Việc so sánh bi kịch nhân vật trong tác phẩm Vũ Như Tô và Hămlet - những tác phẩm gây được tiếng vang của hai nhà văn, có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu những nét tương đồng, kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THANH MAI
BI KỊCH CỦA NHÂN VẬT
VŨ NHƯ TÔ TRONG KỊCH BẢN
VŨ NHƯ TÔ (NGUYỄN HUY TƯỞNG)VÀ
CỦA NHÂN VẬT HĂMLET
TRONG KỊCH BẢN HĂMLET (U SÊCXPIA)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THANH MAI
BI KỊCH CỦA NHÂN VẬT
VŨ NHƯ TÔ TRONG KỊCH BẢN
VŨ NHƯ TÔ (NGUYỄN HUY TƯỞNG)VÀ
CỦA NHÂN VẬT HĂMLET
TRONG KỊCH BẢN HĂMLET (U SÊCXPIA)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS.PHÙNG GIA THẾ
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm HàNội 2
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phùng Gia Thế, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lí luận văn học đã tạo điều kiện thuận lợi
để khóa luận của em được hoàn thành
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS.TS Phùng Gia Thế Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của khóa luận 10
7 Bố cục của khóa luận 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Uyliam Sêcxpia và vở kịch Hămlet 12
1.1.1 Nhà soạn kịch Uyliam Sêcxpia 12
1.1.2 Bi kịch của Sêcxpia 13
1.1.3 Hămlet - một kiệt tác đỉnh cao của thể loại bi kịch 14
1.2 Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch Vũ Như Tô 15
1.2.1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng 15
1.2.2 Kịch của Nguyễn Huy Tưởng 15
1.2.3 Vũ Như Tô - tác phẩm bi kịch xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng 17
1.3 Về văn học so sánh và triển vọng của văn học so sánh trong bối cảnh hiện nay 18
Chương 2: BI KỊCH CỦA VŨ NHƯ TÔ VÀ HĂMLET NHÌN TỪNHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG 21
2.1 Bi kịch giữa khát vọng cá nhân và hiện thực xã hội 21
2.2 Bi kịch của một cá nhân cô đơn 25
2.3 Cái chết như là sự kết thúc của bi kịch 30
2.4 Nghệ thuật xây dựng bi kịch 34
Trang 62.4.1 Ngôn ngữ đối thoại 34
2.4.2 Ngôn ngữ độc thoại 39
Chương 3: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA BI KỊCHCỦA VŨ NHƯ TÔ VÀ BI KỊCH CỦA HĂMLET 44
3.1 Bi kịch số phận 44
3.1.1 Vũ Như Tô: bi kịch của người nghệ sĩ “sinh bất phùng thời” 44
3.1.2 Hămlet: bi kịch của con người có trí tuệ, đấu tranh cho lí tưởng của mình nhưng thực hiện bị thất bại 46
3.2 Bi kịch nội tại 47
3.2.1 Vũ Như Tô - bi kịch của nhận thức 48
3.2.2 Hămlet- hiện thân của bi kịch về trí tuệ 51
3.3 Nghệ thuật xây dựng bi kịch của nhân vật 55
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 72 Hiện nay, văn học so sánh là một bộ môn có vị trí quan trọng trong ngành nghiên cứu văn học Trước đây, văn học so sánh còn chưa được biết đến rộng rãi nhưng vào khoảng một vài năm gần đây, văn học so sánh đã được đưa vào giảng dạy ở các trường Cao đẳng, Đại học Nó mở ra một hướng tìm tòi mới và chính thức có mặt trong ngành nghiên cứu văn học Nó đặc biệt đang được quan tâm nhiều mặt của giới nghiên cứu và những người yêu thích văn Việc giới thiệu văn học so sánh đã được thực hiện bằng một số chuyên luận, bài viết, bài nghiên cứu.Vì vậy khi thực hiện đề tài này, tác giả khóa luận mong có thể đóng góp một phần làm phong phú văn học so sánh hơn cũng như mang lại ý nghĩa thực tiễn thiết thực
Trang 82
3 Nguyễn Huy Tưởng và Uyliam Sêcxpia là hai nhà soạn kịch tiêu biểu
của hai nền văn học Việt Nam và nền văn học Anh Nếu Vũ Như Tô được coi
là “vở bi kịch duy nhất và đích thực” của Nguyễn Huy Tưởng thì Hămlet của
Sêcxpia là một trong những bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử sân khấu thế
giới Hămlet mở đầu giai đoạn sáng tác bi kịch của Sêcxpia, là vở kịch có ý
nghĩa tâm lý lịch sử sâu sắc nhất của ông Ngoài ra, cả hai tác giả này đều có mặt trong chương trình dạy trung học phổ thông và cùng chương trình giảng
dạy Ngữ Văn lớp 11 tập 1 Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch Vũ Như Tô được
đưa vào chương trình với trích đoạn mang tên “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” Và
Sêcxpia với đoạn trích “Tình yêu và thù hận” trong Rômêô và Juliet Việc so sánh bi kịch nhân vật trong tác phẩm Vũ Như Tô và Hămlet - những tác phẩm
gây được tiếng vang của hai nhà văn, có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu những nét tương đồng, khác biệt trong tư tưởng cũng như cách thể hiện của hai tác giả Qua đó, thấy được sự sáng tạo tuyệt vời của cả hai nhà viết kịch tiêu biểu này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Hămlet của Uyliam Sêcxpia là
hai vở kịch tiêu biểu cho hai nền văn học, văn hoá khác nhau Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đi sâu vào so sánh bi kịch của hai nhân vật chính Trước đó, đã có những công trình nghiên cứu cũng như một số bài viết đơn lẻ từng tác phẩm của từng nhà văn, một số nhà phê bình đã gặp gỡ nhau trong cách đánh giá sơ bộ về nội dung tư tưởng trong hai tác phẩm này Trong đó có thể kể đến một số công trình sau:
Hội thảo khoa học về Nguyễn Huy Tưởng tổ chức tại Viện Văn học
tháng 5-1992 và khi vở diễn Vũ Như Tô lần đầu tiên được đưa lên sân khấu
1995 đã nhận được nhiều sự quan tâm của công chúng Chiều sâu nội dung với tầng tầng lớp lớp ý nghĩa và sự hoàn chỉnh về hình thức nghệ thuật của tác
Trang 93
phẩm đầu tay của một nhà văn chưa đầy 30 tuổi đã gây được ấn tượng với độc giả như một sự bỗng nhiên phát hiện ra một tác phẩm lớn của văn học nước nhà Nhiều ý kiến, luận điểm mới mẻ về tác phẩm được đưa ra:
Bài “Kịch Nguyễn Huy Tưởng 1963” của Hà Minh Đức là sự thông cảm với nỗi niềm mà nhà văn gửi gắm vào “Vũ Như Tô” “muốn làm một việc ký
gửi tâm tình riêng(…) khi bắt đầu nhận lấy trách nhiệm của người cầm bút
Vũ Như Tô là lời tâm sự, là niềm suy nghĩ chân chính và tích cực của anh về vai trò của người nghệ sĩ thời cuộc Tâm sự và ý nghĩ đấy còn mang theo cả băn khoăn, ngập ngừng, hạn chế…” [26; 223] Tác giả cho rằng tư tưởng nhà
văn là tiến bộ, bởi vì Vũ Như Tô không tô vẽ cho chế độ chính trị, bước đầu
có ý thức đấu tranh cho dân tộc Còn những ngập ngừng và hạn chế là do nhận thức giai cấp chưa triệt để, vì sự mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí, do đó:
“Đứng trên xu thế lịch sử và lợi ích quần chúng, đòi hỏi tác giả có sự nhận thức triệt để hơn” [26; 226]
Trên tạp chí văn học, Gs Phan Cự Đệ đưa ra những kết luận khá mới mẻ:
“Phải đặt tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử viết Vũ Như Tô, Nguyễn Huy
Tưởng muốn giải quyết 3 vấn đề: vấn đề quan hệ giữa nghệ sĩ với quần chúng; nghệ thuật chống cường quyền; vấn đề văn hóa dân tộc” Nguyễn
Đình Thi khi bàn về bi kịch của Vũ Như Tô cũng đã đưa ra nhận định:“Bi
kịch Nguyễn Huy Tưởng là bi kịch của sự nhận thức”.[27; 7] Cùng vấn đề đó,
nhà văn Tô Hoài khẳng định:“Vũ Như Tô vừa là một khắc khoải, vừa là một
niềm tin”.[18; 4]
Đi sâu vào thân phận người nghệ sĩ và chỉ ra nguyên nhân bi kịch, nhà
nghiên cứu Tất Thắng viết:“Lỗi lầm của Vũ Như Tô(…) tưởng rằng có thể
được thể hiện khát vọng nghệ thuật của chính mình trong cuồng vọng của lũ bạo chúa(…) là bi kịch của người nghệ sĩ luôn dùng nghệ thuật như một phương tiện phục vụ cho cuồng vọng của lũ bạo chúa(…) là bi kịch của người
Trang 104
nghệ sĩ luôn dùng nghệ thuật như một phương tiện phục vụ cho cuồng vọng của kẻ thống trị tàn bạo, dốt nát” [26; 240] Về nghệ thuật kịch, tác giả nhận
xét: “Vũ Như Tô đã làm tăng thêm cái bản chất văn học cho kịch nói Việt
Nam thời kì trước 1975, cái chất mà sân khấu Việt Nam trước kia cũng như hiện nay rất thiếu” [26; 242]
Tìm hiểu về bi kịch Vũ Như Tô, Phan Trọng Thưởng cho rằng đó là bi
kịch của một thức thiên chức nghệ sĩ đụng độ với thực tế: “Dù đài Cửu Trùng
có thành công thì số phận của Vũ Như Tô và Đan Thiềm cũng đã được định đoạt”[26; 279] Đó là bi kịch giữa công dân và người nghệ sĩ
Với bài viết “Bi kịch Vũ Như Tô” (1997), nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu
coi đó là vở bi kịch hiện đại ở Việt Nam, thể hiện cái đẹp, cái ước vọng cao quý, cái mộng lớn bị tiêu diệt, là bi kịch gây sợ hãi, xót thương và cảm phục Ông cho rằng vở bi kịch mang tính “anh hùng ca” và lời đề tựa không phải sự lúng túng, mơ hồ của nhà văn Mặc dù nhà văn viết: “Ta chẳng biết” nhưng trong vở kịch nhà văn lại xây dựng một Vũ Như Tô thật đẹp với những khát vọng cao quý, tôn thờ cái đẹp, ham muốn xây dựng cái đẹp cho dân tộc, cho nhân loại
Trong bài viết “Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô” (2000), Phạm Vĩnh Cư nhận định: Với tác phẩm Vũ Như Tô thì nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã dựng nên một vở bi kịch hiện đại ở Việt Nam: “Có cấu trúc logic, nghiêm ngặt của
vở kịch cổ điển phương Tây” và “Vũ Như Tô là một trái chín quá sớm của tiến trình hội nhập văn hóa thế giới” [26; 221] Khi bàn về cái chết của Vũ Như
Tô, tác giả đưa ra quan điểm rằng nếu Vũ Như Tô chết vì bè lũ Trịnh Duy Sản
là làm nghèo đi ý nghĩa của vở kịch Căn cứ vào logic chặt chẽ của kịch bản thì bè lũ Trịnh Duy Sản chỉ là công cụ báo thù của lịch sử, không có họ thì sẽ
có người khác, sự bại vong của nhân vật Vũ Như Tô là không thể tránh khỏi
Trang 115
Vũ Như Tô có mặt lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông vào năm
2005 trong sách giáo khoa thí điểm môn Ngữ Văn lớp 12 với đoạn trích mang
tên: “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” Đây là đoạn trích gần trọn hồi 5 của vở kịch Tới năm 2007, Vũ Như Tô có mặt chính thức trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 tập 1 và cũng vẫn là đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng
Đài” Sự có mặt này đánh dấu nhận thức cũng như đánh giá rất mới của giới
nghiên cứu văn học và cả xã hội với vở kịch Nó là kết quả của quá trình đổi mới văn học bắt đầu ở thập niên 80 của thế kỉ XX, trong đó đối với Nguyễn Huy Tưởng đó là kết quả trực tiếp từ việc nhận thức lại những giá trị lớn lao
của nhà văn Và từ khi ra đời cho đến nay, Vũ Như Tô vẫn luôn là đối tượng
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học
Còn nhắc đến Sêcxpia là nhắc đến cái tên được giới nghiên cứu, giới phê bình tốn nhiều giấy mực nhất khi đề cập đến Không biết đến cái chết, không biết đến sự lãng quên, không sợ bị lu mờ trong không gian, đó là hiện tượng Sêcxpia Biết bao danh nhân đã hết lời ca ngợi và khẳng định tài năng cũng như tầm ảnh hưởng của nhà soạn kịch này không chỉ với nền kịch trường thế giới mà với cả văn chương nhân loại Người cùng thời với Sêcxpia ca ngợi
ông là “Người vung ngọn giáo làm náo động kịch trường”, là“thiên nga sông
Evơn” Ben Jônxơn – nhà viết kịch nổi tiếng nước Anh – sau khi Sêcxpia mất
đã khẳng định“Sêcxpia không chỉ thuộc về thời đại mình, ông là người của
muôn đời” [8; 196]
Đại văn hào Pháp, V.Huygô đã dụng công khắc họa một bức tượng đài
Sêcxpia từ chính các vở kịch của ông : “Có pháo đài nào vững chãi bằng Câu chuyện mùa đông, Bão táp, Những người vợ vui vẻ ở Uynxơ, Hai chàng công tử thành Vêrôn, Juliut Xêđa, Côriôrađô? Có pháo đài nào hùng vĩ hơn Vua Lia, Rômêô và Juliet, mênh mang hơn Risơt đệ tam? Có mặt trăng nào
rọi vào đó ánh sáng huyền ảo hơn Giấc mộng đêm hè? Còn kinh thành nào,
Trang 126
ngay cả Luân Đôn, tạo được xung quanh một bầu không khí náo nhiệt phi
thường hơn sự náo nhiệt của tâm hồn trong Măcbet? Có cái sào nào bằng sến hay bằng lim bền vững hơn Ôtenlô, có thứ thép nào bằng Hămlet? Và tóm
lại, có cái tháp nào cao được bằng ngay chính bản thân Sêcxpia” [28;159]
“Mặt trời thi ca Nga”- A.X Puskin cũng ghi nhận giá trị của những tác
phẩm do Sêcxpia sáng tác:“Đứng trên cái đỉnh không ai đạt được”,“làm
thành đối tượng vĩnh viễn để ta nghiên cứu và ngây ngất” [24;141]….Và cho
đến ngày nay, Sêcxpia cùng tác phẩm của ông vẫn luôn chiếm được sự quan tâm, nghiên cứu phê bình của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả của nhiều nước trên thế giới
Riêng ở Việt Nam, ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 giới trí thức, sinh viên, học sinh cũng đã say mê thưởng thức Sêcxpia qua tiếng Anh hoặc qua các bản dịch tiếng Pháp Vài vở kịch của ông cũng đã được dịch ra tiếng Việt Tuy nhiên phải đợi đến sau ngày hoà bình lập lại, ở miền Bắc mới xuất hiện một số công trình giới thiệu, nghiên cứu, dịch thuật đáng kể; các trường phổ thông Trung học và Đại học (văn) mới bắt đầu giảng dạy một vài tác phẩm của Sêcxpia; các trường nghệ thuật sân khấu cũng bắt tay vào việc học tập Sêcxpia, dàn dựng một vài vở của ông Ngày nay ở nước ta việc giới thiệu, nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy Sêcxpia ngày càng phong phú và đã
có không ít những công trình Tiêu biểu:
Trong cuốn Lịch sử sân khấu thế giới (1977) do Đức Nam, Hoàng Oanh, Hải Dương (dịch), khi nhận định về các sáng tác của Sêcxpia cho rằng:“Kịch
của ông là cái hồi quang nghệ thuật đầy đủ nhất của đời sống xã hội thời Phục Hưng Sêcxpia đã nhìn thấu vào tận bản chất của các quan hệ xã hội với cái nhạy bén của một thiên tài chân chính, trước đó người khác không nhìn ra, phát hiện ra mâu thuẫn ngay trong mầm mống của những sự kiện này, sự kiện khác thuộc đời sống xã hội”
Trang 137
Trong cuốn Văn học phương Tây do tập thể các tác giả: Đặng Anh Đào,
Hoàng Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Văn Chính biên soạn, cho ra mắt bạn đọc Khi nói về nghệ thuật xây
dựng các bi kịch kiệt tác của Sêcxpia, các tác giả đã nhận xét:“Sêcxpia có biệt
tài trong việc chuyển một câu chuyện cũ thành kịch Muốn làm công việc đó thì trước hết phải quan tâm đến việc tạo dựng và dẫn dắt hành động kịch Ở kịch lịch sử hoặc hài kịch, ông cũng đã làm tốt việc ấy Tuy nhiên đến bi kịch thì tài năng này càng phát huy hết sức mạnh ngòi bút của ông”
Đi sâu vào vào vở kịch Hămlet, Lecmantôp, nhà thơ Nga nổi tiếng thế kỉ XIX từng say sưa ca ngợi: “Nếu như Sêcxpia vĩ đại thì đó là ở Hămlet Nếu như
Sêcxpia thật là Sêcxpia, một thiên tài vô cùng rộng lớn, đi sâu vào lòng người
và những quy luật của vận mệnh, một thiên tài độc đáo, nghĩa là một Sêcxpia không ai bắt trước được, thì đó chính là ở Hămlet” Quả thật lời nhận xét ấy
không ngoa, Hămlet đã trở nên bất tử, sức sống của nhân vật đã vượt không
gian, thời gian và tồn tại vững chắc cho tới ngày nay Nhân vật Hămlet là biểu tượng cho sức mạnh công lí, đại diện cho chủ nghĩa nhân văn thời Phục
Hưng, thể hiện “tinh thần chống chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều kinh
viện Trung cổ nhằm giải phóng cho trí tuệ con người, tinh thần khẳng định cuộc đời trần thế, sự đòi hỏi quyền tự do cho cá nhân con người”
Nhà phê bình Nguyễn An Thảo trong quyển “Tác gia tác phẩm văn học
nước ngoài trong nhà trường” do Lê Nguyên Cẩn biên soạn đã có bài phê
bình rất sâu sắc về vấn đề này:“Đối với Hămlet, sống là phải hành động, là
phải cầm vũ khí để tiêu diệt cái ác, nghĩa là chấp nhận cái chết Như vậy, trong quan niệm Hămlet sống đích thực đồng nghĩa với chết vinh quang, chết
để tái tạo lại sự sống, để bảo vệ lí tưởng nhân văn Còn không sống đồng nghĩa với không chết, đồng nghĩa với sống trong nhục nhã, sống đê tiện, là chịu đựng mọi ô nhục, bán rẻ mình, bán rẻ lương tâm” Từ đó trong quyển
Trang 148
“Văn học phương tây” của nhóm tác giả Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân các
nhà phê bình đi đến nhận định:“Đây là lần đầu tiên trong văn học thế giới,
xuất hiện một con người tự mổ xẻ để giúp cho người hiểu biết về chính nó”
Đúng vậy, Hămlet là nhân vật có tính cách khá phức tạp, cùng trong một con
người nhưng lại tồn tại nhiều trạng thái khác nhau, cũng trong quyển “Lịch sử
sân khấu thế giới”(tập 2) đã trích dẫn lời nhận xét của Bêlinxki:“Sự phát hiện
ra điều bí mật, điều khủng khiếp Đáng lẽ làm cho Hămlet chìm đắm trong một tình cảm, một suy nghĩ đó là sự trả thù, từng giây từng phút, sẵn sàng biến thành hành động, nhưng sự phát hiện khủng khiếp đó buộc anh không phải đi ra bản thân mình, mà lại đi vào chính bản thân mình và tập trung vào nội tâm của chính mình, đánh dậy ở trong đó những vấn đề về sự sống và cái chết, về thời gian và vĩnh cửu, về nghĩa vụ và ý chí yếu mềm, khiến anh ta lưu
ý đến phẩm chất cá nhân mình” Sêcxpia đã thổi vào Hămlet một tinh thần
của người anh hùng thời đại Người anh hùng mang nhiệm vụ to tát “sống là phải hành động, hành động để tái tạo thế giới”
Hămlet chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp kịch
của Sêcxpia Đây là một tác phẩm kì tài của ông, vở kịch này đã đưa vị trí cũng như tên tuổi Sêcxpia lên tầng cao mới trong văn học thế giới Với nội dung, tư tưởng đầy tính nhân văn, vở kịch đã thu hút biết bao thế hệ độc giả trên những trang viết và suốt mấy trăm năm qua nó vẫn sống động trên sân khấu
Qua khảo sát sơ bộ lịch sử vấn đề, có thể nhận thấy việc phân tích đơn lẻ các tiểu thuyết của hai nhà văn đã thu hút được sự chú ý của nhiều các nhà nghiên cứu Tuy nhiên việc so sánh bi kịch của nhân vật trong hai tác phẩm
Vũ Như Tô và Hămlet để tìm ra những tương đồng và khác biệt của hai nhà
văn vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ, đòi hỏi sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học
Trang 159
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
3.1.1 Đối sánh bi kịch hai nhân vật chính trong hai kịch bản để nhận
biết những tương đồng, khác biệt, cũng như sự sáng tạo riêng của mỗi nhà văn
3.1.2 Góp phần vào việc khẳng định sự thành công về bi kịch của hai
nhân vật chính trong hai tác phẩm của hai nhà viết kịch nổi tiếng ở quốc gia khác nhau, ở các thời điểm lịch sử khác nhau Việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần vào việc khẳng định vị trí, tầm quan trọng của bộ môn Văn học so sánh trong bối cảnh nghiên cứu văn học hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Tập hợp và trình bày những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
3.2.2 Nghiên cứu so sánh bi kịch của hai nhân vật chính trong hai tác
phẩm nói trên ở cả hai phương diện tư tưởng và thi pháp nghệ thuật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và nhân vật Hămlet trong Hămlet của Sêcxpia
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát và phân tích của khóa luận chủ yếu tập trung vào hai tác phẩm :
- Vở kịch của Sêcxpia : Hamlet Và văn bản khảo sát là: Hamlet do Bùi
Anh Kha, Bùi Ý, Bùi Phụng dịch của Nxb Văn học, 1986
- Vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng: Vũ Như Tô (2006), Nxb Sân khấu,
Hà Nội
Trang 1610
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp hệ thống cấu trúc: Khóa luận sử dụng phương pháp này
nhằm mục đích tạo sự liên kết chặt chẽ, logic khoa học
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Phương pháp này chúng tôi sử dụng
nhằm mục đích so sánh, đối chiếu các luận điểm trong vấn đề nghiên cứu hay
giữa vấn đề nghiên cứu trong hai kịch bản Hămlet và Vũ Như Tô Qua đó
khẳng định được nét đặc sắc về bi kịch của nhân vật trong hai tác phẩm
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân tích-
tổng hợp chủ yếu là chủ yếu để đi sâu khám phá từng yếu tố, khía cạnh trong việc kiến tạo bi kịch nhân vật, nhưng đồng thời cũng có cái nhìn tổng quát về nghệ thuật kịch của nhà văn
Phương pháp tiểu sử: Khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi sử dụng
phương pháp tiểu sử để tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp kịch và đặc biệt là
bi kịch của Sêcxpia và Nguyễn Huy Tưởng
Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn sử dụng các thao tác tư duy bổ trợ cần thiết cho các phương pháp nghiên cứu chính như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, giải thích, hệ thống…nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn
đề một cách rõ ràng, thuyết phục
6 Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở so sánh bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô trong vở kịch Vũ
Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và nhân vật Hămlet trong vở kịch Hămlet
của Sêcxpia, khóa luận chỉ ra những nét tương đồng cũng như điểm khác biệt trong bi kịch của mỗi nhân vật và cũng như nghệ thuật thể hiện bi kịch nhân vật của hai tác giả
Trang 1711
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được cấu trúc thành 3 chương:
Trang 1812
NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Uyliam Sêcxpia và vở kịch Hămlet
1.1.1 Nhà soạn kịch Uyliam Sêcxpia
Uyliam Sêcxpia (1564-1616) sinh ra trong một gia đình bình thường ở Xtratfơt trên sông Evơn, một thị trấn nằm ở trung tâm nước Anh Cha Sêcxpia
là ông Giôn Sêcxpia, vốn theo nghề nông nhưng rồi rời bỏ đồng ruộng ra thị trấn làm nghề bao tay Nhờ cần cù, làm ăn phát đạt, ông được bầu làm thị trưởng Lúc nhỏ, Sêcxpia theo học trường Grammar School và được tiếp xúc với các môn học phổ thông, cùng với tiếng Hi Lạp, Latinh và một vài tác phẩm cổ đại của Hi Lạp, La Mã Sêcxpia kết thúc sự nghiệp học hành của mình ở trường học năm 14 tuổi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn Lúc đầu, ông đến giúp việc tại lò mổ, về sau nhờ có ít chữ nghĩa ông chuyển sang nghề dạy học Năm 18 tuổi, Sêcxpia kết hôn với An Hathauê, người hơn Sêcxpia tám tuổi Ba năm sau, hai vợ chồng sinh được ba con Hai con gái và con trai có tên là Hămnet Năm 11 tuổi Hămnet mất Càng ngày cuộc sống gia đình ông càng túng quẫn hơn Năm 23 tuổi, Sêcxpia đến kinh thành Luân Đôn với hai bàn tay trắng và niềm đam mê sân khấu Khởi nghiệp bằng chân giữ ngựa rồi nhắc vở tại một nhà hát 26 tuổi (năm 1590) ông đã hoàn toàn dấn thân vào sinh hoạt kịch nghệ của thành phố trong vai trò là một diễn viên và bắt tay vào sự nghiệp sáng tác Ông sáng tác hài kịch, kịch lịch sử, bi – hài kịch, bi kịch và cho ra đời những tác phẩm làm thay đổi sân khấu kịch của một đất nước, một thời đại, làm say đắm lòng người bao thế hệ, lưu tên tuổi của mình đến muôn đời Trong khoảng hai mươi năm cầm bút, Sêcxpia đã để lại 37 vở kịch, hai trường ca và tập thơ trữ tình gồm 154 bài Ông trở thành nhà soạn kịch thiên tài, người đại diện tiêu biểu nhất cho văn đàn nước Anh thời Phục Hưng, là kịch gia số một của nhân loại Giải thích sự vĩ đại của Sêcxpia,
Trang 1913
Vichto Huygo - nhà văn Pháp thế kỉ XIX đã khẳng định“Sêcxpia là gì? Người
ta hầu như có thể trả lời rằng: đó là trái đất…Ở trên Sêcxpia không còn ai nữa…Chỉ riêng một ông ta, ông ta đã bằng cả thế kỉ XVII đẹp đẽ của nước Pháp chúng ta và gần cả thế kỉ XVIII”
1.1.2 Bi kịch của Sêcxpia
Bi kịch có một vai trò hết sức lớn và là thể loại có ý nghĩa nhất đối với
sự nghiệp sáng tác của Sêcxpia Tác giả đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nổi
tiếng như Rômêô và Giuliet, Hămlet, Ôtenlô, Macbet, Vua Lia,…Chính những
vở bi kịch lớn trong sáng tác của mình, Sêcxpia đã nâng cao vị trí trong lịch
sử văn học Anh và thế giới Ông sáng tạo nên thể bi kịch này nhằm phê phán những mặt đen tối, xấu xa và tàn bạo của xã hội mà ông sống Sêcxpia sống vào giai đoạn nước Anh quá độ từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ tư bản Đó là một thời kì đầy biến động Khi thì xoáy lên thành giông tố, phong
ba như muốn nhấn chìm, muốn hất tung đi tất cả Khi thì nó lại âm thầm, lặng
lẽ như mạch nước ngầm xuyên chảy dưới đất sâu Ông đã nhanh nhạy nắm bắt được hơi thở và mạch đập của thời đại và đã phê phán cả hai chế độ đó Điều này không chỉ chứng tỏ tài năng của nhà văn mà còn chứng tỏ rằng, ngay giữa lúc đang muốn công chúng vui cười thoả thích thì Sêcxpia vẫn cảm nhận được những mối nguy cơ đe doạ con người, mưu toan bóp nghẹt tiếng cười của nó Thành công của ông ở thể loại bi kịch là không những có tài xây dựng những tác phẩm sâu sắc về nội dung mà nghệ thuật cũng hết sức sinh động và sáng tạo, đã phá vỡ những giới hạn ngặt nghèo của cái cũ để sáng tạo những cái mới, mở ra chân trời bao la cho nghệ thuật kịch Puskin – đại văn
hào Nga đã khẳng định:“Bi kịch của Sêcxpia nói lên điều gì? Mục đích của bi
kịch là gì? Đó là con người và nhân dân Đó là số phận của nhân loại…chính điều đó làm cho Sêcxpia vĩ đại.”
Trang 2014
1.1.3 Hămlet - một kiệt tác đỉnh cao của thể loại bi kịch
Hămlet là tác phẩm mở đầu giai đoạn sáng tác bi kịch của Sêcxpia, là vở
kịch có ý nghĩa tâm lý xã hội sâu sắc nhất trong các vở kịch của ông
Lecmantôp, nhà thơ Nga nổi tiếng thế kỉ XIX từng say sưa ca ngợi:“Nếu như
Sêcxpia vĩ đại thì đó là ở Hămlet Nếu như Sêcxpia thật là Sêcxpia, một thiên tài vô cùng rộng lớn, đi sâu vào lòng người và những quy luật của vận mệnh, một thiên tài độc đáo, nghĩa là một Sêcxpia không ai bắt chước được, thì đó chính là Hămlet” Tác phẩm được viết vào thời kỳ khi ông đã từng trải nhiều
về cuộc sống, sau hai mươi lăm năm bôn ba chìm nổi trong xã hội nước Âu
Cốt truyện của vở Hămlet được Sêcxpia mượn từ một truyện dân gian xứ Jơtlan, được ghi chép và được đưa vào cuốn “Truyện lịch sử Đan Mạch”
Cống hiến to lớn của Sêcxpia là đã cải biến câu chuyện trả thù ngày xưa thành một vở kịch phản ánh sâu sắc đặc trưng của thời đại ông - thời đại mà tích luỹ
sơ khai của tư bản Anh đang đẻ ra những mâu thuẫn xã hội gay gắt chưa từng thấy, đó là sự cướp đoạt làm giàu của giai cấp tư sản cấu kết với phong kiến đang bần cùng hóa quảng đại nhân dân, cường quyền chà đạp lên công lý, đồng tiền trở nên vạn năng, những giá trị nhân đạo, giá trị tinh thần của thời đại Phục Hưng bị đổ vỡ trên nền móng thối nát của xã hội tư bản đang thành hình Vở kịch đã nói lên được những trăn trở về lẽ sống, về ước vọng con người thời đại ấy một cách vô cùng thống thiết Có lẽ vậy, mặc dù học hỏi và thừa hưởng khá nhiều của những người đi trước, từ cốt truyện đến tình tiết cơ
bản nhưng Hămlet vẫn là một sáng tạo kì tài của Sêcxpia, để rồi trở thành một
trong những bi kịch nổi tiếng nhất của lịch sử sân khấu thế giới Suốt mấy
trăm năm qua Hămlet vẫn sống động trên sân khấu, vượt khỏi thời gian,
không gian, sừng sững vươn cao như một quả núi Là một sự kết hợp tuyệt vời giữa thi ca và triết học, giữa nghệ thuật và tư tưởng, giữa sân khấu và cuộc đời
Trang 2115
1.2.1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6 tháng 5 năm 1912 trong một gia đình nho giáo ở làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội Lên bảy tuổi cha mất, Nguyễn Huy Tưởng phải ra Hải Phòng ở với gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal Năm 1932,
20 tuổi thi đậu bằng thành chung và cũng bắt đầu học chữ Hán Sau ba năm vất vả tìm việc, đến 1935 thi đậu vào ngành thư ký nhà đoan (cơ quan hải quan) Năm 1939, Nguyễn Huy Tưởng cưới vợ Song song với đời sống công chức nhà đoan, Nguyễn Huy Tưởng có một đời sống sinh hoạt nội tâm phong phú, chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng và hàng ngày viết nhật ký
Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá quốc ngữ Cuối năm 1944, ông bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn hoá cứu quốc Ông còn là đại biểu Văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ
báo Cờ giải phóng, Tiên Phong Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban
Trung ương Vận động đời sống mới Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc Ngoài ra, Nguyễn Huy Tưởng còn là người sáng lập đồng thời là giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng Ông mất ngày 25 tháng 7 năm 1960 tại Hà Nội, khi mới 48 tuổi Tên của ông được đặt cho một phố của thủ đô Hà Nội
1.2.2 Kịch của Nguyễn Huy Tưởng
Trong số những kịch gia đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của kịch Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là một trong những gương mặt tiêu biểu Nhìn lại chặng đường sáng tác kịch Nguyễn Huy Tưởng, từ tác phẩm đầu tay
Vũ Như Tô đến Những người ở lại, chưa đầy 10 năm nhưng đã ghi dấu ấn khá
rõ bước chuyển biến quan trọng của xã hội Việt Nam những năm tháng khốc
Trang 2216
liệt, hào hùng Ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng trong lĩnh vực kịch luôn giữ được sự sắc sảo và nhạy bén Các vở kịch của ông đều thấm sâu chủ nghủ nghĩa anh hùng Phản ánh đầy đủ bước đi và thành công của kịch cách mạng trong quá trình tìm đường và nhận đường Với những cách tân, sáng tạo, kịch Nguyễn Huy Tưởng có sự kế thừa nối tiếp kịch dân tộc và định hướng trào lưu cho thời kì mới Đề tài lịch sử mang âm hưởng sử thi hào hùng, bi tráng với những xung đột mang tính thời đại, dân tộc hay xung đột ngay trong bản thân nhân vật và giữa nhân vật với cộng đồng là những nét đặc sắc trong kịch
Nguyễn Huy Tưởng Trong các sáng tác kịch của ông thì bốn vở kịch:Vũ Như
Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Những người ở lại là bốn tác phẩm tiêu biểu
của Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời cũng là bốn bông hoa hương sắc trong nền kịch nói Việt Nam Những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng có tác động lớn lao, mạnh mẽ tới sự phát triển văn học dân tộc cũng như sự phát triển của xã hội Với sự khiêm tốn của mình, Nguyễn Huy Tưởng từng nói mỗi tác phẩm của mình là một thí nghiệm, một cố gắng và nỗ lực chủ quan để tìm đến một phương hướng sáng tạo Có thể nói, kịch Nguyễn Huy Tưởng là một thực thể sống động, đa thanh nhiều tầng nghĩa tiềm ẩn Đằng sau lớp ngôn từ bình dị, những con người gần gũi quen thuộc, nhiều vấn đề mang tầm ý nghĩa được đặt ra Kịch của ông đã tạo được tiếng vang nhất định trong lòng công chúng, tuy dung lượng không quá đồ sộ nhưng những vấn đề đặt ra lại mang tầm thời đại với những triết lí sâu sắc Mặc dù không phong phú về số lượng nhưng chất lượng về tác phẩm cũng như tài năng của ông được khẳng định trên văn đàn, có vai trò và tầm ảnh hưởng sâu rộng, thúc đẩy con đường phát triển của kịch Việt Nam tiến xa hơn trong việc chiếm lĩnh công chúng “góp phần đáng
kể vào sự hình thành của kịch nói Việt Nam hiện đại, đem đến cho nó cái phẩm chất văn học và tầm vóc chuyên nghiệp”
Trang 2317
1.2.3 Vũ Như Tô - tác phẩm bi kịch xuất sắc của Nguyễn Huy Tưởng
Kịch có vai trò tích cực trong việc tiếp cận đời sống với các vấn đề mang tính thời sự Khoảng thời điểm thập niên 20 của thế kỉ XX, kịch Việt Nam mới xuất hiện do ảnh hưởng của giao lưu văn hóa Đông – Tây Trong văn học 1930-1945, có nhiều nhà viết kịch nổi tiếng, trong đó phải kể đến Nguyễn
Huy Tưởng cũng với vở kịch Vũ Như Tô Vũ Như Tô là tác phẩm có tiếng
vang đầu tay của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Tác phẩm hoàn thành năm
1941, được đăng lần đầu tiên trên tờ báo Tri Ân từ 18/01/1943 đến 20/04/1944 Tiếp đó là bản in năm 1946 của nhà xuất bản Hoa Lư Vở kịch lần đầu tiên được in thành sách vào năm 1963 do nhà xuất bản Văn học ấn hành Vũ Như Tô công diễn lần đầu trên Sân khấu Thủ đô vào năm 1955, do nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng Nội dung vở kịch là câu chuyện về kiến trúc sư cùng tên, có tài, sống dưới đời vua Lê Tương Dực Vũ Như Tô là một nhân vật có thật trong lịch sử, đã từng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất tỉ
mỉ: "Vũ Như Tô một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp những thanh nứa làm thành
kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc, dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài" (Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục Chính Biên, quyển 26) Tuy nhiên Cửu Trùng Đài
đã làm dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc Xây hết năm này qua năm khác, liên miên không dứt Quân và dân phải đi làm việc, bị bệnh dịch, chết mất khá nhiều Sau đó, Trịnh Duy Sản phản nghịch, dẫy binh, Vũ Như Tô bị thợ thuyền giết chết, xác quăng ngoài chợ, bị mọi người khinh nhổ nước bọt
Năm 1941, Nguyễn Huy Tưởng đã dựng lên vở kịch Vũ Như Tô, tuy lấy lịch
sử làm phần chất liệu nhưng lại chứa đựng ngôn ngữ mang đậm dấu ấn văn chương, nó trở thành một tác phẩm bi kịch có thể đứng ngang tầm với những
vở bi kịch kinh điển của thế giới Năm 1955, Vũ Như Tô được đưa lên sân
Trang 2418
khấu Trở thành một trong những tác phẩm tâm huyết suốt cuộc đời văn của ông và đồng thời, theo sự sàng lọc nghiệt ngã mà công bằng của thời gian, nó dường như trở thành đỉnh cao duy nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tạo của nhà văn này
1.3 Về văn học so sánh và triển vọng của văn học so sánh trong bối cảnh hiện nay
Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ “văn học so sánh” đã trở nên rất quen thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Văn học so sánh ban đầu chỉ là một phương pháp so sánh văn học Trong nghiên cứu, nó là một phương pháp dùng để xác định, đánh giá các hiện tượng văn học trong mối quan hệ giữa chúng với nhau
Xuất phát từ cách nhìn nhận và ở các thời điểm khác nhau, giới nghiên
cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn học so sánh Theo “Từ điển thuật ngữ
văn học” do Lê Bá Hán chủ biên: “Văn học so sánh là một chuyên ngành văn
học sử nghiên cứu sự giống và khác nhau, tương quan và tương tác, liên hệ và ảnh hưởng của các nền văn học khác nhau trên thế giới” Còn trong giáo trình
“Lí luận Văn học so sánh”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân đã định nghĩa:
Về cơ bản có thể hiểu: Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc ( hay các nền văn học quốc gia khác)
Nội hàm của cụm từ “mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc” gồm có:
- Những mối quan hệ trực tiếp giữa các nền văn học dân tộc (những sự ảnh hưởng và vay mượn lẫn nhau giữa các nền văn học)
- Những điểm tương đồng (những điểm giống nhau giữa các nền văn học sinh ra không phải do ảnh hưởng giữa chúng mà là do điều kiện lịch sử, xã hội giống nhau)
Trang 2519
- Những điểm khác biệt độc lập, biểu hiện bản sắc của các hiện tượng văn học dân tộc hay của các nền văn học dân tộc, được chứng minh bằng phương pháp so sánh
Nói theo cách khác, văn học so sánh là bộ môn nghiên cứu mối quan hệ văn học giữa các nước
Thời gian đầu mới xuất hiện, văn học so sánh không được biết đến nhiều
và chưa có một vị trí xứng đáng Nhưng sau đó, chính sự giao lưu quốc tế rộng lớn liên kết văn học các quốc gia lại với nhau, ý thức so sánh trở thành một yêu cầu rất tự nhiên trong việc nghiên cứu văn hóa - văn học Văn học so sánh đã chứng minh rằng văn học của mọi quốc gia không thể đứng biệt lập,
nó nằm trong Cộng hoà văn chương thế giới Nói cách khác, dù muốn hay không thì văn học quốc gia không thể thu mình trong tháp ngà của dân tộc trung tâm luận mà nó phải nằm trong các mối quan hệ phức tạp Tương tự như vậy, một trào lưu văn học của một đất nước, một nhà văn, một tác phẩm nào
đó cũng không thể nằm ngoài hệ thống các mối quan hệ với nhau Các nền văn học, các trào lưu văn học, các nhà văn, các văn bản văn học tiếp xúc với nhau, giao thoa với nhau, ảnh hưởng tới nhau, thậm chí xung đột với nhau Năm 1954, hiệp hội Văn học so sánh quốc tế được thành lập và đến nay đã trải qua 15 kì đại hội Văn học so sánh ở Việt Nam đang từng bước phát triển Ở Việt Nam, văn học so sánh được bắt đầu từ thế kỉ XX Trong
giáo trình “Lý luận văn học so sánh”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân đã
nhận định nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam chưa có đủ bề dày lịch sử
để có thể chia thành nhiều giai đoạn Nhà phê bình văn học Trần Đình Sử
khẳng định:“Số tác phẩm nghiên cứu so sánh về văn học Việt Nam ở nước
ngoài đến nay chưa được thống kê, tập hợp Đó là một con số quá ít, đề tài lại rời rạc, phân tán, chưa tập trung, chưa đủ để nhận thức tính quốc tế và các mối quan hệ quốc tế của văn học Việt Nam”.Có thể nói, văn học so sánh nước
Trang 2620
ta còn dừng lại ở mức độ khiêm tốn nhất định Tuy nhiên thực tế cho thấy, nếu so với thời kỳ trước đổi mới thì từ sau đổi mới (đặc biệt từ đầu thế kỷ XXI) đến nay tình hình nghiên cứu văn học so sánh ở Việt Nam có sự chuyển biến rõ rệt, ngày càng thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu Mấy năm trở lại đây, ở Việt Nam, bộ môn Văn học so sánh đã được đưa vào giảng dạy ở bậc Đại học, Cao học và nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành văn học Dựa vào điều này ta cũng thấy được tầm quan trọng của bộ môn này,
nó sẽ trở thành một trong những bộ môn có vị trí quan trọng cũng như đem lại hiệu quả thực tiễn lí luận trong ngành công tác nghiên cứu văn học hiện nay
Trang 2721
Chương 2: BI KỊCH CỦA VŨ NHƯ TÔ VÀ HĂMLET
NHÌN TỪ NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG 2.1 Bi kịch giữa khát vọng cá nhân và hiện thực xã hội
Hoàn cảnh xã hội là một trong những nhân tố quan trọng giúp con người nhận thức được bản chất cốt yếu của cuộc sống Hoàn cảnh xã hội ở đây có thể là hoàn cảnh chung hoặc hoàn cảnh riêng và con người luôn chịu sự quy định của hoàn cảnh xã hội Khi hoàn cảnh xã hội thuận lợi cho sự phát triển của con người theo đúng quy luật của nó thì khi đó con người không hề có bi kịch Ngược lại, khi hoàn cảnh xã hội không thuận lợi cho sự phát triển của con người, luôn chống lại con người làm cho ước muốn của con người bị hủy
bỏ thậm chí gây ra những hậu quả xấu, khi đó con người rơi vào tình thế bi kịch Bi kịch giữa khát vọng cá nhân và hiện thực xã hội có thể hiểu là mâu thuẫn giữa cá nhân với hoàn cảnh sống, khi hoàn cảnh không tạo điều kiện mà
ngược lại cản trở, kìm hãm sự phát triển của cá nhân Gulaiep trong cuốn “Lý
luận văn học” cho rằng: “Bi kịch là một tác phẩm kịch được xây dựng trên một xung đột thể hiện về mặt thẩm mĩ những mâu thuẫn tồn tại trong cuộc sống, khát vọng chủ quan của cá nhân con người và khả năng khách quan không thể thực hiện được của nó” [11; 294] Khi nghiên cứu tác động hoàn
cảnh đối với con người, Bôrep quan niệm:“Bi kịch là sự tác động lẫn nhau
giữa tính cách và hoàn cảnh, trong đó vai trò chủ đạo thuộc về tính cách và cuộc đấu tranh cho tinh thần đã chín dần Chính đáng về mặt lịch sử nhưng chưa có điều kiện để thực hiện dẫn tới kết quả là tính cách phải tiêu vong và chung quy những lí tưởng, những mục đích xã hội được thực hiện phong phú
ở mức độ này hay mức độ khác nhau qua nhân vật hy sinh [3; 337]
Trong tác phẩm Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, nhân vật Vũ Như
Tô xuất hiện là một kiến trúc sư có “tài trời” Người nghệ sĩ ấy mang trong mình ước nguyện lớn lao “xây một tòa đài nguy nga tráng lệ cùng với vũ trụ
Trang 2822
trường tồn” Đó là một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, cao cả huy hoàng,
là “một cảnh Bồng Lai” giữa trần thế lao lực Nhưng Vũ Như Tô khi đối mặt với hiện thực thì lại dường như không có con đường để lựa chọn, chỉ vì “tài bao nhiêu, lụy bấy nhiêu” Hiện thực cuộc sống không có chỗ đứng cho nghệ thuật Khát vọng của Vũ Như Tô là xây dựng một Cửu Trùng Đài đẹp đẽ, trác tuyệt Cửu Trùng Đài chính là cái đẹp thậm chí là cái đẹp “siêu đẳng” nhưng cái đẹp đó lại quá cao xa với hiện thực Đài càng xây cao bao nhiêu, nỗi khổ cực của người dân càng tăng lên bấy nhiêu Hoàn cảnh khốn cùng, sự rên xiết, khổ đau của dân chúng in hằn trên từng viên gạch, từng nấc thang của Cửu Trùng Đài Công trình với năm vạn thợ bên trong, mười vạn thợ bên ngoài ấy trở thành nỗi ám ảnh, kẻ thù số một của nhân dân Xây nên kỳ quan ấy cực kỳ tốn kém, một sự tốn kém không chỉ tính bằng tiền của ngân khố quốc gia, mà
còn phải tính bằng cả mồ hôi, cả nước mắt và cả máu.“Mười năm nay, không
mấy năm không mất mùa, đói kém quá thể, có nơi cả làng phải đi ăn mày, đường cái đầy xác chết” [ 7; 311] “…giặc giã nổi lên khắp nơi Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kẻ cho xiết”.[7; 331] Làng
quê hiện lên xơ xác tiêu điều, nghèo nàn, đói kém Cuộc sống khốn cùng vốn chịu nhiều đau khổ, khiến những người nông dân một nắng hai sương không thể tạo điều kiện cho nghệ thuật thăng hoa? Cũng như chính hiện thực lúc bấy giờ không cho phép Vũ thực hiện hoài bão cũng như thể hiện tài năng bản thân được Tư tưởng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm đã vượt tầm thời đại, họ hướng tới tương lai, tới hậu thế mai sau mà vô tình lãng quên cuộc sống hiện thời Vì vậy khi va đập nặng nề với hiện thực, người nghệ sỹ tài hoa này đã rơi vào bi kịch không thể giải thoát
Trang 2923
Hămlet của Sêcxpia ra đời vào năm 1601.Tác phẩm mở ra cả một thời
đại mới của bi kịch Trước đó, Sêcxpia chỉ chuyên viết hài kịch và kịch lịch
sử Những vở kịch này đã vạch trần sự thối nát, tàn bạo của chế độ phong kiến lỗi thời Có điều, khi đấu tranh chống lại những tàn dư của chế độ phong kiến, cũng như những nhà nhân văn chủ nghĩa khác, Sêcxpia vẫn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của xã hội Nhưng từ những năm 90 của thế kỉ XVI thì tình hình nước Anh bắt đầu thay đổi Chính thể chuyên chế từng giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại tình trạng phong kiến, cát cứ, ngày càng trở nên thối nát, đốn mạt Giai cấp thống trị bộc lộ rõ bản chất phản nhân dân của nó Những tệ nạn thời Trung cổ được hồi sinh với những hình thức khủng khiếp hơn trước rất nhiều Quan điểm xã hội và triết học của Sêcxpia vì thế cũng trở nên phức tạp Ông nhận ra những mâu thuẫn của chế độ chuyên chế tư sản Ông muốn khám phá và phân tích bản chất của những mâu thuẫn ấy.Và sáng tác của Sêcxpia đã phản ánh một cách thiên tài toàn bộ sự lạc điệu
của đời sống xã hội đương thời.Với Hămlet, tác phẩm ra đời đã mở ra cả một thời đại phát triển mới của bi kịch Vở kịch đã phản ánh sâu sắc tinh thần của
thời đại với sự khủng hoảng, bế tắc của lý tưởng nhân văn Nó không mang
không khí lãng mạn vui tươi, lý tưởng lạc quan tốt đẹp của những vở kịch vui,
bi kịch của Sêcxpia mang suy tư nặng nề về các mối xung đột, mà trước hết là xung đột giữa lý tưởng nhân văn với hiện thực xấu xa của xã hội bấy giờ - cuối thời kỳ thống trị của nữ hoàng Elizabeth Thời kì mà các thế lực phong kiến đua nhau tranh quyền đoạt lợi, giai cấp tư sản mới vươn lên nhưng nhu nhược Đời sống nhân dân cơ cực, chịu sự áp bức bóc lột nặng nề của các thế lực phong kiến Điều đó được thể hiện cụ thể trong tác phẩm
Cũng giống như Vũ Như Tô, Hămlet mang trong mình những tư tưởng,
lí tưởng lớn lao, nhưng ước vọng đó bị cản trở bởi chính hoàn cảnh lịch sử xã hội thời đại mà chàng sống lúc bấy giờ Mở đầu bi kịch Hămlet, tác giả đã mở
Trang 3024
ra một tình thế lịch sử Ấn tượng đầu tiên mà nó mang lại cho ta khi ta xem
vở kịch chính là sự lo âu, kinh hoàng, là một cái gì đó như là sự linh cảm về những biến động dữ dội rồi sẽ xảy ra Việc hồn ma xuất hiện đã làm nổi bật bầu không khí bao trùm đất nước Đan Mạch Cả đất nước sống trong lo âu, sợ
hãi Hoàn cảnh rất bất lợi.“Có cái gì đang thối nát trong đất nước Đan Mạch
này”.“Hồn ma hiện lên có ý gì, tôi chẳng rõ, nhưng đại khái theo chỗ tôi hiểu thì đây là điều báo trước một tai họa kinh hoàng cho đất nước ta” (lời
Hôraliô) Quả là những gì đang xảy ra trong tác phẩm Hămlet có liên quan tới
những vấn đề trọng đại mang tầm cỡ quốc gia.Vua Đan Mạch Clôđiut và cả triều đình của y đang hiệp lực, du lại với nhau thành một liên minh ma quái Một mình Hămlet phải đương đầu với cả khối liên minh ma quái đó.Xung đột giữa Hămlet và thế giới xung quanh bắt nguồn từ cái chết đột ngột của vua cha và sự tái giá vội vàng của người mẹ, mà chính Hămlet đã mỉa mai “thịt quay trong đám tang làm đồ nguội trong đám cưới” Không đơn giản là mất niềm vui về cuộc đời mà Hămlet đã nhìn một cái nhìn mới về cuộc đời, nhìn thẳng vào mặt trái của nó Từ những bộ mặt thâm độc, xảo trá, từ tình anh em, tình vợ chồng, tình bạn, tình yêu đảo điên, phản loạn, Hămlet đã cho bản thân
một kết luận có tính khái quát: thời đại mình là “một thời đại đảo điên tan
tác” đã biến “Đan Mạch thành một ngục thất ghê tởm” và biến cả thế giới
thành một “nhà tù đen tối”.Sự thật được khám phá ấy đã từ giới hạn của một
gia đình, vượt qua rồi đi đến một giới hạn rộng lớn hơn là quốc gia và quốc tế rộng lớn Phát hiện ra thế giới là một nhà tù cũng có nghĩa là Hămlet đã tự đặt mình trong sự xung đột với môi trường, nhưng cũng chưa phải là xung đột bi kịch Bi kịch xảy ra khi mà nhiệm vụ Hămlet đặt ra cho mình quá cao đẹp: Chàng muốn mang lại cho nhân loại khổ đau đang rên xiết dưới gông cùm, xiềng xích có được tự do Muốn xây dựng lại xã hội mà anh đang sống cho nó
“ngay ngắn vững vàng hơn” Dẹp yên mọi nỗi bất bình trong khi bản thân
Trang 3125
chàng lại rơi vào tình huống cô độc và có nguy cơ bị tiêu diệt Chàng nhìn ra được bi kịch của xã hội nhưng lại chưa tìm được con đường xây dựng xã hội mới Uớc muốn của chàng đã đi trước quá xa lịch sử Lịch sử chưa sẵn sàng tiếp nhận cái lí tưởng mà Hămlet đấu tranh cho nó Lí tưởng của Hămlet là một yêu cầu tất yếu của con người nhưng thời đại của chàng – thời đại Phục Hưng, chưa có khả năng thực tế thực hiện yêu cầu đó Có thể nói Hămlet là sản phẩm của hoàn cảnh Chính những điều kiện lịch sử xã hội thời đại Phục Hưng đã sinh ra tấn bi kịch Hămlet Đó là thời đại sụp đổ của những quan hệ gia trưởng cũng là thời đại bắt đầu hình thành chủ nghĩa tư bản, nhân loại chuyển qua một kỉ nguyên thống trị của những thế lực mới, trong đó có không biết bao nhiêu là sự đểu cáng, tráo trở Chính điều kiện lịch sử cụ thể này đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa tư tưởng và hành động, giữa sự hiểu biết thế giới sâu sắc với khả năng tiến hành những hành động có thể làm thay đổi trật tự hiện hành
Tóm lại, xung đột bi kịch của Hămlet, theo cách nói của Goethe chính là
“Một sự nghiệp quá lớn đặt trên một đôi vai quá yếu” Hay G Biêlinxkin- nhà phê bình văn học Nga khi giải thích về hiện tượng Hămlet đã khẳng định
rằng:“Hămlet là một hiệp sĩ, là đại diện đẳng cấp cao nhất thời trung cổ
Chàng có cả một bầu máu nóng sôi sục hành động, xã hội Đan Mạch đang dần trở thành một nhà tù đè bẹp anh, giết chết anh Và như vậy, sự thất bại của Hămlet là một yếu tố khách quan không còn nghi ngờ gì”
2.2 Bi kịch của một cá nhân cô đơn
Một trong những bi kịch mà cả hai nhân vật chính của Nguyễn Huy Tưởng và Sêcxpia đều gặp phải đó chính là sự cô đơn
Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng có thể coi là câu chuyện về người
nghệ sĩ đi tìm kiếm người thấu hiểu được mình và thấu cảm những sáng tạo của mình Vũ Như Tô – người kiến trúc sư tài năng nổi tiếng khắp kinh
Trang 32cho thấy tâm lí của Như Tô đó là:sự cô độc Ông luôn cảm thấy không ai có
thể hiểu được mình và các sản phẩm của mình Khi mới gặp Đan Thiềm,Vũ
Như Tô đã khẳng định:“Hỏi chuyện tôi! Để làm gì? Các ngươi không thể nào
hiểu nổi chuyện tôi, các ngươi nông nổi” Hay chính Thị Nhiên – vợ của Vũ
Như Tô, đáng nhẽ ra phải là người đồng hành về cả linh hồn lẫn thể xác cùng chồng mình thì thị lại chẳng thể hiểu được đam mê và khao khát của chồng
“Lâu thế thì làm thế nào được Tôi tưởng một tháng, cùng lắm là ba bốn
tháng Cứ làm vừa vừa có được không? To hơn đình làng ta cũng đã đẹp chán” Thế mới nói, để tìm được người thấu hiểu và đồng cảm với mình, lúc
này với Vũ thật khó khăn và xa vời Vũ luôn cảm thấy không ai hiểu được ông Suy nghĩ đó khiến cho Vũ Như Tô dù đến tuổi ngoại tứ tuần vẫn không tạo ra được bất kì thứ gì như ý ông muốn Những sản phẩm được dân tình tung hô, đối với Như Tô vẫn chỉ ở mức trung bình Nhưng nếu không có người thưởng thức thì còn sáng tạo để làm gì? Tâm lí ấy của Vũ Như Tô cũng
là tâm lí chung của rất nhiều người nghệ sĩ có tài, nhận thức được rõ ràng tài năng của bản thân, từ đó họ tự cách ly bản thân mình với xung quanh, chủ động không sáng tạo cho những kẻ không đủ khả năng hiểu được sản phẩm sáng tạo là gì Quyết định của Như Tô chỉ có sự thay đổi khi ông gặp và nghe người cung nữ Đan Thiềm khuyên nhủ
Trang 3327
Vũ Như Tô: - Cung nữ đều tuồng ăn chơi Huống chi trông mắt quầng
thế kia, tôi đoán chắc là người trong túy hương mộng cảnh
Đan Thiềm: - Ông nhầm lẫn Đôi mắt thâm quầng này là do những lúc
thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét
Vũ Như Tô: - Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh
Đan Thiềm: - Chính là một người đồng bệnh Nên chưa biết ông, tôi đã
ái ngại cho ông.Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc lụy người
Vũ Như Tô: - Thực mang tội với bà Xin cho nghe chuyện
Đan Thiềm vì mến mộ cái tài của Như Tô, đã giãi tỏ lòng mình, một vì muốn đứng về phía Vũ và cũng như một tia hi vọng, ngọn lửa ủng hộ Vũ thực hiện khát vọng của người nghệ sĩ Khoảng cách giữa Vũ Như Tô với Đan Thiềm vì thế mà được xóa bỏ Nàng đã khuyên ông hãy chấp nhận nghe theo lệnh vua để xây Cửu Trùng Đài Thực chất, Đan Thiềm không hề bảo Vũ Như
Tô xây đài phục vụ vua mà thuyết phục ông hãy sáng tạo một công trình có thể khiến hậu thế thán phục, một công trình hãnh diện cùng nghìn thu Lời nói của Đan Thiềm vốn không phải một lời khuyên nhủ bình thường, mà nó reo rắc vào lòng người kiến trúc sư một nguồn hi vọng Xây dựng một công trình
có thể lưu lại đến muôn đời, chẳng phải là đang manh nha ước muốn sẽ có ai
đó ở thế hệ sau có thể chiêm ngưỡng và thấu hiểu được mình hay sao? Đan Thiềm nói trúng ý Như Tô, lại ủng hộ Như Tô Sự xuất hiện của nàng không những thay đổi quyết định mà còn thay đổi cả cuộc đời phía sau của người thợ Cả Người ta nói Vũ thiếu nhãn quan chính trị, chỉ biết chăm chăm đến một thứ nghệ thuật ích kỉ của riêng mình Không thế phủ nhận điều đó Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của người nghệ sĩ đã có nửa đời cô độc ấy thì mọi chuyện sẽ khác Khi người đánh đàn tìm ra kẻ tri âm, khi Vũ Như Tô tìm thấy tri kỉ, liệu ông có còn cần quan tâm đến những kẻ xa lạ vây quanh? Liệu ông có còn cần lo lắng cho “muôn dân” – những người mới phút trước còn
Trang 34kì công muôn thuở” Nhưng đáp lại những lời đề nghị tha thiết, đầy chân thành ấy lại là những tràng cười ầm lên, là những lời xỉ vả và những cái tát vào miệng Vũ Như Tô của quân khởi loạn Ở đây, không chỉ còn là vấn đề bị
cô lập, không được ai thấu hiểu nữa mà dường như cái đẹp đã bị tước đi quyền thanh minh cho chính bản thân mình
Giống như Vũ Như Tô, bi kịch của Hămlet là một bi kịch tất yếu và chính tính cách của chàng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bi kịch bản thân Một nét khá đậm trong tính cách Hămlet là cô độc Nếu như Vũ Như Tô còn tìm được một tri kỉ để giãi bày tâm sự, có Đan Thiềm như một người “đồng bệnh”, là điểm tựa, nguồn hi vọng để Vũ thực hiện khát vọng nghệ sĩ của mình thì Hămlet không được may mắn như vậy Chàng đơn độc trong suốt cuộc chiến đấu Mở đầu tác phẩm, Hămlet hiện lên là một hoàng
tử, chàng thuộc về đẳng cấp cao nhất của xã hội quý tộc Nhưng nhờ được giáo dục và dạy dỗ trong trường đại học, Hămlet còn là đại diện tiêu biểu cho lớp người tiên tiến của thời đại Phục Hưng, đầu óc thấm đẫm tinh thần nhân văn Hămlet chia sẻ niềm vui với nhân loại vừa thoát khỏi ngục tù của chế độ Trung cổ Trước mắt chàng là cả một viễn cảnh huy hoàng, con người trở
Trang 3529
thành trung tâm của vũ trụ, ngày càng hoàn thiện và rạng rỡ Hămlet nhìn đời bằng đôi mắt tràn đầy sự lạc quan, tin tưởng Nhưng khi trở về Đan Mạch, chàng phải chạm trán ngay với một thực tại phũ phàng Đâu đâu cũng là cảnh rượu chè thô bỉ Cuộc đời quá ư ô trọc Chàng vô cùng kinh hoàng và thất vọng trước sự dối trá, thói giả nhân giả nghĩa nghiễm nhiên ngự trị khắp hoàng cung Cái gì cũng khiến chàng thất vọng Chàng thất vọng trước cuộc hôn nhân quá vội vàng của mẹ Rồi những kẻ từng là bạn của chàng thuở ấu thơ, nay trở thành lũ tay sai chuyên rình mò, nghe lỏm Điều này khiến chàng trở nên lạc lõng giữa cả thế giới xấu xa
Va đập nặng nề với cuộc đời đầy rẫy sự lừa dối và ám muội, Hămlet tan
vỡ lí tưởng nhân văn mà mình hằng ấp ủ xây dựng Nói như Aristote trong
cuốn “Nghệ thuật thơ ca”:“Bi kịch là sự miêu tả những con người tốt, nên ta
cần phải bắt chước những họa sĩ vẽ chân dung giỏi: tức là khi họ vẽ một người nào đó, thì đồng thời với việc làm cho các bức chân dung giống người được vẽ, họ còn vẽ người đó thành người đẹp hơn thực Nhà thơ cũng vậy, khi
tả những người cáu kỉnh, nhẹ dạ, hoặc những kẻ có cá tính tương tự thì nhà thơ cần phải miêu tả họ thành những con người cao thượng”. Sau cái chết của vua cha, Hămlet bị ném ra bên lề cuộc đời Chàng trở nên bi quan, hoài nghi, lại thường trầm tư và độc thoại Mặc cho những kẻ trong cuộc mời mọc, hứa hẹn nhưng chàng hiểu rõ mình không thuộc thế giới của họ Cuộc chơi của những kết cánh, độc ác, lọc lừa, thủ đoạn…không phải là cuộc chơi của Hămlet Chàng muốn tìm, muốn trông thấy thế giới khác Hămlet vô cùng đau khổ khi phải sống trong sự hoài nghi cô đơn trước một xã hội bất thường đang
bị che giấu Cha chết, nỗi đau bất hạnh còn chưa hết thì mẹ lấy chồng không một câu an ủi Lấy ai? Lấy chú ruột của chàng:“Gót dày đưa tang chưa kịp
mòn đã vội leo lên giường cưới” Chàng hoàng tử trở nên đơn thân độc mã và
gánh lấy một trọng trách nặng nề là phải tìm ra nguyên nhân cái chết của cha