề hấp dẫn lại vừa là vấn đề đem nhiều thách thức đối với người nghiên cứu Bởi lòng say mê nghiên cứu và luôn trăn trở với vấn đề sự thật, cho nên chúng tôi đã quyết định nghiên cứu về vấn đề
Sự thật và diễn giải trong tác phẩm “Bốn bề bờ bụi” của Akutagawa, đây là
một đề tài hoàn toàn mới và vô cùng hấp dẫn
2 Lịch sử vấn đề
Akutagawa Ryunosuke vụt qua trên nền trời văn học Nhật Bản như một ngôi sao băng, thật sáng nhưng cũng thật ngắn ngủi Người ta trầm trồ ca ngợi tài năng của ông và người ta thương tiếc cho số phận của ông Chính tầm vóc của ông đã khiến cho các nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu, tuy nhiên với độc giả Việt Nam thì cái tên Akutagawa còn khá mới mẻ, bởi văn học Nhật Bản ở nước ta chưa được nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu Độc giả thường chỉ quan tâm đến những tác giả đoạt giải Nobel trong văn học Trong khi đó, ở Nhật Bản Akutagawa là một trong những văn hào được quan tâm và đánh giá cao nhất Trong các công trình nghiên cứu về tác giả Akutagawa ở Việt Nam đáng chú ý như:
Trong bài viết Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XX Khương Việt Hà nhận định “Akutagawa là thủ
lĩnh của trường phái Tân hiện thực đồng thời là cây bút kiệt xuất với trên 140
truyện ngắn” Bài viết Một đôi nét về Akutagawa và truyện ngắn của ông của
tác giả Phong Vũ cũng khẳng định: “Akutagawa được coi là bậc thầy ưu tú của truyện ngắn Trong cuộc đời văn học ngắn ngủi của mình, ông đã tìm tòi
Trang 8không mệt mỏi, đã vật lộn khá gay go, quyết liệt để tự vượt lên chính mình, tìm cho mình một tiếng nói nghệ thuật chân chính, độc đáo” Và điểm nổi bật trong sáng tác của Akutagawa là “mối quan tâm của ông đối với thế giới nội tâm, tâm lý con người: Nó như một đối tượng của nhận thức chứ không chỉ là hành động giải thích nhận thức của con người Hơn nữa ông chỉ ra thế giới nội tâm không phải tự thân mà trong sự va chạm với thế giới xung quanh”
[1,345] Ở công trình Tổng quan văn học Nhật Bản của Nguyễn Nam Trân,
Akutagawa và Shiga được đánh giá là hai đỉnh cao về thể loại truyện ngắn
Hữu Ngọc trong tác phẩm Dạo chơi vườn văn Nhật Bản cũng thống nhất quan
điểm với các tác giả trên khi khẳng định Akutagawa là nhà văn Nhật hiện đại đầu tiên nổi tiếng nhất ở phương Tây Trong số những công trình nghiên cứu
về văn học Nhật Bản hiện đại, Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại của Nguyễn Tuấn Khanh là tác phẩm nghiên cứu có hệ thống về
9 nhà văn hiện đại được đánh giá cao tại Nhật Trong đó, Akutagawa được xem là nhân vật văn học nổi bật nhất trong mười lăm năm của thời đại Taisho Các truyện ngắn của nhà văn cho đến nay vẫn được xếp vào hàng kinh điển
Trong tư liệu dịch Lịch sử văn học Nhật Bản Shuichi Kato (Trần Hải
Yến dịch) Akutagawa được nhắc đến như một trong những đại biểu xuất sắc
mở đầu cho nền văn học hiện đại Nhật Bản Shuichi Kato khẳng định Akutagawa là “nhà văn sáng tạo tiêu biểu nhất của thời đại… sự đa dạng về hình thức và nội dung trong truyện ngắn của ông lớn hơn nhiều bất kì tác phẩm của nhà văn đồng thời nào với ông” [7, 41] Trong mỗi tác phẩm của mình, Akutagawa luôn thể hiện một tinh thần nhân đạo sâu sắc Ông không những cảm thông với những kiếp người đau khổ mà còn phản ánh thời đại với
sự thay đổi chóng vánh và những thói tật của nó Shuichi Kato kết luận: các truyện ngắn của Akutagawa thường kết hợp hai yếu tố: chân lý nhân đạo muôn thuở và đặc tính của một thời kỳ đặc biệt” [7, 44] Tác phẩm của Akutagawa là sự kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật tự sự hiện đại trong tác phẩm của Swift và Sammuel Butler thế nhưng Akatugawa không bao giờ từ
Trang 9bỏ nghệ thuật truyền thống Ông luôn có ý thức kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, giữa Đông và Tây một cách hài hòa
3 Nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là chỉ ra vấn đề sự thật và diễn giải trong truyện
ngắn Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke Để đạt được mục đích này ở
từng chương người viết sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Tiếp tục phát triển hệ thống lý thuyết về sự thật và diễn giải
- Áp dụng các hệ thống lý thuyết để tìm hiểu về sự thật và diễn giải trong
tác phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke
+ Chỉ ra và phân tích những sự thật và diễn giải trong tác phẩm Bốn bề
bờ bụi của Akutagawa dưới cái nhìn phân tâm học
+ Chỉ ra và phân tích sự thật và diễn giải trong tác phẩm Bốn bề bờ bụi
của Akutagawa theo hướng nghiên cứu diễn ngôn
+ Chỉ ra những diễn giải của độc giả khi tiếp cận tác phẩm Bốn bề bờ bụi
của Akutagawa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề Sự thật và diễn giải trong tác
phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke Phạm vi nghiên cứu là tác phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke (vnthuquan.org)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà khóa luận đặt ra, trong quá trình thực hiện người viết đã kết hợp, vận dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu, cụ thể là:
Trang 10Chương 2: Vấn đề sự thật và diễn giải trong tác phẩm Bốn bề bờ bụi
Akutagawa Ryunosuke
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: BẢN CHẤT CỦA SỰ THẬT VÀ DIỄN GIẢI
Nói về vấn đề diễn giải và sự thật, Deleuze đã từng diễn đạt: Không có chân lí; chỉ có những diễn giải Sự thật là một vấn đề vừa cấp bách vừa dễ làm nản lòng con người khi cố gắng tìm hiểu nó cả trong văn chương và trong đời thực “Tôi không phải là con người của sự thật […] nhưng cũng không phải là con người của sự dối trá” [5, 136]
1.1 Bản chất của sự thật
Sự thật là gì? Những điều mà con người cho là sự thật có đáng tin hay không? Khi truy tìm nguồn gốc của sự thật Nguyễn Thị Từ Huy đã có nhận xét: “Nếu như trong số tất cả các từ, có một từ không đích thực thì từ đó chính
là từ đích thực” [5, 97]
1.1.1 Khái niệm “sự thật”
Khi bàn đến ý nghĩa của thuật ngữ “sự thật” thì có rất nhiều những ý kiến khác nhau, tiêu biểu phải kể đến một số khái niệm sau Có thể nói đây là những cách hiểu truyền thống về khái niệm “sự thật” nhất là trong giới nghiên cứu tại Việt Nam
Theo Từ điển tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên) thì sự thật đồng nghĩa với
từ sự thực nghĩa là “việc có xảy ra” [9, 692] Ý kiến của tác giả Văn Tân đã khẳng định rằng đã là sự thật thì nó phải là sự việc đã xảy ra, bởi vậy cho nên nếu con người có nói về điều gì đó nhưng sự việc đó chưa từng xảy ra thì nó không được coi là sự thật
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên): “sự thật là cái có thật, cái có trong thực tế Nó phản ánh đúng hiện thực khách quan” [6, 846] Ý kiến này cũng giống như ý kiến của tác giả Văn Tân, bởi nó chỉ đề cập đến mặt tĩnh của khái niệm đó là “sự thật là cái có thật”, có xảy ra còn mặt động
Trang 12của sự thật nghĩa là lòng tin của con người về sự việc xảy ra ấy thì chưa được
đề cập đến
Ở đây người viết cũng đưa ra khái niệm sự thật cho riêng mình: sự thật là cái có thật, cái có thực, là điều minh nhiên mà không ai có thể chối cãi cho dù người ta cố ý khước từ hoặc không muốn chấp nhận Sự thật có tính vĩnh cửu, mãi mãi là sự thật Theo hướng định nghĩa như trên thì ta nhận thấy rằng sự thật gần với chân lý bởi trong phạm vi lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác- Lênin, khái niệm chân lý dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn Thế nhưng mọi chân lý đều có tính tương đối vì vậy tính chính xác của
sự thật cũng chỉ tương đối Từ đây chúng ta sẽ cùng bước vào hành trình đi tìm kiếm sự thật
1.1.2 Sự thật trong tư cách là phi đích thực
Trong lịch sử thế giới đã có rất nhiều cuộc truy tìm sự thật, nhưng càng ráo riết tìm kiếm thì con người lại càng rơi vào trạng thái bất định, không sự thật
1.1.2.1 Cuộc truy tìm sự thật trong đời sống
“Các nhà khoa học trước đây tin rằng khoa học hứa hẹn sẽ tìm ra những quy luật xác định Được xây trên nền tảng của hiện thực và tạo dựng bởi những công cụ khách quan và đáng tin cậy, khoa học tạo ra tri thức một cách nhất quán (phi mâu thuẫn) Nhưng những khám phá gây phiền nhiễu của các nhà khoa học thế kỷ 20 đã để lộ ra rằng tri thức này về căn bản sẽ luôn luôn không hoàn thiện và rằng một sự hiểu biết thực sự về thế giới rốt cuộc lại vượt quá khả năng nắm bắt của chúng ta Cơ học Newton đã thống trị nền vật
lý qua nhiều thế kỷ Với nó, mọi thứ đều tuân theo quy luật, xác định và tuyệt đối Đến thế kỉ 20, với việc Einstein phát minh ra Thuyết Tương Đối (1905, 1915), Max Plank đề xuất khái niệm Lượng tử, Werner Heisenberg phát minh
ra Nguyên lý Bất định và sự ra đời của cơ học lượng tử thì mọi quan niệm đã thay đổi; cái xác định, tuyệt đối được thay bằng cái bất định, tương đối Toán học là một trong những ngành khoa học quan trọng nhất của loài người Giấc
mơ xây dựng một thế giới tuân thủ các nguyên lí toán học đã có từ rất lâu
Trang 13trước khi nền khoa học hiện đại ra đời Trong thời hiện đại, nhiều nhà tư tưởng, toán học kiệt xuất như Bertrand Russell, David,… đã dành trọn cuộc đời mình để xây dựng một hệ thống hoạt động theo các nguyên tắc toán học một cách chắc chắn, xác định cho tới khi xuất hiện Kurt Godel Godel đã chứng minh rằng toán học vừa bất toàn, vừa mâu thuẫn và nó đã làm choáng váng nhiều nhà tư tưởng, những người luôn tin toán học là một khoa học tuyệt đối chắc chắn Cùng với sự bất định và tương đối, thế kỷ 20 cũng đã xuất hiện một lý thuyết mới, lý thuyết Hỗn độn Lý thuyết Hỗn độn cho rằng mọi hệ thống, tổ chức từ tự nhiên, xã hội, kinh tế,… đều sau một thời gian phát triển theo một trật tự sẽ đến một thời điểm sẽ chuyển sang sự hỗn độn Sau một thời gian hỗn độn sẽ hình thành một trật tự mới và rồi lại hỗn độn….Tóm lại, mọi hệ thống đều tồn tại hai khuynh hướng đối lập đan quyện vào nhau là trật
tự và hỗn độn Như vậy, trong khoa học tự nhiên các nhà khoa học đã đi từ những xác định (sự thật) đến những bất định (diễn giải) Con người càng ngày càng rơi vào trạng thái mông lung, khó xác định” [3]
Không chỉ ở khoa học tự nhiên mà trong cả đời thực con người tạo ra cuộc đời riêng của mình bằng lời nói Khi con người kể lại hay thuật lại một
sự việc nào đó với tư cách là sự thật thì nó đều đã nhuốm màu của cảm tính, mỗi con người khi đứng ở những góc nhìn khác nhau thì sẽ có những sự thật khác nhau (hình ảnh 1)
Trang 14Trong mỗi lời nói về sự thật, ta thường xuyên bắt gặp một người kể chuyện tự cảm nhận mình, tự cảm nhận các sự việc trong tư cách là người phát ngôn về sự thật cái sự thật ấy vừa thật vừa giả Giả bởi vì nó được tạo ra bởi hư cấu, nhưng thật vì một khi đã được tạo ra, một khi đã tồn tại nó trở nên
có thật, không thể bị phủ nhận Điều quan trọng ở đây là nó tồn tại bởi vì người ta nghĩ về nó, nói về nó Con người với những hiểu biết và kinh nghiệm sống họ biết rõ quyền lực sáng tạo của lời nói vì vậy họ đã tạo ra cuộc đời mình, tạo ra sự thật bằng lời nói Dường như con người tự nhào nặn sự thật bằng lời nói, bằng ngôn ngữ của họ và của người khác thế nhưng trong những
“sự thật lời nói” đó cũng có một phần của “sự thật vĩnh cửu” bởi nếu nó không có cái gốc là “sự thật vĩnh cửu” thì khó làm cho người khác tin vào nó Như vậy, trong lời nói dối luôn ẩn chứa một phần sự thật
1.1.2.2 Cuộc truy tìm sự thật trong ngôn ngữ
Một trong những đối tượng nghiên cứu trung tâm của khoa học thế kỉ
XX chính là ngôn ngữ Sau khi F Saussure tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu ngôn ngữ thì bản chất của ngôn ngữ trong đó có vấn đề sự thật trong ngôn ngữ đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều người Một trong những triết gia nổi tiếng nhất tỏ ra hoài nghi về vấn đề sự thật trong ngôn ngữ là Wittgenstein, sự hoài nghi của Wittgenstein đã được F David Peat thể hiện
trong cuốn Từ xác định đến bất định; ông cho rằng: mọi cuộc thảo luận
thường nhanh chóng bị sa lầy vào sự hỗn loạn về định nghĩa, những vướng mắc, phiền toái này nảy sinh khi hai hoặc nhiều hơn hai người sử dụng cùng một từ nhưng theo những cách tinh tế khác nhau Những cuộc thảo luận trong các trường đại học về “ý chí tự do” (free will), “ý thức” (consciousness), “đạo đức” (morality),… thường nhanh chóng bị sa lầy vào sự hỗn loạn về định nghĩa “Tôi nói một đằng anh nói một nẻo”, chúng ta thường tranh cãi với nhau như vậy “Hãy bắt đầu bằng việc định nghĩa các thuật ngữ của chúng ta Hãy để cho mọi người nhất trí với cái mà chúng ta đang bàn” Do đó cuộc
Trang 15tranh cãi chuyển sang hướng mới, trong nỗ lực định nghĩa xem “ý chí tự do”
là gì, “nhận thức” là gì, hoặc “cái thiện” có ý nghĩa gì Tuy nhiên, ngay sau khi tất cả đã đồng ý về những định nghĩa như thế thì dường như cơ hội lại bị
bỏ lỡ, vì chúng ta cảm thấy rằng chúng ta lại đang bắt đầu nói về một cái gì
đó khác xa nhau Sự sa lầy về ngôn ngữ còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực tri thức khác như văn học, toán học,… chẳng hạn như khi bàn tới thuật ngữ “thần thoại” ở Việt Nam cũng như trên thế giới có đến hàng trăm định nghĩa khác nhau, mỗi người nghiên cứu có dính líu ít nhiều đến thuật ngữ này thì đều đưa
ra những định nghĩa cho riêng mình như C Mac, nhà nghiên cứu người Nga, E.M Meletinski hay Lại Nguyên Ân… Vậy định nghĩa nào là chính xác nhất? Nhưng khoan hãy nói về những thuật ngữ văn học trừu tượng này, ngay cả những thuật ngữ đơn giản trong đời sống cũng bị rơi vào mơ hồ, bất định
Trong chương trình Việt Nam tim tôi của Đài truyền hình VTV3, nhóm làm
phim đã đi dọc miền đất nước, từ Nam ra Bắc để phỏng vấn hàng trăm phụ nữ Việt Nam ở mọi tầng lớp, lứa tuổi, ngành nghề,… để tìm ra những quan niệm của họ về tình yêu Khi được phỏng vấn mỗi người lại có những quan niệm riêng khác nhau: chị Thu Trang (24 tuổi, sinh viên) cho rằng: tình yêu là sự rung động đến từ hai phía [21] Chị Ronny Nguyễn (28 tuổi, Việt kiều Úc) quan niệm rằng: tình yêu là điều ngọt ngào nhất nhưng cũng là điều làm cho mình đắng cay nhất [21] Người phụ nữ phải chịu đựng nhiều hơn trong hôn nhân Trái ngược lại với ý kiến trên bà Tôn Nữ Thị Ninh (69 tuổi, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển TP HCM) nói rằng: tình yêu chân chính thì chỉ thường nâng con người ta lên chứ không kéo con người ta xuống… không nên quá nhấn mạnh đức tính hi sinh của người phụ nữ Đức tính hi sinh của người phụ nữ trong thời chiến có thể hiểu được, còn trong thời bình mà vẫn
đề cao đức tính này thì nó giam người phụ nữ lại- đó là điều không công bằng Tại sao phụ nữ lại phải hi sinh, trong khoảnh khắc xảy ra khủng hoảng thì cả hai đều phải hi sinh [21] Bà Sẻo Pa Mảy (58 tuổi, nông dân) lại quan
Trang 16niệm tình yêu là rất hay, nhưng nếu xem số mà không hợp thì không lấy được nhau [21] Như vậy cùng một thuật ngữ là “tình yêu” nhưng mỗi người tùy theo vốn sống, trình độ hiểu biết lại có nhưng quan niệm khác nhau thậm chí
là trái ngược nhau Ngôn ngữ là một công cụ sống động, nó có cuộc sống riêng của mình gắn với người sử dụng
“Ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại, con người là một tồn tại mang tính ngôn ngữ” [8, 182] Vì vậy ngôn ngữ thực ra chỉ mang tính tương đối, nó chỉ
có bóng dáng của sự thật Ngôn ngữ được sử dụng để nói về sự thật, hướng dẫn truy tìm sự thật Chức năng của ngôn ngữ là tìm cách đặt tên, gọi tên sự thật, nên muôn đời ngôn ngữ chỉ là cái vỏ của sự thật chứ không phải sự thật Nhưng không có ngôn ngữ, người ta cũng không thể nào tiếp cận được sự thật Và ngôn ngữ là sản phẩm chung của toàn xã hội, một khi ai cũng có thể cất được tiếng nói, thì lại càng nhiều sự thật được nói ra và sự thật đích thực lại càng khó hiển bày Giữa ngôn ngữ và sự thật vốn đã có một lớp cách ly dầy, nay lại phủ thêm nhiều lớp sương mù do ý thức cá nhân của con người ngày càng lớn Vì vậy sự thật mới cuốn hút con người tìm hiểu, nó đòi hỏi mỗi người phải thật sáng suốt và tinh tế mới có thể nhìn xuyên thấu những lớp sương mù dày đặc của ngôn ngữ, văn tự, ký hiệu… để nhận ra được sự thật đích thực của đời sống
Những người tái tạo nên sự thật liệu họ có biết được sự thật đích thực?
Có lẽ những người tái tạo sự thật họ cũng ý thức được sự thật đích thực, nhưng họ không muốn tin vào điều đó, họ tự nói dối chính mình Vì nói dối chính mình chỉ tồn tại với điều kiện là người ta ý thức được cái sự thật mà họ
cố tình không muốn biết đến: sự cố tình không biết này chính là sự lừa dối bản thân Thế nhưng những người tái tạo sự thật lại không nghĩ mình là kẻ nói dối bởi vì không có sự thật sẵn chỉ có những sự thật tức thời do lời nói sinh ra Hơn thế họ phải tin vào lời nói của mình, tin mình là người nói thật bởi nếu tôi cũng không tin tôi, không tin vào những điều tôi nói thì có nghĩa là tôi
Trang 17đang tự nhận mình là kẻ hèn nhát và phản bội lại sự thật Vì vậy tôi phải tin mình là người rao giảng sự thật, những điều tôi nói là sự thật để ngầm tuyên
bố rằng tôi không hèn nhát
Vậy tại sao con người lại thích tái tạo nên sự thật? Bởi con người chỉ tự
do khi nó khẳng định mình như là người chuyên chở những sự thật mong manh, những sự thật mà họ vừa là kẻ xây dựng, vừa là kẻ phá hủy Họ chỉ tự
do khi nó có khả năng phá hủy sự thật này để thiết lập một sự thật khác Trong cơ chế này sự thật chuyển động, sinh sôi, từ chối trở thành vĩnh cửu, vì thế mà chúng là những sự thật có tính chất dối lừa hoặc những sự thật nói dối
Và chính ở đây ta thấy rõ những gì được gọi là dối, sai lầm được xác lập trong tương quan với một sự thật có sẵn, một sự thật bị áp đặt từ trước, sự thật mà một lực lượng nào đó muốn duy trì Vì thế mà những sai lầm hay lừa dối mới
có thể trở thành điều kiện của sự thật Những sự thật vĩnh cửu, có thể kiểm tra
và dành cho người khác, những sự thật trở thành sự thật tự thân, là những sự thật đang hình thành trong sự khám phá và bị vượt qua, chưa đông cứng lại thành những sự thật tự thân, và có thể không được thừa nhận Mỗi con người đều tự đeo mặt nạ cho mình, tự cho mình quyền rao giảng sự thật, dưới mặt nạ người ta không tìm thấy sự thật, mà thấy một cái gì đó khiến cho mặt nạ trở thành mặt thật, khiến cho bề ngoài trở thành bản chất Trong trường hợp đó dối chính là thật, sự thật cần trở thành lừa dối để một sự thật khác có thể xuất hiện Vậy nên, do tính chất của nó cái sự thật dối lừa hay sự thật mặt nạ có thể được hiểu như là không- sự- thật và đó chính là “diễn giải”
Từ đó chúng ta có thể rút ra kết luận rằng ngôn ngữ tuy là kênh giao tiếp quan trọng nhất của toàn xã hội, toàn nhân loại nhưng nó không xác định mà bất định Cùng một sự vật, hiện tượng, khái niệm trong đời sống nhưng mỗi người lại có những cách hiểu, cách miêu tả khác nhau Chính bởi vì tính bất định của nó nên ngôn ngữ không thể chuyên chở được sự thật mà nó chỉ có thể thể hiện được những diễn giải Vậy sự thật trong đời sống và ngôn ngữ
Trang 18được biểu hiện như vậy thì ở trong nghệ thuật- một ngành vốn được coi là bám chặt với hiện thực đời sống thì nó có thể hiện sự thật hay không?
1.1.2.3 Cuộc truy tìm sự thật trong nghệ thuật
Sự thật có tồn tại trong nghệ thuật hay không? Ngay từ thời cổ đại Aristotle đã cho rằng “nghệ thuật là sự mô phỏng”, theo quan điểm của Aristotle sử thi, bi kịch, hài kịch, tụng ca và âm nhạc đều có tính mô phỏng (bắt chước) Trong đó, mỗi thể loại lại có sự bắt chước khác nhau trên ba bình diện là phương diện, đối tượng và cách thức mô phỏng Ví dụ, âm nhạc thường mô phỏng thông qua phương tiện mô phỏng là tiết tấu và giai điệu; trong khi đó, nghệ thuật vũ đạo lại mô phỏng chỉ qua một phương tiện là tiết tấu; còn phương tiện của thơ là ngôn ngữ Các thể loại trên cũng khác nhau trong việc lựa chọn đối tượng mô phỏng Ví dụ như hài kịch là sự mô phỏng kịch tính về những con người xấu xa hơn mức bình thường; trong khi đó bi kịch lại thường mô phỏng những con người tốt đẹp hơn Cuối cùng, các thể loại trên còn khác nhau trong cách thức mô phỏng- mô phỏng thông qua ngôn ngữ tự sự hay thông qua nhân vật; thông qua biến cố hoặc không có biến cố; thông qua kịch tính hoặc không có kịch tính Aristotle tin rằng mô phỏng là một đặc tính tự nhiên của loài người và chính nó cấu thành nên một trong những đặc tính vượt trội của con người so với các loài động vật khác [10] Như vậy theo Aristotle nghệ thuật mô phỏng đúng sự thật ngoài đời sống Tiếp theo là vấn đề sự thật trong nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực Theo nghĩa rộng, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực được dùng để xác định quan
hệ giữa tác phẩm văn học đối với hiện thực, bất kể tác phẩm đó là của nhà văn thuộc trường phái hoặc khuynh hướng văn nghệ nào Chủ nghĩa hiện thực cho rằng: văn học phản ánh đời sống Thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực cũng có rất nhiều dạng: Chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng, chủ nghĩa hiện thực thời kì Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực thời kì phong kiến mạt kì ở Phương Đông Nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tây Âu phát triển đỉnh cao nên
Trang 19người ta gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển và cảm hứng chủ đạo của nó là cảm hứng phê phán theo ý kiến của Maksim Gorky, người ta thường gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán Khác với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa cổ điển thường bị chi phối bởi một vài nguồn ý thức tư tưởng, chủ nghĩa hiện thực có tham vọng phải khơi nguồn nhiều phương diện khác nhau và tất cả cuối cùng phải được kết tinh lại thành một nguyên tắc nhất quán là phản ánh chân thực cuộc sống ở những phương diện khác nhau của nó Khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần như đồng nghĩa với khái niệm sự thật đời sống, bởi lẽ tác phẩm văn học nào cũng phản ánh hiện thực Điều quan trọng nhất đối với văn học hiện thực chủ nghĩa là sự trung thành, chính xác trong nhận thức tái hiện bản chất cuộc sống và tầm quan trọng của những tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện Như vậy văn học hiện thực chủ nghĩa cũng cho rằng văn học nghệ thuật phải phản ánh sự thật trong đời sống, dù các tác giả có sử dụng biện pháp phóng đại, điển hình hóa hay các thủ pháp nghệ thuật thì cái lõi của tác phẩm đó vẫn phải lấy từ trong đời sống Chủ nghĩa hiện thực khẳng định: văn học rất cần sự thật, nhưng sự thật trong văn học không phải chỉ là sự thật của các tính cách và sự kiện được mô tả mà còn là sự thật của cách nhìn, của thái
độ, cách đánh giá của nhà văn đối với những hiện tượng được phản ánh, tức là tính chân thực lịch sử của tư tưởng- tình cảm tác phẩm
Văn học nghệ thuật vẫn chú trọng đến việc phản ánh hiện thực và sự thật ngoài đời sống cho đến khi chủ nghĩa siêu thực ra đời, chủ nghĩa siêu thực đã làm sụp đổ mọi ảo tưởng về sự thật Chủ nghĩa siêu thực hướng về thế giới vô thức của con người mà họ cho là một lĩnh vực vô hạn đối với sự khám phá sáng tạo nghệ thuật Trường phái này đề cao các ngẫu hứng, chú trọng ghi lại những cái xuất hiện lướt qua trong đầu, không qua kiểm soát của lí trí Vứt bỏ
sự phân tích logic, xóa bỏ các gông cùm của lí trí và đạo đức và chỉ tin cậy vào trực giác và giấc mơ, ảo giác ở những linh cảm của bản năng và tiên tri: Chủ nghĩa siêu thực cơ bản dựa trên niềm tin vào những cái không có thực
Trang 20của những lề thói chắc chắn của sự liên tưởng có trước, sự vô hạn của những giấc mơ, không vụ lợi trong suy nghĩ Nó hướng tới phá bỏ một hay tất cả thuyết cơ giới tâm linh khác để thay thế chính nó trong việc giải quyết tất cả những vấn đề trọng tâm của cuộc sống Vì vậy chủ nghĩa siêu thực chủ trương giải phóng thơ khỏi những quy cách, lề lối gò bó và chủ trương dùng từ ngữ kiểu cách, kì lạ Đề tài thường là những giấc mơ tưởng huyền ảo, quái dị Đến đây, ta nhận thấy rằng vấn đề phản ánh sự thực ngoài đời sống không còn quá quan trọng với các nhà siêu thực học, điều quan trọng là phải tuân theo trực giác và những giấc mơ
Như vậy, quan niệm về sự thật trong nghệ thuật theo thời gian đã thay đổi, nếu như ban đầu quan niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng” của Aristotle đã chi phối đến văn học nghệ thuật trong suốt một thời gian dài thì về sau khi chủ nghĩa siêu thực ra đời vấn đề phản ánh sự thật không còn quá quan trọng nữa mà điều quan trong các tác giả phải tuân theo trực giác của mình Thế nhưng không phải đến chủ nghĩa siêu hình vấn đề phản ánh sự thật mới mất đi
vị trí của mình mà điều này đã có từ rất lâu trước đây Ta sẽ lấy một số ví dụ
để chứng minh cho điều trên, nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa, xuất hiện trong rất nhiều những tác phẩm khác nhau “Từ Hải (?- 1556) người huyện Hấp, phủ Huy Châu, tỉnh Nam Trực Lệ, thương nhân, thủ lĩnh cướp biển đời Minh Từ Hải theo chú là Từ Bích Khê gia nhập thương đoàn của Uông Trực, lấy danh kỹ Tần Hoài chính là Vương Thúy Kiều làm vợ Từ Hải trong chính sử vốn là một thủ lĩnh xuất quỷ nhập thần của một đám cướp biển miền duyên hải Giang Nam còn Hồ Tôn Hiến có chức danh là Đốc phủ, là người đã lập mưu giả vờ chiêu hàng để giết Từ Hải Cốt truyện chính ấy đã được Mao Khôn
(1512- 1601) ghi chép lại trong cuốn sách Kỷ tiễu trừ Từ Hải bản mạt, vì Mao
Khôn đã từng phục vụ trong quân ngũ của Hồ Tôn Hiến và ghi chép lại sự việc như một trang kỷ yếu ghi chép thời giao tranh Từ Hải cùng Trần Đông,
Trang 21Ma Diệp theo lệnh của Uông Trực, cấu kết với Uy Khấu, tổ chức lực lượng chống lại quan quân nhà Minh; lấy Chá Lâm, Sạ Phổ làm căn cứ Năm Gia Tĩnh thứ 35 (1556), Từ, Trần, Ma đưa hơn vạn cướp biển, chia làm 3 cánh tấn công Giang, Chiết Tổng đốc quân vụ Giang, Chiết là Hồ Tôn Hiến sai La Long Văn nằm vùng, thi hành kế phản gián, thúc đẩy mâu thuẫn giữa Từ Hải
và Trần Đông Có lần con tin mà Hồ Tôn Hiến phái đến là Hạ Chánh tố cáo với Từ Hải: Trần Đông cùng người ta có ước, nên muốn đầu độc ngài đấy! Từ Hải không biết là kế, bắt đầu không tin Trần Đông Hồ Tôn Hiến đã tiếp kiến
Từ Hải tại đốc phủ Bình Hồ và tặng cho ông một lượng lớn của cải Vì thế,
Từ Hải bắt sống Trần Đông, đầu hàng Hồ Tôn Hiến Hồ Tôn Hiến an trí lực lượng của Từ Hải và Trần Đông ở Trầm Trang, phụ cận Sa Phổ, chia làm Đông– Tây doanh Ông ta sai Trần Đông tiêu diệt Từ Hải, Từ Hải đâm đầu xuống nước tự vẫn Hồ Tôn Hiến cho chém Trần Đông, Ma Diệp, Tân Ngũ Lang tại giáo trường Gia Hưng Bắc, gửi đầu của bọn họ và Từ Hải về Bắc Kinh” Câu chuyện này về sau được nhiều người viết đi viết lại Đới Sĩ Lâm
viết: Lý Thúy Kiều truyện; Dư Hoài viết: Vương Thúy Kiều truyện; Trần Thụ
Cơ viết: Hồ Thiếu Bảo bình nguy tấu tích; Mộng Giác Đạo Nhân viết: Từ tạ
Từ Hải Nghĩa… Với Dư Hoài trong Ngu Sơ tân chí, Từ Hải có quá khứ của
một nhà sư phá giới, một tên giặc cỏ ham mê cờ bạc Với Thanh Tâm Tài Nhân, Từ Hải là một anh đồ lỡ vận, một nhà buôn gặp thời, một đại vương giết người không hở tay Nhưng với Nguyễn Du, Từ Hải không có quá khứ, nghĩa là không có tung tích của một kẻ tầm thường, chàng đột ngột hiện ra như một vị thần để làm chuyện kinh thiên động địa Chàng là ánh sáng loé lên giữa đêm trường của một xã hội nhày nhụa, bất công, bế tắc Từ Hải hiện ra đột ngột rồi nhanh chóng biến mất, nhưng ta không hề có cảm giác đó là ánh sao băng, chàng để lại một ấn tượng khá mạnh mẽ trong tâm trí người đọc Như vậy, cùng là một hiện thực, cùng là một nhân vật nhưng mỗi tác giả lại
có sự miêu tả khác nhau dẫn đến những sự thật khác nhau Không chỉ dừng lại
Trang 22ở văn học mà trong phim ảnh ta cũng thấy ranh giới rất mong manh giữa sự
thật và diễn giải Trong bộ phim Cậu bé đặc biệt (2007) của đạo diễn Aamir
Khan, bộ phim kể về một cậu bé 8 tuổi, học lớp 3 nhưng bị lưu ban hai năm
Lý do tưởng chừng đơn giản như theo cách ba mẹ của cậu nghĩ: lười biếng, nhác học nên điểm số khi nào cũng lẹt đẹt trong khi anh cậu luôn luôn đứng đầu lớp Nhưng nguyên nhân sâu xa là do cậu lại mắc chứng bệnh "khó đọc
và viết." Cậu bị nhầm lẫn giữa chữ "b" và "d", "q" và "p",… Ba mẹ cậu không nhìn ra vấn đề, không nhận ra cậu bé giỏi ở chỗ nào, yếu ở chỗ nào để mà khắc phục Ông bố thì luôn luôn nghiêm khắc và vũ phu, mỗi lần cậu bị điểm yếu sẽ la mắng: "Đồ ngu, sau này một thằng ngu như mày có thể đối mặt với thế giới đầy khắc nghiệt ngoài kia chứ?" Câu nói vẫn cứ lặp lại hàng ngày, hàng tuần mỗi lần cậu bị điểm kém Mỗi lần đến lớp cậu lại bị cười vào mặt,
bị bạn đánh, ăn hiếp, việc học không ai giúp đỡ, cậu bé dần dần mất tự tin, hư hỏng, rơi vào chứng trầm cảm, cô giáo cho cậu bị vấn đề về thần kinh, ba mẹ cho là cứng đầu, bướng bỉnh, đành đem con đi học nội trú Bước vào môi trường mới không thích nghi được, cậu lại tiếp tục rơi vào chứng trầm cảm, lần nào cũng đội sổ Cậu lại phải đấu tranh dữ dội với những con số, mặt chữ mà không hề có giải pháp cho cái vấn đề kinh khủng ấy Rồi cuối cùng, cậu bé tội nghiệp cũng đã được gặp một người thầy hết lòng tận tụy với học sinh Người thầy ấy có tuổi thơ cũng bất hạnh như cậu bé Ông cũng mắc phải chứng khó đọc và viết lúc nhỏ Ba của ông cũng không hiểu con trai mình và hằng ngày thất vọng về ông Nhưng rồi ông cũng làm được những điều vượt
xa những gì mà cha ông kì vọng Thấy một đứa trẻ cũng lặp lại tuổi thơ như mình, ông đã giúp đứa trẻ ấy bằng cách xua tan mọi rào cản giữa bọn trẻ con với cậu bé và phát triển năng khiếu nghệ thuật của cậu bé Nếu như Ishaan không may mắn gặp được người thầy giáo đó thì có lẽ tất cả chúng ta đều nghĩ rằng Ishaan là một đứa bé ngu dốt và hư hỏng, chỉ đến khi thầy giáo phát hiện ra chứng khó đọc và tài năng vẽ tranh của cậu bé thì sự thật mới được
Trang 23làm sáng tỏ, thì ra cậu bé là một thiên tài hội họa, thì ra tất cả những sự đánh giá
về cậu trước đó chỉ là những diễn giải sai lầm Từ đó ta thấy rằng ranh giới giữa
sự thật và diễn giải vô cùng mong manh và khó đoán định được
Tóm lại, Sự thật/ chân lý liệu có thực sự tồn tại vĩnh cửu? Chân lý bao
giờ cũng là một chân lý nội tại, không nằm bên ngoài khuôn khổ nhận thức của khái niệm Tuy không có sẵn một tiêu chuẩn của chân lý, những chính những phiên bản khác nhau sẽ tạo ra những thế giới khác nhau, miễn là chúng
có khả năng thuyết phục Sự thuyết phục của những “phiên bản” mới là khi chúng có thể trở thành những lựa chọn khác cho những niềm tin trước đây, hoặc cái mới của sự lý giải sáng tạo có thể tiếp nối những hình dung đã qua một cách đầy nghệ thuật Như vậy sự thật là cái có thể thay thế, không có sự thật vĩnh cửu Chúng ta đã cố gắng tìm sự thật trong khoa học, đời sống, trong ngôn ngữ và cả trong nghệ thuật nhưng thứ mà chúng ta nhận thấy chỉ là sự bất định, là những diễn giải vô tận Trong lịch sử và cả trong hiện tại đã có rất nhiều cuộc truy tìm sự thật, nhưng càng ráo riết tìm hiểu người ta lại càng rơi vào trạng thái bất định
1.2 Bản chất của diễn giải
Trong cuộc truy tìm sự thật đích thực, ta bắt gặp những diễn giải khác nhau, những diễn giải này có thể thuận chiều nhau, trái chiều thậm chí là phủ nhận nhau Mỗi diễn giải lại cho ta biết một khía cạnh khác của sự thật, nó kích thích trí tò mò của con người trên hành trình tìm kiếm sự thật
1.2.1 Khái niệm “diễn giải”
Theo Từ điển tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên) thì: “diễn giải là dùng lời
nói hoặc chữ viết để cắt nghĩa rõ ràng một vấn đề” [9, 216] Theo ý kiến này thì diễn giải nghĩa là từ một vấn đề gốc con người dùng lời nói hoặc chữ viết
để phân tích, cắt nghĩa vấn đề đó theo cách riêng của mình
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Văn Hành (chủ biên): “diễn giải là
diễn đạt, giải thích Diễn giải vấn đề một cách minh bạch” [4, 190] Với khái
Trang 24niệm của Hoàng Văn Hành thì diễn giải nghĩa là con người sẽ diễn đạt và giải thích một vấn đề nào đó để khiến vấn đề đó trở nên minh bạch, rõ ràng hơn Paul Ricoeur lại định nghĩa diễn giải như là công việc hiểu để cố gắng soi sáng các biểu tượng những cách biểu đạt có ý nghĩa kép của ngôn ngữ Theo ông, có xuất hiện xung đột của các diễn giải Paul Ricoeur đã đề cập đến vấn đề diễn giải trong ngôn ngữ, mọi người diễn giải là để cố gắng hiểu những ý nghĩa biểu tượng trong ngôn ngữ và những diễn giải ấy có thể tương đồng hoặc tương phản lẫn nhau
Trong khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu theo quan niệm của tác giả Văn Tân và Paul Ricoeur về khái niệm diễn giải: diễn giải nghĩa là con người dùng các kí hiệu có tính giao tiếpđể cắt nghĩa rõ ràng một vấn đề, những diễn giải ấy có thể tương đồng, tương phản thậm chí là loại trừ nhau Trên cơ sở khái niệm đó chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề tái diễn và diễn giải
1.2.2 Tái diễn và diễn giải
Đối với nhà văn, tái diễn là một phương thức tồn tại, một phương thức tìm kiếm bản thân và trở về với chính mình, một phương thức để khẳng định
sự tiếp diễn của tồn sinh và để chứng minh rằng thế giới đang hình thành, rằng thế giới vận động về phía trước trong khi vẫn đồng thời bảo tồn các yếu
tố cũ “Tái diễn vận hành như là nguyên tắc tổ chức tác phẩm Không có gì mới, tất cả đều lặp lại, thế giới này chỉ là một thế giới của những phân thân, ở
đó ta gặp phân thân của chính mình, phân thân của phân thân cứ như thế mà lũy thừa đến n lần; sự tăng sinh này hủy bỏ sự thật và tính đích thực, tạo ra những chuỗi hình ảnh Trong quá trình tái diễn thường hằng của những từ xưa
cũ, tự do của nhà văn tồn tại dưới dạng thức của sự kết hợp các lời nói đã có, những lời này được tái tổ chức và tạo ra những hiệu ứng hỗn mang của các tái lập Cũng chính trong tái diễn mà các từ biểu lộ quyền lực tự làm mới của mình để xây dựng những cấu trúc mới” [5, 340] Như thế, cá nhân (nhân vật) chỉ là một cái bóng và anh ta phóng xuất vô số những cái bóng cho phép nhân
Trang 25cách của anh ta luôn mở và luôn luôn đòi được khám phá Như vậy, con người tồn tại như là những khả thể vừa hiện diện vừa vô hình, chứ không phải như những nhân vật thực tế và cố định
Tái diễn là yếu tố cần được diễn giải, bởi vì chiến lược tái diễn của văn bản nhất thiết đòi hỏi người diễn giải không được bỏ qua các dấu vết mà tác giả cố tình để lại: các chi tiết, các trường đoạn được lặp lại một cách cố ý, chúng yêu cầu được diễn giải và trở thành những cái trục đỡ cho diễn giải vận hành Vì vậy tái diễn trở thành một cấu trúc vừa mang tính diễn giải vừa phá
vỡ diễn giải Cuộc đời là một tái diễn làm ta vui sướng tận hưởng Nếu không
có tái diễn cuộc đời sẽ như thế nào đây? Do đó thế giới hãy còn tồn tại và nó tiếp tục tồn tại vì nó là một tái diễn Chính bởi vì có tái diễn nên câu chuyện luôn ở trạng thái chưa kết thúc, nó luôn dừng lại ở sự khởi đầu Như vậy câu chuyện dừng lại để rồi tái diễn theo một cách khác Tái diễn đã được chuẩn bị,
ta hiểu rằng mọi việc chưa chấm dứt, rằng ta bị đặt vào một chờ đợi, và tác phẩm sẽ còn tiếp tục
Diễn giải là cái không- sự- thật (theo cách nói của Nguyễn Thị Từ Huy) Diễn giải thực tế là công việc của ngôn ngữ Để có thể thực hiên giao tiếp giữa con người với con người, giữa con người với thế giới, các từ phải có một
ý nghĩa nhất định Thông diễn học tìm hiểu các nghĩa có thể có, nhờ vào diễn giải Vì không có sự vật tự thân nên tính chất diễn giải của các hiện tượng quyết định bởi các sự kiện được lựa chọn và tập hợp bởi người diễn giải Mỗi một cá nhân là một người diễn giải, cứ như thể sống là để diễn giải Thông thường diễn giải hoàn thành nhiệm vụ của mình khi tìm thấy hiện thực Thế nhưng tồn tại có một bản chất “mở” đối với mọi diễn giải, vì thế nó mập mờ; tính chất mập mờ, tối nghĩa, tính đa nghĩa, khoảng trống, sự khuyết thiếu, cấu trúc mảnh và hỗn độn đến chóng mặt… những yếu tố cấu thành tính đa phức của diễn giải Dẫn đến kết quả là không có Chân lý tuyệt đối Mọi diễn giải đều có thể và không có diễn giải chính xác Không có gì thật, mọi thứ đều
Trang 26được phép, con người chạy theo diễn giải Diễn giải, trong mọi khả thể của nó
là một phần của tự do, nhờ nó con người tự giải thoát khỏi sự thật; kết quả là những ai còn tin vào sự thật không thể có đầu óc tự do
Xét dưới tiêu chí các lĩnh vực của cuộc sống có thể chi diễn giải thành các loại sau: diễn giải trong đời sống, diễn giải trong nghệ thuật và diễn giải trong ngôn ngữ
Trong Buổi hoàng hôn của thần tượng Friedrich Nietzsche đã viết: “con
mắt chúng ta làm nhân chứng, ngôn ngữ của chúng ta không ngớt biện hộ, giải thích cho một lời nào đó” [13, 21] tức là con mắt của con người là nhân chứng cho mọi sự vật, sự việc ngoài đời sống, trong nghệ thuật và trong ngôn ngữ Những sự vật, sự việc này được con mắt thu nhận và chuyển đến thần kinh trung ương, có lẽ con mắt là thứ may mắn khi nó được chứng kiến toàn
bộ sự thực ở đời “con mắt không biết nói dối”, thế nhưng khi được chuyển đến trung ương thần kinh thì sự thật đã bị bóp méo, sự thật đó có thể được tô hồng lên hoặc giảm nhẹ đi theo hướng tốt đẹp cho chủ thể Vì vậy khi sự thật được truyền lại qua miệng thì nó không còn là sự thật tuyệt đối mà chỉ là
những diễn giải Như vậy là không có sự thật, thế nhưng trong tác phẩm Bốn
bề bờ bụi của Akutagawa các nhân vật lại một mực khẳng định là mình đang
nói sự thật, liệu các nhân vật đó đang nói sự thật hay chỉ là những diễn giải
Để rút ra kết luận chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu vấn đề sự thật và diễn giải
trong Bốn bề bờ bụi của Akutagawa
Trang 27Chương 2 SỰ THẬT VÀ DIỄN GIẢI TRONG TÁC PHẨM
BỐN BỀ BỜ BỤI CỦA AKUTAGAWA RYUNOSUKE
Tác phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa kể về một vụ giết người, tác
phẩm được viết dưới dạng lời khai của 7 người đó là người đốn củi, nhà sư lữ hành, sai nha, mẹ vợ của người bị giết, tên cướp Tajomaru, người vợ và người chồng đã chết (nói qua miệng của người đồng) Việc giết người xảy ra trong rừng sâu, có ba người chứng kiến sự việc này gồm người chồng, người vợ và tên cướp Tác phẩm kết thúc với một kết quả duy nhất là người chồng chết, người vợ mất tích, tên cướp bị bắt Thế nhưng một điều lạ là mỗi người thuật lại sự việc hoàn toàn khác nhau Thông thường, khi kể lại chuyện của người khác chúng ta có thể bị sai lệch ít nhiều vì không phải là người trong cuộc Tuy nhiên, cả ba người cùng kể lại một sự việc mà họ chứng kiến và chỉ có một kết cục duy nhất nhưng các lời kể lại khác xa nhau Tại sao lại như vây? Đâu là sự thật hay tất cả chỉ là diễn giải?
2.1 Sự thật là lời?
Khi tiếp xúc với tác phẩm Bốn bề bờ bụi hàng loạt câu hỏi đã đặt ra với
người đọc: Đâu là sự thật? Có mấy sự thật? Chết rồi có còn giữ thể diện hay không? Ta sẽ đi tìm hiểu sự thật đó qua lời của ba nhân vật chính
Trước hết là lời khai của tên cướp Tajomaru, hắn khai rằng tình cờ hắn
đã nhìn thấy khuôn mặt của người đàn bà sau mạng che mặt và đã bị mê đắm,
bị quyến rũ bởi khuôn mặt “nữ bồ tát” đó, trong giây phút đó hắn đã “quyết sẽ chiếm đoạt cô ta, dù có phải giết người chồng” đối với hắn “giết người có phải chuyện gì ghê gớm… thế nào cũng phải chiếm đoạt đàn bà thì phải giết đàn ông đi thôi” [20] Vì vậy hắn đã lên kế hoạch lừa người chồng và chiếm đoạt người phụ nữ đó Sau khi trói người chồng, tên cướp đã cưỡng đoạt người đàn bà sau đó hắn định bỏ đi khỏi bụi rậm thì người vợ đã cầu xin hắn giết người chồng Bắt gặp ánh mắt kiên định của người vợ hắn đã nghĩ “cho
Trang 28dù có bị sấm sét đánh chết đi nữa, cũng phải lấy cô ta làm vợ mới thỏa lòng” [20] Nhưng dù có phải giết người chồng đi nữa thì hắn cũng không dùng thủ đoạn đê hèn vì vậy hắn đã cởi trói cho người chồng, hai người đấu với nhau hai mươi ba hiệp mới phân thắng bại Và cuối cùng hắn đã đâm chết người chồng, nhân lúc hỗn loạn cô vợ đã bỏ trốn Qua lời khai của tên cướp ta thấy
nó hoàn toàn có lý và có căn cứ bởi qua lời kể của người sai nha; lúc bắt được tên cướp hắn có mang một “cây cung bọc da, bao đựng tên sơn đen, tên đánh trận,…” và “ngựa màu hung đỏ bị cắt hết bờm” đây là những đồ mà tên cướp
đã lấy được từ người đàn ông Bên cạnh đó tên cướp Tajomura vốn nổi tiếng
là háo sắc “năm ngoái, trên núi phía sau chùa Toribedera thờ La Hán Binzuru,
có một bà đi lễ chùa đã bị giết chết cùng với đứa con gái nhỏ” [20] Dựa vào những điều trên thì ta thấy lời nói của tên cướp hoàn toàn hợp lý và rất có thể
là sự thật bởi hắn là một tên háo sắc, vì sắc dục hắn sẵn sàng giết người
Tiếp theo ta xét đến lời sám hối ở chùa của người vợ, lời khai của cô ta lại hoàn toàn khác Cô ấm ức khi kể lại việc mình bị tên cướp làm nhục dưới
sự chứng kiến của người chồng Còn gì đau khổ, nhục nhã ê chề hơn khi người phụ nữ bị người lạ mặt làm nhục, lại còn ngay trước mặt chồng của mình Trong giây phút đó người đàn bà đã bắt gặp ánh mắt của người chồng
“chiếu tỏa ra từ ánh mắt ấy không phải là cơn giận dữ, mà cũng không phải là nỗi buồn rầu Mà chỉ là tia sáng lạnh lẽo của lòng khinh miệt” [20] Vào thời khắc đó toàn bộ niềm hi vọng được cảm thông, được tha thứ của người vợ đã
bị sụp đổ Hơn cả nỗi đau bị tên cướp kia chà đạp ánh mắt đó của người chồng như một lưỡi dao vô hình cứa mạnh vào tim người đàn bà khiến trái tim cô ta rỉ máu, đau đớn khóc ngất đi Đến lúc tỉnh dậy cô ta thấy tên cướp
đã chạy mất chỉ còn người chồng bị trói ở gốc cây Lúc này đây người đàn bà vẫn chưa thoát khỏi sự tuyệt vọng và cô ta đã đi đến quyết định “đã đến nông nỗi này thì em không còn có thể sống cùng với anh được nữa Em chỉ muốn chết ngay cho rồi Nhưng mà, xin anh cũng chết đi Bởi anh đã chứng kiến nỗi
Trang 29ô nhục của em Em không thể nào để mặc anh sống như thế này được” [20]
Vì vậy cô ta đã dùng lưỡi đao còn sót lại trên mặt đất đâm chết người chồng, còn bản thân thì cũng cố gắng tự vẫn bằng nhiều cách nhưng đều thất bại và lưu lạc đến chùa Qua lời khai của bà mẹ ta biết được người đàn bà là người
“có tình tình cứng cỏi không thua đàn ông con trai” và “ngoài cậu Takehiro
ra, nó chưa hề biết tới người đàn ông nào khác” Với một người phụ nữ tính tình mạnh mẽ, lòng tự trọng cao như vậy thì khi bị xúc phạm cô ta hoàn toàn
có thể ra tay giết người để bảo vệ phẩm tiết của bản thân Hơn thế nữa lời khai của người đàn bà được lấy khi cô ta đáng sám hối ở chùa, theo quan niệm dân gian thì khi đến chùa con người phải thành tâm, thành thực không được nửa lời dối trá Vì vậy nên ta thấy lời khai của người đàn bà rất có thể là
sự thật
Cuối cùng ta xét đến lời của người chồng đã chết qua miệng bà đồng, anh ta kể rằng sau khi người vợ bị cưỡng đoạt, tên cướp đã an ủi người vợ đủ điều, anh ta đã “đưa mắt ra hiệu cho vợ nhiều lần Đừng tin những gì tên cướp nói, cứ nghĩ tất cả những điều hắn nói đều là láo toét cả” Thấy người vợ có
vẻ chăm chú lắng nghe lời tên cướp nói “ta rúng động cả người vì ghen” Sau
đó cô vợ còn lớn mật ra sức cầu xin tên cướp hãy giết người chồng, tên cướp thấy vậy thì lập tức tỏ vẻ khinh bỉ đạp ngã cô vợ, sau đó hắn đã cắt dây trói cho người chồng và đuổi theo giết cô vợ Bản thân bị mắc bẫy, bị trói, trực tiếp chứng kiến cảnh vợ mình bị người khác cưỡng hiếp, người chồng chắc chắn sẽ tức giận, sẽ cảm thấy lòng tự trọng của mình cứ bị dày xéo từng chút, từng chút một khiến anh ta không thể chịu nổi Vì cô đơn, đau khổ và vì cảm thấy danh dự của mình bị xúc phạm nên anh ta tự đâm dao vào tim kết liễu cuộc đời mình Theo quan niệm của đạo Phật thì “người chết không nói dối”, không chỉ có vậy nói đến tự tử, ai cũng nghĩ đó là một việc làm điên rồ, khờ dại, có lẽ con người đó quá quẫn bách; nhưng đối với người Nhật, tự tử là một hành động bi quan nhưng cũng là một văn hóa Tại sao lại như vậy? Vì vấn
Trang 30nạn tự tử đối với họ là một văn hóa, nó xuất phát từ tinh thần võ sĩ đạo truyền thống đã tồn tại từ ngàn năm trước của đất nước này Đối với người Nhật, lúc lâm trận bị chết dưới tay kẻ thù là một sự sỉ nhục, vì vậy họ thà tự kết liễu đời mình để giữ lại thanh danh và tinh thần quả cảm hơn người Truyền thống tốt đẹp ấy đã ăn sâu vào máu thịt ngưới Nhật, nhưng dần dần bị biến đổi theo thời gian, khiến cho người Nhật ngộ nhận rằng tự tìm đến cái chết là một hành động vì dũng cảm và cao thượng Người Nhật rất sợ bị sỉ nhục, họ giữ gìn danh tiếng cẩn trọng đến một mức đáng sợ Chính nền văn hóa “sợ nhục” của nhân dân xứ sở mặt trời mọc đã đẩy nhiều người đến bờ vực thẳm, bởi vì họ không thể sống tiếp với một vết nhơ Cái chết đối với người Nhật, dường như tượng trưng cho cái đẹp mang tính tuyệt đối Họ nói đến cái chết không phải
là sự sợ hãi, mà nói đến một thách thức mĩ lệ Chạm đến cái chết là chạm đến tận cùng, cái không ai có thể vượt qua được Vì vậy thì lời khai của người chồng cũng là thật
Như vậy, cùng một sự việc nhưng mỗi người lại kể lại một cách khác nhau và thoạt nghe ta thấy “có quá nhiều lẽ phải” ở đây, lời kể nào cũng có lý
và cũng có thể là sự thật Vậy đâu mới là sự thật, hay tất cả chỉ là diễn giải?
2.2 Diễn giải
2.2.1 Những diễn giải đằng sau mặt nạ
Khi đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa, chúng
tôi nhận thấy dường như mỗi nhân vật đều có sự trỗi dậy thái quá của bản năng nhưng họ lại sử dụng lời nói tạo ra những chiếc mặt nạ để che giấu những điều đó Vì vậy chúng tôi sẽ xem xét những diễn giải của các nhân vật trong tác phẩm dưới cái nhìn Phân tâm học của Sigmund Freud
2.2.1.1 Cấu trúc nhân cách theo thuyết Phân tâm học
a Khái niệm nhân cách
“Nhân cách” (personality trong tiếng Anh, personnalité trong tiếng Pháp) có nguồn gốc từ persona, từ Latinh mang nghĩa “cái mặt nạ” (chữ
Trang 31nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp là prosopon) “Persona được các diễn viên đeo
trong những vở kịch trong thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại Đó chính là một vật thể trung gian giữa người diễn viên, vai mà anh ta đóng và người xem kịch Với số lượng hạn chế (khoảng 12 cái), khi khán giả nhìn thấy một persona được đeo, họ có thể tiên đoán trước những hành động tiếp theo của nhân vật Một điều thú vị nữa là trong một vở kịch, một diễn viên cho một vai chỉ có thể mang một loại persona chứ không được thay đổi theo từng tình tiết cho dù
vở kịch có kịch tính đến đâu”
Nguồn gốc này của từ vựng cho ta thấy những đặc điểm mà con người ta quy gán cho khái niệm được gọi là “nhân cách”: “một là, cho dù thế giới con người có đa dạng như thế nào, luôn tồn tại một số thể loại nhân cách mang tính hoàn cầu, tất nhiên trừ những trường hợp thực sự cá biệt; hai là, cho dù cuộc sống con người có biến động đến đâu, nhân cách một khi đã hoàn chỉnh thì vẫn không thay đổi về bản chất” [15]
“Cấu trúc là sự thống nhất toàn vẹn các thành phần và sự liên hệ về mọi mặt giữa chúng Cấu trúc nhân cách là sự sắp xếp các thuộc tính hay các thành phần của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn định trong mối quan hệ và quan hệ nhất định” [16]
b Cấu trúc của nhân cách
*Vô thức- cái nó (ID)
“Cái nó là nhu cầu bản năng vô thức của con người chẳng hạn: bản năng tình dục, bản năng ăn uống, bản năng tự vệ,…
Khối vô thức là khối bản năng Khối vô thức bao gồm bản năng sống và bản năng chết Bản năng sống chiếm vị trí trung tâm trong thuyết Freud là bản năng tính dục, năng lượng libido Về bản năng tính dục (libido): nó là cội nguồn, năng lượng tính dục, năng lượng kích thích tình dục, phấn khích tình yêu… và chi phối đời sống nội tâm Ở điểm này libido được xem như là nguyên tắc khoái lạc Nó vừa là sự phát triển tình dục của người lành mạnh và
Trang 32được mở rộng cho đến các hoạt động khoa học, mỹ thuật của cá nhân, lại vừa
là căn nguyên của bệnh lý Về bản năng chết: nó diễn ra theo chiều hướng ngược lại khi tùy vào mức độ tăng tốc của năng lượng trong bản năng đi đến đỉnh cao như tức tối, giận dữ…làm tăng huyết áp, ngất xỉu, tử vong…
Bản năng có những tính chất cơ bản sau: thứ nhất bản năng của con người thường bị kìm nén Đó là nguồn năng lượng dồi dào và là động lực cơ bản cho mọi hoạt động cá nhân Thứ hai mục đích của bản năng là hướng đến thảo mãn nhu cầu bằng cách trực tiếp hay gián tiếp Thứ ba thế giới bên ngoài
là đối tượng để bản năng thỏa mãn Nó hướng tới đối tượng và đòi thỏa mãn một cách trực tiếp ngay lập tức Thứ tư bản năng chi phối toàn bộ hoạt động đời sống tâm lí của con người
Khối vô thức là một thùng năng lượng tâm thần chất chứa những khát vọng bản năng sôi sục Nó là hệ thống căn bản khởi thủy của nhân cách và sống theo nhu cầu của sinh lí Hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi
sự thỏa mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng để trở về trạng thái cân bằng (nếu không đáp ứng thì trở nên ức chế) Vô thức là cái ngấm ngầm điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người” [16]
*Ý thức- cái tôi (EGO)
“Cái tôi là hoạt động hiện tại có ý thức của con người để thỏa mãn bản năng
Khối ý thức tương đương với cái “tôi” Cái tôi được thành lập do áp lực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng Nó đảm bảo các chức năng tâm
lý như chú ý, trí nhớ… hoạt động bình thường Con người thường phải dùng một năng lượng đáng kể để kiềm chế những bản năng phi lý ấy Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại Nhiệm vụ của “cái tôi” là làm cho “cái nó” thỏa mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm sự căng thẳng một cách tốt nhất”
Trang 33“Ý thức (Freud còn gọi là thức ngã) bao gồm những suy nghĩ, ý thức của con người về các quy định của các quy luật cuộc sống và các mối quan hệ thường ngày, cách thức ứng xử đã tập luyện được trong cuộc sống bằng kinh nghiệm Nó kìm hãm việc thỏa mãn các động cơ của thức ngã hoặc hướng dẫn các động cơ đó biểu hiện những hình thức được xã hội chấp nhận, giúp con người thích nghi với hoàn cảnh thực tế của đời sống Cái tôi có tính tự chủ, nó tự chủ về nguồn năng lượng, về việc chọn lọc các kích thích từ môi trường” [16]
*Siêu thức- cái ta (Superego)
“Cái ta là ý thức về những chuẩn mực xã hội mà cá nhân tiếp thu: quy tắc, chuẩn mực đạo đức, pháp luật, phong tục, truyền thông xã hội,…
Siêu thức tương ứng với siêu tôi là tổ chức bên trong gồm các phạm trù
xã hội, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tôn giáo…tiếng nói của đạo đức, tìm kiếm sự hoàn thiện Siêu thức hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt, ngăn cấm những thúc đẩy của bản năng Cả ba khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối: con người lúc ấy ở trạng thái bình thường Nhưng cả ba khối này luôn luôn xung đột với nhau, sự xung đột này
là cơ chế của hoạt động tâm thần Từ quan niệm như trên, Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lí của con người Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy thoái
Con người sống gồm các bản năng, xu hướng của các bản năng này luôn vượt lên chiếm đoạt những cái khác (cái tôi và siêu tôi) Những cái bản năng luôn bị sự chèn ép, kiểm duyệt của cái tôi Do đó, nó phải biến dạng bằng một hình thức nào đó như bệnh tâm thần, nói lắp, nói nhịu Trong trường hợp không thoát lên được thì nó siêu thăng Chẳng hạn như trường hợp của danh họa Leonardo da Vinci đã biến cái say mê tình dục thành nghệ thuật hội họa Cái siêu tôi thể hiện ở sự dạy dỗ, quy định của bố mẹ, thể hiện trong truyền
Trang 34thống của thế hệ trước truyền lại Cơ chế tâm lý của việc hình thành siêu tôi là
sự đồng hóa- cá nhân đồng nhất với cha mẹ và những người giáo dục
Phần thưởng của cái siêu tôi là cảm giác tự hào và quý trọng mình Còn hình phạt của siêu tôi là sự mặc cảm và tự ti” [16]
2.2.1.2 Những “mặt nạ” trong tác phẩm “Bốn bề bờ bụi” Akutagawa Ryunosuke
Con mắt của chúng ta làm nhân chứng, ngôn ngữ của chúng ta không ngớt biện hộ, giải thích cho một lời nào đó Vậy mà khi chứng cứ đi qua con mắt, nó lại bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau đó là cái tôi, cái siêu tôi, cái nó những yếu tố này đã khoác cho con người mặt nạ để họ trở nên đẹp
hơn Vậy những mặt nạ trong Bốn bề bờ bụi là gì ?
Kết cấu lời cung khai thông thường chỉ có trong những văn bản pháp luật Lời khai của các bị cáo hay nhân chứng phải chính xác, trung thực và một yêu cầu quan trọng nữa đó là các lời khai phải trùng khớp với nhau Nếu khai gian, cơ quan điều tra vẫn có cách đối chiếu giữa các lời khai để tìm ra
người nói dối Trong truyện ngắn Bốn bề bờ bụi Akutagawa đã xây dựng kết
cấu lời cung khai rất thành công Truyện có các lời khai của các nhân vật sau: người đốn củi, nhà sư, sai nha, mẹ của người vợ, tên cướp, người vợ, người chồng Ở mỗi lời khai đều có tên nhân vật và nội dung khai báo Trong phần nội dung, các nhân vật đều hướng cuộc đối thoại đến viên quan kiểm sát- tức trình bày với vị quan đang giấu mặt Mỗi người đều khai báo những gì mình nhìn thấy, kèm theo là những suy nghĩ của bản thân Như vậy, về hình thức ban đầu truyện ngắn này rất giống với những lời khai trong văn bản luật Tuy nhiên nội dung bên trong được tác giả thể hiện như thế nào? Lời khai của ba nhân vật phụ cung cấp cho người đọc bối cảnh của sự việc gồm hiện trường xảy ra vụ án, nhân thân người bị giết hại và nghi vấn về kẻ giết người Tang chứng và vật chứng tập trung xung quanh tên cướp khét tiếng Tajomaru Trong lời khai của ba nhân vật chính, lời của người chồng và người vợ được
Trang 35thể hiện thông qua một cách thức khá độc đáo Lời người chồng là “lời kể lể của người chết qua miệng người ngồi đồng” Lời người vợ là “lời sám hối của người đàn bà đến chùa Kiyomizu” Hai hình thức kể này đều có vẻ đáng tin cậy nếu như xét theo quan niệm dân gian xưa Việc nhấn mạnh cách thức thể hiện lời khai thể hiện dụng ý của tác giả, dường như mỗi người đều cố gắng trình bày sự việc với độ xác tín cao nhất Thế nhưng, khi bước vào câu chuyện, người đọc bắt đầu hoang mang lo lắng Bởi nội dung sự việc không
rõ ràng hơn mà mọi việc càng lúc càng rối rắm, khó hiểu Những căn cứ để xác định ai nói thật, ai gian dối không còn nữa Ai cũng có lí lẽ của riêng
mình và đều có thể là thủ phạm Tuy nhiên Bốn bề bờ bụi không phải là
truyện ngắn trinh thám, tác phẩm không nhằm mục đích thử thách trí thông minh của người đọc để tìm ra hung thủ Qua truyện ngắn, Akutagawa đặt ra những câu hỏi nhức nhối về nhân tâm con người
Trong cuộc sống thường nhật, con người cũng tồn tại không hoàn toàn là chính mình Heidegger đã kết luận: “mỗi người chúng ta ai cũng là kẻ khác, không ai là chính mình cả” Như vậy con người có một tồn tại cùng với như một cấu trúc cơ bản Khi anh ta nói rằng “tôi là” thì luôn luôn có hai chủ thể: chủ thể thứ nhất với nghĩa “người ta” và chủ thể thứ hai với nghĩa “bản
thân”’’ [5, 104] Tác phẩm Bốn bề bờ bụi của Akutagawa là một tác phẩm
phản ánh những lầm tưởng của con người về bản thân mình, ở đó ta thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của “cái nó”, “cái tôi” và cũng có cả sự thức nhận của “cái ta” Qua đó tác giả thể hiện sự hoài nghi sâu sắc về sự thật
Trước hết là tên cướp Tajomaru, ta thấy ở hắn “cái nó” trỗi dậy mạnh
mẽ- đó là những ham muốn thuộc về bản năng như tham tiền, ham mê sắc dục Chính điều này đã chi phối đến hắn một cách mạnh mẽ, khiến cho hắn trở thành nô lệ cho ham muốn Tajomaru là một tên cướp khét tiếng, trong lịch sử nghề nghiệp của mình hắn đã thực hiện không biết bao nhiêu vụ cướp, bao nhiêu vụ giết người để thỏa mãn lòng tham, để lấy tiền ăn chơi trác táng