LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn Bóng đè Đỗ Hoàng Diệu và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ Vệ Tuệ là công trình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS PHÙNG GIA THẾ
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc nhất, em xin gửi
lời cảm ơn đến PGS.TS Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn tận
tình em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn cùng toàn thể các Thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã hết lòng quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học tại Trường
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn
bè, đã luôn tạo điều kiện, động viên, khích lệ, giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Tạ Thị Nhanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Diễn ngôn giới nữ
trong truyện ngắn Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Phùng Gia Thế Các kết quả được công bố trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Tạ Thị Nhanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ VẤN ĐỀ GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC 9
1.1 Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn 9
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 9
1.1.2 Hình thái diễn ngôn 14
1.1.3 Trật tự diễn ngôn 16
1.2 Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học 19
1.2.1 Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính” 19
1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học 20
Chương 2 SO SÁNH DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG 25
TRUYỆN NGẮN BÓNG ĐÈ VÀ TRONG TRUYỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ 25
2.1 Những điểm tương đồng 25
2.1.1 Chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả 25
2.1.2 Diễn ngôn giới nữ gắn với ý thức nữ quyền 29
2.1.2.1 Sự phản kháng đối với nền văn hóa phụ quyền 29
2.1.2.2 Khẳng định khát vọng và quyền sống của người phụ nữ 34
Trang 62.1.3 Sex như là một phương tiện để nhà văn truyền tải thông điệp tới độc giả
39
2.2 Những điểm khác biệt 46
2.2.1 Phương thức kiến tạo diễn ngôn giới nữ 46
2.2.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 46
2.2.1.2 Giọng điệu trần thuật 48
2.2.1.3 Không gian nghệ thuật 49
2.2.2 Trí tưởng tượng phong phú hay hiện thực chưa được khám phá 50
2.2.3 Tư tưởng của tác giả ẩn chứa sau những diễn ngôn giới nữ về tính dục 52
KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộng khắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rất khác nhau theo cách thức của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, quan niệm về diễn ngôn của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như Valeri Igorovich Chiupa và Michel Foucault đang trở thành nền tảng cho nhiều trường phái lí thuyết hiện đại và mở ra một con đường đầy triển vọng cho các nhà nghiên cứu văn học
Văn học hậu hiện đại cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề giới Đây là một vấn đề phức tạp nhưng cũng đầy hấp dẫn thu hút nhiều nhà nghiên cứu Nghiên cứu về giới không chỉ có ý nghĩa văn học mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đặc biệt là trong giai đoạn văn học đang có những sự chuyển biến mạnh mẽ như hiện nay
Trang 82
Ở Việt Nam, từ sau 1986, sự đổi mới của đời sống văn hóa - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học Nhiều tác phẩm, tác giả mới lần lượt xuất hiện, những hiện tượng lạ, những cách tân táo bạo gây ồn ào dư luận đã tạo được tiếng vang trên văn đàn Tiêu biểu phải kể đến hiện tượng
Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện ngắn Bóng đè Đỗ Hoàng Diệu là một trong
những tác giả nữ đầy bản lĩnh và táo bạo Tác phẩm của chị là những diễn ngôn về giới, thẳng thắn đề cập đến những vấn đề của đời sống hiện đại, những vấn đề nhạy cảm như nhục cảm, ham muốn của người phụ nữ cũng như khát vọng về cuộc sống, về tình yêu, tình dục Truyện của chị có người thích, có người chê, nhưng tất cả phải công nhận đó là hơi thở mới thổi vào đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Đọc Đỗ Hoàng Diệu, nhiều người đã tinh tế phát hiện ra có một sự tương đồng trong quan điểm, tư tưởng, phong cách của nữ tác giả với một nữ nhà văn Trung Quốc cùng thời – Vệ Tuệ Thậm chí còn có ý kiến cho rằng Đỗ Hoàng Diệu là “Vệ Tuệ của Việt Nam” Vệ Tuệ là một nhà văn Trung Quốc
có sở trường viết truyện ngắn Chị đã từng gây chấn động văn đàn Trung Quốc về đề tài tính dục vào những năm 90 của thế kỉ trước Tác phẩm của Vệ Tuệ là những câu chuyện không hẳn là truyện mà là một cách nhìn, một cách sống, một tuyên ngôn mới cho một lớp trẻ mới, mà tác giả là đại diện tiêu biểu Truyện của chị chỉ xoay quanh một chủ đề là tính dục, với những nhân vật có những cuộc tình không có tình yêu mà gần như chỉ bằng sự nổi loạn của thân xác Một trong những tác phẩm gây được tiếng vang lớn của Vệ Tuệ
là truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ
Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ
ngay từ khi ra đời đã lập tức tạo nên một cơn bão trong giới văn học ở hai nước, thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả và giới phê bình, nghiên cứu văn học, kích thích cảm hứng tranh luận trên văn đàn Đã có không ít các
Trang 93
cuộc trao đổi trên các diễn đàn văn học, văn hóa bàn về những tác phẩm này, song sự quan tâm ấy mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài trao đổi, phỏng vấn, những bài viết, tiểu luận đăng trên các báo và tạp chí chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập riêng tới vấn đề diễn ngôn giới nữ trong hai tác
của đối tượng thôi thúc người viết chọn đề tài nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ
trong truyện ngắn Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) Qua đề tài này, người nghiên cứu muốn đưa ra ý
kiến riêng của bản thân, sự cảm nhận của chính mình sau khi đọc và cảm thụ hai tác phẩm, nhìn từ góc độ diễn ngôn giới
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói cả Đỗ Hoàng Diệu và Vệ Tuệ đều là những nhà văn mới trên văn đàn, hơn nữa tác phẩm của họ không phải ai cũng có thể đọc và cảm nhận được, chưa nói đến cảm nhận đúng Vì thế số lượng những công trình nghiên cứu, những bài viết về hai tác giả và tác phẩm này còn hạn chế và chưa mang tính hệ thống
Truyện ngắn Bóng đè là một tác phẩm mới trên văn đàn Việt Nam Bàn
luận về tác phẩm này có rất nhiều ý kiến khác nhau và gây nhiều tranh cãi Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Những phản ứng
nhiều chiều cho thấy Bóng đè quả thực là một hiện tượng văn học thách thức
Trang 104
cảm nhận và đánh giá của giới trong nghề, và của giới đọc giả rộng rãi Vì tư tưởng của tác phẩm, vì cách viết của tác giả Truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu gần như viết về phụ nữ và dục tính Phụ nữ trong quan hệ với dục tính, nhưng quan trọng hơn, phụ nữ và dục tính trong quan hệ với xã hội và lịch sử Ở đây, có phần nào màu sắc nữ quyền Tuy nhiên, chị dùng người nữ và chuyện dục tính như một bộ mã để gửi đi một thông điệp của mình cho cuộc sống này” Không giống với nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, dịch giả
Trần Tiễn Cao Đăng “không hoan nghênh” tác phẩm Bóng đè, cho rằng Đỗ Hoàng Diệu “không có văn” và Bóng đè chỉ đơn thuần viết về tình dục trong
nghĩa thấp kém của từ đó và viết “một cách sống sượng,… nhân vật không có một cuộc sống tinh thần và tình yêu thương con người” Ông nói: “Tôi không thích cách hành văn của Đỗ Hoàng Diệu, tôi thấy người viết văn Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi những mặc cảm về quá khứ, mặc cảm nhược tiểu Tôi mong được đọc những nhà văn mới, viết với một phong thái hào sảng”
Truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu cũng thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, học giả khác, với những công trình nghiên cứu như:
Dương Phương Vinh với bài viết Đỗ Hoàng Diệu và “Bóng đè” trong
ngày giông bão, đăng trên báo Tiền Phong ngày 29/9/2005 Bài viết về buổi
phỏng vấn Đỗ Hoàng Diệu về tác phẩm Bóng đè, từ đó nói lên quan điểm cá
nhân của người viết cũng như khẳng định giá trị của tập truyện và truyện ngắn
Bóng đè
Tác giả Nguyễn Hòa trong bài viết Sáng tác “Bóng đè”, phê bình “nói
mớ” đăng trên trang Thơ trẻ ngày 22/11/2005 khẳng định: “… Trả lời phỏng
vấn trên tạp chí Đẹp, Đỗ Hoàng Diệu khẳng định “sex” chỉ là “cái vỏ”, chỉ là
“phương tiện” giúp chị chuyển tải một “thông điệp khác” Nhưng một khi cái đọng lại lúc đọc xong tác phẩm chỉ là sự ngổn ngang của những “sự cương
Trang 115
cứng thúc lên”, “cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào”, “bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man”, “cắt trọn trong một cú thọc sâu”, “nhồi vào, thúc sâu, bền bỉ, mạnh mẽ”… thì thông điệp mà tác giả ngỡ đã đem đến cho người đọc chỉ còn là một ngộ nhận, một ngụy biện” [6] Anh cũng cho rằng, việc quá lạm dụng yếu tố tình dục trong sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu sẽ khiến tác phẩm mất đi sự tinh tế, làm tác phẩm thêm phần đơn điệu và đẩy nguy cơ “đóng băng” các nỗ lực tìm kiếm của Đỗ Hoàng Diệu trong giai đoạn
“tiền Bóng đè” Anh khẳng định thêm: “không nên bắt tác giả phải “leo” lên
những thang bậc mà bản thân tác giả chưa có khả năng leo tới”
Trên trang Thơ trẻ ngày 20/8/2006, tác giả Nguyễn Mậu Hùng Kiệt có
bài viết Người đàn bà bị Bóng đè có bàn tay thanh tao đã khẳng định tài năng cũng như đóng góp của Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè Tác giả viết: “Chị đã
dám dấn thân “lặn ngụp” trong vực thẳm đầy rẫy nóng của chính mình và phát ra tiếng kêu khát khao hạnh phúc” [9]
Trang https://giaitri.vnexpress.net có đăng bài Sức mạnh ám gợi và
tưởng tượng trong Bóng đè ngày 13/9/2010 của tác giả Hoàng Tố Mai – bài
viết tại Tọa đàm về văn học nữ quyền diễn ra ngày 9/9 tại Viện Văn học Việt
Nam, Hà Nội Tác giả bài viết khẳng định: “Nhiều người không thích Bóng
đè Nhưng số người thích nó vẫn đông hơn Và dù thích hay không thích thì
người ta không thể phủ nhận ấn tượng Bóng đè để lại Lâu lắm mới có một
truyện ngắn đặc sắc như vậy” [10] Bài viết tập trung vào những chi tiết mang tính chất ám gợi và đề cao sự tưởng tượng trong tác phẩm, tác giả một phần cũng lên tiếng bênh vực, thông cảm cho người phụ nữ
Trên trang http://newvietart.com, tác giả Đỗ Ngọc Thạch với bài viết
Ba cây bút nữ đại náo văn đàn đầu thế kỉ XXI ngày 20/10/2010 khẳng định tài
năng của ba nữ nhà văn Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư khi viết
về người phụ nữ với những nhục cảm và bản năng của họ
Trang 126
Trên blog cá nhân ngày 23/4/2011, tác giả Ngô Thị Thu Thủy trong bài
viết Một cách tiếp cận tác phẩm Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu đã nêu ra nhiều
quan điểm, ý kiến trái chiều của nhiều nhà phê bình văn học khi tiếp nhận tác phẩm này Từ đó tác giả nêu lên những quan điểm của mình về những yếu tố tình dục mà Đỗ Hoàng Diệu đã sử dụng, những quan niệm về văn hóa đồng thời khẳng định sự sáng tạo của nhà văn trong công cuộc cách tân nghệ thuật
Bài viết Ám ảnh Trung Hoa trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu do tác
giả Việt Minh tổng hợp và bình luận đăng trên blog cá nhân ngày 27/2/2012 khẳng định tài năng cũng như những thế mạnh của Đỗ Hoàng Diệu khi khai thác đời sống ở lĩnh vực tình dục cũng như văn hóa Mở đầu bài viết, tác giả khẳng định: “Ấn tượng đầu tiên là quái dị và ghê rợn Sau đó là sexy” [12]
Trang http://hthphuong.blogspot.com đăng tiểu luận “Vấn đề tiếp nhận
tác phẩm Bóng đè” của nhóm Kiệt, Tuấn, Anh, My ngày 9/9/2013 Bài viết đưa ra những ý kiến trái chiều trong việc tiếp nhận tác phẩm Bóng đè và đưa
ra quan điểm riêng của nhóm tác giả về tác phẩm
Nói về truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ của nữ nhà văn Vệ Tuệ,
đây là một tác phẩm văn học ngoại quốc và như trên đã nói, nó thuộc dòng văn học trẻ, mới, vì thế số lượng những bài viết về tác phẩm này quả thực còn hạn chế Trước một tác phẩm mới mẻ và táo bạo, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vương Trí Nhàn tỏ vẻ ủng hộ: “Dù có nhiều trang tả cảnh làm tình, song không thể nói những trang truyện ở đây mang tính khiêu dâm Trong con mắt của lớp trẻ, cái sự gọi là ngoan ngoãn hay hư hỏng (theo tiêu chuẩn cũ) thực ra không có gì quan trọng Điều khiến họ bận tâm là được sống theo ý mình Mặc dầu vậy, họ không bao giờ rơi vào hưởng lạc thuần túy mà vẫn làm việc như điên Tâm trí họ không ngớt bị giày vò bởi những vấn đề nhân bản” [14, 9]
Trang wed http://phamngochien.com có bài viết Tình yêu hay tình dục
trong Điên cuồng như Vệ Tuệ của tác giả Phạm Duy Mẫn Tác giả bài viết
cho rằng : “Khi đọc tác phẩm thì cảm nhận đầu tiên đó là tình dục” và chỉ ra
Trang 137
những yếu tố mang tính dục ảnh hưởng đến Vệ Tuệ Tác giả cũng chỉ ra “bên cạnh bản năng thì con người vẫn còn có tình yêu” và khẳng định: “tình yêu và tình dục là hai vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất trong tác phẩm "Điên cuồng như Vệ Tuệ" Trong đó tình dục đóng vai trò chủ đạo và xuyên suốt tác phẩm Nhưng thông qua vấn đề tình dục, Vệ Tuệ muốn bộc lộ một nỗi niềm khát khao về một tình yêu điên cuồng và cháy bỏng” [11]
Có thể thấy hầu như chưa có công trình nào móc nối hai tác phẩm Bóng
đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ Nhìn chung,
những bài viết về hai tác giả và hai tác phẩm này chủ yếu mới được in trên các diễn đàn và báo mạng, trên các báo và tạp chí, chưa thực sự phong phú về
số lượng và chưa sâu về mức độ khảo sát Đa số các tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu
đề tài sex, tính dục trong các tác phẩm Chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề diễn ngôn giới nữ trong hai tác phẩm này một cách đầy đủ
và đúng đắn, mặc dù đây là một đề tài hết sức hấp dẫn và có giá trị Nhận thức
được điều đó, chúng tôi chọn đề tài Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) cho khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn cung cấp một cái
nhìn đầy đủ và toàn diện hơn cho độc giả từ góc độ diễn ngôn giới nữ về hai tác phẩm mới mẻ và hấp dẫn này
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ)
Trang 148
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi tiến
hành khảo sát ở hai tác phẩm là truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và truyện ngắn Điên cuông như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết, người viết tiến hành tìm hiểu những vấn đề chung về diễn ngôn và vấn đề giới/phái tính trong văn học Sau đó, chúng tôi ứng dụng
những lí thuyết về diễn ngôn giới nữ để soi chiếu lên hai tác phẩm Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ trên cái nhìn so
sánh để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm Từ đó khẳng định giá trị của mỗi tác phẩm và những đóng góp mới mẻ của mỗi tác giả đối với nền văn học nước nhà nói riêng và văn học đương đại nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và nghiên cứu đề tài, khóa luận đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
Trang 159
NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN
VÀ VẤN ĐỀ GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC
1.1 Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ Giờ đây, diễn ngôn đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộng khắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rất khác nhau theo cách thức của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Chính vì thế, khó có thể xác lập một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ này Trong lịch sử nghiên cứu diễn ngôn, đã có rất nhiều những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm diễn ngôn, trong đó có ba hướng tiếp cận cơ bản khái niệm này: thứ nhất, quan điểm của các nhà cấu trúc chủ nghĩa như R Barthes, G Gennette dựa trên nền tảng là ngôn ngữ học của F de Saussure cho diễn ngôn là cấu trúc văn bản; thứ hai, quan điểm của nhà triết học, lí luận văn học M Bakhtin cho diễn ngôn là các thể loại lời nói
và thứ ba là tư tưởng của M Foucault với ba định nghĩa về diễn ngôn
Thứ nhất, quan điểm coi diễn ngôn như là cấu trúc văn bản Trong ngữ học do các nhà ngữ học đề xuất, những luận điểm của F.de Saussure trong
Ngôn ngữ học đại cương đã đặt nền móng cho khuynh hướng nghiên cứu cấu
trúc văn bản, một khuynh hướng phát triển rầm rộ vào những năm 1960- 1970
ở Liên Xô và châu Âu Ngôn ngữ học đại cương ra đời đã đánh dấu một bước
ngoặt trong nghiên cứu ngôn ngữ: chuyển từ nghiên cứu sự biến đối của ngôn ngữ qua các thế hệ sang nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ Sausure có sự phân biệt giữa lời nói và ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ là một hệ thống, một
Trang 1610
kết cấu tinh thần khái quát, trừu tượng còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể và bởi các cá nhân cụ thể Ngôn ngữ là yếu tố thuộc về cộng đồng xã hội trong khi lời nói thuộc về các nhân Ngôn ngữ là những cấu trúc bất biến còn lời nói thuộc bình diện sinh thành khả biến Ông chỉ ra đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học là ngôn ngữ - sản phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc mỗi người, còn lời nói là đối tượng nghiên cứu của xã hội học Vào những năm 1960, ngôn ngữ học của Sausure và chủ nghĩa cấu trúc của Bloomfield phát triển đến giai đoạn cực thịnh Lúc này, nghiên cứu văn bản trở thành một khuynh hướng phát triển hết sức rầm rộ Trong giai đoạn này, khái niệm diễn ngôn và văn bản gần như chưa có sự phân biệt rõ ràng Sự phân định không rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản có thể thấy qua việc sử dụng chồng chéo, lẫn lộn hai thuật ngữ discourse và text Diễn ngôn
có thể được coi như một đơn vị cấu trúc văn bản Quan điểm của Saussure cho rằng ngôn ngữ đối lập với lời nói và chỉ đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ vì cho rằng lời nói là phù du Ông quy ngôn ngữ vào mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, hướng tới tính chất trừu tượng và khách quan của ngôn ngữ
Khác với F de Saussure, trong khuynh hướng lí luận văn học mà người
đề xướng là M Bakhtin lại cho rằng diễn ngôn như là các thể loại lời nói và chú trọng nghiên cứu phương diện sinh thành của lời nói Ông cho rằng ngôn ngữ là tất cả những gì đang được sử dụng trong đời sống chứ không phải những thứ nằm im trong từ điển Ngôn ngữ là một dòng chảy không ngừng nghỉ, sinh thành năng động và đầy mâu thuẫn Trong khi Saussure quy ngôn ngữ vào mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì Bakhtin lại cho rằng bản chất của ngôn ngữ là đối thoại, mọi lời nói đều là sự phản hồi với những lời nói trước đó và đều nhằm hướng tới những đối tượng nhất định Diễn ngôn là khái niệm trung tâm của Bakhtin trong quan điểm về ngôn ngữ
Trang 1711
Ông cho rằng diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng, trong chỉnh thể sống động cụ thể của nó, trong bối cảnh xã hội, diễn ngôn như một đơn vị thực tế của giao tiếp lời nói, là các thể loại lời nói Mỗi phát ngôn riêng biệt đều mang tính cá thể và chúng ta gọi những phát ngôn đó là những thể loại diễn ngôn Những thể loại diễn ngôn sơ khởi này là nền tảng hình thành các thể loại diễn ngôn sau đó như ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, hành vi khoa học
và xã hội… Trong khi Saussure chỉ tập trung vào những quy ước, quy luật trừu tượng và chung nhất của ngôn ngữ thì Bakhtin lại cho rằng không có một ngôn ngữ nào lại không gắn với một quan điểm, một ngữ cảnh, một đối tượng nhất định và nó mang tính lịch đại Theo Bakhtin, ngôn ngữ là là lãnh thổ chung của cả người nói lẫn người nghe, là cầu nối mọi người lại với nhau Chính quan niệm này của Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga đã đặt nền móng cho việc xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại
Cũng bàn về thuật ngữ diễn ngôn, triết gia người Pháp M Foucault đi theo khuynh hướng xã hội học để xây dựng khái niệm diễn ngôn Đối lập với quan điểm của Saussure nhấn mạnh bản chất liên thông giữa từ và vật, Foucault nhìn thấy sự không thống nhất giữa từ và vật, sự chiến thắng và thống trị của từ trong đời sống con người Ông cho rằng thực tại được cấu thành từ các diễn ngôn Foucault còn làm cho tình thế trở nên phức tạp hơn khi ông chẳng những không cố gắng đi tìm một định nghĩa thống nhất mà còn
đa dạng hóa nội hàm của thuật ngữ diễn ngôn ngay trong định nghĩa của chính mình Foucault khẳng định: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ
hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định được cá thể hóa, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [23] Trong trích dẫn trên, cùng một lúc Foucault
Trang 1812
đã đưa ra ba cách định nghĩa về diễn ngôn Thứ nhất, có thể nói là định nghĩa rộng nhất, diễn ngôn là tất cả các nhận định nói chung Sara Mills – một chuyên gia về Foucault giải thích thêm, tức là “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi là diễn ngôn” Thứ hai, diễn ngôn như là một nhóm các nhận định được cá thể hóa Đây là định nghĩa thường được Foucault sử dụng để nhận dạng các diễn ngôn cụ thể được tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung, chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn phân tâm học,… Diễn ngôn trong cách hiểu này được dùng ở số nhiều Thứ ba, diễn ngôn như một hoạt động được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định Đây là định nghĩa có ảnh hưởng nhất đối với nhiều nhà lí luận Điều mà Foucault quan tâm ở đây là những quy tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể
Theo Foucault, chúng ta chỉ có thể tiếp cận với những diễn ngôn xác định qua những hình dung của chúng ta về cái thực, tức là, chúng ta không thể tiếp cận trực tiếp với cái thực mà phải thông qua một công cụ, phương tiện truyền dẫn, đó là các diễn ngôn Chẳng hạn, lũ lụt là hiện tượng xảy ra độc lập với tư duy và ngôn ngữ của con người, nhưng khi con người cắt nghĩa hiện tượng này thì nó đã được đưa vào trong các diễn ngôn Diễn ngôn khí tượng học cho đó là sự dâng cao mực nước một cách đột ngột sau một trận mưa lớn; diễn ngôn khoa học cho rằng đó là hệ quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu; diễn ngôn chính trị xem đó là hệ quả của những sai phạm trong cơ chế quản lí nhà nước,… Như vậy, những hiện tượng của thế giới khách quan vẫn luôn tồn tại nhưng chúng chỉ được nhận biết thông qua các diễn ngôn của con người Sara Mills khái quát: “Diễn ngôn không đơn giản là sự truyền dẫn hiện thực vào trong ngôn ngữ; diễn ngôn cần được nhìn nhận như một hệ thống cấu trúc
Trang 1913
nên cái cách thức chúng ta nhận biết về hiện thực” [23] Người ta không thể chạm tay vào sự thực bởi cái mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy chỉ là diễn ngôn về sự thực Những văn bản ghi chép lại lịch sử, hay những tác phẩm văn học thuộc thể loại kí trung đại Việt Nam, tác giả tuyên bố ghi chép lại một cách chân thực sự thật, mắt thấy tai nghe của đời sống, nhưng thực tế lại tràn ngập các yếu tố hư cấu, tưởng tượng như chuyện người đội lốt thú, mây ngũ sắc hay ánh hào quang bao phủ bầu trời, chuyện âm phù dương trợ, thần linh báo mộng để lập nghiệp lớn,… Như vậy, những văn bản này chỉ là những diễn ngôn về sự thật chứ không phải sự thật như nó vốn có Ẩn dưới bề sâu của nó là những ý thức hệ, những quyền lực, những tư tưởng hệ đã chi phối tới cách tư duy và miêu tả của nhà văn về sự thực
Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập, nhưng trong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ nhau
và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa khác tùy theo hướng triển khai của người nghiên cứu Chẳng hạn, nghiên cứu diễn ngôn giới nữ là một dạng diễn ngôn cụ thể - một cách tự nhiên gắn liền với định nghĩa thứ hai Tuy nhiên trong quá trình phân tích không thể không hướng tới khả năng tạo nghĩa và hiệu lực của nó đến thế giới khách quan theo định nghĩa thứ nhất Khi tìm hiểu nguyên nhân hình thành, luân chuyển, biến đổi của diễn ngôn cụ thể này lại không thể không quan tâm đến định nghĩa thứ ba
“Theo V.I Chiupa, diễn ngôn (tiếng Pháp: discours – lời nói) – là phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội” (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận Chữ “diễn ngôn” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui khắp tứ phía” (trong các công trình của Thomas Aquinas, nó có nét nghĩa đàm luận, nghị luận)” [2]
Trang 2014
Từ những quan niệm trên, có thể đi đến một khái niệm chung nhất về diễn ngôn Diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của con người trong một điều kiện lịch sử, xã hội nhất định; nó là cách nói năng, phương thức biểu đạt chứa đựng một tư tưởng, quan điểm, lập trường nào đó về thế giới khách quan Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt mà là bản thân tư tưởng, mọi
tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Diễn ngôn chịu sự chi phối của hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lực trong xã hội
1.1.2 Hình thái diễn ngôn
Hình thái diễn ngôn là hệ thống cấp bậc của chủ thể, khách thể và người nhận trong diễn ngôn, quy định các tham số của hoạt động giao tiếp (sản xuất và tiếp nhận văn bản), đáp ứng trạng thái bức thiết mang tính lịch sử của nhận thức xã hội (trạng thái tinh thần của văn hoá xã hội)
Tương tự như khái niệm hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác, khái niệm hình thái diễn ngôn được Michel Pêcheux (cũng như M Foucault) đưa vào phạm vi các vấn đề tu từ học và thi pháp học nhằm chỉ ranh giới của những gì có thể và cần phải nói, có thể nói và cần phải nói thế nào từ một lập trường nào đó trong những hoàn cảnh nào đó Trên thực tế, trường phái phân tích diễn ngôn Pháp đã thu hẹp cách hiểu khái niệm hình thái diễn ngôn tới mức chỉ còn tương tự như khái niệm “thể loại lời nói ” theo quan niệm của Bakhtin Trong khi đó, tu từ học hiện đại và lĩnh vực gắn với nó thi là pháp học giao tiếp cần tới khái niệm hình thái diễn ngôn như là nền móng của phạm trù loại hình học Với ý nghĩa như thế, hình thái diễn ngôn là cấu hình của các thẩm quyền thuộc về cái được biểu đạt, sáng tạo và tiếp nhận diễn ngôn tạo thành một không gian giao tiếp vô hình
Có bốn hình thái diễn ngôn Cổ xưa nhất là hình thái diễn ngôn vị thế – bầy đàn Nó tạo ra một không gian giao tiếp huyền thoại hoặc tương tự như huyền thoại của sự đồng thanh nhất trí theo kiểu hợp xướng Nó xuất phát từ
Trang 2115
bức tranh thế giới vốn có từ trước, đã thành thông lệ, trong đó, chỉ những gì tuần hoàn, lặp lại mới có ý nghĩa Nó dùng lời chỉ hiệu với nghĩa xác định theo ngữ cảnh Nó dành cho chủ thể lời nói vị thế diễn xướng và định hướng phát ngôn vào việc sao lại ý thức đám đông – chúng ta của người tiếp nhận với tập quán ổn định Tuyệt đại đa số văn bản quảng cáo có thể xem là ví dụ của hình thái diễn ngôn này trong đời sống hiện đại
Tiếp theo là sự xuất hiện của hình thái diễn ngôn vai – quy phạm vào giai đoạn muộn hơn Nó trau dồi loại lời biểu tượng, đóng kín, gây cảm giác ở
đó có cả “một hệ thống ý nghĩa đã hoàn kết và bị giới hạn nghiêm ngặt” (M Bakhtin) Nó dành cho tác giả vị thế tự hạn chế theo phép tắc đã ấn định và đòi hỏi ở người tiếp nhận luôn đóng vai một ý thức – nó, chịu sự điều khiển của tập quán cần phải theo Vì thế mới xuất hiện không gian giao tiếp quyền
uy của sự đồng thuận theo kiểu độc điệu vốn là đặc trưng của chủ nghĩa thủ cựu và về sau nàylà chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học
Hình thái diễn ngôn đối nghịch – chủ động xuất hiện từ thời trung đại với chủ nghĩa Barocco, đạt tới sự phồn thịnh ở cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ
XX, tạo nên thi pháp lãng mạn chủ nghĩa, và tiếp tục cất cao giọng trong thực tiễn văn hoá xã hội ở các nước phát triển cho tới tận bây giờ Biểu hiện cực đoan của hình thái diễn ngôn này là thi pháp của chủ nghĩa tiên phong: bất hoà theo nguyên tắc đối thoại do ham muốn điều khiển, không gian giao tiếp
“phi quyền lực” (R Barthes) đòi hỏi một: “bức tranh thế giới ngẫu nhiên (Perelman), chiết trung; ngôn từ hình tượng đầy tính “bất thường” gắn với một khu vực ý nghĩa rộng mở, một vị thế tự biểu hiện đầy cảm hứng từ phía chủ thể và khả năng lựa chọn sáng tạo của ý thức – tôi từ phía người tiếp nhận phát ngôn
Theo tiến trình lịch sử, hình thái diễn ngôn hội tụ – chủ động xuất hiện muộn nhất và cho đến nay vẫn chưa hình thành xong xuôi Nó phát triển
Trang 2216
không gian giao tiếp “đối thoại đồng thuận” mà đặc trưng là “nơi gần cận và chốn xa xôi được khắc phục” (nhưng không hoà tan), không phải là sự tước đoạt, mà là “sự chồng xếp của ý nghĩa lên trên ý nghĩa”, là “sự kết hợp nhiều giọng nói (hành lang của các giọng nói) bổ sung cho sự hiểu biết” Cơ sở của loại diễn ngôn phát triển lời nói lóng “hai giọng” (M Bakhtin) với khu vực
mở rộng ý nghĩa này là bức tranh thế giới mang tính xác suất và sự đồng tình của ý thức - anh luôn tuân theo lối sống có ý thức trách nhiệm: vị thế cảm hứng tự khách quan hoá (trong trường giá trị của ý thức người khác) của chủ thể và vị thế bổ sung phóng chiếu ý nghĩa đối với người tiếp nhận phát ngôn Vốn có nguồn cội gắn với những pháp lệ trong kinh Phúc âm về hành vi giao tiếp của Đức Kitô, hình thái diễn ngôn này được hình thành ở thời đại khủng hoảng tính nghệ thuật phi cổ điển, nó tự bộc lộ trong thi pháp học phi truyền thống, cũng như trong triết học đối thoại, trong giáo dục học hội tụ (pédagogie convergente), trong khoa học đa ngành như một xu hướng nhận thức khoa học hiện đại
1.1.3 Trật tự diễn ngôn
Diễn ngôn không chỉ là phương tiện biểu đạt và giao tiếp mà còn là
phương thức tồn tại của con người Diễn ngôn kiến tạo tri thức và hiện thực, buộc con người hành xử theo sự chỉ dẫn của chính nó Do vậy, diễn ngôn bao giờ cũng có một trật tự nhất định Chỉ xuất phát từ phương diện trật tự diễn ngôn, người nghiên cứu mới lí giải được vì sao một diễn ngôn nào đó được cho là hợp thức và trở thành chân lí, nằm trong khu vực sân chơi của văn hóa còn những diễn ngôn khác lại bị cấm đoán và có xu hướng trôi dạt sang khu
vực ngoại biên Trong Trật tự của diễn ngôn (The Order of Discourse)
(1970), Foucault khẳng định: “Trong mọi xã hội sự sản xuất diễn ngôn cùng lúc bị kiểm soát, tuyển chọn, tổ chức và phân phối lại bởi một số những phương thức/quy trình mà vai trò của nó là để né tránh những sức mạnh và sự
Trang 2317
nguy hiểm của diễn ngôn, để dành quyền điều khiển/kiểm soát với những sự kiện ngẫu nhiên của diễn ngôn, để tránh né những khó khăn do nó gây ra” [25] Nó dẫn tới một số những nguyên tắc, cơ chế kiểm soát, Foucault nói đến hai hệ thống loại trừ: loại trừ từ bên ngoài và loại trừ từ bên trong
Trật tự bên trong của diễn ngôn được kiểm soát bởi các nguyên tắc mà vai trò của chúng là hạn chế tính sự kiện và tính ngẫu nhiên của diễn ngôn Có ba nguyên tắc tham gia vào việc chỉnh đốn diễn ngôn từ bên trong,
cụ thể là: Thứ nhất, nguyên tắc bình luận (commentary) Trong hoạt động giao tiếp, bao giờ cũng có diễn ngôn gốc và diễn ngôn thứ sinh Thực chất diễn ngôn thứ sinh chính là một cách diễn giải khác về diễn ngôn gốc Nguyên tắc này một mặt cho phép chủ thể có thể tạo ra vô số diễn ngôn mới, mặt khác lại ngăn chặn tính ngẫu nhiên của diễn ngôn bằng cách giới hạn người ta chỉ được nói những gì vốn đã được thừa nhận, được xem là cái đương nhiên Chúng ta chỉ nói trên cơ sở những gì đã có từ trước Thứ hai là nguyên tắc tác quyền (tác giả) Nguyên tắc này có chức năng nhóm gộp các diễn ngôn tạo nên tính thống nhất của diễn ngôn và là cội nguồn tạo sinh các lớp ý nghĩa của diễn ngôn Nguyên tắc tác giả kiểm soát diễn ngôn thông qua bản sắc của cái tôi và cái cá thể Thứ ba, nguyên tắc chuyên khoa Nguyên tắc này là một hệ thống vô danh có khuynh hướng đối lập với hai nguyên tắc trên Các phát ngôn muốn thuộc về một chuyên khoa nào đó thì cần phải thỏa mãn các điều kiện cụ thể như: cần hướng tới một loại đối tượng nhất định; cần vận dụng các phương tiện khái niệm và thao tác kĩ thuật cụ thể; cần phải phù hợp với một loại hệ hình lí thuyết nào đó
Hệ thống loại trừ bên ngoài bao gồm 3 nguyên lí Thứ nhất: nguyên lí cấm đoán (prohibition) với vai trò trung tâm của những cấm kị (taboos) Áp lực của những cấm kị giúp ngăn chặn những diễn ngôn về vấn đề này được xuất hiện hoặc truyền bá Trong một số trường hợp nhất định, khi
Trang 2418
buộc đề cập đến những cấm kị, cần phải có những “hóa trang”, những cách
“đi vòng” thích hợp Chẳng hạn, trong văn học trung đại, nhà văn, nhà thơ chịu áp lực cấm kị của tư tưởng Nho giáo, những vấn đề tình yêu, tình dục không được khuyến khích Nếu muốn viết về nó, tác giả phải mượn những hình tượng nghệ thuật giúp người đọc có khả năng liên tưởng đến vấn đề được nói đến chứ không được đề cập một cách trực tiếp
Thứ hai: nguyên lí về sự đối lập giữa điên và lí tính (madness and reason) Theo Foucault, bệnh điên được thiết lập ở vào thời điểm lý tính (reason) khu biệt với phi lý tính (unreason), một sự khu biệt xảy ra thậm chí là trước khi phân tâm học đề cập đến chứng bệnh này Như thế bệnh điên là một kiến tạo của xã hội hơn là một tồn tại trong thực tế Sự kiến tạo này là cần thiết cho sự tồn tại hợp thức của những diễn ngôn lí tính Trên thực tế, sự khu biệt giữa hai loại diễn ngôn điên và lí tính của Foucault không chỉ có ý nghĩa trong việc giải quyết mối quan hệ của hai loại diễn ngôn này mà nó đồng thời hàm chứa những gợi ý mang tính lí thuyết xung quanh vấn đề cơ chế kiến tạo diễn ngôn Từ những phân tích của Foucault về hai loại diễn ngôn trên có thể thấy một thực tế: sự hình thành của một diễn ngôn nào đó bao giờ cũng bao hàm trong nó sự loại trừ một/một số diễn ngôn khác, biến những diễn ngôn này trở thành những tồn tại bất thường, không tự nhiên, thiếu hợp thức
Thứ ba, nguyên lí sự đối lập giữa chân lí và sai lầm (truth and falsity) Trọng tâm kiến giải triết học của Foucault ở đây không phải là đưa ra những tiêu chí khách quan để nhận diện về một diễn ngôn đúng hay sai mà hướng tới vấn đề: làm thế nào mà một số cá nhân lại có thể có quyền năng nói về chân lí? Những diễn ngôn của họ trở thành những diễn ngôn có hiệu lực và sức mạnh của chân lí? Ở đây có sự tham dự của các thiết chế xã hội – nhân tố đem lại quyền lực cho diễn ngôn Foucault cho rằng mỗi thời đại có sở nguyện chân lí riêng Như thế, không thể xem chân lí như là sự kiện tự nó Trái lại
Trang 2519
diễn ngôn về chân lí luôn được hậu thuẫn bởi một loạt những thiết chế Trong
xã hội hiện đại đó là: trường đại học, ban ngành của chính phủ, nhà xuất bản, các tổ chức khoa học Tất cả những thiết chế này loại trừ những nhận định
mà chúng xem là sai lạc và đảm bảo cho những nhận định được xem là chân lí luôn vận hành Điều này cho thấy Foucault thừa nhận sự tham dự của những lực lượng vật chất trong xã hội vào trong quá trình kiến tạo diễn ngôn
1.2 Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học
1.2.1 Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính”
Giới tính (sex) và phái tính (gender) là hai khái niệm lâu nay đã được luận bàn khá nhiều không riêng gì trong nghiên cứu văn học mà còn ở cả một
số lĩnh vực khác như sinh học, tâm lí học, xã hội học… Có người đề xuất dịch
“gender” là giới tính xã hội còn “sex” là giới tính sinh học Một số người lại hiểu “gender” là giới và “sex” là giới tính Một hướng xác lập khác còn gọi
“gender” là giới tính còn “sex” là phái tính… Những cách xác định tên gọi ở trên còn có phần rườm rà và chưa thống nhất Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đồng thuận với cách xác lập phổ biến hiện nay là giới tính (sex) và phái tính (gender) Một cách khái quát nhất, có thể hình dung về hai khái niệm này như sau:
Phái tính (gender) là khái niệm dùng để phân biệt nam và nữ dựa trên các đặc điểm về văn hóa - xã hội Theo đó, mỗi xã hội sẽ tùy thuộc vào những tập tục văn hóa và những quy tắc ứng xử riêng của nền văn hóa mà hình thành quan điểm mang tính đặc thù về nam tính và nữ tính Chẳng hạn, trong xã hội Việt Nam, do sự ăn sâu của tư tưởng trọng nam khinh nữ từ ngàn đời nay, nhắc đến người nam, người ta vẫn nghĩ đến “phái mạnh”, là những người trụ cột của gia đình, đất nước Nam giới với ưu thế sức mạnh cơ bắp đã trở thành
“kẻ mạnh” lo những việc lớn, chinh chiến, vùng vẫy biển khơi Ngược lại, phụ nữ mặc định thuộc “phái yếu” chân yếu tay mềm, là đối tượng đứng sau
Trang 2620
hậu thuẫn cho nam nhân, lo những việc cỏn con trong nhà và hầu như không
có tiếng nói quyết định Thế nhưng tư tưởng này đang ngày càng thay đổi trong xã hội hiện đại, vai trò của nam và nữ đang dần trở nên bình đẳng Như thế, phái tính là sản phẩm được kiến tạo trên nền tảng của văn hóa - xã hội
Nó không dĩ thành bất biến mà có thể biến đổi theo sự vận động của nền văn hóa - xã hội Nói khác đi, không gian văn hóa - xã hội, ở vào những thời điểm lịch sử cụ thể lại có thể hình thành những diễn ngôn khác nhau về phạm trù phái tính Trong khi đó, khái niệm giới tính (sex) thường được sử dụng nhằm phân biệt nam giới và nữ giới về mặt sinh học thông qua những yếu tố như hoocmon, nhiễm sắc thể, buồng trứng, âm vật, dương vật… Khác với phái tính, giới tính là những đặc điểm sinh học bẩm sinh, mang tính phổ quát và không thay đổi ở cả hai giới
Trên đây là sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối bởi nếu tư duy sâu hơn thì sẽ thấy phái tính (gender) là một khái niệm không đơn thuần chỉ nhằm phân biệt hai giới nam và nữ dưới áp lực của văn hóa- xã hội Tuy có sự khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ rất mật thiết Nói khác đi, chúng là hai mặt cùng tồn tại trong mỗi bản thể người Do đó, xem xét diễn ngôn về giới
nữ trong văn học thực chất là việc phân tích, lí giải cơ chế hình thành phát ngôn về các mặt phái tính và giới tính (mặt xã hội và mặt sinh học) của người phụ nữ
1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học
Trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái
nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối Không phải ngẫu nhiên mà man vừa có nghĩa là nam vừa có nghĩa là nhân loại trong khi đó woman mang tính
chỉ giới rõ nét (nữ được sinh ra từ nam) Có thể nói, tôn ti trật tự và thái độ trọng nam khinh nữ từ chỗ là một vấn đề lớn trong đời sống xã hội đã chuyển dịch vào lãnh địa sáng tạo và thưởng thức văn học cũng như nhiều hoạt động
Trang 2721
tinh thần khác Những cuộc thù tạc, đàm đạo văn chương chỉ diễn ra giữa những người đàn ông với nhau, nó không có chỗ cho “nữ nhi thường tình” Trong văn học trung đại, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn ông Thực
ra, trong vòng cương toả của tư tưởng nam quyền, đã bắt đầu xuất hiện những tài danh văn học là nữ giới như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương Mặc dù giàu tinh thần nổi loạn và phản kháng, nhưng những khúc tự tình của nữ sĩ họ Hồ vẫn chủ yếu là những tiếng than thân trách phận Đó là lí do khiến Bà Chúa thơ Nôm phải ao ước: “Ví đây đổi phận làm trai được/Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” Câu thơ này ẩn trong
đó một trạng thái tâm lý không chỉ riêng của Hồ Xuân Hương mà là của giới nữ: muốn nên sự nghiệp, phải đổi phận Mong ước kia, một mặt cho thấy sự đổi phận ấy dường như là bất khả trong thực tế, mặt khác, gián tiếp xác nhận
vị thế ưu thắng của đàn ông
Phải bước sang xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao, phụ nữ bắt đầu được đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thì cán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hoá Giờ đây, phụ nữ có quyền li hôn chính đáng và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, quá trình ấy không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi và nhanh chóng mà phải trải qua rất nhiều quanh co, sóng gió
Vai trò của phụ nữ đặc biệt được đề cao sau năm 1945 với sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam Đó là tiền đề văn hoá và xã hội thuận lợi để “văn học
nữ tính” có cơ hội phát triển So với trước đây, đội ngũ các nhà văn nữ cầm bút đông đảo hơn và tài năng của họ được thừa nhận rộng rãi hơn Nhiều tác phẩm của họ có ảnh hưởng đến công chúng và được giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông đến đại học Những thay đổi trên đây trong lĩnh vực văn học thể hiện sự thay đổi rất lớn về ý thức phái tính và thái độ đề cao vai trò của nữ giới Tuy nhiên, do yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội
Trang 2822
chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác nhiều ở khía cạnh xã hội mà chưa được chú ý nhiều đến đặc trưng về giới Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đại chứ chưa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tư cách là người thiết tạo nên những tư tưởng nghệ thuật riêng của chính mình
Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước theo hướng đổi mới và những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới kể từ 1986 đến nay đã tạo nên những tiền đề
cơ bản để giúp người phụ nữ thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, khiến cho họ
có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết số phận của mình Người phụ nữ không còn quanh quẩn nơi xó bếp mà đã tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội Nhiều phụ nữ được cử giữ những chức vụ cao trong hệ thống chính trị Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học Mặc dù hình tượng người phụ nữ vốn xuất hiện từ lâu trong văn học nhưng toàn bộ phẩm chất, giá trị cũng như đời sống tinh thần và thể xác của
họ luôn được nhìn bằng đôi mắt của nam quyền Chỉ khi nào, các vấn đề trên đây thoát khỏi hệ quy chiếu giá trị và quan điểm nam quyền thì văn học nữ tính mới xuất hiện đầy đủ với đúng nghĩa của nó Ở Việt Nam, văn học sau
1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ
Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn chưa được giới học thuật nước ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là
Trang 2923
một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại Đồng thời, nó cho thấy, bên cạnh những bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề bản thể văn chương, vẫn tồn tại những khuynh hướng phê bình chính trị, xã hội Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam nói riêng và văn học trên thế giới nói chung có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá Nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học thực sự đã tạo ra một cuộc “cách mạng giới” trong văn học, chính thức đánh
đổ hoàn toàn sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa nam giới trung tâm trong văn học, mang đến một hướng nghiên cứu mới, thúc đẩy
sự phát triển của văn học nữ quyền
Như vậy, ở chương này, người viết tập trung vào hai vấn đề: Thứ nhất
là một số vấn đề chung về diễn ngôn và thứ hai là vấn đề giới/phái tính trong văn học Về thuật ngữ diễn ngôn, chúng tôi đi từ một số quan điểm của các nhà nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau như: quan điểm của các nhà cấu trúc chủ nghĩa như R Barthes, G Gennette dựa trên nền tảng là ngôn ngữ học của F de Saussure cho diễn ngôn là cấu trúc văn bản; quan điểm của nhà triết học, lí luận văn học M Bakhtin cho diễn ngôn là các thể loại lời nói và tư tưởng của M Foucault với ba định nghĩa về diễn ngôn Từ đó xác lập một khái niệm về diễn ngôn như sau: Diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của con người trong một điều kiện lịch sử, xã hội nhất định; nó là cách nói năng, phương thức biểu đạt chứa đựng một tư tưởng, quan điểm, lập trường nào đó về thế giới khách quan Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt mà
là bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Diễn ngôn chịu sự chi phối của hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lực trong xã hội Chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu hình thái diễn ngôn
và trật tự diễn ngôn dựa theo những công trình nghiên cứu trước đó để áp dụng vào tác phẩm được nghiên cứu trong khóa luận này Tiếp sau đó, chúng
Trang 3024
tôi đã xác lập một cách hiểu chung nhất về hai khái niệm giới tính và phái tính
vì thực tế giữa hai khái niệm này còn có sự hiểu chồng chéo, rườm rà Việc xác lập sẽ tạo cơ sở để hiểu hơn về văn học nữ tính trong sự đối sánh với văn học nam tính đã có từ lâu Chúng tôi cũng chỉ ra ý nghĩa quan trọng và cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học Đây có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá, chính thức đánh
đổ hoàn toàn sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa nam giới trung tâm trong văn học, mang đến một hướng nghiên cứu mới, thúc đẩy
sự phát triển của văn học nữ quyền
Trang 3125
Chương 2 SO SÁNH DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN BÓNG ĐÈ VÀ TRONG TRUYỆN NGẮN
ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ
2.1 Những điểm tương đồng
2.1.1 Chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả
Cũng giống như các diễn ngôn khác, diễn ngôn văn học tạo ra hiện
thực, tạo nên một cách nhìn mới về thế giới, sáng tạo một thế giới đời sống Diễn ngôn văn học tạo lập tri thức, biểu hiện năng lực cảm thụ cái đẹp, cách lí giải, cách cắt nghĩa thế giới và con người của chủ thể phát ngôn Chủ thể phát ngôn trong văn học vì thế không tồn tại trước sự phát ngôn, nó được sinh ra trong sự phát ngôn của chính nó Trên hầu khắp các trang viết của các tác giả
nữ, người tiếp nhận luôn nhìn thấy sự hiển hiện thường trực của chân dung cuộc sống cá nhân nhà văn
Đọc truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và truyện ngắn Điên
cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ, điểm tương đồng đầu tiên dễ nhận thấy nhất
giữa hai tác phẩm này chính là chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả
Người kể chuyện xuất hiện trực tiếp ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” Trong Bóng
đè, nhân vật tôi là một cô gái thành thị (không có tên), kết hôn với một chàng
trai gốc nông thôn Họ sống với nhau khá hạnh phúc dù chàng trai lắm khi phát hoảng trước đòi hỏi tình dục mạnh mẽ của cô vợ trẻ Mở đầu truyện, nhân vật tôi cảm nhận về đôi bàn tay có vẻ đẹp kì lạ khó lí giải của mình:
“Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy Bàn tay không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể […] Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìn bàn tay một kẻ khác Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọng lượng Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình Chỉ có tôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng Thụ
Trang 3226
không hiểu Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ” [1] Nhân vật tôi bắt đầu
kể lại câu chuyện mà theo cô là bi kịch khi cô theo chồng về quê ăn giỗ, tất cả bốn lần Đời sống tinh thần tù hãm, lưu cữu của làng quê cùng với sự đối xử
sự khắc nghiệt của gia đình nhà chồng đã đem đến cho cô những cơn bóng đè nửa thực nửa hư rất đáng sợ Cô bị một hồn ma, có thể là ông bố chồng cưỡng hiếp Điều đáng nói là ngoài những cảm giác sợ hãi, xấu hổ, cô gái còn cảm nhận được những khoái lạc thể xác mà chồng cô không thể mang lại Chồng
và mẹ chồng cô dường như biết việc này nhưng không ra tay can thiệp mà chỉ
tỏ thái độ ghẻ lạnh, xa cách Sau bốn lần về quê chồng ăn giỗ, hôn nhân của
cô bị đe dọa Kết thúc truyện cô gái có thai, bằng cảm nhận của mình cô chắc chắn hồn ma kia chính là cha của đứa trẻ
Một cốt truyện đặc biệt như vậy cùng với ngôi kể thứ nhất đầy sinh
động đủ để Bóng đè được dư luận chú ý Lập tức người ta quan tâm đến mối
liên hệ giữa nhân vật tôi trong truyện và tác giả Đỗ Hoàng Diệu Trong nhiều bài trả lời phỏng vấn, Diệu đã khẳng định mình và nhân vật tôi trong tác phẩm
không đồng nhất: “Mọi người liên tục hỏi tôi về Bóng đè, tại sao tôi viết, tôi
viết khi nào, cảm giác ra sao Có nhà văn lớp trước đã mắng chửi tôi thẳng cánh là viết văn trong vô thức, viết bẩn nhớp, không trong sạch, chay tịnh Tôi ngớ người Nghĩ mình phải ghi tên vào trường chuyên dạy cách mơ
Nhiều người thắc mắc về cuộc sống riêng của tôi Họ phỏng đoán, vẽ chân cho rắn, vẽ chó thêm sừng khắp nơi Họ không biết rằng, khi tôi mười lăm, tôi đã viết một bài luận, và thày giáo không tin, thày nói ít nhất bài văn này phải của một người ngoài bốn mươi từng trải
Tôi không trách họ đã đồng nhất nhân vật và tác giả, bởi chỉ duy nhất
mình tôi bơi trong những giấc mơ của chính mình Chỉ mình tôi biết Bóng đè
là một giấc mơ, Vu quy là một giấc mơ Và tôi không phải người kể chuyện
khéo léo, tôi đã kể lại giấc mơ của mình bằng ngôn ngữ hôn mê Chỉ có điều,
Trang 33có cái tốt, bị bóng đè sau “hoá giá” cũng có nghĩa được bóng đè!” [7] Đành rằng, bóng đè là một hiện tượng tâm lí mà hầu hết ai cũng gặp phải một lần trong đời, trong đó có tác giả Nhưng đánh đồng Đỗ Hoàng Diệu là nhân vật tôi trong tác phẩm là có phần khiên cưỡng, chưa nói đến việc tôi có anh chồng
gốc gác nhà quê tên Thụ, còn Đỗ Hoàng Diệu, sau Bóng đè, đã theo chồng tây
định cư bên Mỹ!
Chỉ có thể nói rằng nhân vật tôi trong tác phẩm chính là hình tượng cái tôi tác giả Trong những sáng tác của mình, Đỗ Hoàng Diệu vẫn thường làm điều này: xây dựng lên một nhân vật tôi, thường là một cô gái trẻ, trực tiếp kể
về những câu chuyện của mình, như trong Vu quy, Dòng sông hủi, Căn bệnh,
Bóng đè,… Đặt cạnh nhau người kể chuyện ở ngôi thứ nhất - “tôi” trong Bóng
đè và “tôi” trong Vu quy, sẽ thấy lộ ra hai nhân vật người phụ nữ vừa giống
nhau lại vừa khác nhau Một người miên man với quá khứ, tìm thấy “khoái càm tình dục” trong quan hệ với “tiền nhân” Một người chỉ biết tới hiện tại với những “kỷ niệm tình dục”, hầu như mọi kỷ niệm dù thỏa mãn hay thất vọng cũng đều đáng nhớ và nhớ một cách chi tiết Những diễn ngôn của nhân vật tôi trong tác phẩm cũng chính là những diễn ngôn của Đỗ Hoàng Diệu, đại diện cho giới nữ mà lên tiếng
Trang 3428
Điên cuồng như Vệ Tuệ lại là một truyện dài được viết theo lối bán tự
truyện Cây bút nữ linglei của Trung Quốc gần như tái hiện chính mình trên trang sách, thậm chí đưa tên mình thành tên tác phẩm Nhân vật chính là
“tôi”, cũng tên Tuệ, có thể được hiểu chính là tác giả Vệ Tuệ Tuệ trong tác phẩm cũng là một nữ nhà văn Tác phẩm kể về cuộc đời của nhân vật, cũng chính là cuộc đời của tác giả Trong truyện, nhân vật đang ấp ủ một tác phẩm mới mà cô ghi lại từ chính những giấc mơ, những hồi ức của mình Ít có nhà văn nào dám dùng hình ảnh của chính mình để thể hiện trong tác phẩm Có lẽ,
Vệ Tuệ muốn gây ra một sự chú ý lớn và sẽ thu hút được nhiều người đọc tác phẩm của mình hơn Và Tuệ đã đạt được những thành công lớn thông qua việc bộc lộ tâm trạng, suy nghĩ, cách đánh giá của bản thân đối với cuộc sống hiện tại đầy rẫy những khó khăn và cám dỗ
Vệ Tuệ sinh vào khoảng đầu những năm bảy mươi của thế kỉ trước, thuộc lớp thanh niên lớn lên cùng với những đổi thay của Trung Quốc trong những thập niên cuối cùng của thế kỉ XX Người thanh niên này đi vào văn học theo lối nhân tiện thì thử cầm bút một phen và chính từ chỗ không biết sợ
là gì mà lại có được tiếng nói riêng trong văn học Có lần Vệ Tuệ tự thú:
“Khát vọng của tôi gần như lí do tồn tại của tôi là làm cho thành phố nổ tung như một trận pháo hoa” Khát vọng ấy đã được đền đáp với sự thành công của
cuốn Cục cưng Thượng Hải Không chỉ trong tiểu thuyết đầu tay này mà cả
trong những truyện vừa và truyện ngắn tiếp sau, nhà văn vẫn có lối viết tự thuật một cách cố ý, dù cho nữ nhân vật chính mang một cái tên nào đi chăng nữa và cuộc đời được khai thác dưới những khía cạnh khác thì bạn đọc vẫn dễ dàng nhận thấy rằng nhân vật trong sách với tác giả chỉ là một
Hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm, hai cây bút Đỗ Hoàng Diệu và
Vệ Tuệ giữ vài trò chủ thế phát ngôn với vị thế chủ động Họ chủ động đề cập