Trong giai đoạn văn học này được ghi dấu bởi những tác phẩm với những tác giả nổi tiếng, trong đó phải kể đến tác phẩm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được sáng tác bằng chữ Nôm.. Với mo
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ THANH VÂN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, cùng các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Với
đề tài trên, chắc chắn tôi không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu Vì vậy tôi rất mong ý kiến đóng góp đến từ các thầy cô giáo cùng các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Bé
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thanh Vân cùng các thầy cô giáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan rằng, đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nó không trùng lặp với công trình nghiên cứu của bất cứ tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Bé
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp của khóa luận 7
8 Bố cục khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi 8
1.1.1 Cuộc đời Nguyễn Trãi 8
1.1.2 Sự nghiệp văn chương 11
1.1.2.1 Những tác phẩm chữ Hán 12
1.1.2.2 Những tác phẩm bằng chữ Nôm 14
1.2 Khái quát về tác phẩm Quốc âm thi tập 14
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời 14
1.2.2 Nội dung chính 17
1.2.2.1 Nguyễn Trãi - một con người anh hùng yêu nước vĩ đại 17
1.2.2.2 Nét đặc sắc thiên nhiên trong Quốc âm thi tập 18
1.2.2.3 Nét đặc sắc nghệ thuật trong Quốc âm thi tập 20
1.3 Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2: CHỮ NÔM SÁNG TẠO TRONG QUỐC ÂM THI TẬP 25
2.1 Chữ Nôm sáng tạo 25
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm 25
Trang 62.1.2 Vai trò của chữ Nôm trong văn hóa, văn học 27
2.1.3 Chữ Nôm trong xã hội ngày nay 28
2.2 Khảo sát chữ Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập 29
2.2.1 Sự khác biệt chữ Hán và chữ Nôm 29
2.2.2 Phân loại chữ Nôm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi 31
2.2.2.1 Loại định hướng bằng báo hiệu 31
2.2.2.2 Loại định hướng bằng chính âm đầu 33
2.2.3 Loại định hướng liên tưởng về nghĩa 35
2.2.4 Loại định hướng chữ Nôm viết tắt 36
2.2.5 Loại định hướng chữ Nôm liên tưởng về kết cấu trong Quốc âm thi tập 38
2.2.6 Loại định hướng chữ Nôm nghĩa nghĩa trong Quốc âm thi tập 40
2.3 Tiểu kết chương 2 42
KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XV là mảnh đất màu mỡ tươi tốt sản sinh và nuôi dưỡng biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ ưu tú đã có những đóng góp vô cùng lớn lao trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá, văn học nước nhà Trong giai đoạn văn học này được ghi dấu bởi những tác phẩm với
những tác giả nổi tiếng, trong đó phải kể đến tác phẩm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được sáng tác bằng chữ Nôm Sự ra đời của Quốc âm thi tập
đánh một dấu mốc quan trọng trong sự phát triển nền văn học dân tộc
Với văn chương, Nguyễn Trãi đã để lại một khối lượng các tác phẩm
đồ sộ - một di sản văn học quý báu muôn đời Theo Ngô Thế Vinh, văn chương Nguyễn Trãi thật đặc biệt, đó là “thứ văn chương có đủ sức sửa sang việc đời” Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, ở thể loại nào ông cũng có những kiệt tác để lại âm vang lớn, làm rạng
rỡ nền văn học nước nhà
Quốc âm thi tập ra đời đã khẳng định sức sống và sự trường tồn mạnh
mẽ của ngôn ngữ, văn hóa Việt Sự ra đời của Quốc âm thi tập chính là nền tảng vững chắc cho sự xuất hiện các tác phẩm chữ Nôm về sau như: Hồng
Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, các tập thơ Nôm của Hồ
Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… do đó mà
Xuân Diệu gọi Quốc âm thi tập là “tác phẩm mở đầu nền văn học cổ điển Việt
Nam”
Đối với tác phẩm Quốc âm thi tập, từ trước đến nay được rất nhiều
người quan tâm và đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu, đánh giá Những bài nghiên cứu này, phần nào cho chúng ta thấy được sự đóng góp vô
cùng to lớn của Quốc âm thi tập trong nền văn học dân tộc Tuy nhiên chúng
tôi nhận thấy chưa có bài viết hay bài nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích các
Trang 8loại chữ Nôm sáng tạo trong tác phẩm Với mong muốn đi sâu nghiên cứu
chữ Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập, hy vọng đề tài sẽ phần nào đóng
góp những thành quả nghiên cứu để thấy được cái hay, cái đẹp và tài năng cũng như giá trị của Nguyễn Trãi trong nền văn học Việt Nam
Đặc biệt một số bài thơ trong tác phẩm Quốc âm thi tập đã được lựa
chọn giảng dạy ở SGK Ngữ văn lớp 7 tập 1 (cả hai bộ cơ bản và nâng cao) Đây là một tác phẩm có giá trị và là nguồn tri thức vô tận để các nhà nghiên cứu văn học đánh giá
Vì những lẽ trên mà chúng tôi đã chọn đề tài khóa luận “Chữ Nôm sáng
tạo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” Chúng tôi mong muốn phần nào
mang tới cho bạn đọc sự hiểu biết hơn nữa về tác giả cũng như thấy được tài năng của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng linh hoạt sáng tạo chữ Nôm Đồng thời, với việc sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, đưa ra những nhận định, đánh giá có sức thuyết phục, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến chữ Nôm và vấn đề nghiên cứu chữ Nôm hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến đề tài Chữ Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi mà tôi chúng tôi đã lựa chọn, có các bài viết và các công trình
nghiên cứu sau đây:
Trong cuốn Ba thi hào dân tộc xuất bản năm 2000, Xuân Diệu đã viết:
“Bây giờ chúng ta đọc một mình thơ Nôm của Nguyễn Trãi, càng thêm thấy hứng thú, như bản thân ta thêm lông cánh tung bay hào sảng với thơ này” Ở
đây tác giả luôn đề cao thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập “Thi
treo giải nhất chi nhường cho ai”
Ở cuốn Sáu trăm năm Nguyễn Trãi in năm 1980, khi nghiên cứu thơ Nôm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập Hoài Thanh viết rằng: “Đi vào
thơ nôm Nguyễn Trãi là chuyện vất vả Có khi thấy rối rít như đi vào rừng
Trang 9sâu Nhưng cứ chịu khó đi và đi nhiều lần sẽ thấy công phu bỏ ra không uổng Đây đó sẽ ánh lên những lời thơ đẹp” Ở công trình này tác giả đã tập trung
nghiên cứu một vài nét về con người của Nguyễn Trãi qua thơ Nôm Quốc âm
thi tập
Năm 1975, Đào Duy Anh trong cuốn Chữ Nôm - nguồn gốc - cấu tạo-
diễn biến đã viết về một số cách đọc chữ Nôm và nêu rất nhiều ví dụ tương
đối khó Bên cạnh đó, tác giả còn có thêm một chương nghiên cứu chữ Nôm Tây để đối chiếu với chữ Nôm của ta
Trong Tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 2011, với tiêu đề Góp phần phân
định chữ Nôm tự tạo và chữ Nôm mượn chữ Hán đã đề cập tới cách phân chia
chữ Nôm làm hai loại lớn là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo được cố
GS Nguyễn Tài Cẩn và N.V.Xtankevich nêu ra đầu tiên vào năm 1976 trong
bài Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm Tuy quan điểm bước đầu
đã nói lên được các cách tạo chữ Nôm và đã được các nhà nghiên cứu chữ Nôm lúc đó chấp nhận rộng rãi nhưng khi bắt tay vào phân chia thì gặp phải một số khó khăn nhất định
Trên báo Nhân dân, số ra ngày 19 tháng 9 năm 1962, trong bài nghiên cứu
về thơ Nôm của Nguyễn Trãi - Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc,
Phạm Văn Đồng khẳng định: “Về thơ của Nguyễn Trãi, chúng ta nên quý trọng hơn nữa là thơ chữ Nôm, tiếng ta của Nguyễn Trãi, đó là vốn rất quý của dân tộc” Bài viết xoay quanh cái hay, độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Trãi khi làm thơ Nôm
Tác giả Hoàng Tuệ với bài viết Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với
tiếng Việt đã khẳng định: Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt, đó là
một cống hiến hết sức lớn lao [11, 826] Với công trình này tác giả Hoàng Tuệ khi nghiên cứu chỉ dừng lại ở vấn đề Nguyễn Trãi trên cơ sở thái độ quý
Trang 10trọng và đề cao chất liệu của tiếng Nôm, tức tiếng Việt, sử dụng một cách thành công bộ phận từ vựng Việt, ngữ pháp Việt
Ngoài ra, xoay quanh đến vấn đề của tác phẩm Quốc âm thi tập chúng
ta có rất nhiều các công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận tốt nghiệp:
- Nghệ thuật sử dụng điển cố trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi,
khóa luận tốt nghiệp đại học, chuyên ngành Văn học Việt Nam của Đào Thị Hương Thu
- Sự phá vỡ tính quy phạm trên các phương diện đề tài, thể loại, ngôn
ngữ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, khóa luận tốt nghiệp đại học,
chuyên ngành Văn học Việt Nam của Trần Thị The
- Phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, luận
văn Thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, chuyên ngành Văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Hiền Với đề tài này tác giả đã nghiên cứu các phương thức ứng xử của Nguyễn Trãi với bản thân, gia đình và cộng đồng và cả với môi
trường tự nhiên trong Quốc âm thi tập
- Đặc điểm của ẩn dụ trong tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi,
luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Ngôn ngữ học của Vương Văn Huy Tác giả
đã khảo sát một cách hệ thống các hiện tượng ẩn dụ trong tập thơ Quốc âm thi
tập theo quan điểm lý thuyết của từ vựng học và phong cách học Kết quả
nghiên cứu đã thấy được cái hay cái đẹp và sự uyên bác trong cách dùng từ đặt câu của Nguyễn Trãi
- Hoa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, khóa luận tốt nghiệp,
chuyên ngành Văn học Việt Nam của Bùi Thị Mỹ Oanh Đề tài này người
nghiên cứu đã phân loại và thấy được tần suất và sắc thái ý nghĩa của “Hoa
trong Quốc âm thi tập” và từ đó rút ra được một số giá trị nghệ thuật tiêu biểu
được sử dụng
Trang 11- Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, khóa luận
tốt nghiệp, chuyên ngành Văn học Việt Nam của Vũ Thị Huế Với đề tài này tác giả đã thống kê và phân loại được các bài thơ có hình ảnh bốn mùa và rút
ra được những giá trị biểu đạt như: ngôn ngữ, thể thơ, vần, nhịp điệu
- Thi pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi, luận án tiến sĩ, chuyên ngành Văn
học Việt Nam của Hoàng Thị Thu Thủy Ở đề tài này tác giả đã tập trung nghiên cứu thi pháp thơ Nôm qua các phương diện như: thể thơ, âm vận và
ngôn ngữ trong tập thơ Quốc âm thi tập
Các bài viết, và công trình nghiên cứu liên quan tới tác phẩm Quốc âm
thi tập rất phong phú tuy nhiên liên quan đến vấn đề chữ Nôm sáng tạo thì
còn rất hạn chế Trên cơ sở những vấn đề liên quan tới chữ Nôm trong Quốc
âm thi tập và những nguồn tư liệu quý giá mà chúng tôi thu thập được sẽ là
những căn cứ xác đáng giúp chúng tôi có định hướng nghiên cứu đúng đắn,
để đưa ra những kết luận đảm bảo mang tính chất chính xác và khoa học nhất trong quá trình nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Từ trước tới nay, các công trình nghiên cứu, khảo sát về các kiểu chữ
Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi tương đối ít và chưa
được nghiên cứu một cách tập trung
Bởi vậy, mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là thông qua quá trình khảo sát, phân loại các tác phẩm chữ Nôm để thấy được sự sáng tạo, linh hoạt trong bút pháp của Nguyễn Trãi Cùng với việc nghiên cứu văn bản Nôm và phân
tích chữ Nôm sáng tạo trong tập thơ Quốc âm thi tập, chúng tôi có thể mở ra
các hướng tiếp cận tác phẩm một cách phong phú hơn trong nhà trường phổ thông Đồng thời khẳng định tài năng bậc thầy của Nguyễn Trãi trong việc
sáng tác văn chương bằng chữ Nôm sáng tạo và giá trị to lớn của Quốc âm thi
tập đối với nền văn học dân tộc
Trang 124 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Chữ Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tập thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi xuất bản năm 2014, Nhà xuất bản Văn học, gồm 731
trang
Chúng tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu, khảo sát các kiểu chữ Nôm
sáng tạo có trong tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
5 Phạm vi nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài một cách tốt nhất, việc nghiên cứu được tiến hành
khảo sát với 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập Trọng tâm của khóa luận là đi
sâu khai thác, phân tích các kiểu chữ Nôm sáng tạo có trong các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi Qua quá trình khảo sát, phân tích, thống kê để từ đó thấy được chữ Nôm có nhiều cách cấu tạo khác nhau, phong phú và đa dạng đã làm nên nền văn hóa dân tộc
6 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho công việc nghiên cứu đề tài, đồng thời để có nguồn tư liệu phong phú và đủ tin cậy, đáp ứng được mục đích đặt ra chúng tôi tiến hành những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm
Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp xác định tình trạng văn bản, xác định bản in, giấy in, màu mực, kĩ thuật, bảo tàng, kí hiệu… xác định tác giả và niên đại ra đời của tác phẩm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp là từ những ngữ liệu đã tập hợp, thống kê được chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề cần được nghiên cứu
- Phương pháp phân tích ngữ văn học
Trang 13Phương pháp phân tích ngữ văn học là phương pháp xem xét hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật mà tác giả gửi gắm
- Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê, phân loại là phương pháp có thể tập hợp, thống
kê những nguồn tư liệu có liên quan đến đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng như một phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu nội dung đề tài
- Phương pháp văn học sử
Nền văn học trung đại Việt Nam trải qua gần mười thế kỉ, với nhiều giai đoạn, nhiều thế kỉ nên việc lựa chọn phương pháp văn học sử sẽ đảm bảo được tính lôgic trong quá trình khảo sát phục vụ cho nghiên cứu khóa luận này
Để khóa luận đạt được kết quả cao nhất Các phương pháp và các thao tác nghiên cứu trên đây sẽ được vận dụng đan xen, liên kết chặt chẽ với nhau,
hỗ trợ cho nhau
7 Đóng góp của khóa luận
Với đề tài nghiên cứu Chữ Nôm sáng tạo trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi, đây là bước khởi đầu mở ra những hướng khai thác, tiếp cận
mới, đạt hiệu quả cao trong việc khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật đặc
sắc trong Quốc âm thi tập
Đề tài giúp ta hiểu thêm về tài năng của Nguyễn Trãi trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc vào tác phẩm văn chương
Đề tài đóng góp vai trò quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi
1.1.1 Cuộc đời Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (阮廌) sinh năm 1380 mất năm 1442, là anh hùng dân tộc,
là nhà văn và nhà thơ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai (抑齋), quê xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) Ông còn quê thứ hai là làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây Thiên tài Nguyễn Trãi với thành tựu rỡ trên mọi lĩnh vực: ông là nhà chính trị gia lớn, một nhà quân sư lỗi lạc, một nhà ngoại giao thiên tài, một nhà nghiên cứu lịch sử, địa lí uyên bác và là một nhà thơ, nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam
Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước và truyền thống văn hóa, văn học Cha ông là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh (1356 - 1429) là một người tài giỏi, có chí lớn, luôn quan tâm tới đời sống nhân dân và vận mệnh dân tộc Năm 1374, ông đỗ tiến sĩ nhưng không được vời ra làm quan nhà Trần Đến năm 1400, khi nhà Hồ lên thay nhà Trần, Nguyễn Ứng Long đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra làm quan nhà Hồ Cùng năm đó, Nguyễn Trãi thi đỗ tiến sĩ và được bổ dụng vào làm quan Mẹ của ông là bà Trần Thị Thái, một người thông minh, có sắc có tài, và cũng là một thi sĩ
Năm 1407, nhà Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ đem quân xâm chiếm nước ta Cha Nguyễn Trãi bị bắt, còn bản thân bị giam lỏng mười năm tại thành Đông Quan (Hà Nội) Từ đây “nợ nước thù nhà” trong lòng ông không lúc nào nguôi Đây cũng là dịp Nguyễn Trãi được sống gần với nhân dân và
Trang 15hiểu rõ những thống khổ của người dân mất nước Trong khoảng thời gian
tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi cho ra đời tập Quân Trung từ
mệnh tập nổi tiếng, văn chương được sử dụng như một thứ vũ khí lợi hại, góp
phần làm suy yếu tinh thần quân thù Năm 1418, ông đến với cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn, dâng lên cho Lê Lợi Bình Ngô đại cáo và đây là tác phẩm được
đánh giá là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc Cũng chính từ lúc này Nguyễn Trãi luôn gắn bó, sát cánh cùng với Lê lợi và nhân dân Ông đã trở thành bộ óc, tiếng nói, vũ khí sắc bén của nghĩa quân Lam Sơn để tiêu diệt quân thù Nhìn lại quãng đời mười năm đấu tranh của Nguyễn Trãi, Đặng Thai Mai đã nói rằng ông không chỉ là một nhà chiến lược đại tài mà còn là một nhà tổ chức cỡ lớn, nhà ngoại giao khôn khéo, khi cứng rắn khi mềm dẻo nhưng không bao giờ khoan nhượng về nguyên tắc
Cuộc kháng chiến cứu nước thắng lợi, Nguyễn Trãi lại dốc hết tâm huyết giúp Lê Lợi xây dựng đất nước Nhưng đây lại là quãng đời gian khổ của ông, Nguyễn Trãi được tiếng là quan cao, chức trọng và tính tình ngay thẳng, nhưng khi sống trong triều đình ông lại bị nhiều kẻ ghen ghét, đố kị Không bao lâu thì sự tin tưởng của nhà vua cũng không còn Đặc biệt sau vụ việc của Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, cả hai đều là công thần bậc nhất của Lê Lợi Chính Nguyễn Trãi cũng bị dèm pha mà bị tống giam, suýt
bị chết Nguyễn Trãi đã bị xã hội phong kiến từ chối tài năng cũng như lí tưởng giúp dân cứu nước của mình, sống trong cảnh “danh suông vạ thực” này mà đến cuối đời ông vẫn đau đớn khôn nguôi
Chia bảo phù, ban thái ấp chung ngựa trắng ăn thề, Mua ghen ghét, chuốc dèm pha, chợt nhặng xanh dơ vết Mới biết quả hợp thì người khó thích,
Để cho trong trắng thì bẩn để lây…
Biểu tạ
Trang 16Đến đời Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi phải sống trong tình cảnh gay go chán nản Năm 1440, Nguyễn Trãi xin về nghỉ ở Côn Sơn sau cuộc sống lận đận, khắc nghiệt nơi triều đình Đây cũng chính là khoảng thời gian Nguyễn
Trãi cho ra đời tập Quốc âm thi tập thể hiện tấm lòng trung kiên của mình
Nhưng chỉ hai năm sau, Lê Thái Tông lại vời ông ra làm quan với tâm thế
“tuổi già, sức yếu, tóc bạc, lòng son”, ông vui sướng ra giúp đời vì dân, vì nước, đúng với sở nguyện bao lâu thôi thúc trong ông Nhưng thật đau đớn, chính lần ra làm quan này mà tai họa thảm khốc đã đến với ông Năm 1442 vụ
án “Lệ chi viên” xảy ra, Nguyễn Trãi và gia đình đã bị xử tử và tru di tam tộc Như vậy cuộc đời vị khai quốc công thần đã kết thúc trong một hoàn cảnh bi phẫn và oan khuất, dưới lưỡi đao của triều đình phong kiến ngày 19 tháng 9 năm 1442 Một con người tài đức vẹn toàn nhưng phải chịu một cái kết nghiệt ngã Cả một cuộc đời trung với nước, hết mình vì vua vì dân, vậy mà phải chịu án oan tru di tam tộc Đây là một vụ án oan khuất vào loại bậc nhất trong lịch sử dân tộc Cái chết của Nguyễn Trãi là sự tiếc nuối, đau xót, mất mát lớn của dân tộc Việt Nam
Năm Giáp Ngọ, niên hệu Quang Thiệu thứ 5 (1464), vua Lê Thánh Tông
đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi Là một vị vua anh minh ông đã viết lên những lời ca đẹp về Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” Lời nói đã nói lên được nhân cách sáng trong, tấm lòng đẹp đẽ của thiên tài Nguyễn Trãi Nói như nhà phê bình văn học Đặng Thai Mai: “Một thanh thiếu niên đã được bồi dưỡng kỹ càng trong một gia đình yêu nước, đã chia sẻ nỗi đau khổ của đất nước cùng với nhân dân; Một chí sĩ đã cống hiến tất cả trí tuệ, nghị lực mình cho sự nghiệp giải phóng nước nhà; Một nhà chính trị, một nhà chiến lược thiên tài, một nhà ngoại giao lão luyện, và đồng thời cũng là một học giả uyên bác, một nhà văn, một nhà thơ lỗi lạc; Một đời sống lộng lẫy và… một kết cục quá tàn nhẫn; Đó là vận mệnh của Nguyễn Trãi” [13, 20]
Trang 17Cuộc đời Nguyễn Trãi trải qua cuộc đời với nhiều thăng trầm, biến cố nhưng lúc nào ông cũng giữ tấm lòng son sắt với nhân dân, đất nước Nguyễn Trãi là tấm gương sáng của tinh thần đấu tranh vì dân tộc vì nhân nghĩa mà ta cần học tập
Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá
của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới và
tổ chức kỷ niệm 600 năm năm sinh của ông
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
Nguyễn Trãi đã viết rất nhiều nhưng sau vụ án Lệ Chi viên thì nhiều tác phẩm của ông đã bị bè lũ cầm quyền đem đi tiêu hủy nên bị thất lạc nhiều Sau đó, dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497) triều đình đã lấy lại được sự trong sạch cho Nguyễn Trãi và nhà vua đã ủy thác cho Trần Khắc Kiệm đi tìm lại và sưu tầm tất cả những tác phẩm còn lại của ông nhưng sau đó lại bị thất lạc Sang thế kỉ XIX Dương Bá Cung cùng một số nhà sử học văn học khác
đã tìm lại được phần nào công trình của Nguyễn Trãi
Nói đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, Phạm Văn Đồng nhận xét rằng: “Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lý tưởng cao quý Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc
Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân tộc Nguyễn Trãi rất xứng đáng lòng khâm phục và quý trọng của chúng ta” [16, 112]
Nguyễn Trãi đã để lại một sự nhiệp văn học đồ sộ cả chữ Hán và chữ Nôm Nguyễn Trãi đã là hiện thân cho một bước phát triển nhảy vọt kì diệu
và trở thành người mở đầu cho nền văn học cận - hiện đại của Việt Nam Một
vĩ nhân như thế không phải chỉ riêng về một thời đại hay một dân tộc mà là của toàn nhân loại
Trang 181.1.2.1 Những tác phẩm chữ Hán
- Quân trung từ mệnh tập (軍中詞命集)
Quân trung từ mệnh tập là tập văn kiện lịch sử- bình luận- ngoại giao
bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi soạn thảo trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1428) dưới sự ủy thác của Lê Lợi Các tác phẩm phần lớn là thư từ giao thiệp với các tướng Minh, ngoài ra còn có biểu phong cầu và tấu cầu phong gửi vua Minh, văn tấu cáo các vua Trần… Hiện nay tập còn trên dưới 70 bài
Quân trung từ mệnh tập là tập văn chiến đấu “có sức mạnh mười vạn
quân” (Bùi Huy Bích) Sức mạnh ấy có được là bởi sự kết hợp tuyệt diệu giữa lập trường nhân nghĩa, chính nghĩa sáng ngời của dân tộc với nghệ thuật viết văn luận chiến bậc thầy của Nguyễn Trãi
Quân trung từ mệnh tập thể hiện rõ tư tưởng chiến lược của Nguyễn
Trãi: đánh bằng mưu trí, đánh vào lòng người Nguyễn Trãi một mặt nêu cao chính nghĩa sáng ngời và khí thế chiến thắng của dân tộc ta, vạch trần âm mưu cũng như tính chất phi nghĩa trong hành động chiến tranh xâm lược của địch, mặt khác ông vận dụng sách lược mềm dẻo để ít mất mát xương máu nhất Tác phẩm như một tượng đài kỷ niệm văn học vĩ đại ghi dấu một truyền thống đánh giặc ngoại xâm vừa dũng cảm quyết liệt vừa khôn khéo sáng suốt của dân tộc ta
- Bình Ngô đại cáo (平吳大告)
Trước hết Bình Ngô đại cáo là một văn kiện lịch sử Được lệnh của Lê Lợi cuối năm 1427, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo cho toàn
dân biết sự nghiệp đấu tranh đã hoàn toàn thắng lợi, quân thù rút về nước một
tương lai mới đang mở ra cho giang sơn xã tắc Bình Ngô đại cáo là bản tuyên
ngôn độc lập về chủ quyền độc lập dân tộc, là bản cáo trạng tội ác kẻ thù, là
bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Và Bình Ngô đại cáo được coi là
Trang 19bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc Nguyễn Trãi viết Bình Ngô
đại cáo với trí tuệ, tâm hồn và kinh nghiệm của dân tộc trong hai mươi năm
đau khổ nước mất nhà tan và mười năm dũng cảm diệt giặc cứu nước, hơn nữa còn là mười lăm năm hào khí của các triều đại đã đi qua Từ đó tạo lên một kiệt tác có sức sống mãnh liệt và tồn tại bền bỉ trước sự trôi chảy của thời
gian Nguyễn Trãi xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất, Bình Ngô đại
cáo là một áng “thiên cổ hùng văn”, là tiếng vang vọng bất hủ của ngàn xưa
cho đến mai sau
- Băng hồ di sự lục (1420)
Là thiên tản văn bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi làm vào năm 1428, kể
về cuộc đời ông ngoại Trần Nguyên Đán
- Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi kí (1433)
Văn bia Vĩnh Lăng của Nguyễn Trãi có giá trị lớn về lịch sử Ghi chép gia thế, sự nghiệp của Lê Thái Tổ sau ngày vua mất Và nhiều bài biểu, tấu, chiếu, dụ, những công văn có nội dung thời sự nhưng vẫn được đời sau coi như kiểu mẫu của thể văn này
- Dư địa chí (1435)
Là tác phẩm địa lí xưa nhất không chỉ có giá trị địa lí mà còn có giá trị lịch sử, dân tộc học
- Ức Trai thi tập (抑齋時集)
Là tập thơ gồm 105 bài thơ chữ Hán viết theo thể Đường luật ngũ ngôn
và thất ngôn Để cảm nhận độ sâu thẳm của hồn thơ Nguyễn Trãi thì ta phải
nhắc đến với tập thơ chữ Hán Ức Trai thi tập giàu chất trữ tình Tập thơ chính
là lời tâm sự của tác giả, chất chứa những cảm xúc suy tư về lí tưởng hoài bão, về thiên nhiên đất nước, cuộc sống con người
Trang 201.1.2.2 Những tác phẩm bằng chữ Nôm
Quốc âm thi tập (國音詩集): là tập thơ bằng chữ Nôm của Nguyễn
Trãi, gồm 254 bài thơ Nhìn một cách khái quát thì Quốc âm thi tập là những
bài thơ miêu tả về thiên nhiên Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi vừa mang
vẻ đẹp thanh tao, cao nhã, vừa chân chất, đơn sơ, giản dị của làng quê Việt Nam Theo Trần Huy Liệu đây là tập thơ Nôm xưa nhất của Việt Nam còn lại đến nay Bằng tập thơ này, Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học
chữ Nôm của Việt Nam Quốc âm thi tập xứng đáng được coi là tập thơ Nôm
tiêu biểu nhất của văn chương Việt Nam suốt hơn 500 năm
Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn một số tác phẩm khác như: Ngọc đường di
cảo, Thạch khánh đồ, Luật thư, Giao từ đại lễ… nhưng đều không còn lại đến
ngày nay
1.2 Khái quát về tác phẩm Quốc âm thi tập
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Quốc âm thi tập là tập thơ Nôm được công bố gần đây do hai ông Trần
Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm, chú giải và xuất bản năm 1956 Bản văn này căn cứ vào một công trình sưu tập toàn bộ thi văn của Nguyễn Trãi do Dương Bá Cung, Nguyễn Định, Ngô Thế Vinh làm về đời Tự Đức và
ấn hành vào năm 1868 dưới nhan đề Ức trai thi tập Toàn bộ có bảy quyển,
Quốc âm thi tập chép vào quyển thứ bảy, gồm tất cả 254 bài chia làm bốn
Trang 21- Dạy con trai
2 Thời lệnh môn (21 bài): đề tài về thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa
- Mặt trăng trong nước
Trang 22- Mai (Bài 1,2,3)
- Trâu trong nghiên
Những bài này đều không có ghi chép về thời điểm sáng tác, song người ta cho rằng đa số được làm ra trong thời kì Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn
Trang 23Sơn Tập thơ phản ánh những nếp sống khổ cực của người dân và những nét tươi đẹp của quê hương Việt Nam
1.2.2 Nội dung chính
1.2.2.1 Nguyễn Trãi - một con người anh hùng yêu nước vĩ đại
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được xem là “khai sơn phá thạch”,
người đặt nền móng xây dựng một thể thơ mới cho văn học dân tộc Đây cũng
chính là tập đại thành của thơ ca tiếng Việt Sự ra đời của Quốc âm thi tập
khẳng định vai trò và khả năng to lớn của ngôn ngữ tiếng Việt trong chức năng thẩm mĩ, trong việc phản ánh đời sống xã hội và đời sống con người Chính điều đó đã làm cho văn học dân tộc được phát triển toàn diện và ngày càng mạnh mẽ hơn
Nội dung của Quốc âm thi tập hiện lên Nguyễn Trãi là một con người
anh hùng yêu nước vĩ đại Nổi bật ở lí tưởng của Nguyễn Trãi là yêu nước, nhân nghĩa, anh hùng tất cả được gắn kết chặt chẽ, hòa quyện với nhau và cùng ngời sáng:
Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
Thuật hứng - Bài 5
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng
Bảo kính cảnh giới - Bài 5
Nguyễn Trãi luôn đặt hai chữ “nhân” và “trí” lên hàng đầu và điều đó
đã thể hiện được phẩm chất của người anh hùng là luôn chiến đấu tiêu diệt những kẻ dựa vào cường quyền tham lam, ác độc Lí tưởng này đã ăn sâu vào xương tủy và tồn tại trong suốt cuộc đời Nguyễn Trãi Không chỉ vậy thơ của Nguyễn Trãi luôn chiến đấu cho công lí, lẽ phải và kiên quyết phủ nhận
những thứ chân lí của kẻ có tiền đặt ra “Lưng không uốn, lộc lên từ” (Mạn
Trang 24thuật - Bài 4) Chúng ta bắt gặp một con người ngay thẳng là hiện thân của
chân lí chối bỏ công danh, lợi lộc:
Vườn quỳnh dầu chim kêu hót
Cõi trần có trúc đứng ngăn
Tự thán - Bài 40
Bút pháp Nguyễn Trãi không phải chỉ có kiên cường, mạnh mẽ mà có lúc lại rất tinh tế, nhẹ nhàng mà thanh thoát Một tiếng chim kêu, một cánh hoa bay, một làn hương nhẹ thoảng qua, mấy giọt mưa thu rơi, một ngọn gió xuân thổi,… tất cả đều có thể làm rung động tâm hồn của nhà thơ Beilinski
đã nói rằng: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” Cuộc đời chính là chất liệu, là ngọn nguồn sáng tác cho mỗi nhà thơ, nhà văn Đến với
Quốc âm thi tập, chúng ta có thể thấy được Nguyễn Trãi đã tốn rất nhiều giấy
bút để nói về thời đại từ đó để nói đến cuộc đời mình Những vần thơ Nguyễn Trãi đã thể hiện những chiêm nghiệm của ông về thế sự, nhân tình theo quan niệm nhân sinh của nhân dân
Chẳng ngừa nhỏ âu nên lớn
Nếu có sâu thì bỏ canh
Bảo kính cảnh giới - Bài 9
Quốc âm thi tập là một cái tôi Nguyễn Trãi suốt đời “âu việc nước,
đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung” và là một con người cống hiến hết mình cho non sông đất nước Nguyễn Trãi sống cuộc sống của nhân dân, lo cho cái
lo của người dân và luôn đấu tranh bảo vệ nét đẹp văn hóa, văn học nước nhà
1.2.2.2 Nét đặc sắc thiên nhiên trong Quốc âm thi tập
Thiên nhiên trong thơ văn Nguyễn Trãi luôn chiếm một vị trí rất quan
trọng Theo Lã Nhâm Thìn đã khảo sát trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi: Về đề tài thiên nhiên 58/254 bài viết chiếm 22,8% các đề tài khác; về chủ đề thiên nhiên có 60 bài chiếm 23,6% các chủ đề khác [14, 55] Thiên
Trang 25nhiên trong Quốc âm thi tập hiện lên rất phong phú và đa dạng với nhiều vẻ
khác nhau: hùng vĩ, hoành tráng, thơ mộng, diễm lệ, tươi tắn Mặt khác thiên nhiên cũng mang hồn người, nhiều trường hợp thiên nhiên cũng sẻ chia niềm vui, nỗi buồn của tác giả Thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi thường phản ánh vẻ đẹp kì thú vị, đơn sơ Những hình ảnh như là: cây đa, cây mía, cây chuối, hoa hòe, hoa lựu, lảng mồng tơi, bè rau muống, chim, cá,… rất gần gũi với người nông dân lao động, và thể hiện cái nhìn mới mẻ của ông
Cây cớm, chòi cành, chim kết tổ
Ao quang mấu ấu cá nên bầy
Ngôn chí – Bài 9
Cây rợp chồi cành, chim hết tổ
Ao quanh nấu cá, cá bên này
Ngôn chí - Bài 11
Hòe lục đùn đùn tán rợp gương
Thạch lưu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Bảo kính cảnh giới - Bài 43
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
Nhà quen thu thứa ngại nuôi vằn
Thủ vĩ ngâm
Quê cũ nhà ta thiếu của nào?
Rau trong nội, cá trong ao
Mạn thuật - Bài 13
Có thể nói thời bấy giờ những hình ảnh dung dị, đơn sơ, mộc mạc rất ít được đưa vào văn chương Nhưng với Nguyễn Trãi thì tác giả lại đưa những yếu tố đó vào thơ một cách tự nhiên đến vô cùng, nó đã trở thành ngôn ngữ nghệ thuật, tạo ra những rung động thẩm mĩ cho người đọc Xuân Diệu đã
Trang 26từng nói ở Nguyễn Trãi “Lòng yêu thiên nhiên tạo vật là một kích thước để đo một tâm hồn” [15, 131]
Thiên nhiên trong tâm hồn Ức Trai nồng nàn và tinh tế mang khí chất thanh tao, mặc nhiên giao cảm chan hòa với thiên nhiên không còn khoảng cách giữa con người với sự vật
Cò nằm hạc lặn nên bầu bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con
Ngôn chí - Bài 20
Trong Quốc âm thi tập đó là những lời thơ chứa chan tình người, tình
cảm gia đình Nguyễn Trãi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, tình cảm tha thiết với cha mẹ:
Cốt lãnh hồn thanh chẳng khứng hóa
Âu còn nợ chúa cùng cha
Thuật hứng - Bài 9
Tình bạn của Nguyễn Trãi là tình cảm vô cùng thiêng liêng, chân thành,
và đó còn là cái nghĩa thầy trò cao đẹp:
Lòng bạn trăng vằng vặc cao
Bảo kính cảnh giới - Bài 40
Khách đến chim mừng hoa xẩy động
Chè tiên nước kín nguyệt đeo về
Thuật hứng - Bài 3
Đọc những vần thơ đó chúng ta thấy xiết bao gần gũi, thân thương và giản dị Nguyễn Trãi là nhà thiên tài hơn tất cả mọi người nhưng cũng nhân tình như tất cả mọi người Người anh hùng Nguyễn Trãi là một vẻ đẹp được nâng lên tầm cao của toàn nhân loại
1.2.2.3 Nét đặc sắc nghệ thuật trong Quốc âm thi tập
Nguyễn Trãi là một người có ý thức dân tộc sâu sắc, có tinh thần yêu
nước nồng nàn Ta thấy trong Quốc âm thi tập, tác giả đã sử dụng một nguồn