Vì thế đề tài mà tôi muốn nghiên cứu ở đây đó là những vấn đề liên quan đến tư tưởng Nho giáo được thể hiện trong tác phẩm, để phần nào thấy được tài năng của tác giả và giá trị... Sau đ
Trang 1TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM NHỊ ĐỘ MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM NHỊ ĐỘ MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS Nguyễn Thị Hải Vân
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận và được phép bảo vệ với đề tài “Tư tưởng
Nho giáo trong truyện thơ Nôm Nhị độ mai” Tôi xin chân thành cảm ơn các
thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và đặc biệt cảm ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS Nguyễn Thị Hải Vân đã tận tình và chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Vì điều kiện thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy
cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 24 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Tâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo – ThS Nguyễn Thị Hải Vân Tôi xin cam đoan rằng:
- Đề tài này là kết quả nghiên cứu, tìm hiểu của riêng tôi
- Những tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong đề tài này là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng với bất cứ công trình nghiên cứu của tác giả nào trước đó đã được công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 24 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO KHI ĐẾN VIỆT NAM 8
1.1 Những vấn đề cơ bản của tư tưởng Nho giáo 8
1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của Nho giáo ở Trung Quốc 8
1.1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo 11
1.2 Sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo qua các thời kỳ ở Việt Nam 13
1.2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam 13
1.2.2 Sự phát triển của Nho giáo qua các thời kỳ ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2:TRUYỆN THƠ NÔM NHỊ ĐỘ MAI VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO 32
2.1 Khái lược về truyện thơ Nôm Nhị độ mai 32
2.1.1 Khái niệm về truyện thơ Nôm 32
2.1.2 Giới thiệu về truyện thơ Nôm Nhị độ mai 33
2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong truyện thơ Nôm Nhị độ mai 38
2.2.1 Tư tưởng thiên mệnh và quy luật vạn vật tuần hoàn 38
Trang 62.2.2 Nêu cao tấm gương trung hiếu tiết nghĩa của Nho giáo 42 2.2.3 Quan niệm về chữ Tâm và “đức năng thắng số” 47
KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7
1
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng truyện thơ Nôm của dân tộc, có thể nói sau Truyện
Kiều và Lục Vân Tiên, Nhị độ mai 二度梅 là tác phẩm được quảng đại quần
chúng yêu thích và được phổ biến rộng rãi và là một trong những truyện kể Nôm quen thuộc trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam Về
nguồn gốc thì Truyện Nhị độ mai được diễn ca, diễn dịch, cải dịch Nôm từ một tiểu thuyết của Trung Quốc có tên là Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai
Và sau đó được sao chép, in ấn, truyền bản nhiều lần bằng chữ Nôm
Nhị độ mai là tác phẩm quen thuộc và được đông đảo quần chúng yêu
mến, không chỉ bởi văn từ tao nhã, lời lẽ êm ái, mà còn bởi truyện thơ Nôm
Nhị độ mai là một tác phẩm tiêu biểu và đặc trưng cho tư tưởng Nho giáo Có
người đã từng cho rằng “nếu kể một truyện đủ cả trung hiếu tiết nghĩa thì
không truyện nào đủ được thế bao giờ”
Nho giáo là một tôn giáo lớn, có ảnh hưởng hầu hết đến các nước ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc trong đó có Việt Nam Ở nước ta, Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn vong của các triều đại phong kiến, cũng chính bởi điều đó mà Nho giáo không chỉ ảnh hưởng đến chính trị, giáo dục mà còn ảnh hưởng đến văn học
Tuy lấy cốt truyện từ tiểu thuyết của Trung Quốc nhưng truyện thơ
Nôm Nhị độ mai lại có những sáng tạo riêng phù hợp với văn hóa và con
người Việt Nam Tác phẩm ra đời và tồn tại sau nhiều thế kỉ và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân nhưng để có những nghiên cứu chuyên sâu về những khía cạnh riêng biệt ắt hẳn vẫn còn hạn chế Vì thế đề tài mà tôi muốn nghiên cứu ở đây đó là những vấn đề liên quan đến tư tưởng Nho giáo được thể hiện trong tác phẩm, để phần nào thấy được tài năng của tác giả và giá trị
Trang 82
của tác phẩm trong kho tàng truyện thơ Nôm nói riêng và văn học cổ Việt
Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, nghiên cứu về truyện thơ Nôm Nhị độ mai chủ yếu là nghiên cứu về Nhị độ mai diễn ca vì chỉ có tác phẩm Nhị độ mai diễn ca đã được phiên ra Quốc ngữ và giới thiệu đến đông đảo bạn đọc với tên gọi Nhị
độ mai, truyện Nhị độ mai, Nhị độ mai vãn, Mai Lương Ngọc, Hạnh Nguyên cống Hồ Người ta cũng mới chỉ bàn về giá trị của truyện thơ Nôm này mà
hầu như chưa bàn tới những truyện Nôm Nhị độ mai khác của các tác giả khác Tiếp nhận truyện thơ Nôm Nhị độ mai cũng có những thay đổi theo thời
gian:
Đã từng có một sự tranh luận khi bàn về giá trị của truyện thơ Nôm Nhị
độ mai Trong tạp chí Nghiên cứu Văn Sử Địa số 11 năm 1955, Văn Tân có
bài viết “Thử tìm hiểu ý nghĩa và giá trị Nhị độ mai” Trong bài viết này, ông khẳng định: “Xã hội trong Nhị độ mai không phải là một trạng thái nào dưới
nhà Đường Chuyện đời nhà Đường chỉ là chuyện tác giả mượn để tả một trạng thái nào đó của xã hội Việt Nam hồi thế kỷ XIX” [9], ông cho rằng
Châu Dương trong Nhị độ mai tức là Hà Nội của Việt Nam vào hồi thế kỷ
XVII và thế kỷ XVIII Sau đó, trong tạp chí Văn Sử Địa số 20 năm 1956,
Trương Chính lại có bài viết “Xung quanh cuốn Nhị độ mai”, Trương Chính
không đồng ý với ý kiến của Văn Tân, ông đưa ra bằng chứng để chứng minh
hiện thực xã hội trong Nhị độ mai chính là hiện thực xã hội Trung Quốc thời
nhà Đường, ông coi cách nhìn của Văn Tân là phiến diện: “Những tác phẩm
đó không những lấy đề tài ở một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó của Trung Quốc, mà lại còn phỏng theo những tiểu thuyết của Trung Quốc nữa Cho nên thời đại được phản ánh trong đó không phải nhất nhất giống thời đại đương thời của các nhà thơ Việt Nam chúng ta” [2] Tuy rằng ý kiến của Trương
Trang 93
Chính phản đối Văn Tân, nhưng qua đây ta có thể thấy cả hai tác giả đều đã
thừa nhận giá trị hiện thực của truyện thơ Nôm Nhị độ mai
Trong phần giới thiệu về tác phẩm truyện thơ Nôm Nhị độ mai, đồng
tác giả Lê Trí Viễn – Hoàng Ngọc Phách đã đưa ra những dẫn chứng để
chứng minh “Truyện thơ Nôm Nhị độ mai theo sát tiểu thuyết Hán văn của
Trung Quốc nhưng có giá trị là một sáng tác độc lập” Cuốn sách của hai tác giả này xuất bản vào năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân
cả nước đang dâng cao Khi đánh giá về tác phẩm, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa chống cường quyền: “Chừng nào trên đời còn những quân phi
nghĩa, những lũ cậy thế bức người, truyện Nhị độ mai sẽ còn thét vào mặt
chúng nó những lời nguyền rủa đích đáng” Người viết còn nhấn mạnh: “Tác
giả Nhị độ mai không những đã nhìn thấy đạo đức cao quý ở nhân dân mà còn
hé thấy được lực lượng của quần chúng nữa” [12]
Trong lời giới thiệu về truyện thơ Nôm Nhị độ mai (Nxb Đại học &
Trung học chuyên nghiệp, H 1988) tác giả Nguyễn Thạch Giang đã khẳng
định tác phẩm đưa ta trở về với những giá trị truyền thống bền vững: “Nhị độ
mai cũng như các truyện thơ Nôm khác, trong thời buổi ngày nay, bên cạnh
hàng ngàn vạn lý thuyết xã hội học màu mè hiện đại đi sâu vào ngõ ngách tri
thức của con người được du nhập, truyện diễn ca Nhị độ mai như một thứ đồ
cổ, một bông hoa ngàn, hay như một cô thôn nữ chất phác không phấn son,…Hàng ngàn vạn lý thuyết kia có thể làm ta chìm đắm, làm ngợp mắt ta
và làm ta lạc hướng, và rồi không còn biết phương nào mà theo về nữa cả Trong khi đó thì món đồ cổ kia sẽ hướng cho ta trở lại với cội nguồn, làm cho
ta nhận ra ta với ý thức mạnh mẽ rằng ta có thể trường chinh sánh bước trên con đường đi lên của lịch sử, thì bông hoa ngàn kia sẽ cho ta một lòng tin, một niềm an ủi về quá khứ của dân tộc, về tiềm lực sức sống và giá trị của mình Và, cuối cùng thì cô thôn nữ kia sẽ đưa ta về trong lòng mẹ, lòng bà đã
Trang 104
cưu mang, nâng niu chúng ta từ buổi trứng nước và đã từng dạy bảo cho ta những bài học đạo lý từ hạt cơm rơi trong bữa ăn mẹ bắt nhặt lại, từ trong câu chuyện thân mật gia đình, và từ trong những buổi đứng vòng tay hầu chuyện khách, và rồi quan trọng hơn là từ trong những tiếng à ơi qua lời ru của mẹ buổi ấu thơ”[14]
Trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (Trung tâm học liệu xuất bản
Bản in lần thứ 9, Sài Gòn, 1968) giáo sư Dương Quảng Hàm đã chỉ ra cả cái
hay và mặt hạn chế của tác phẩm: “Nhị độ mai là một cuốn luân lý tiểu thuyết
chủ ý khuyên người ta nên theo luân thường, nên giữ trọn những điều trung, hiếu, tiết, nghĩa Trong truyện, bày ra một bên là những vai trung chính, dù gặp hoạn nạn cũng không đổi lòng, sau được vẻ vang sung sướng; một bên là những vai gian ác tuy được đắc chí một thời, sau cũng phải bị tội vạ, khổ sở,
để tỏ cho người đời nhận biết cái lẽ báo ứng của trời Cốt truyện là những nỗi gian truân của hai gia đình, họ Mai và họ Trần Nhưng kết cấu câu chuyện hơi vụng , và tình tiết trong truyện nhiều chỗ phiền toái, rối ren Lời văn truyện này bình thường, giản dị, ai xem cũng hiểu Vả lại, câu chuyện hoàn
toàn có tính cách luân lý, nên rất được phổ cập trong dân chúng” [3]
Càng về sau, truyện thơ Nôm Nhị độ mai càng được tiếp cận ở góc độ
thi pháp thể loại Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Chi (mục từ "Nhị độ
mai" trong Từ điển văn học bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới, 2004) : “Nội dung
Nhị độ mai là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng chính nghĩa và phi
nghĩa trong xã hội phong kiến Tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội phong kiến trên bước đường suy vong của nó: trong triều vua không lo việc nước để gian thần lộng hành giết hại những trung thần, nên ngoài thì giặc giã luôn đe dọa, đời sống nhân dân cơ cực, bị ức hiếp và chà đạp Tác phẩm cũng thể hiện sâu sắc thái độ và nguyện vọng của người dân lao động lúc bấy giờ: đứng về phía chính nghĩa mà căm ghét phe gian tà hại dân phản nước; luôn mong ước
Trang 115
cho người ngay, người tốt được hưởng hạnh phúc, kẻ gian ác phải bị trừng trị
nghiêm minh Vì vậy, tuy ít nhiều còn nhuốm màu sắc phong kiến, truyện Nhị
độ mai cũng đã thấm nhuần tư tưởng nhân đạo tiến bộ Tác phẩm là câu
chuyện có nhiều tình tiết, kết cấu không đơn điệu, mặc dù đôi khi tác giả đã quá lạm dụng các tình tiết khiến mạch truyện thiếu phần chặt chẽ và tự nhiên Nhân vật tuy chưa được chú ý nhiều về đời sống nội tâm, nhưng một số cá tính cũng đã được khắc họa tương đối đạt Ngôn ngữ thơ nhìn chung là giản
dị, trong sáng, có dùng chữ Hán, điển cố song liều lượng vừa phải và nhuần
nhị Sau Truyện Kiều và Lục Vân Tiên, Nhị độ mai là tác phẩm được quảng
đại quần chúng yêu thích và được phổ biến rộng rãi” [1]
Như vậy, tuy đã có những đánh giá khái quát về giá trị nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của tác phẩm nhưng riêng về vấn đề ảnh hưởng của
tư tưởng Nho giáo trong tác phẩm thì chưa có công trình riêng biệt nào đề cập đến Đây vẫn là vấn đề còn nhiều khía cạnh cần khai thác mà chúng tôi sẽ
trình bày trong khóa luận này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tìm hiểu khái quát về tư tưởng Nho giáo, Nho giáo ở Việt Nam, qua đó khai thác các khía cạnh của tư tưởng Nho giáo được thể hiện qua
truyện thơ Nôm Nhị độ mai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những những vấn đề cơ bản của nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam
- Những vấn đề về văn bản, tác giả, nội dung tư tưởng và hình thức
nghệ thuật của truyện thơ Nôm Nhị độ mai
- Đi sâu nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo được thể
hiện trong tác phẩm truyện thơ Nôm Nhị độ mai
Trang 126
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Truyện thơ Nôm Nhị độ mai do Lê Trí Viễn – Hoàng Ngọc Phách khảo
đính, giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, năm 1972
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi phạm vi chủ yếu xoay quanh vấn đề ảnh hưởng
của tư tưởng Nho giáo trong truyện thơ Nôm Nhị độ mai Liên quan đến phạm
vi đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi tư liệu chủ yếu là các vấn đề liên
quan đến Nho giáo, Nho giáo ở Việt Nam và truyện thơ Nôm Nhị độ mai
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề trên, trong khóa luận chúng tôi sẽ sử dụng những phương pháp sau đây:
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp được vận dụng
nhằm xác lập hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai
- Phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm so sánh tư tưởng Nho giáo
trong tiểu thuyết Nhị độ mai của Trung Quốc và truyện thơ Nôm Nhị độ mai
của Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử trong nghiên cứu văn học thời Trung Đại qua các thời kỳ gắn liền với quá trình ra đời của các tác phẩm diễn
Nôm Nhị độ mai
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành được vận dụng để nghiên cứu hệ
thống văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai ở các khía cạnh văn học, ngôn
ngữ,
6 Đóng góp của đề tài
Lần đầu tiên tác phẩm truyện Nôm Nhị độ mai được tìm hiểu, khai
thác trên khía cạnh các ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, so sánh tư tưởng
Nho giáo ở bản diễn Nôm này so với tiểu thuyết chữ Hán Trung hiếu tiết
Trang 137
nghĩa Nhị độ mai của Trung Quốc Qua đó tìm hiểu giá trị đặc sắc của tác
phẩm và khẳng định vai trò, vị trí của truyện thơ Nôm này trong kho tàng văn học chữ Nôm và trong nền văn học Việt Nam nói chung
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của bài khóa luận gồm 2 chương sau:
Chương 1: Những nội dung cơ bản của Nho giáo và tư tưởng Nho giáo khi đến Việt Nam
Chương 2: Truyện thơ Nôm Nhị độ mai và những ảnh hưởng của tư
tưởng Nho giáo
Trang 14
8
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
VÀ TƯ TƯỞNG NHO GIÁO KHI ĐẾN VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề cơ bản của tư tưởng Nho giáo
1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của Nho giáo ở Trung Quốc
Nói đến Trung Quốc người ta nghĩ đến ngay quốc gia có nhiều nền văn hóa đặc sắc và triết học cổ xưa rực rỡ Một trong những tư tưởng triết học có tầm ảnh hưởng nhất mọi thời đại và có giá trị to lớn về vấn đề luân lí, đạo đức, chính trị- xã hội là những tư tưởng triết học của Nho giáo
Sự ra đời và phát triển của Nho giáo gắn liền với quá trình thịnh suy của các triều đại phong kiến Cách đây hơn 2500 năm, các học trò của nhà tư tưởng và triết học Khổng Tử đã cố gắng tìm tòi ghi lại những mảnh rời rạc của từng câu chuyện về cuộc đời và lời dạy của ông Những ghi chép phần lớn dựa trên những bài thuyết giảng, sau này được tổng hợp thành sách Luận Ngữ Đến đời hoàng đế Vũ của nhà Hán loại bỏ một trăm trường phái triết học khác để ủng hộ Khổng Tử, thực chất là biến đất nước Trung Hoa thành một nhà nước Khổng giáo Cách đây hơn một ngàn năm, Vương Án Thạch –
tể tướng đầu tiên của nhà Tống tự hào cho rằng ông có thể điều hành được thế giới này chỉ với một nửa cuốn Luận Ngữ
Nhắc đến Nho giáo chắc chắn không thể không nhắc tới người sáng lập
là Khổng Tử Tuy Nho giáo đã được hình thành tư trước nhưng phải đến thời của Khổng Tử mới vào quy củ Ông sinh vào khoảng những năm 551 trước Công Nguyên và mất năm 497 trước Công nguyên Quê ở thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ở thời của ông, luật pháp của nhà Chu bị đảo lộn, đạo lí suy đồi nghiêm trọng Vì muốn giúp Vua và giúp dân, ông đã mang tài năng trí lực của mình để giúp đỡ với mong muốn có thể thay đổi
Trang 159
được vận mệnh đất nước Tuy nhiên với những cố gắng đó Khổng Tử lại không được vua nước Lỗ trọng dụng, sau đó ông đã quyết định đi đến các nước chư hầu với ước mong có thể đem tư tưởng của mình, trí lớn của mình
để cải tạo đất nước, giúp dân cứu đời nhưng mọi cố gắng của ông đều đổ xuống sông xuống bể Sau những tháng ngày dòng dã với lí tưởng tuy không được như mong muốn nhưng ông cũng đã biên soạn và dạy cho các môn đệ của mình Lục Nghệ gồm : Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu Môn đệ của ông có tới hơn 3.000 người, trong đó có
72 người tinh thông lục nghệ đã san định ra được Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh
Lễ, và biên soạn thành công cuốn Xuân Thu Trong cuộc đời dạy học của mình, những gì Khổng Tử dạy đã được các học trò của ông ghi lại và tập hợp trong cuốn “ Luận Ngữ”
Nếu Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo thì kế tiếp ông chính là Mạnh Tử Ông sinh ngày mồng 2 tháng tư đời vua Chu Liệt Vương( 372 trước Tây Lịch) và mất vào ngày 15 tháng 11 đời vua Chu Noãn Vương( 289 trước Tây lịch) Vào thời Chiến quốc, Mạnh Tử là người đã ra sức bảo vệ Nho giáo, là người tôn sùng vương đạo, tôn sùng nhân nghĩa, khinh bỉ bá đạo và đặc biệt là thói mưu lợi Nếu thầy Khổng Tử là người đề cập đến các vấn đề chính trị-xã hội thì Mạnh Tử lại là người đề cập đến những vấn đề này nhiều hơn thầy của mình bởi những đòi hỏi của xã hội lúc bấy giờ Sau những cuộc biện luận ông đã tập hợp thành một tập sách có tên là “ bảy thiên” Mạnh Tử cùng với Luận ngữ, Đại học và Trung dung tập hợp thành bộ Tứ thư kết hợp với Ngũ kinh đã trở thành tài liệu chính thức của Nho giáo
Đến thời Đông Chu Đây là giai đoạn xã hội đầy phức tạp Xét trên thực tế, Nho giáo không thể nào có thể giải quyết toàn bộ các vấn đề phức tạp xảy ra ở trong xã hội Các tệ nạn diễn ra thường xuyên, xã hội rối ren loạn lạc Lúc này Tần Doanh Chính là người đã thống nhất toàn bội Trung Hoa và
Trang 1610
xưng đế Vị trí của Nho giáo trong xã hội giống như một thứ vũ khí tinh thần
để bảo vệ thể chế và nề nếp cho nhà Chu tuy nhiên lúc này nhà Chu cũng chịu sự chèn ép đến từ nhiều thế lực đang lên Tần Doanh Chính đã ra chủ chương chôn nhà Nho, đốt sách khiến Nho giáo phải khốn đốn trăm bề Trước những chính sách tàn độc của nhà Tần, nhân dân đã nổi dậy, nhiều người không thể chấp nhận được cách hành xử của Hoàng đế, đặc biệt nhà Tần đã phải chịu sự lên án từ các thế lực đại biểu cho xu thế mới của xã hội Với những nỗ lực như thế, Nho giáo dần được lấy lại ưu thế của mình và trở thành vũ khí đắc lực về mặt tinh thần cho nhà Hán
Đến triều đại nhà Hán, Nho giáo cũng trải qua nhiều biến động Vào giai đoạn này, nổi trội lên một nhân vật có tên là Đổng Trọng Thư Ông là người đã dày công nghiên cứu và bổ sung thêm vào cho thuyết Khổng – Mạnh trong phần nói về trời đất, quỷ thần, âm dương, ngũ hành Đây là các vấn đề mà các bậc tiền bối đi trước đều cố né tránh không muốn nhắc đến hoặc chỉ nói sơ qua Thuyết của Đổng Trọng Thư khi bổ sung cho thuyết của Khổng – Mạnh đã làm cho quân quyền và thần quyền được kết hợp chặt chẽ với nhau hơn
Bắt đầu từ thế kỉ thứ XVI trở đi Trung Quốc bắt đầu du nhập và chịu ảnh hưởng rất nhiều từ văn hóa phương Tây, với nhiều học thuyết mới được
du nhập và nhiều tư tưởng mới được hình thành Nho giáo lúc này lại không thể giải quyết được các vấn đề mới được phát sinh trong xã hội như các triết lí của các nhà tư tưởng dân chủ, giao lưu văn hóa Đông- Tây …Chính thực tế cuộc sống đã khiến cho các nhà Nho, những người không ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia nảy sinh ra nhiều vấn đề cần phải băn khoăn và trăn trở Đến cuối đời nhà Thanh một số những nhân vật tiêu biểu có tiếng nói trong xã hội như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã tiếp thu được những tư tưởng ở phương Tây về “dân chủ”, “tự do” và “bình đẳng” Họ cũng muốn xây dựng
Trang 171.1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo
Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo được trình bày qua các yếu tố sau:
Tu thân
Khổng Tử đã đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ
đức… để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội
Nội dung thứ nhất phải kể đến là Tam cương
Tam cương là chỉ ba mối quan hệ giữa con người với nhau đó là mối
quan hệ giữa quân- thần, phu- tử và giữa phu – phụ Các mối quan hệ này
biểu hiện như sau:
Mối quan hệ giữa quân – thần(vua – tôi): trong quan hệ này coi trọng nhất là chữ Trung tức người bề tôi phải một lòng một dạ với vị vua mà họ đang phò giúp, đấng minh quân phải thưởng phạt công minh rõ ràng
Mối quan hệ phu- tử (cha-con): trong mối quan hệ này chữ Hiếu được đặt lên trên đầu Tức cha hiếu con cũng hiếu Người làm cha có nghĩa vụ nuôi dậy con cái và ngược lại người con phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ khi họ đã về già Mối quan hệ này đến nay vẫn còn được coi trọng
Mối quan hệ phu- phụ( vợ-chồng) : đây là quan hệ giữa vợ với chồng, coi trọng nhất chữ Trinh Chồng phải yêu thương vợ còn vợ phải giữ một lòng chung thủy với chồng
Trang 1812
Nội dung thứ hai là Ngũ thường
Ngũ thường là năm điều cần phải có khi sống ở đời đó là : Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Nhân tức là lòng yêu thương giữa người với người và với muôn vật Nghĩa là sự công bằng bác ái với mọi người theo lẽ phải
Lễ là sự coi trọng, đối xử với nhau trong cuộc sống
Trí là sự thông biết, phân biệt đúng, sai,thiện, ác
Tín là giữ đúng lời hứa
Nội dung thứ ba là Tam tòng
Đây là ba điều mà người phụ nữ phải theo gồm:
Tại gia tòng phụ tức là khi ở nhà thì phải theo cha
Xuất giá tòng phu là khi đi lấy chồng phải theo chồng,
Phu tử tòng tử là khi chồng có mất đi thì phải theo con, giữ trinh tiết của mình thờ chồng, không được đi lấy người chồng khác.Vì thế người phụ
nữ phải giữ được ba điều đó
Thứ tư phải kể đến trong nội dung cơ bản của Nho giáo là Tứ đức
Tứ đức chính là bốn đức tính tốt mà người phụ nữ phải có: Công, dung,
ngôn, hạnh
Công là người phụ nữ phải thật khéo léo trong công việc thường ngày
Dung là dung nhan phải ưa nhìn, hòa nhã về nhan sắc
Ngôn là lời nói phải nhẹ nhàng, mềm mại, không được nói to, cười lớn
Hạnh là tính cách phải nhu mì, hiền hậu
Như vậy, Nho giáo dạy con người trong Tu thân nếu sinh là nam nhi phải đạt được Tam cương còn là phận nữ nhi thi phải đạt được Tam tòng và
Tứ đức mới được coi là toàn diện
Hành đạo
Trang 1913
Người công tử không chỉ dừng lại ở tu thân, mà còn phải đem những gì mình biết ra để giúp vua trị nước và Nho giáo gọi đó là hành đạo Nội dung của nó được tóm gọn trong 7 chữ “ Tề gia trị quốc bình thiện hạ” Để thực hiện được người quân tử phải theo hướng sau:
Nhân trị tức là cai trị bằng tình người, là yêu và coi trọng người như
chính bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử trả lời: “Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” ông còn nói:
“người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?” ( sách Luận ngữ)
Chính danh là mọi sự vật phải được gọi đúng tên Mỗi người phải làm đúng với chức vụ của mình
Đó chính là những điều quan trọng nhất được thể hiện trong các kinh sách của Nho giáo
1.2 Sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo qua các thời kỳ ở Việt Nam
1.2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Nho giáo được truyền vào Việt Nam trước Công nguyên khi người Hán sang nước ta Việc truyền bá của Nho giáo bắt đầu đi vào quy củ và có sự ảnh hưởng từ thể kỷ I sau Công nguyên Trong sách sử của Việt Nam và sách
sử của Trung Quốc đều ghi lại rằng vào đầu Công nguyên có hai thái thú ở Giao Chỉ và Cửu Chân là Nhâm Diên và Tích Quang đã “dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa” Nhâm Diên được ca tụng là người thông minh,học rộng tài cao
về Nho học ngay từ khi còn rất nhỏ, ông hiểu rõ các vấn đề quan trọng nằm trong cuốn Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu
Đến thời nhà Vương Mãng, Giao Chỉ là nơi mà Nho giáo có điều kiện
để phát triển nên trong giai đoạn này các đại sĩ phu của Trung Quốc đã bỏ quê hương để sang Giao Chỉ rất đông Chính việc bỏ xứ như vậy đã giúp cho các
Trang 2014
thái thú trong việc tổ chức cát cứ và phổ biến Nho giáo Trên đà phát triển đó
mà học thuyết Nho giáo đến đời Hán Vũ Đế đã chiếm vị trí cao nhất
Sang thời Sĩ Nhiếp làm thái thú ở Giao Chỉ, Nho Giáo càng được phát triển rộng rãi đặc biệt là ở tầng lớp quý tộc Sĩ Nhiếp khi còn nhỏ du học ở kinh đô Lạc Dương, đỗ Hiếu Liêm, tiếp sau lại đỗ Mậu tài Là người hiểu rõ
và nắm bắt được các nội dung của sách Xuân Thu và sách Thượng Thư
Trong các sách của Nho giáo, kinh Xuân Thu đặc biệt được đề cao hơn
cả, sách này chủ chương tôn quân và đại thống nhất, nó rất phù hợp với chính sách thực dân của nhà Hán Các nhà Nho Trung Quốc thời bấy giờ không ít người đã theo Sĩ Nhiếp, cùng Sĩ Nhiếp phát triển và truyền bá Nho giáo ngày một rộng rãi ở khắp Giao Châu
Thời Sĩ Nhiếp( 187-226 sau Công Nguyên) là thời mà Nho giáo được truyền bá rộng rãi nhất, phát triển nhất ở nước ta nên sau này, ông được đề cao hơn cả và được tôn là Sĩ Vương và được gọi là “ Nam giao học tổ” tức ông tổ trong việc học của nước Nam
Sang đến đời Tôn Quyền( 222- 252 sau Công Nguyên), Ngu Phiên là người tinh thông về Nho giáo, tuy bị cảnh tù tội nhưng không bởi hoàn cảnh
mà ông ngừng giảng thuyết về Nho giáo Đặc biệt ông rất am hiểu về ý nghĩa
và chú giải được các sách của Lão Tử, sách Luận Ngữ, Quốc Ngữ Chính bởi
sự miệt mài và tài năng đó mà môn đồ theo ông thường có vài trăm người
Thời Đường ( 618- 907) , có hai anh em quê ở Cửu Chân (Thanh Hóa ) tên là Khương Công Phục và Khương Công Phụ đều đỗ tiến sĩ và đều làm quan ở Trung Quốc Không chỉ dừng lại ở con số là hai anh em mà cho đến cuối đời Đường con số các sĩ tử Việt Nam tham gia thi và làm quan ở Trung Quốc tương đối nhiều Chính vì vậy lại càng có cơ hội để du nhập Nho giáo
từ Trung Quốc sang Việt Nam
Trang 21- Tư tưởng triết học Nho giáo được thực thi một cách triệt để
Thuyết Thiên mệnh
Sau khi nhà Lý thay nhà Tiền Lê làm chủ đất nước, sự kiện này được coi là đã làm theo ý trời Sau khi lên làm vua, Lý Công Uẩn đã lấy niên hiệu cho mình là Thuận Thiên tức ý rằng, tất cả việc của mình làm, thực hiện đều
là làm theo ý trời Trong bài thơ nổi tiếng được coi là “ tuyên ngôn độc lập” của nước ta lần thứ nhất có câu:
“ Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư”
Câu thơ trên cũng thể hiện ý nghĩa tất cả mọi sự đều là tuân theo ý trời Vua Trần Thái Tông tuy không lấy niên hiệu ngay từ đầu như vua Lý
Công Uẩn nhưng sau đến năm 1232 cũng đổi niên hiệu là Thiên Ứng Chính
Bình ( nền bình trị ứng với mệnh trời) mà trước đó niên hiệu của ông là Kiến
Trung
- Quan điểm đạo đức của Nho giáo được thực hiện hiệu quả
Đạo đức mà Nho giáo đề cập đến chủ yếu được thể hiện trong Tam
cương và Ngũ thường
Thứ nhất Tam cương tức là chỉ ba mối quan hệ :
Quân- thần: mối quan hệ giữa đấng quân vương với quần thần của mình được thể hiện một chữ Trung
Phụ- tử: mối quan hệ giữa cha và con, và nó được thể hiện ở chữ Hiếu
Trang 22Trong Ngũ thường lại có hai chữ quan trọng hơn cả đó là Nhân và
Nghĩa Đề cao Trung – Hiếu là điều thường thấy ở Việt Nam Khi vua Lý
Thái Tông ( 1028 – 1052) mới lên ngôi đã tổ chức cho các quan thần của mình làm lễ tuyên thệ ở miếu Đồng Cổ ( nay thuộc Thụy Khuê- Hà Nội)
Lời thề có nội dung như sau: “ làm con bất hiếu, làm tôi bất trung xin
thần linh giết chết” lời thề này nghiêm trang tới mức quần thần xếp hàng và
uống máu để thề
Bởi sự long trọng như vậy mà đến năm 1227, vua Trần Thái Tông đã cho tổ chức lại nghi lễ tuyên thệ giống như vua Lý Thái Tổ đã làm trước đó Không chỉ trong công việc mà trong cuộc sống đời thường, từ vua cho đến quan đến thần dân đều cố gắng sống trọn tiêu chuẩn trung hiếu, nhân nghĩa
đó
Bên cạnh việc coi trọng chữ Trung và chữ Hiếu thì chữ Tiết cũng được
coi trọng không kém Cụ thể vào năm 1044, Lý Thái Tông lúc này đang đi đánh Chiêm Thành, vua Chiêm là Sạ Đấu bị chém ngay tại trận Sau khi bị giết vợ và tất cả cung nữ của Sạ Đấu đều bị bắt đặc biệt là những cung nữ múa giỏi điệu Tây thiên ( Ấn Độ ) Khi về đến Lỵ Nhân( Lý Nhân- Hà Nam) vua sai thị nữ Mị Ê là phi của Sạ Đấu sang hầu thuyền vua nhưng Mị Ê đã lấy chăn quấn vào mình và nhảy xuống sông để tự vẫn bảo toàn trinh tiết của mình Sau khi Mị Ê chết, vua Lý Thái Tông đã khen là người biết giữ trinh
tiết và phong cho là Hiệp Chính Hiệu Thiện phu nhân
Như vậy, thời Lý- Trần, ngoài trung, nghĩa thì trinh tiết rất được coi
trọng
Trang 2317
- Đường lối chính trị Nhân chính được thực thi hiệu quả
Nhìn chung các vua thời Lý thường rất nhân hậu trong việc trị nước của mình
Năm 1041, vua Lý Thái Tông đã sai tướng đánh Nùng Trí Cao đưa về kinh sư, sau khi bắt dược Nùng Trí Cao rồi, nhà vua đã vì thương tình cha là Tồn Phúc và anh trai là Trí Thông đã bị giết mà tha tội cho Nùng Trí Cao và còn cho tiếp tục giữ châu Quảng Nguyên như trước Đến năm 1055, năm này trời rét lạnh căm, vua Lý Thánh Tông vì lòng nhân từ mà đã đối xử tử tế với những tên tù nhân Hay sang đến năm 1062, vua Lý Thánh Tông lại ra lệnh khoan giảm việc xét xử
Không chỉ triều Lý mà triều Trần cũng thực hiện đường lối chính trị nhân nghĩa giống như các ông vua thời nhà Lý Nhiều ông vua đời Trần được đánh giá là những người có lòng nhân ái và đức độ
Vua Trần Thánh Tông được các nhà viết sử nhận xét là người có lòng nhân ái lớn, “ khoan nhân đại độ” ông là người nhân từ biết tôn trọng người hiền tài Vua Trần Nhân Tông được khen là “ Nhân từ… hòa nhã, cố kết lòng dân”… Đặc biệt giữa các anh em trong tông tộc thường tỏ ra rất đồng lòng ,
dù có hiềm khích cũng sẽ được giải quyết thấu tình
Đối với các quan lại thời Trần Thánh Tông, mỗi lần vua ban yến ở nội điện, các quan đều dự, đến khi say, mọi người đều đứng dậy, dang tay hát
Với nhân dân, theo lời của Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn thì nhà Trần đã biết dùng “ khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” Vì vậy, gặp năm đói kém, thì nhà nước phát thóc cho dân nghèo và miến giảm các thứ thuế Khi có giặc ngoại xâm thì nhà vua mời các bậc lão niên đến để hỏi dò ý kiến, kế sách đánh giặc Các việc làm đó đều thể hiện tư tưởng thân với dân
và coi trọng dân của Nho giáo
- Thi cử và chế độ giáo dục
Trang 2418
Quá trình phát triển của Nho giáo được thể hiện không chỉ ở Tam
Cương, Ngũ Thường mà còn được thể hiện ở một khía cạnh rất quan trọng đó
chính là chế độ giáo dục và thi cử Trước đó, khi Nho giáo chưa được truyền
bá vào nước ta, việc giáo dục chưa được phổ biến, chủ yếu tập trung ở tầng lớp quý tộc Nhưng từ khi Nho giáo bắt đầu truyền bá vào nước ta, giáo dục được phổ biến trong dân gian Nhưng cho đến trước thập kỉ 70 của thế kỉ XI,
ở nước ta vẫn chưa có một tổ chức nào cho việc thi cử và cho dến đời Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, sau khi mọi mặt đã dần đi vào ổn định, nhà Lý mới có điều kiện chú trọng tới việc thi cử
Vào năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu, cho đắp tượng Khổng
Tử, Chu Công và Tứ Phối, đề cao đạo học Cho vẽ hình thấp thập nhị hiền chính là 72 học trò ưu tú của Khổng tử Hoàng Thái tử Càn Đức được đưa đến đây để học tập
Đến năm 1075 nhà Lý lần đầu tiên mở khoa thi để tuyển sinh Trong khoa thi này có Lê Văn Thịnh được trúng tuyển và được cho vào hầu vua học Sau Lê Văn Thịnh còn có 5 khoa thi thuộc triều Lý tổ chức cụ thể vào các năm 1086 (Quảng Hựu Thứ 2 – Lý Nhân Tông); 1152 ( Đại Định thứ 2- Lý Anh Tông); 1165( Chính Long Bảo Ứng thứ 4 – Lý Anh Tông); 1185 ( Trinh Phù Thứ 10 – Lý Cao Tông); 1193( Thiên Tư Gia Thụy thứ 8- Lý Cao Tông)
Sau đó, nhà Lý còn tổ chức nhiều kỳ sát hạch để chọn những người biết viết chữ, làm toán và biết luật Nhìn chung, các khoa thi ở thời nhà Lý còn rất
ít
Tuy nhiên, đến thời nhà Trần, việc học tập và thi cử ngày càng đi vào khuôn khổ, trong dân gian hầu như ở tất cả các làng xã trên cả nước đều được
tổ chức các lớp học và được tổ chức thường xuyên theo chu kỳ
Cụ thể, năm 1252 nhà Trần lập ra Quốc học viện, cũng cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Ông và Mạnh Tử ( Á Thánh), vẽ tranh Thất thập nhị hiền để
Trang 2519
thờ Trong nhà trường được giảng dạy Tứ thư, Ngũ kinh Vào năm 1227 nhà Trần đã mở khoa thi Tam giáo để chọn ra người giỏi trong 3 giáo ( Nho – Phật – Đạo) vì đến đời Trần không chỉ Nho giáo phát triển mà song song đồng hành còn có Phật giáo và Đạo giáo cũng rất phát triển Tuy nhà Trần mở khoa thi Tam giáo nhưng các nhà chép sử lại không coi khoa thi này nằm trong khoa thi Nho học Năm 1232 nhà Trần mới mở khoa thi Nho học đầu tiên của triều đại mình, và đến năm 1246 nhà Trần đã định lệ thi Thái học sinh, cứ 7 năm lại tổ chức một khoa (sau điều này đã không được thực hiện)
Vì muốn khuyến khích các sĩ tử ở những vùng xa xôi kinh đô có điều kiện đi thi và đỗ làm Trạng nguyên, Triều đình nhà Trần đã tổ chức khoa thi Thái học sinh vào năm 1256 và quy định lấy 2 Trạng nguyên gồm 1 Kinh Trạng nguyên ở miền bắc và 1 Trại Trạng nguyên ở Nghệ An, miền trung, đến năm 1266 triều đình tiếp tục mở khoa thi Thái học sinh hình thức thi vẫn như cũ, lấy 2 Trạng nguyên
Tuy nhiên, sau năm 1257, biến cố lớn xảy ra với đất nước, cả dân tộc phải dồn toàn bộ trí lực của mình cho cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Nguyên- Mông ( 1285 – 1288) nên việc thi cử đã phải gác lại và phải đợi cho đến năm 1299 khi đất nước yên bình, vua Trần Anh Tông mới kêu gọi các sĩ
tử tiếp tục ôn luyện để tiếp tục mở lại các khoa thi
Năm 1304, có thể nói là năm có nhiều biến cố lớn đối với nhà Trần trong việc giáo dục, bởi năm này, nhà Trần đã tổ chức khoa thi lớn nhất từ trước đên nay, khoa thi đã thu hút tới hàng nghìn thí sinh tham dự trên cả nước Số người được lấy đỗ trên cả 3 giáp lên tới 44 người
Chính sự phát triển của giáo dục đã giúp cho đất nước hội tụ được rất nhiều người hiền tài phải kể đến như: Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quát, Trương Hán Siêu v.v…
Trang 2620
Qua các đời nhà vua, việc thi cử có rất nhiều sự biến đổi vì thế mà ở thời nhà Trần, quy chế thi cử được lập ra cũng khá chi tiết, đầy đủ Nhờ các kì thi mà giáo dục đã cung cấp cho đất nước hàng nghìn người hiền tài, mặc dù
do thời gian lâu dài, tư liệu đã bị mất mát chúng ta thời này không biết được đầy đủ đó là những vị nào nhưng ít nhất chúng ta cũng được biết đến tất thảy
có 52 vị
Một trong những sĩ tử nổi tiếng hơn cả trong đời nhà Trần khi nhắc đến giáo dục chúng ta không thể không kể đến đó là Chu Văn An( 1292- 1370) Ông được biết đến là người trong sạch, khí tiết, không cầu danh lợi Ông chỉ ở nhà sách thánh hiền nhưng vẫn tinh thông, tiếng thơm đồn khắp các tỉnh thành, học trò theo học Chu Văn An thường không kể hết và có rất nhiều người thành tài như Sư Mạnh, Lê Quát Hai người này đã làm tới chức Hành Khiển mà vẫn giữ đạo với thầy của mình Theo như lời kể, khi đến thăm thầy thì đều quỳ lại ở dưới giường, chỉ cần được nhìn và nói chuyện với thầy vài câu rồi ra đi là cũng đã cảm thấy rất hạnh phúc Đến năm 1370 Chu Văn An mất, Trần Nghệ Tông sai quan đến tế, truy tặng ông tước Văn Trinh Công, lại cho tòng tự ở Văn Miếu, kinh đô Thăng Long bấy giờ
Nho giáo dưới thời Lý- Trần về các mặt đạo đức, chính trị nhìn chung tuy phát triển nhưng vẫn chưa thật chặt chẽ và còn bó buộc Thời kỳ này Phật giáo cũng rất phát triển, tuy nhiên lại không hề ảnh hưởng đến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam và cũng không gây trở ngại lớn cho việc lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính trị chủ yếu chỉ đạo cho đường lối trị nước của mình
b Nho giáo dưới thời Lê
Nho giáo trong thời kỳ này cũng có đặc điểm gần giống như thời kì trước nó cũng được biểu hiện qua các mặt: Triết học, đạo đức, chính trị, giáo
dục và thi cử
- Xét về tư tưởng triết học
Trang 2721
Cũng giống như thời nhà Lý- Trần, tư tưởng triết học trong Nho giáo
chủ yếu cũng được biểu hiện qua tư tưởng tin vào Thiên mệnh Tuy nhiên từ
tư tưởng Thiên mệnh dần phát triển thành thuyết “Thiên nhân cảm ứng” Sau
đến đời Tống còn bàn đến nguồn gốc của thế giới, mối quan hệ giữa tinh thần
và vật chất mà người ta thường gọi là Lý và Khí Tuyệt đối tin tưởng vào
thuyết “Thiên nhân cảm ứng” Nhà Lê tin rằng, tất cả những việc mình làm
trời đều biết, và tùy vào việc mình làm tốt hay xấu mà gặp ứng như vậy Nếu mình gây ra những chuyện không tốt trời sẽ cho thiên tai, hạn hán, lũ lụt để trừng phạt
Vào thời Lê, một số nhà Nho cũng bàn về vấn đề Lý và Khí như Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vv…
Nhìn chung, tư tưởng của các nhà Nho thời Lê về triết học lại không sâu và không có sự đổi mới Vẫn đang chỉ dừng lại ở những tư tưởng triết học Nho giáo có từ trước
- Xét về tư tưởng luân lý, đạo đức
Cũng giống như thời Lý- Trần Đạo đức luân lý chủ yếu vẫn là Tam
cương, Ngũ thường nhưng đến thời Lê các vấn đề này được quan tâm hơn và
gắn bó chặt chẽ với nhau hơn
Tam cương ở đây vẫn là ba mối quan hệ: quân- thần lấy chữ Trung là
quan trọng nhất, phu- tử lấy chữ Hiếu đứng đầu và Phu- phụ lấy chữ Trinh
đứng đầu Các mối quan hệ này ngày càng khăng khít hơn so với trước đó cụ thể:
Về chữ Trung trong mối quan hệ quân và thần tức là quan hệ giữa vua với bầy tôi Chữ Trung không chỉ đơn thuần là giữa vua với tôi mà nó được
mở rộng ra cả dòng họ, nếu một người bị tội tùy vào mức độ mà cả dòng họ
sẽ phải cùng chịu tội theo Ví như vụ án “ Lệ Chi Viên” đã giết cả 3 họ nhà
Trang 2822
Nguyễn Trãi chỉ vì đúng vào đêm vợ của Nguyễn Trãi đã ở bên cạnh vua Lê Thái Tông bị chết đột ngột mà phải chịu nhà Lê tru di tam tộc
Chữ Hiếu trong mối quan hệ cha- con cũng chịu sự nghiêm khắc hơn
nhiều Vào năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã ra chiếu lệnh: “ con để tang cha
mẹ, vợ để tang chồng phải đúng 3 năm, không được theo ý riêng mà làm trái
lễ phạm phép”
Còn chữ Trinh trong mối quan hệ vợ - chồng thì người vợ lại phải “ thủ
tiết chờ chồng” Khi chồng đi xa hoặc đi đánh giặc, hoặc chồng chết, vợ phải giữ nguyên vẹn trinh tiết của mình để thờ chồng không được lấy người đàn ông khác Và nếu ai làm trái phép này cùng sẽ bị vua Lê trừng trị nghiêm khắc, bị triều đình cho thắt cổ chết
- Xét về đường lối trị nước
Tất cả mọi người đều phải tuân thủ tuyệt đối đường lối trị nước của nhà Lê:
Học tập cổ
Đây là nội dung quan trọng trong đường lối trị nước của nhà Lê Việc học tập cổ đã có từ trước, nhưng cho đến thời Lê do chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo mà việc học tập cổ càng được phát triển hơn, ngày càng trở nên giáo điều câu nệ và rất sùng việc học cổ Chính vì lí do dùng như vậy, mà bất kì ai
có tư tưởng đối mới dù chỉ một chút cũng sẽ bị lên án phê phán kịch liệt và những điều đổi mới đó đều không được chấp nhận
Nhân chính
Đường lối trị nước trong vua quan thời nhà Lê qua các đời đều tự cho rằng mình đã thực hiện được đường lối nhân chính, vì thế trong mọi hoàn cảnh họ đều nhắc tới nhân chính và lấy nhân chính ra để soi lại các công việc của mình làm
Chẳng thế mà vào năm 1449, vua Lê Nhân Tông tự xuống chiếu hỏi mình: “có phải vì chưa thi hành đầy đủ nhân chính khiến cho người dân còn
Trang 29Từ vua cho đến các quan thần đều nhận thức rõ được việc học tập thi
cử có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với đất nước Trị nước mà không có người nhân tài làm gốc thì đều được cho là cẩu thả, tạm bợ
Sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tông đã cho ra lệnh tất cả quân và dân làm kiểm tra về kinh sử để trọn ra người tinh thông và sẽ được bổ nhiệm làm quan Tuy vậy khi sang đến thời vua Lê Thái Tổ việc thi cử lại chưa đi vào quy củ, chưa có quy chế rõ ràng mà phải đợi đến năm 1434, là thời của vua
Lê Thái Tông mới bắt đầu được đưa ra những quy định chặt chẽ hơn
Vào năm 1438 bắt đầu thi Hương ở các đạo, sang đến năm 1439 sẽ thi Hội ở kinh đô và từ đó về sau cứ 3 năm lại có một lần thi lớn Nếu ai đỗ đạt sẽ được ban cho danh hiệu là “ Tiến sĩ xuất thân” mỗi khoa thi đều phải trải qua
tứ kì và tứ trường
Mặc dù kế hoạch được đặt ra như vậy nhưng phải đến năm 1442, nhà
Lê mới bắt đầu tổ chức được và đi vào quy củ, và cứ 5,6 năm mới tổ chức một kì thi Hội
Đến năm 1472, vua Lê Thánh Tông đã đặt lại thể lệ thi Hội cho rõ ràng hơn Danh hiệu của những ngườ thi Hội cùng được sửa đổi Vẫn có 3 hạng
nhưng sẽ định thêm danh hiệu Cập đệ và Xuất thân Các tiến sĩ thuộc cả ba
giáp nói trên đều là những học vị chính thức do triều đình quy định
Khoa thi Hội đầu tiên được tổ chức dưới thời vua Lê Thánh Tông vào năm 1463 là khoa thi lớn nhất chưa từng có từ trước với hơn 4.400 sĩ tử tham gia thi và đỗ 44 tiến sĩ