1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu những vấn đề lý thuyết và phương pháp đào tạo việt nam học

203 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế toàn cầu hoá, diện mạo thế giới đã có nhiều thay đổi chóngmặt: thông tin nhanh, tức thời; kinh tế thế giới không còn biên giới và nhất thểhoá; xã hội dịch vụ kiểu mới, thời đại nhàn hạ kiểu mới, do đó tuổi thọ được nângcao; cách làm việc cũng luôn thay đổi; thời đại trí tuệ lên ngôi; thời đại của vănhoá dân tộc; thời đại gia tăng số lượng các tầng lớp dưới; thời đại hợp tác và cũng là thời đại thắng lợi của cá nhân (theo Jeanntte Vos). Thời đại mới đem lại nhiều cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức cho mọi người và mỗi cộng đồng. Đối với giáo dục cũng vậy, xu thế mới này cũng đòi hỏi phải có một chiến lược đào tạo nhân tài trong mỗi quốc gia, dân tộc.

Trang 1

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

Sù H×NH THµNH C¸C §ỈC §IĨM QUèC GIA: MéT Sè SO S¸NH GI÷A NHËT B¶N Vµ VIƯT NAM

GS.TS Masahira Anesaki *

Để tìm đáp án cho câu hỏi “Tại sao Nhật Bản lại bị thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ và các đồng minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai?” và “Tại sao Việt Nam lại cĩ thể giành được chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ”, ở đây, tác giả cố gắng tìm hiểu và so sánh sự hình thành các đặc điểm quốc gia của người Nhật Bản và người Việt Nam

1 Những so sánh về địa lý, dân số và nguồn gốc chủng tộc

1.1 So sánh về địa lý

Việt Nam và Nhật Bản cĩ hình dạng đất nước khá giống nhau Cả hai quốc gia đều trải rộng từ Bắc tới Nam, chỉ khác ở điểm: Nhật Bản là một quần đảo với 4 hịn đảo chính, cịn Việt Nam là một khu vực đất đai rộng lớn liên tiếp nhau Diện tích của hai quốc gia cũng tương đương nhau Tổng diện tích của Nhật Bản là 370.000 km2, diện tích của Việt Nam là 333.000 km2, bằng 90% tổng diện tích của Nhật Bản Sự khác nhau lớn nhất về mặt địa lý là Nhật Bản bị tách ra khỏi đại lục châu Á và cĩ biển bao quanh, trong khi Việt Nam lại cĩ chung biên giới với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia ở bán đảo Đơng Dương Sự khác biệt này đã tạo ra những khác biệt lớn về lịch sử giữa hai quốc gia và dẫn tới những đặc điểm khác biệt về các giá trị và bản sắc dân tộc

1.2 So sánh về dân số

Về khía cạnh dân số, dân số của Nhật Bản hiện nay là 126 triệu người, và đang giảm xuống, cịn dân số của Việt Nam ước tính khoảng 80 triệu người vào

* Đại học Health and Welfare Kinki, Nhật Bản

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIĨU BAN NH÷NG VÊN §Ị VỊ Lý THUỸT Vµ PH¦¥NG PH¸P §µO T¹O VIƯT NAM HäC

Trang 2

2 Những so sánh về lịch sử

2.1 Việt Nam khi bị Trung Quốc chiếm đóng

Từ thế kỷ III tr.CN, khi các thủ lĩnh của các bộ tộc nhỏ ở miền Nam Nhật Bản đang bị ép buộc phải triều cống nạp cho vương triều nhà Hán ở Trung Quốc, Việt Nam đã bắt đầu bị nhà Hán chiếm đóng Khi xâm chiếm vương quốc Nam Việt, triều đại nhà Hán không chỉ thống trị vương quốc Âu Lạc phía bắc Việt Nam mà còn thống trị nhiều vùng lãnh thổ khác ở phía nam Trung Quốc Nhà Hán sáp nhập Âu Lạc vào đế quốc của mình Từ đó, Trung Quốc chiếm đóng Việt Nam trong suốt 1.000 năm, cho mãi đến năm 939 sau CN, sau khi triều đại nhà Đường sụp đổ vào năm 907 Từ khi bắt đầu thời kỳ chiếm đóng lâu dài này, “lịch sử của Việt Nam tiến hoá dưới sự ảnh hưởng của hai yếu tố trái ngược nhau Một mặt là chính sách khai thác kinh tế và đồng hoá văn hoá, mặt khác là sự phản kháng kiên định được đánh dấu bởi các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại sự thống trị nước ngoài Sự phản kháng này, sau nhiều thế kỷ, dẫn đến sự bảo tồn bản sắc dân tộc Việt Nam, sự nổi lên của nhận thức quốc gia và sự hình thành nhà nước Việt Nam độc lập.” (Nhà Nguyễn, trang 16) Các cuộc khởi nghĩa chống lại sự thống trị của Trung Quốc bùng nổ liên tục, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác Cuộc khởi nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất là của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị từ giữa năm 40 cho đến năm 43 sau CN Một người phụ nữ khác là Bà Triệu đã phát động phong trào chống lại sự thống trị của Trung Quốc trên quy mô rộng lớn vào năm 248 sau CN Các cuộc khởi nghĩa lớn đã diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ nhưng đều thất bại Triều đại nhà Tuỳ kéo dài đến cuối thế kỷ thứ VI, và đầu thế kỷ thứ VII, triều đại nhà Đường nắm quyền lực ở Trung Quốc Những triều đại này mở rộng mạng lưới hành chính ở Việt Nam một cách sát sao hơn để khai thác tài nguyên của Việt Nam Nhưng từ thế kỷ thứ X, Trung Quốc bước vào thời kỳ hỗn loạn và nhà Đường đã sụp đổ vào năm 907 Năm 905, viên quan cai trị cuối cùng mà triều đình

Trang 3

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

Nam đã trở thành người nắm quyền lực Nhưng đến năm 930, triều đại Nam Hán nắm quyền kiểm soát khu vực Nam Trung Quốc và đã xâm lược Việt Nam một lần nữa Những người Việt Nam yêu nước đã hai lần liên tiếp đấu tranh chống lại quân Nam Hán Cuối cùng, vào năm 938, người dân Việt Nam đã đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, cửa sông dẫn vào Vịnh Hạ Long Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho sự thống trị của Trung Quốc ở Việt Nam Nhưng chỉ đến năm 1009, một thời kỳ dài của một quốc gia ổn định, quân chủ, tập trung mới bắt đầu sau vô số các cuộc nội chiến và cuộc chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược của triều đại nhà Tống mới thiết lập ở Trung Quốc (Nhà Nguyễn, trang 21 – 25) Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, thông qua hàng loạt những cuộc khởi nghĩa và chiến thắng cuối cùng, nhân dân Việt Nam đã xây dựng được bản sắc dân tộc, tinh thần yêu nước và học hỏi được những chiến lược trong chiến tranh Cũng trong thời gian Bắc thuộc, Việt Nam chịu ảnh hưởng rất mạnh

mẽ từ chính sách đồng hoá của Trung Quốc Xã hội Việt Nam, từ các chính phủ trung ương, địa phương đến hộ gia đình, đều được tổ chức tuân theo học thuyết của Khổng Tử Học thuyết của đạo Lão cũng xuất hiện từ Trung Quốc Đạo Phật cũng đến từ Trung Quốc qua đường bộ và từ Ấn Độ qua đường biển Từ ngữ của Việt Nam mượn một số lượng lớn từ tiếng Trung Quốc Sự thống trị của Trung Quốc, một nước có nền văn minh phát triển cao, đã mang lại những lợi ích về phát triển của công nghệ cho Việt Nam Trong thời kỳ này, những nền tảng hình thành đặc điểm và các giá trị quốc gia dân tộc của Việt Nam đã được thiết lập

2.2 Nhật Bản theo gót người thầy Trung Quốc

Thời kỳ tr.CN và khi Trung Quốc bắt đầu thống trị Việt Nam, lịch sử dưới dạng văn bản không hề có ở Nhật Bản Nhưng lịch sử của các triều đại ở Trung Quốc như thời đại Nguỵ - Tấn cũng có các ghi chép về Nhật Bản Theo những ghi chép này của Trung Quốc, quốc đảo Nhật Bản bị phân chia thành nhiều quốc gia nhỏ với các vị vua hay nữ hoàng Các vị vua hay nữ hoàng của những “quốc gia”

đó quyết định thần phục các hoàng đế Trung Quốc Các nguồn tài liệu của Trung Quốc đã ghi chép về các sứ thần của các vị vua hay nữ hoàng Nhật (bao gồm cả nữ hoàng Kimiko), những người đã đến Trung Quốc vào các năm 107, 239, 266 sau CN,

đã được ghi chép trong các tài liệu của Trung Quốc Một con dấu bằng vàng đã được hoàng đế nhà Hán giao cho một “vị vua” của “quốc gia” nhỏ tên là Kyushu

ở phía Bắc vào năm 57 sau CN như là một vật kỷ niệm của nhà Hán đã được phát hiện vào năm 1784

Giữa thế kỷ thứ IV, phe cánh mạnh mẽ nhất đã thiết lập triều đình Yamato

Từ giữa thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V, Nhật xâm lược Hàn Quốc và đã thiết lập một thuộc địa của Nhật trên bán đảo Hàn Quốc Những cuốn sử biên niên đầu tiên đã ghi chép rằng một cuộc viễn chinh nổi tiếng đã được một nữ hoàng có tên là Jingu

tổ chức và chỉ huy Chẳng bao lâu sau khi Nhật Bản thống nhất, quốc gia này đã

Trang 4

Masahira Anesaki

thể hiện đặc điểm của một quốc gia xâm lược trong khi Việt Nam lại là một nước

bị Trung Quốc xâm chiếm

Vào đầu thế kỷ V, hệ thống chữ viết của Trung Quốc đã được chính thức áp dụng ở Nhật Bản Không chỉ có hệ thống chữ viết mà còn rất nhiều những thứ quan trọng khác từ Trung Quốc cũng được đưa vào Nhật Bản thông qua Hàn Quốc Rất nhiều người Trung Quốc và Hàn Quốc đã đến định cư ở Nhật, trong số

đó có cả những thợ thủ công lành nghề, những học giả, những mục sư, những người đã mang theo cả những kỹ năng, những kiến thức và sự văn minh của mình Vào khoảng giữa thế kỷ VI, một phần ba trong số những gia đình quý tộc của Nhật Bản có nguồn gốc từ Hàn Quốc và Trung Quốc (Stony, trang 29) Nhưng những người Hàn Quốc và Trung Quốc này và những hậu duệ của họ dường như không cư xử như những kẻ xâm lược hay những thế lực chiếm đóng Trái lại, họ

đã hoà nhập vào xã hội Nhật Bản

Năm 589 sau CN, Trung Quốc được thống nhất bởi triều đại nhà Tuỳ, triều đại tiếp nối triều đại nhà Đường từ năm 618 đến năm 906 sau CN Trong suốt thời

kỳ của những triều đại này, rất nhiều nhóm người Nhật Bản, bao gồm những sứ thần, những học giả, linh mục, quan chức, nghệ sỹ, thợ thủ công đã chính thức tìm đường đến Trung Quốc trong những cuộc hành trình trên biển đầy nguy hiểm Cụ thể là, người Nhật đã nhận thấy đế chế đời Đường phi thường và ấn tượng đến nỗi những người lãnh đạo đã cố gắng học hỏi và áp dụng những phong cách của Trung Quốc và thích nghi hay “Nhật hoá” một trong số những phong cách đó Những thủ đô của họ như Heijo-kyo, Nagaoka-kyo cũng được sao chép

từ thủ đô của nhà Đường ở Tràng An

Nhưng khi Trung Quốc bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn từ đầu thế kỷ IX

và người Nhật Bản cảm thấy họ không có gì để học hỏi từ Trung Quốc đương đại,

“Nhật đã bước vào một thời kỳ bị cô lập tương đối, bởi không chỉ các mối liên kết với Trung Quốc trở nên mỏng manh mà mối liên hệ với Hàn Quốc cũng không còn thân thiết như trước đây sau khi từ bỏ thuộc địa ở Hàn Quốc vào thế kỷ VII” (Stony, trang 33) Thời kỳ Heian bắt đầu năm 794 và kéo dài khoảng 300 năm cho đến năm 1185, khi nền văn hoá riêng biệt của Nhật Bản đã chín muồi Sự cách ngăn do biển bao xung quanh đã tạo cho Nhật Bản khả năng có thể lựa chọn các chính sách đan xen với việc học hỏi từ các quốc gia tiên tiến bên ngoài; điều này khác với Việt Nam - một quốc gia như có chung biên giới với nhiều quốc gia Việt Nam đã phải đối mặt với nỗi sợ hãi bị các đế chế Trung Quốc xâm lược, ví dụ như nhà Tuỳ (thế kỷ XI), nhà Nguyên (thế kỷ XIII) và nhà Minh (thế kỷ XV)

2.3 Chiến thắng của Nhật Bản và Việt Nam chống lại quán xâm lược Mông nguyên

Vào thế kỷ XIII, cả Việt Nam và Nhật Bản đều bị quân Mông Cổ xâm lược

Trang 5

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

thứ ba Quân Mông Cổ bị thất bại trong những cuộc chiến tranh xâm lược này Những chiến thắng chống lại quân Nguyên đã góp phần tạo ra những khác biệt trong những đặc điểm và các giá trị quốc gia giữa người Việt Nam và người Nhật Bản

2.3.1 Chiến thắng của Việt Nam

Vào đầu thế kỷ XIII, Gengis Khan thống nhất Mông Cổ và bắt đầu tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược Vào năm 1257, quân đội của Kubilai Khan đã xâm lược Việt Nam để làm tiền đề tấn công nhà Tuỳ ở Trung Quốc từ phía Nam Quân đội của Mông Cổ đã chiếm giữ kinh thành Thăng Long (hiện nay là thủ đô Hà Nội) Vua quan nhà Trần và những người dân cư trú ở đây đã rời kinh thành Thăng Long Quân Nguyên không thể có được lương thực trừ nguồn lương thực đang bị thối rữa trong khí hậu nhiệt đới Chúng đã bị hất cẳng ra khỏi thủ đô bởi cuộc phản công của người Việt Nam và sào huyệt của chúng cũng đã bị một nhóm dân tộc thiểu số tấn công Đây là chiến thắng đầu tiên của người Việt Nam chống lại quân Nguyên

Sau thất bại đầu tiên, quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của Kubilai đã chuẩn bị một cuộc viễn chinh khác để xâm chiếm Việt Nam Trước tiên, vào năm 1282, quân Nguyên đã đặt chân lên vùng ven biển gọi là Chăm-pa Kubilai đã chuẩn bị 500.000 kỵ binh và lính bộ binh cho một cuộc viễn chinh hùng mạnh chống lại Việt Nam và Chăm-pa Vị vua của Việt Nam thời đó đã hỏi ý kiến tất cả những hoàng thân và những chức sắc có địa vị cao về những hành động cần phải thực hiện; tất

cả họ đều nhất trí là phải chiến đấu “Một cuộc họp chính thức của các già làng từ khắp nơi trên đất nước đã được triệu tập, và câu hỏi sau đã được đặt ra với họ:

“Chúng ta nên hàng hay đánh?” Một tiếng kêu lớn vang lên: “Đánh” Lực lượng của người Việt Nam chỉ có 200.000 người do vị tướng lừng danh Trần Hưng Đạo lãnh đạo đã chiến đấu rất dũng cảm với 500.000 quân Nguyên Nhuệ khí của những tráng sỹ Việt Nam cao đến độ tất cả họ đều khắc một chữ vào cánh tay của mình, đó là chữ “Sát Thát” (Nhà Nguyễn, trang 39) Những người dân trong làng chống cự quyết liệt với quân xâm lược bằng mọi giá Họ ẩn náu trong những khu rừng và ngọn núi, nếu cần, và họ tiếp tục chiến tranh du kích Khi phần lớn lãnh thổ của Việt Nam bị quân Nguyên chiếm đóng, người dân Việt Nam đã thực hiện sách lược “vườn không nhà trống để cắt nguồn lương thực của quân Nguyên, và các lực lượng của quân Việt Nam đã tấn công vào những vị trí không được phối hợp và dễ bị tổn thương của quân Nguyên Tướng Nguyên đã bị giết và 50.000 quân lính đã bị bắt Khoảng nửa triệu quân Nguyên đã bị tiêu diệt Và cuối cùng toàn lãnh thổ Việt Nam đã được tự do vào tháng 8/1285

Kubilai đã từ bỏ kế hoạch xâm lược Nhật Bản lần thứ ba để chuẩn bị cho cuộc viễn chinh trả thù Việt Nam Vào năm 1287, tướng nhà Nguyên – người dẫn

Trang 6

Masahira Anesaki

quân xâm lược Việt Nam trong cuộc xâm lược trước đã qua biên giới phía Bắc với 300.000 quân lính và một hạm đội với 500 tàu chiến lớn tiến thẳng vào bờ biển Việt Nam Nhân dân Việt Nam lại một lần nữa sử dụng sách lược “bỏ đói”, còn vua và những người dân rời thủ đô và cất giấu lương thực của mình Tướng Trần Hưng Đạo sử dụng sách lược tương tự của cha anh trong thế kỷ X để đánh đuổi quân Nguyên Khi ấy, vị tướng đã đóng cọc sắt nhọn trên cửa sông vào lúc thuỷ triều lên và khi thuỷ triều xuống, một đội thuyền chiến nhỏ của Việt Nam ra khiêu chiến rồi rút lui nhanh chóng Thuyền quân Nguyên đuổi theo và bị những giàn cọc sắt đâm thủng Tướng chỉ huy của quân Nguyên đã bị bắt giam, 100 thuyền đã

bị phá huỷ và 400 tên lính khác đã bị bắt Đây là thất bại lần thứ ba của quân Nguyên vào năm 1288 Năm sau, vua của Việt Nam đã giao lại những tướng lĩnh

và những quân lính đã bị bắt Sau cái chết của Kubilai vào năm 1294, người trị vì mới của quân Nguyên đã thiết lập mối quan hệ thân thiện với Việt Nam

Chiến thắng của Việt Nam trước quân Nguyên với số lượng và lực lượng vũ trang hùng mạnh là nhờ có sự đoàn kết quốc gia thực sự được tạo lập từ những cuộc đấu tranh chống xâm lăng và những nhà lãnh đạo tài ba như tướng Trần Hưng Đạo - người đã tận dụng những sách lược sáng suốt và được sự hỗ trợ của quần chúng, đặc biệt là chiến tranh du kích với hệ thống sỹ - nông, trong đó mỗi người đều trở thành một chiến binh và các nhóm dân tộc thiểu số đóng góp một phần ở những khu vực ở miền núi Những đặc tính này cũng lại được phát huy trong những cuộc chiến tranh hiện đại của Việt Nam do tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo

2.3.2 Chiến thắng của Nhật Bản

Vào các năm 1274 và năm 1281, hoàng đế nhà Nguyên Kubilai Khan đã đưa tàu chiến tấn công Nhật Cuộc tấn công đầu tiên diễn ra sau khi người Nhật phản đối yêu cầu của nhà Nguyên rằng Nhật phải công nhận chủ quyền của Kubilai Vào ngày hôm sau, khi lực lượng xâm lược gồm 40.000 quân đã đặt chân xuống gần Hakata (hiện nay là Fukuoka), một cơn bão đột ngột xuất hiện, phá huỷ một

bộ phận lớn của đội tàu chiến và làm nhiều binh lính chết đuối 7 năm sau, vào năm 1281, sau khi Nhật lại một lần nữa bác bỏ những yêu cầu của Kubilai và chém đầu những phái viên của Kubilai, Kulibai đã cho 150.000 binh lính tấn công Nhật Sau 53 ngày chiến đấu quyết liệt ở Kyushu, một cơn bão nhiệt đới dữ dội lại xuất hiện Quân Nguyên đã phải lên tàu rút lui

Nhưng sau chiến thắng chống quân Nguyên, những chiến binh Nhật không được nhận một phần thưởng nào, chẳng hạn như một vùng đất của kẻ thù và họ

đã rất thất vọng Đây là thời kỳ bắt đầu sự sụp đổ của tướng quân Nhật Kamakura Hai chiến thắng liên tiếp này nhờ có những cơn bão nhiệt đới đã khiến

Trang 7

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

luôn giúp đỡ người Nhật trong chiến tranh Sự mê tín này đã khiến Nhật rơi vào

sự thất bại trong cuộc chiến tranh chống lại khối Đồng minh

2.4 Những sự việc tình cờ tương tự và những kết quả khác nhau giữa Nhật và Việt Nam

2.4.1 Việc hiện đại hoá Nhật Bản

Vào giữa thế kỷ thứ XIX, khi thời kỳ phong kiến ở Việt Nam và Nhật Bản kết thúc, hai quốc gia này đã được các thế lực phương Tây tiếp cận nhằm mục đích thực dân hoá hay tìm kiếm thương mại Vào năm 1853, một nhóm người Mỹ dưới

sự lãnh đạo của thiếu tướng hải quân Mathew Perry đã đến Nhật với một lá thư của Tổng thống Mỹ yêu cầu mở rộng các mối quan hệ giao dịch thương mại Tướng Nhật Tokugawa đã rất bối rối bởi sự xuất hiện của thiếu tướng hải quân Perry và những yêu cầu này, bởi Nhật đã đóng cửa với thế giới bên ngoài bằng chính sách cô lập suốt hơn hai thế kỷ qua Những năm sau, 1854, thiếu tướng hải quân Perry và hạm đội của ông đã quay trở lại Nhật Bản Chính phủ Nhật cuối cùng đã quyết định mở cửa với thế giới Và Hiệp ước Hoà bình và Hữu nghị giữa

5 quốc gia trên

Sau một cuộc nội chiến quyết liệt giữa những người ủng hộ đế quốc và những người ủng hộ chế độ Mạc phủ (Shogunate) Nhật, cuối cùng, vào năm 1868, những người ủng hộ đế quốc đã chiến thắng và thiết lập lại chế độ đế quốc Trong cuộc nội chiến này, Pháp đã hỗ trợ những người ủng hộ chế độ tướng quân Nhật thất bại dưới nhiều hình thức khác nhau Nhật đã bắt đầu một tiến trình hiện đại hoá và bảo vệ nền độc lập của mình dưới những “Hiệp ước không bình đẳng”, ghi chép cẩn thận về Chiến tranh thuốc phiện và thực dân hoá của Trung Quốc bởi những thế lực phương Tây

Nhật đã lao vào con đường hiện đại hoá và phương Tây hoá Nhật đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) và cuộc chiến tranh Nga -Nhật (1904 -1 905) Những “Hiệp ước không bình đẳng” này đã bị loại bỏ Nhật đã thôn tính lãnh thổ của Đài Loan vào năm 1895 và Hàn Quốc vào năm 1910 Nhật giờ đây đã trở thành một kẻ xâm lược quân phiệt Nhật đã thiết lập một chính phủ

bù nhìn của “Manchuria” ở Trung Quốc Vào năm 1937, một cuộc chiến tranh quy

mô toàn diện chống lại Trung Quốc đã bắt đầu Và cuối cùng Nhật, một quốc gia của Trục Béc-lin, Rô-ma, Tokyo đã bắt đầu cuộc chiến Thái Bình Dương chống lại

Trang 8

quân phiệt và thực dân và cuối cùng nó hoàn toàn bị phá huỷ Kamikaze, hay, cơn

gió thần, đã không thổi đến quốc gia Nhật Bản đi xâm lược như nó đã xuất hiện trong cuộc chiến của Nhật chống quân Nguyên xâm lược vào thế kỷ XIII Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, Nhật quân phiệt đã tổ chức và sử dụng một đơn vị đặc nhiệm gồm những phi công tự sát được gọi là Đơn vị đặc nhiệm

Kamikaze để tấn công những tàu chiến của Mỹ Nhật đã hồi phục từ những tàn phá

của chiến tranh Nhật bắt đầu trở thành một quốc gia yêu hoà bình và dân chủ Một hiến pháp mới hậu chiến tranh đã tuyệt đối từ bỏ chiến tranh Chiến tranh của Hàn Quốc đã nổ ra vào năm 1950 bên bờ bên kia của bờ biển Nhật Bản Quân đội Nhật Bản, tiền thân của Lực lượng phòng vệ hiện tại đã được xây dựng Hiến pháp hoà bình đã ngăn cản Nhật tham gia vào chiến tranh một cách trực tiếp, và Nhật đã thu được những lợi ích kinh tế từ cuộc chiến tranh Hàn Quốc Kinh tế của Nhật không chỉ được hồi phục mà còn bắt đầu bùng nổ mạnh mẽ Chiến tranh Hàn Quốc đã cung cấp động lực và điều luật từ bỏ chiến tranh của Hiến pháp Nhật giúp những chi phí phòng vệ ở mức tối thiểu đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản Vào năm 1967, Nhật đã đạt được GDP ở mức lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ

2.4.2 Thực dân hoá Việt Nam

Khoảng cùng thời điểm với sự xuất hiện của hạm đội Mỹ ở vịnh Tokyo, Nhật Bản ngày 31/8/1858, một đội hải quân Pháp đã tấn công Đà Nẵng, Việt Nam, bắt đầu một cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa Nhân dân Việt Nam dưới chế độ phong kiến mục nát đã bị phân chia thành hai bè phái, một bè phái thân Pháp cố gắng đòi thoả hiệp và một phe là một nhóm hùng mạnh bao gồm những nhà yêu nước, những người đã thừa hưởng truyền thống lâu đời đấu tranh đòi độc lập cho quốc gia Những cuộc khởi nghĩa nổ ra nhiều lần Nhưng cuối cùng, năm 1885, Việt Nam đã bị Pháp thôn tính Tuy nhiên, sau khi Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục kháng cự Vào năm 1897, một chế độ thực dân đã được thiết lập khi một người lãnh đạo toàn quyền khu vực Đông Dương được bầu

ra để quản lý không chỉ Việt Nam mà còn quản lý cả Lào và Campuchia

Chiến thắng của Nhật Bản chống lại chế độ Nga hoàng năm 1905 đã khuyến khích những nhà yêu nước Việt Nam nuôi dưỡng hy vọng rằng Nhật - một cường

Trang 9

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

và nghiên cứu, đây là một phần trong phong trào được gọi là “Go East” (Đông Du) Nhưng đến năm 1909, chính phủ Nhật Bản, do bị chính phủ Pháp mua chuộc, đã công nhận sự xâm chiếm của Pháp ở châu Á và đuổi những người yêu nước Việt Nam khỏi Nhật Bản Chính phủ Nhật phản bội lại mong muốn của những nhà yêu nước Việt Nam Nhật đã trở thành đế quốc chiếm giữ Đài Loan làm thuộc địa năm 1895 và Hàn Quốc năm 1905 (Nhà Nguyễn, trang 17-168) Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, từ năm 1919 đến năm 1929, thực dân Pháp đã tăng cường khai thác kinh tế ở Việt Nam nhằm mục đích phục hồi kinh tế của Pháp Vào thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc (sau này gọi là Hồ Chí Minh) và những nhà lãnh đạo các phong trào giải phóng khác chịu ảnh hưởng bởi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã chọn Chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa cộng sản làm học thuyết cho cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam đang bị thực dân hoá Khoảng một thập kỷ sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất và cuộc Cách mạng Tháng Mười kết thúc, năm 1929, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được sáng lập Cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp để giành độc lập quốc gia đã được Đảng Cộng sản lãnh đạo

Chiến tranh thế giới lần hai bắt đầu năm 1939 đã đè một gánh nặng lớn lên nhân dân Việt Nam Hàng nghìn chiến sỹ và công nhân Việt Nam đã bị gửi sang Pháp Nhân dân Việt Nam phải cung cấp cho Pháp một số lượng lớn lương thực, nguyên liệu cho cuộc chiến tranh Vào năm 1940, Pháp đã bị phát xít Đức đánh bại Sự thất bại của Pháp và sự xâm lược của quân đội Nhật khiến cho thực dân Pháp rơi vào tình trạng hỗn loạn Nhật cố gắng tận dụng bộ máy quản lý của thực dân Pháp Pháp bị bắt buộc phải để quân đội Nhật vào Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Chính phủ Pháp thân phát xít và chính phủ quân phiệt Nhật bắt tay với nhau để khai thác các nguồn lực của Việt Nam và đàn áp các phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam Các cuộc nổi dậy của nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục nhưng đều bị trấn áp

Vào năm 1941, Mặt trận Việt Minh (Liên minh độc lập Việt Nam) đã được sáng lập, bao gồm rất nhiều công nhân, nông dân, các tổ chức của thanh niên và phụ nữ, các lực lượng du kích, thậm chí cả giai cấp tư sản và những địa chủ: mọi người từ các giai tầng xã hội những người đều đồng lòng đấu tranh chống lại thực dân Pháp và Nhật Việt Minh nhanh chóng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong nhân dân Việt Nam

Dưới hai tròng bóc lột của Pháp và Nhật, người dân Việt Nam đã phải chịu đựng nghèo đói cùng kiệt, nạn đói thường xuyên xảy ra Quân đội của Nhật tích trữ lúa gạo để sử dụng Hai triệu người dân Việt Nam đã bị chết đói Năm 1945, phát xít Đức đã bị đánh bại và chính phủ thân phát xít ở Pháp bị sụp đổ De Gaulle đã cam kết với Đông Dương về quyền tự chủ để bảo đảm an toàn cho sự xuất hiện của Pháp ở Đông Dương

Trang 10

Masahira Anesaki

Quân đội Nhật đã tước vũ khí của Pháp Sự thất bại tiếp theo của Nhật là điều hiển nhiên Trước và sau khi Nhật đầu hàng, vào ngày 15/8, những cuộc khởi nghĩa nổ ra trên khắp Việt Nam Vào ngày 25/8, cùng với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị là sự thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám của nhân dân Việt Nam Cuộc cách mạng được chuẩn bị kỹ lưỡng về chính trị cũng như quân sự này đã chấm dứt 80 năm bị thực dân Pháp cai trị và xoá bỏ chế độ quân chủ và tái thiết nền độc lập cho Việt Nam

Nhưng đây chưa phải là sự chấm dứt hoàn toàn của việc thực dân hoá và cũng không phải là sự bắt đầu của một nền độc lập Theo cam kết đầu hàng sau thất bại của Nhật, phía bắc Đông Dương bị chiếm đóng bởi quân đội Trung Quốc Chiang Kai-shek và phía nam bị hạm đội hải quân Anh kiểm soát Chúng dọn đường cho sự trở lại của người Pháp Chính phủ Pháp nuôi dưỡng ý định tái thiết chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và đã phái những đội quân Pháp tới khu vực này Vào ngày 23/8, Pháp tuyên bố không công nhận nền độc lập của Việt Nam Vào ngày 2/9, binh lính Pháp ẩn náu trong một nhà thờ đã châm lửa vào một đám đông đang biểu tình đòi độc lập Và cuộc chiến tranh 9 năm chống lại thực dân Pháp đã nổ ra vào ngày 23/9/1945, kết thúc với sự thất bại của Pháp vào ngày 7/ 5/1954 với Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử

Sau chiến tranh Hàn Quốc và cuộc cách mạng Trung Quốc, từ năm 1950, sự can thiệp của Mỹ trong cuộc chiến tranh này đã bắt đầu một cách công khai Sau khi Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ vào năm 1954, Mỹ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh tại Việt Nam Quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam năm 1973 Mặt trận giải phóng dân tộc quốc gia miền Bắc Việt Nam, các lực lượng Chính phủ cách mạng lâm thời phải đấu tranh chống lại những lực lượng quân đội của Chính phủ miền Nam Việt Nam thân Mỹ đến mãi hơn hai năm sau, năm 1975 Mặt trận giải phóng dân tộc quốc gia miền Bắc Việt Nam đã chiến thắng và cuối cùng Việt Nam

đã được thống nhất Nhân dân Việt Nam giành được hoà bình sau cuộc đấu tranh trong vòng 30 năm từ năm 1945 đến năm 1975

Trang 11

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA: MỘT SỐ SO SÁNH…

nguyên hiện đại của Nhật bắt đầu, gần như sự việc đầu tiên được chính phủ bàn bạc là một cuộc viễn chinh tới Hàn Quốc Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm nhiều lần trong một thời kỳ dài kéo dài suốt 10 thế kỷ và bị Pháp thực dân hoá trong vòng 80 năm Người Việt Nam luôn luôn đấu tranh chống lại những kẻ xâm lược và cuối cùng đã đánh bại được những kẻ xâm lăng Nhân dân Việt Nam không bao giờ xâm lược các quốc gia khác Họ không phải là những con người thích chiến tranh mà là những con người yêu chuộng hoà bình Họ là một trong những dân tộc hiểu rõ giá trị của hoà bình trên thế giới Một truyền thuyết có liên quan đến hồ Hoàn Kiếm ở trung tâm Hà Nội đã cho biết rằng khi Việt Nam bị nhà Minh trực tiếp cai trị vào đầu thế kỷ XIV, vua Lê Lợi, người sáng lập ra nhà Lê, đã được một con rùa giao cho thanh gươm thần vào năm 1428 Ông đã chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến tranh giành độc lập chống lại nhà Minh với thanh gươm thần đó và đã mang lại độc lập tự do cho Việt Nam Sau chiến tranh, ông đã trả lại thanh gươm đó cho con rùa Có lẽ, hoà bình phải là vấn đề nên được suy xét một cách sâu sắc hơn nữa trong thế giới đầy xung đột này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lịch sử của Việt Nam chủ yếu dựa trên Nhà Nguyễn (2004);

2 Lịch sử của Nhật dựa trên Storry (1960) và Kodansha Quốc tế (1996)

Trang 12

Trần Lê Bảo

CH¦¥NG TR×NH §µO T¹O VIƯT NAM HäC

ë VIƯT NAM HIƯN NAY

PGS.TS Trần Lê Bảo *

1 Trong xu thế tồn cầu hố, diện mạo thế giới đã cĩ nhiều thay đổi chĩng

mặt: thơng tin nhanh, tức thời; kinh tế thế giới khơng cịn biên giới và nhất thể hố; xã hội dịch vụ kiểu mới, thời đại nhàn hạ kiểu mới, do đĩ tuổi thọ được nâng cao; cách làm việc cũng luơn thay đổi; thời đại trí tuệ lên ngơi; thời đại của văn hố dân tộc; thời đại gia tăng số lượng các tầng lớp dưới; thời đại hợp tác và cũng

là thời đại thắng lợi của cá nhân (theo Jeanntte Vos) Thời đại mới đem lại nhiều

cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức cho mọi người và mỗi cộng đồng Đối với giáo dục cũng vậy, xu thế mới này cũng địi hỏi phải cĩ một chiến lược đào tạo nhân tài trong mỗi quốc gia, dân tộc

Ở Việt Nam, năm 1986, Đại hội Đảng CSVN lần VI đã đề xướng đổi mới tồn diện nền giáo dục quốc gia, trong đĩ cĩ vấn đề về chương trình và sách giáo khoa

- một vấn đề cĩ vai trị hết sức quan trọng, quyết định chất lượng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực quốc gia Cho tới nay, cải cách giáo dục, đổi mới về chương trình và sách giáo khoa phổ thơng nhằm phù hợp với xu hướng thời đại mới, nâng tầm giáo dục Việt Nam ngang với khu vực và thế giới, đã cĩ những thành tựu khơng thể phủ nhận được, song vẫn cịn khá nhiều vấn đề bức xúc về chương trình và sách giáo khoa được tồn xã hội quan tâm

Vấn đề chương trình đã được Phĩ Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết giáo dục đại học năm 2006 - 2007 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ năm học 2007 - 2008: “Nhiệm

vụ trọng tâm là phát triển các chương trình đào tạo tại các trường đại học đạt trình

độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, hình thành các trường đại học cĩ trình

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIĨU BAN NH÷NG VÊN §Ị VỊ Lý THUỸT Vµ PH¦¥NG PH¸P §µO T¹O VIƯT NAM HäC

Trang 13

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

độ quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 có một đại học Việt Nam xếp hạng trong 200 trường đại học hàng đầu của thế giới và một số trường đại học trong tốp 500” Cùng với nhu cầu tìm hiểu về Việt Nam của thế giới, ngành Việt Nam học ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong gần mười năm qua, có nhiều cuộc hội thảo

về Việt Nam, thu hút được sự quan tâm của hàng trăm nhà khoa học thế giới và Việt Nam Có gần 60 trường đại học và cao đẳng, từ Bắc vào Nam, mở ngành đào tạo Việt Nam học, chưa kể rất nhiều trung tâm nghiên cứu về Việt Nam có mặt ở trong nước và nhiều nước trên thế giới Có thể thấy, việc đào tạo những sinh viên

có khả năng hiểu biết sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam, để thích ứng và sáng tạo trong học tập và nghiên cứu, đáp ứng mọi hoạt động xã hội, góp phần gìn giữ và phát triển nền văn hoá dân tộc, đồng thời tăng cường hội nhập khu vực

và quốc tế là một hướng đi cần thiết và đúng đắn

Tuy nhiên, Việt Nam học là một ngành khoa học không mới với thế giới, nhưng mới được xác lập để nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam Nhìn vào công tác đào tạo ngành Việt Nam học ở các trường đại học và cao đẳng, chúng ta có thể thấy, mặc dù số lượng các trường mở ngành có đông lên theo từng năm, nhưng về chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập Điều này có nguyên nhân không nhỏ từ việc thực hiện khung chương trình chuẩn Việt Nam học, cũng như việc thực hiện mục đích đào tạo giữa các trường hiện nay Vì bản thân nội hàm của khoa học nghiên cứu về Việt Nam, đối tượng, phương pháp, cũng như nội dung chương trình nghiên cứu của ngành học này còn nhiều vấn đề để ngỏ, chưa thống nhất, cho nên cần có những chương trình khung chuẩn định hướng, thống nhất về nội dung ngành học, về thời lượng và số lượng môn học,…

Vì vậy, khi xem xét chương trình ngành Việt Nam học, trước hết phải xuất phát từ thực tiễn và đặt nó trong hệ thống chương trình các chuyên ngành khác, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng với những ưu và nhược điểm như xã hội đề cập tới Mặt khác, ngành Việt Nam học là một ngành học đặc thù, cho nên chương trình cũng có những cái riêng, đòi hỏi phải quan tâm đến những yếu tố đặc thù và tất nhiên cũng có những cái mạnh, cái thuận lợi và cái chưa mạnh, cái khó khăn của ngành Vậy nên, trong bài viết này, chúng tôi đề cập tới một số quan niệm về chương trình chung, thực tiễn chương trình Việt Nam học ở Việt Nam và những kiến nghị

2 Một số quan niệm về Chương trình và chương trình Việt Nam học - Khu vực học

2.1 Chương trình: là một hệ thống về nội dung học vấn nhất định ở dạng đề

cương, phù hợp với các mục tiêu của nhà trường; được cụ thể hoá thành sách giáo khoa, các tài liệu giảng dạy, giúp người dạy lựa chọn được phương pháp giảng dạy thích hợp, người học phát huy được tính sáng tạo trong học tập và xử lý các tình huống trong cuộc sống Nó là một khâu quan trọng có tác dụng định hướng

Trang 14

- Tập trung vào người học: chương trình cần xác định mục tiêu và kết quả đạt được trong cả một quá trình học tập Người học cần được chủ động tham gia vào toàn bộ quá trình dạy học, từ khâu chuẩn bị bài cho tới kiểm tra đánh giá kết quả học tập, trong đó mối quan hệ giữa người dạy và người học là quan hệ tương tác, hợp tác, thông hiểu lẫn nhau, người dạy tạo mọi điều kiện cho việc học tập trở thành một hoạt động sáng tạo, tự lĩnh hội, tự khám phá, tự nghiên cứu học tập

- Chương trình được “quản lý mở” với tính chất định hướng là chính, không mang tính pháp lệnh “Chương trình mở” được thể hiện ở các góc độ sau:

+ Người thực hiện chương trình được phép thay đổi một số điểm cụ thể trong chương trình, sao cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể của việc thực thi chương trình, miễn là đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy

+ Các chủ thể giáo dục như các trường đại học, giáo viên, sinh viên, cha mẹ học sinh đều được tạo điều kiện để thực hiện sự thay đổi trên

+ Cần có các cấp quản lý từ chương trình thiết kế ban đầu đến các phiên bản chương trình khác nhau Cấp Trung ương quản lý chương trình khung, tiếp đến

Trang 15

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

+ Tuy nhiên, quá trình xây dựng và triển khai chương trình cần được chỉ đạo đồng bộ và thống nhất từ trung ương đến địa phương,…

Cải cách giáo dục ở Việt Nam trong mấy thập niên vừa qua luôn đặt mục tiêu hình thành nhân cách cho người học với phẩm chất và cả năng lực nhằm đáp ứng các đòi hỏi của thời đại văn minh trí tuệ luôn biến động, trong đó tính sáng tạo là năng lực hàng đầu; tiếp đến là năng lực hành động có hiệu quả trên

cơ sở vận dụng các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đã được hình thành trong học tập, lao động và giao tiếp sau đó là năng lực hợp tác và cùng chung sống trong cuộc sống và trong cộng đồng cuối cùng là năng lực tự khẳng định mình,

tự lập trong học tập và trong cuộc sống, phát triển cá tính và bản sắc Mục tiêu này cũng phù hợp với nguyên tắc giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO, do Chủ tịch Hội đồng Quốc tế về giáo dục - Jacques Delors nêu ra, gồm 4 trụ cột: học để biết,

học để làm, học để cùng chung sống và học suốt đời (Jacques Delors, Học tập một kho báu tiềm ẩn, NXB Giáo dục 2002)

Mục tiêu trên đòi hỏi phải có một chương trình tương ứng, thích hợp và khoa học để triển khai sự nghiệp giáo dục một cách hiệu quả nhất Chương trình giảng dạy và sách giáo khoa chỉ là sự thể hiện trong thực tế các mục tiêu giáo dục Chương trình và sách giáo khoa cần phải được đánh giá ở tính khả thi, cũng như hiệu quả xã hội hơn là được xem xét ở góc độ các sự kiện đơn thuần

2.2 Chương trình và chương trình khung chuẩn

Chương trình phải là sự thể hiện mục tiêu giáo dục Nó là quá trình được tiến hành thường xuyên mà các giáo viên phải tham gia ở các giai đoạn, từ xây dựng kế hoạch đến thực thi

Thời Liên Xô cũ, giáo dục được nhà nước quản lý tập trung vào trung ương

Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo một chương trình chung thống nhất, có nội dung “cứng” Bộ độc quyền tổ chức biên soạn sách giáo khoa cho học sinh và sách hướng dẫn cho giáo viên, sách hướng dẫn phương pháp,… sang thời kỳ đổi mới,

“Giáo dục được lựa chọn” Nhà nước cho xây dựng và thẩm định “chương trình khung chuẩn tối thiểu”, đảm bảo việc thực hiện quy chế của Liên bang về chuẩn giáo dục quốc gia, đồng thời khuyến nghị nhiều chương trình cho mỗi môn học

Ở Mỹ thường dùng hai khái niệm về chương trình: một là “Chương trình” (curriculum: C) là “Nội dung kiến thức dạng đề cương, phù hợp với các mục tiêu nhà trường” Hai là “Phát triển chương trình” (curriculum development) là “Quá trình đánh giá các yêu cầu, hình thành các mục tiêu, phát triển các cơ hội giảng dạy và đánh giá kết quả” Trong nhà trường thường có ba loại chương trình: một

là “Chương trình hiện” hay “chương trình chính quy” là chương trình các môn học chính khoá, bao gồm các văn bản giải thích chương trình, các giáo trình, bài

Trang 16

Trần Lê Bảo

kiểm tra, văn bản hướng dẫn giáo viên giảng dạy Hai là “chương trình ẩn” được hình thành một cách ngẫu nhiên, do sự tác động qua lại giữa học sinh với môi trường vật chất, xã hội và giao lưu của nhà trường Ba là “chương trình ngoại khoá” bao gồm những hoạt động của học sinh về thể thao, câu lạc bộ, quản lý sinh viên, cùng những loại hình hoạt động yêu thích khác Nhìn chung, nội dung chương trình giáo dục của Mỹ hiện nay có tính mềm dẻo và “mở” Chương trình cấp quốc gia là chương trình khung Từ chương trình khung, có thể có nhiều phương án sách giáo khoa khác nhau Giáo viên là người có chức năng chủ đạo thực hiện chương trình, có thể nhấn mạnh phần này hay phần khác, có thể trực tiếp phát triển chương trình và sách giáo khoa, có quyền tự do được thay đổi chương trình

Chương trình khung chuẩn rất quan trọng, phải đảm bảo được tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tiễn, tính hiện đại, tính ổn định và vừa sức với người học, cuối cùng phải có tính dân tộc, tính khu vực và tính quốc tế Chương trình này, do vậy, là chương trình cấp quốc gia không chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo,

mà phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Mặc dù đã có nhiều rút kinh nghiệm, chỉnh sửa cho khoa học và phù hợp hơn với người dạy và học, song hiện nay, khó có thể nói chương trình giáo dục đã được coi là ổn định Nhiều ý kiến cho rằng, chương trình hiện nay là bất cập, chỗ thì nặng quá, chỗ thì nhẹ quá, chỗ thì không chính xác, chỗ lại cần bổ sung, cho nên cần có một chương trình chuẩn quốc gia là cần thiết

2.3 Việc triển khai chương trình và thực trạng đào tạo Việt Nam học ở Việt Nam hiện nay

Mã ngành đào tạo đại học Việt Nam học đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua năm 1997 và sau đó là Khu vực học, trong đó có Việt Nam học (2003) Chương trình khung về Việt Nam học cũng đã được Bộ chỉ đạo xây dựng Tuy nhiên, có một thực tiễn là chương trình đào tạo Việt Nam học ở nhiều cơ sở đào tạo chưa được thống nhất và có nhiều bất cập ở một số phương diện sau:

- Đầu tiên phải kể tới cùng một mã ngành Việt Nam học mà khác nhau về mục tiêu và chương trình đào tạo Ngoài những mục tiêu có tính chất chung nhất

về xây dựng nhân cách đạo đức và năng lực sáng tạo… cho người học, thì có trường đào tạo người học đáp ứng công tác trên các lĩnh vực: nghiên cứu và hoạt động văn hoá, làm báo, người giảng dạy…; có trường đào tạo chủ yếu chỉ làm du lịch: văn hoá du lịch, hướng dẫn du lịch, ngoại ngữ du lịch Điều này được thể hiện trong thông báo của tài liệu hướng dẫn thi tuyển sinh vào các trường Đại học

và Cao đẳng Mã ngành Việt Nam học (Văn hoá du lịch, Hướng dẫn du lịch,…)

Trang 17

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

mã ngành Việt Nam học thì dễ có những hiểu lầm về khái niệm Việt Nam học Có thể hiểu Việt Nam học là ngành du lịch, hay ngành du lịch là Việt nam học Không cần nói thì ai cũng dễ thấy hai khái niệm này không tương đẳng Thêm nữa, trong một số trường Đại học có cả một ngành học Du lịch chuẩn (Khoa Du lịch - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đông Đô,…) Vậy thì ở đây có vấn đề Ở trên là mã ngành Việt Nam học, nhưng dạy theo chương trình ngành du lịch, hướng dẫn viên du lịch, ngoại ngữ du lịch Còn ở trong ngành du lịch, thì Việt Nam học và Khu vực học được coi như một môn bổ trợ

Nhiệm vụ đầu tiên của mã ngành Việt Nam học là trang bị những kiến thức toàn diện về đất nước, con người Việt Nam cho người học, thông qua những hiểu biết về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, Liệu các trường nấp dưới mã ngành Việt Nam học lại đào tạo du lịch, ngôn ngữ du lịch,

có đáp ứng được yêu cầu trên không? Chắc chắn là không, vì một chuyên ngành

du lịch không thể nào trang bị được toàn diện kiến thức về đất nước và con người Việt Nam Rõ ràng ở đây, mã ngành Việt Nam học chỉ là chiếc áo khoác đẹp cho ngành du lịch đang là “món hàng thời thượng” hiện nay

- Việt Nam học là ngành học mới, trong một thời gian ngắn, gần 10 năm (chỉ tính từ khi có mã ngành chính thức, không kể những cơ sở manh nha có tính chất tieefn đề Việt Nam học), đã có gần 60 trường mở mã ngành Việt Nam học, phần lớn là đào tạo trình độ đại học và cao đẳng, một cơ sở đào tạo sau đại học Việt Nam học ở Đại học Quốc gia Hà Nội Sự “phát triển nóng” này cho thấy, rõ ràng ngành Việt Nam học ra đời như một nhu cầu tất yếu và có tính cấp thiết đối với đòi hỏi của cả trong nước và quốc tế Song, cũng vì sự “phát triển nóng” này mà

có những nhận thức chưa đầy đủ về ngành Việt Nam học Trước hết là chủ thể nhà trường, cơ sở đào tạo, dù chưa nắm được khoa học về Việt Nam, nhưng cũng

cứ mở vì mấy lý do: có trường do yêu cầu mở rộng quy mô nên mở mã ngành Việt Nam học để có thể chiêu sinh; cũng có trường để tồn tại vì có một số ngành cũ không hấp dẫn sinh viên, có xu hướng giảm dần, nên chạy xin mã ngành mới là Việt Nam học, mặc dù cũng chẳng nghiên cứu gì nhiều Số trường này phần đông

sẽ là Việt Nam học du lịch Có một số trường cho rằng trường khác mở thì trường

ta cũng mở ngành Việt Nam học Điều này dẫn đến sự không thuần nhất về mục tiêu, chương trình đào tạo, sẽ dẫn đến hai hệ quả:

+ Một là, mặc dù có một số trường cố gắng trao đổi chương trình cho nhau, song không thể không thấy có sự tuỳ tiện trong việc hoạch định chương trình Việt Nam học trong mỗi trường Do Việt Nam học là ngành học mới, nhận thức về nó chưa đầy đủ cũng là tất nhiên Thêm nữa, người được trao nhiệm vụ làm chương trình cũng không được đào tạo từ ngành Việt Nam học, mà chỉ là những nhà khoa học của các chuyên ngành như văn, sử, địa, ngôn ngữ,… do say mê Việt Nam học

Trang 18

Trần Lê Bảo

nên làm “trái tay” Cho nên, ai mạnh về ngôn ngữ thì sẽ có chương trình Việt Nam học nặng về ngôn ngữ, ai chuyên về sử sẽ làm ra Việt Nam học nặng về sử, ai thích về du lịch sẽ sinh ra chương trình Việt Nam học toàn là du lịch, lại có chương trình Việt Nam học chuyên để dạy cho người nước ngoài, học rất nhiều Việt ngữ, được đem áp dụng cho sinh viên Việt Nam, trong khi họ cần học nhiều ngoại ngữ hơn là học tiếng Việt Vị trí mỗi môn học trong chương trình cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cả nội dung lẫn phân bố thời lượng Vì vậy, chương trình ở trong mỗi cơ sở đào tạo có nơi thì quá tả, nơi thì quá hữu, nơi thì bất cập,… Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đầu ra của người học, gây lộn xộn trong điều hành hệ thống giáo dục, trường nọ không chấp nhận chương trình đào tạo của trường kia, bắt sinh viên phải học bổ trợ rất tốn kém và mất thời gian…

+ Hệ quả thứ hai là mã ngành đã mở, sinh viên đã nhập trường, vậy thì phải

xử lý ra sao?

Có trường mở được mã ngành Việt Nam học, nhưng chưa đủ điều kiện vật chất và đội ngũ giảng dạy để có thể thành khoa, nên lúc đầu thường phải ghép với các khoa xã hội và nhân văn như gửi vào khoa Văn, khoa Đông Phương học, khoa

Du lịch, vì vậy, Việt Nam học sẽ không tránh khỏi những nhận thức coi nhẹ ngành học như một bộ phận của các khoa và tất nhiên sự đối xử cũng không bình đẳng, dễ mất quyền chủ động trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, không phát huy được tính năng động và sáng tạo của người làm Việt Nam học Thêm nữa, đội ngũ giảng dạy gặp rất nhiều khó khăn, bất cập Vả chăng, nếu

có thì cũng chưa thật chuẩn vì toàn người “dạy trái tay” Vì Việt Nam học là ngành mới mở và quy mô phát triển nhanh, nên số lượng giáo viên ở các cơ sở đào tạo rất thiếu Đây là vấn đề bức xúc của của nhiều ngành trong nhiều trường đại học và cao đẳng, không riêng gì ngành Việt Nam học Tuy nhiên, ở ngành Việt Nam học thì trầm trọng hơn, nên việc thường xuyên phải hợp tác, mời giảng viên ngoài trường là không tránh khỏi Điều này tạo ra không ít khó khăn, bị động trong việc điều hành chương trình Việt Nam học ở mỗi cơ sở đào tạo Chính chỗ khó này dễ nảy sinh sự tuỳ tiện hoặc cắt xén chương trình, hoặc “giật gấu vá vai”; nếu không thì cũng rơi vào trường hợp coi nhẹ khoa học, có gì dạy nấy Bên cạnh

đó là chất lượng đội ngũ giáo viên Các giáo viên Việt Nam học thường là từ các chuyên ngành khác nhau được tập hợp về khoa, kiến thức được trang bị là kiến thức các chuyên ngành hẹp như văn, sử, địa, du lịch,…chưa từng được đào tạo về Việt Nam học Tất nhiên, có nhiều thầy cô giáo có tâm huyết say mê với nghề nghiệp và nghiên cứu khoa học đã nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu của chất lượng đào tạo Nhưng, cũng có không ít giáo viên cũng chưa kịp nghiên cứu về Việt Nam học, chưa hiểu thấu đáo về ngành này, dễ dẫn đến ngộ nhận Việt Nam

Trang 19

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

người quản lý ngành Việt Nam học ở một số nơi cũng còn chưa hiểu Việt Nam học, nói gì đến người học Điều này ảnh hưởng trước hết đến việc triển khai chương trình đào tạo, đến chất lượng đào tạo, đến định hướng đầu ra cho sinh viên ngành Việt Nam học và xa hơn là chưa làm cho xã hội, các cơ quan công sở các vụ, viện, nơi sẽ tiếp nhận sinh viên ngành Việt Nam học, hiểu rõ bản chất mô hình ngành học, thấy rõ được vai trò chức năng của ngành học để có thể hưởng ứng, đặt hàng, tiếp nhận thành quả đào tạo và sử dụng có hiệu quả nhất…

3 Nguyên nhân chính của những thực trạng trên

- Thứ nhất, bản thân nội hàm khái niệm Việt Nam học, Khu vực học còn tương đối mới mẻ với Việt Nam và là một khái niệm mở, vậy nên có những cách hiểu chưa thống nhất, tất nhiên sẽ dẫn đến việc chỉ đạo chương trình khác nhau

Vì thế mà người được giao hoạch định chương trình có năng lực về lịch sử, sẽ đưa

ra chương trình nặng về sử hơn, người thạo về ngôn ngữ sẽ đưa ra chương trình

bố trí nhiều thời lượng về ngôn ngữ hơn

- Thứ hai, bản thân khái niệm Việt Nam học cũng rất rộng, bao gồm địa lý, lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá, du lịch,… nói tóm lại là nghiên cứu toàn diện về đất nước, con người Việt Nam Vì vậy, có cơ sở đào tạo cử nhân với chương trình tương đối hoàn chỉnh, phân bố khá cân đối các môn cơ sở, cơ bản và tự chọn thuộc khoa học xã hội và nhân văn Có không ít cơ sở dưới mã ngành Việt Nam học, nhưng chỉ đào tạo một ngành học đang được ưa chuộng đó là ngành Du lịch, hoặc chuyển đổi từ giảng dạy tiếng Việt thành Việt Nam học,

- Thứ ba, sự chuẩn bị đội ngũ giảng dạy chưa đáp ứng kịp thời Ngành Việt Nam học là ngành học tổng hợp các chuyên ngành khác nhau của khoa học

xã hội và nhân văn, vì vậy chương trình cũng cần toàn diện, chưa kể có những môn mới được đưa vào như “Khu vực học” yêu cầu số lượng giáo viên cũng đa dạng hơn, cho nên có những cơ sở cố gắng đưa vào nhiều môn, thành ra chương trình quá tải; có cơ sở chưa đáp ứng kịp việc triển khai chương trình, cho nên dễ dẫn đến tình trạng có gì dạy nấy, thậm chí còn tuỳ tiện cắt xén chương trình, nếu không mời được người dạy mà thời gian dành cho niên học đã kết thúc,…

- Thứ tư, bản thân ngành Việt Nam học còn rất trẻ, cũng chưa tích cực làm cho xã hội nói chung, các cơ quan vụ, viện, kể cả phụ huynh học sinh,… hiểu về tầm quan trọng, vai trò, vị trí của ngành học để có thể nhận được sự chỉ đạo, định hướng, chia sẻ, hỗ trợ, tiếp nhận sinh viên đi thực tập và vào làm việc Vấn đề hưởng ứng của xã hội đối với ngành học là rất quan trọng Sự thừa nhận của xã hội đối với thành quả đào tạo của mỗi trường đại học và cao đẳng là thuốc thử tốt nhất công nhận chất lượng đào tạo ở mỗi cơ sở; đồng thời còn phù hợp với chủ trương xã hội hoá giáo dục của Nhà nước Sở dĩ sinh viên Việt Nam học ở Trường

Trang 20

4 Những kiến nghị

4.1 Về quản lý nhà nước đối với chương trình

Xu hướng chung của giáo dục thế giới là Nhà nước (cấp trung ương) chỉ quản lý thống nhất “chương trình khung chuẩn” Còn tuỳ thực tiễn địa phương, nhà trường, đối tượng học tập, giáo viên có thể lựa chọn chương trình thích hợp Trước thực tiễn đào tạo Việt Nam học còn nhiều bất cập như hiện nay, việc đầu tiên là Bộ Giáo dục và Đào tạo nên xây dựng một chương trình khung chuẩn

có tính bắt buộc cho mã ngành Việt Nam học trong cả nước Hiện tại, chương trình Việt Nam học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là khá hoàn chỉnh, đã được thực tiễn chứng minh qua 4 khoá sinh viên Việt Nam học ra trường được các cơ quan tiếp nhận hầu hết Sự công nhận của xã hội đối với những sinh viên ngành Việt Nam học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một bằng chứng tốt nhất đánh giá về chất lượng của kết quả đào tạo, trong đó có sự định hướng đúng đắn

và khoa học của chương trình Việt Nam học ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

“Chương trình khung chuẩn” cần đảm bảo được tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tiễn, tính hiện đại, tính ổn định và vừa sức với người học, cuối cùng phải có tính dân tộc, tính khu vực và tính quốc tế Trong cấu trúc chương trình cần có tỷ lệ hợp lý giữa các phân môn cơ sở và cơ bản, cân đối thời lượng giảng dạy giữa các học phần, giữa những môn bắt buộc và môn tự chọn, giữa lý thuyết và thực hành,…

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần rà soát lại chương trình của các cở sở đào tạo, trong đó có ngành Việt Nam học, không nên để tình trạng lộn xộn một mã ngành Việt Nam học mà có nhiều chương trình khác nhau về nội dung Không nên để việc đào tạo “Hướng dẫn viên du lịch”, “Văn hoá du lịch” khoác áo Việt

Trang 21

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hãy để cho mã ngành Việt Nam học tồn tại và phát triển đúng với bản chất của chính nó, chứ không phải chỉ là “nhãn hiệu” đơn thuần có thể dán vào ngành nào cũng được

4.2 Chương trình cần làm rõ mục tiêu và kết quả đào tạo, để có kế hoạch đầu

tư giảng dạy phù hợp, hướng nghiệp cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất để họ yên tâm học tập và có kế hoạch phấn đấu Đây cũng là phần chờ đợi và bức xúc của xã hội khi chưa hiểu gì nhiều về Việt Nam học, nhất là khi cho con em theo học ngành này Vấn đề đầu ra cần được làm sáng tỏ

4.3 Đối tượng nghiên cứu của Việt Nam học rất rộng, vì vậy chương trình

không nên dàn trải, mà nên tập trung vào những vấn đề lớn, những chủ đề chính nhằm làm nổi bật diện mạo của đất nước, con người Việt Nam, để có thể khu biệt với các khu vực xung quanh Mặt khác, cần coi trọng phát huy tính sáng tạo của người học, chương trình nên dành một thời lượng thích hợp cho hoạt động sinh hoạt tập thể, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá,…

4.4 Cần có chương trình và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thường xuyên

những người làm công nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học ở các cơ sở đào tạo, thông qua các lớp tập huấn, các chương trình trao đổi học thuật, hội thảo khoa học,… Bởi vì họ là nguồn lực trực tiếp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng Một mặt trang bị cho họ những kiến thức về Việt Nam học và khu vực học, mà phần lớn những người làm công tác giảng dạy Việt Nam học chưa từng được trang bị; mặt khác loại bỏ được những nhận thức chưa toàn diện, thậm chí sai lệch, thiên kiến chủ quan về Việt Nam học đang tồn tại lâu nay Bên cạnh những kiến thức chuyên ngành, cần trang bị cho họ những kiến thức ngoại ngữ để có thể tiếp cận những kiến thức và phương pháp về khoa học xã hội và nhân văn nói chung và Việt Nam học nói riêng ở nước ngoài Có như vậy họ mới có thể thực hiện sáng tạo chương trình môn học mà mình được phân công

4.5 Cần có trung tâm nghiên cứu về chương trình nói chung và chương trình

Việt Nam học và khu vực học nói riêng để có thể định hướng, tư vấn điều chỉnh cho phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của thông tin và xu thế toàn cầu hoá Bên cạnh đó, cần xây dựng mạng lưới nghiên cứu về Việt Nam học, trong đó có chương trình Việt Nam học

4.6 Cần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, thường xuyên trao đổi những

thành quả nghiên cứu về Việt Nam học, trong đó có trao đổi về chương trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, giáo trình giảng dạy Ở đây, công nghệ thông tin là một phương tiện hợp tác quốc tế hữu hiệu nhất

4.7 Cần có chương trình in ấn tài liệu, sách giáo khoa, một mặt phục vụ học

tập cho sinh viên, mặt khác để trao đổi thông tin cần thiết và cập nhật giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam học

Trang 22

Trần Lê Bảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Lê Bảo, Khu vực học và nhập môn Việt Nam học, NXB Giáo dục, 2008

2 Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Kỷ yếu

Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất, NXB Thế giới, Hà Nội, 1998 (6 tập)

3 Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,

Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập: truyền thống và hiện đại Kỷ yếu Hội thảo

quốc tế về Việt Nam học lần thứ hai, Tp Hồ Chí Minh, 2004

4 Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội thảo khoa học Nghiên cứu và đào tạo về Khu vực học,

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005

5 Jacques Delors, Học tập một kho báu tiềm ẩn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002

6 Phêđêricô Mayo, Một thế giới mới, UBQG UNESCO Việt Nam, 1999

7 Toàn cầu hoá văn hoá, (Tư liệu chuyên đề), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

2000

8 Tuyên bố ASEM về Đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh (Hội nghị Á Âu lần thứ

năm ASEM V), 2004

Trang 23

DẠY TIẾNG VIỆT NAM TẠI MIỀN NAM TRUNG QUỐC - MƠ HÌNH DẠY HỌC…

D¹Y TIÕNG VIƯT NAM T¹I MIỊN NAM TRUNG QuèC -

M¤ H×NH D¹Y HäC §µO T¹O BI£N DÞCH VI£N

ThS Chen Bilan *

1 Lý do và ý nghĩa của việc cải cách giảng dạy tiếng tiếng Việt

Việt Nam cĩ chung một đường biên giới kéo dài với Trung Quốc, hai nước thường xuyên cĩ những hoạt động trao đổi trên nhiều lĩnh vực, với bề dày lịch sử như khoa học, cơng nghệ, văn hố, giáo dục, v.v Tất cả những hoạt động trao đổi sẽ khơng thể tiến triển tốt nếu khơng cĩ sự hỗ trợ của ngơn ngữ Vì vậy, tiếng Việt, là một ngơn ngữ cĩ lịch sử phong phú và lâu dài, đã được giảng dạy tại Trung Quốc cho sinh viên đại học và những người cần ngơn ngữ này như một cơng cụ để giao tiếp với người bản địa sử dụng tiếng Việt

Giảng dạy ngoại ngữ đã thay đổi rất nhiều trong hồn cảnh mới Tiếng Việt cũng đang được giảng dạy tại Trung Quốc Trong quá khứ, giảng dạy tiếng Việt được thực hiện theo một mơ hình dạy học truyền thống, được tập trung vào từ vựng và ngữ pháp Các tài liệu giảng dạy khơng thể bắt kịp với thời đại Trong hầu hết các trường hợp, các mẫu được thiết kế trong sách giáo khoa đã khơng cịn thiết thực với cuộc sống thực Do đĩ, người học tiếng Việt thường xuyên cảm thấy những gì họ đã học hỏi khĩ cĩ thể thể sử dụng được trong cơng việc và giao tiếp của họ Khi xã hội phát triển và tình hình thay đổi đáng kể, phương pháp giảng dạy ngơn ngữ cũ cũng dần dần bộc lộ những điểm bất cập của nĩ

Bước vào thế kỷ XXI, quan hệ Việt - Trung đã mở sang một trang mới Hội chợ triển lãm Trung Quốc - ASEAN và thiết lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) làm cho quan hệ Việt - Trung cĩ những bước tiến đáng kể Việt Nam trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Trung Quốc Các

số liệu thống kê cũng cho thấy số lượng du khách nĩi tiếng Việt đến Trung Quốc

* Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quảng Tây, Nam Ninh, Trung Quốc

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIĨU BAN NH÷NG VÊN §Ị VỊ Lý THUỸT Vµ PH¦¥NG PH¸P §µO T¹O VIƯT NAM HäC

Trang 24

Chen Bilan

đạt con số 5.000 mỗi ngày Tình hình mới cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người học ngôn ngữ, đặc biệt là những người có thể trở thành dịch giả và phiên dịch viên tham gia trực tiếp các hoạt động trao đổi Việt - Trung Đối với những đối tượng này, họ được yêu cầu không chỉ sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp tốt, mà còn là một công cụ đảm bảo công tác dịch và giải thích trôi chảy

Hoạt động trao đổi thương mại và văn hoá giữa hai nước cần nhiều tài năng dịch thuật hơn nữa Nam Ninh, thủ phủ của Khu tự trị Guangxi Zhuang, là nơi tổ chức thường xuyên của hội chợ triển lãm Trung Quốc - ASEAN Nam Ninh hưởng ứng sức mạnh khu vực Với việc hoàn thành đường cao tốc từ Nam Ninh đến Pingxiang, sẽ là khá thuận lợi để đi du lịch từ phía Nam của Trung Quốc đến

Hà Nội Tất cả những điều này sẽ góp phần vào những thành công trong nhiều hoạt động giữa hai nước Đại học Quảng Tây, là trường đại học chủ chốt ở khu vực Nam Ninh, có nhiều cơ hội phát triển Để đáp ứng nhu cầu xã hội tốt hơn, Đại học Quảng Tây đã bắt đầu tuyển sinh viên chuyên ngành tiếng Việt vào mùa thu năm 2007 Với mục tiêu đào tạo sinh viên tốt nghiệp tiếng Việt có chất lượng cao

để làm việc trong các lĩnh vực khác nhau như tại các cơ quan chính phủ, các tổ chức dạy học, kinh doanh và các công ty du lịch, một nhóm giáo viên của trường Đại học Quảng Tây đã thực hiện một cuộc cải cách dạy tiếng Việt Mục tiêu của việc cải cách này là để khám phá một mô hình dạy học mới, theo đó, lý thuyết và kỹ năng dịch thuật được chú trọng để đào tạo các dịch giả và phiên dịch viên đủ điều kiện tham gia các hoạt động trao đổi Việt - Trung Điểm khởi đầu của mô hình giảng dạy này là giảng dạy ngôn ngữ phải đáp ứng các nhu cầu phát triển xã hội

Họ tin tưởng một cách chắc chắn rằng, sinh viên được đào tạo với mô hình này, khi tốt nghiệp sẽ có trình độ tốt về biên dịch và phiên dịch Công việc của họ chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho việc giao lưu giữa hai nước Mặc dù có nhiều sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt đã tham gia vào công việc của họ mỗi năm, thì hiện nay vẫn còn thiếu các dịch giả và phiên dịch viên có trình độ, đây cũng là một trở ngại lớn quá trình cho giao lưu Việt - Trung Các giáo viên hy vọng sẽ mang lại những thay đổi trong công tác giảng dạy tiếng Việt và phát huy năng lực của bản thân họ để đào tạo nhiều sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt hơn nữa với mục tiêu trở thành các nhà biên dịch viên và phiên dịch viên có trình độ tốt

2 Chúng tôi có thế mạnh để cải cách giảng dạy tiếng Việt

Tại Trung Quốc, tiếng Việt được giảng dạy tại nhiều trường đại học, ví dụ như Đại học Bắc Kinh, Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, Đại học Ngoại ngữ PLA, Đại học Ngoại ngữ Quảng Đông, Đại học Quảng Tây, Đại học Dân tộc Quảng Tây và Đại học Vân Nam,… Mỗi trường đại học đều có chiến lược riêng của mình trong việc giảng dạy và nghiên cứu Một điều không thể phủ nhận rằng các trường đại học này đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển xã hội, kinh tế và văn hoá Như đã đề cập trên đây,

Trang 25

DẠY TIẾNG VIỆT NAM TẠI MIỀN NAM TRUNG QUỐC - MÔ HÌNH DẠY HỌC…

viên và phiên dịch viên tiếng Việt - Trung Để đáp ứng nhu cầu này, trường Đại học Quảng Tây đã nỗ lực để tích hợp giữa giáo dục và nhu cầu xã hội một cách hoàn hảo với mục tiêu đào tạo phiên và biên dịch tiếng Việt - Trung có trình độ

Đang phải đối mặt với những cơ hội và thách thức, tuy nhiên, Trường Đại học Quảng Tây sở hữu nhiều thế mạnh để thực hiện cải cách giảng dạy

Thứ nhất, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quảng Tây có một đội ngũ giáo viên giỏi, là những người có kinh nghiệm trong biên dịch và phiên dịch Một

số giáo viên là dịch giả và phiên dịch cho hội chợ triển lãm Trung Quốc - ASEAN

và một số sự kiện quốc tế khác Kinh nghiệm của họ trong việc giảng dạy và dịch

là nguồn tài nguyên rất có giá trị cho sinh viên

Thứ hai, trường Đại học này có mối quan hệ và hợp tác tốt với các cơ quan chính phủ và các tổ chức khác Năm 2004, Trung tâm biên dịch viên và phiên dịch viên Quảng Tây đã được thành lập với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương Cải cách giảng dạy cũng được hỗ trợ mạnh mẽ từ trường đại học này Kể từ khi hội chợ được tổ chức hàng năm tại Nam Ninh, giao lưu giữa hai nước Việt - Trung ngày càng trở nên năng động và Quảng Tây thu hút nhiều du khách Việt Nam như một trong những điểm đến du lịch Đó là điều kiện thuận lợi tạo ra nhiều cơ hội để sinh viên thực hành tiếng Việt ngoài lớp học Sinh viên được khuyến khích tham gia các sự kiện này để thực hành tiếng Việt mà họ đã học được trong lớp Đồng thời, sự thông thạo ngôn ngữ của họ có thể được kiểm nghiệm trên thực tế Bằng cách này, học và sử dụng ngôn ngữ được kết nối với nhau một cách hoàn hảo Nó được coi là mô hình lý tưởng cho việc học ngôn ngữ

Thứ ba, nguồn tuyển sinh sinh viên được đảm bảo Tất cả các sinh viên đạt điểm số xuất sắc trong kỳ thi tuyển sinh đại học sẽ được ghi danh vào khoa tiếng Việt Để đạt hiệu quả dạy học tốt hơn, trường đại học này chỉ tuyển sinh 26 hay 28 sinh viên mỗi năm cho ngành học tiếng Việt Quy mô lớp học cũng rất quan trọng trong việt học ngoại ngữ Thật vậy, các lớp học quy mô nhỏ có thể đảm bảo rằng sinh viên có thời gian nhiều hơn trong lớp học để thực hành ngôn ngữ Hơn nữa, không khí lớp học khá thân mật và nhẹ nhàng, nên các lớp học nhỏ thuận lợi cho giáo viên và sinh viên thực hành mô hình lấy người học làm trung tâm Trong mô hình này, học viên sẽ là trung tâm để dạy và học ngôn ngữ, đồng thời, sinh viên đóng các vai trò chính và trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động của lớp, trong khi giáo viên đóng vai trò là giám sát viên, hướng dẫn và nhà tổ chức

3 Các biện pháp của chúng tôi trong cải cách giảng dạy tiếng Việt

3.1 Lên kế hoạch khoá học mới

Thay đổi mục tiêu dạy học sẽ được phản ánh trong công tác thiết kế khoá học Vì vậy, bước đầu tiên của nhóm nghiên cứu là xây dựng kế hoạch khoá học mới cho sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt để đáp ứng các yêu cầu giảng dạy mới Khi thực hiện kế hoạch mới, sự khác biệt chính là sự thay đổi từ

Trang 26

Chen Bilan

phương pháp giảng dạy dựa trên ngữ pháp sang phương pháp giảng dạy dựa trên kỹ năng Một số khoá học giảng dạy dựa trên ngữ pháp đã bị huỷ bỏ và tăng cường các khoá học dựa trên kỹ năng được bổ sung hoặc nâng cao Ví dụ, khoá học ngữ pháp tiếng Việt được huỷ bỏ và được kết hợp với các khoá học tiếng Việt

cơ bản và tiếng Việt Trung cấp Các khoá học biên và phiên dịch Việt -Trung sẽ được nâng cao trong năm học đại học thứ ba và thứ tư

3.2 Dạy tiếng Việt trong các giai đoạn khác nhau

Toàn bộ quá trình đào tạo được chia thành ba giai đoạn với mục tiêu rõ ràng cho từng giai đoạn

3.2.1 Dạy tiếng Việt ở giai đoạn I

Giai đoạn đầu tiên là những năm đầu tiên và năm thứ hai của bậc học đại học Đây là giai đoạn cơ bản mà người học cần được đào tạo một cách khoa học với kỹ năng ngôn ngữ cơ bản, nói, nghe, đọc và viết Giai đoạn này cũng được coi

là nền tảng cho các giai đoạn sau

Mục tiêu của giai đoạn này là để giúp người học thực hành tốt cách phát âm tiếng Việt và khả năng giao tiếp Cảm giác ngôn ngữ tốt là mục tiêu cuối cùng để theo đuổi

Các sinh viên sẽ theo học tiếng Việt khi họ vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học Trước khi nhập trường, tiếng Việt là một điều hoàn toàn mới đối với họ Nói cách khác, họ học ngôn ngữ này từ cơ bản Vì họ được đào tạo chuyên ngành ngôn ngữ với tư cách là các biên, phiên dịch tương lai, nên cách phát âm tốt là rất quan trọng đối với họ Các sinh viên được yêu cầu dành đủ thời gian trong việc học và thực hành cách phát âm chuẩn tiếng Việt Sinh viên được kiểm tra cách phát âm thường xuyên ngay ở trong hoặc ngoài lớp Giáo viên Việt Nam bản ngữ và các thiết bị đa phương tiện hỗ trợ học ngoại ngữ khác sẽ là những người thầy và là các đối tác tốt của họ để giúp họ tìm hiểu và thực hành tốt cách phát âm

Nghe và nói cũng là các kỹ năng trọng tâm của đào tạo ngôn ngữ Trong thực tế giảng dạy, các tài liệu được chọn để dạy nghe và nói nên chính xác, cập nhật và liên quan chặt chẽ đến thực tế phát triển xã hội Lịch sử, văn hoá, văn học, công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục, cải cách kinh tế ở Việt Nam là các chủ đề tốt để được chọn cho công tác giảng dạy Những gì mà người học nghe phải nằm trong phạm vi quan tâm và không được vượt quá sức hiểu của họ, có thể được gọi

là "đầu vào hiệu quả", do đó họ sẽ có hứng thú để nói về các chủ đề này

3.2.2 Dạy tiếng Việt ở giai đoạn II

Giai đoạn II, giai đoạn trung gian, là năm thứ ba trong bậc học đại học Trong

Trang 27

DẠY TIẾNG VIỆT NAM TẠI MIỀN NAM TRUNG QUỐC - MÔ HÌNH DẠY HỌC…

là các khoá học hàn lâm cho sinh viên Lý thuyết dịch rất cần thiết cho sinh viên, giúp sinh viên nắm được những khái niệm cơ bản, những thao tác chính trong dịch thuật

Mục tiêu của giai đoạn này là để giúp sinh viên trau dồi việc sử dụng và thực hành tiếng Việt thông qua kênh dịch thuật Sử dụng ngôn ngữ là mục tiêu cuối cùng cho người học ngôn ngữ này Phương pháp giảng dạy này được quyết định bởi nhu cầu xã hội đã được đề cập đến từ trước và cũng phù hợp với châm ngôn của trường đại học rằng giáo dục phải phục vụ cho xã hội

Các tài liệu giảng dạy cho các khoá học dịch nên được lựa chọn cẩn thận và bao gồm nhiều chủ đề nóng, thiết thực và hữu ích cho các sinh viên Không thể phủ nhận, giáo viên sẽ phải dành nhiều thời gian và nỗ lực để thu thập các tài liệu giảng dạy Thuận lợi đối với các nhà giáo dục hiện nay là họ dễ dàng tiếp cận với các nguồn tài liệu rộng rãi thông qua báo chí và mạng Internet Một trong những đặc điểm của các tài liệu là tính cập nhật và thực tế Tham gia khoá học dịch tiếng Trung Quốc - Việt Nam chẳng hạn, giáo viên có thể chọn hợp đồng bán hàng thực

tế bằng tiếng Việt hoặc tiếng Trung Quốc cho các sinh viên để dịch, cho sinh viên tiếp cận những trường hợp này, đặc biệt là đối với những sinh viên sẽ làm việc trong các công ty thương mại Học viên được đào tạo kiến thức liên quan đến lĩnh vực cụ thể trong trường đại học để họ không cảm thấy hụt hẫng khi phải đối mặt với những công việc thực tế sau khi tốt nghiệp

Nói tóm lại, giáo dục đại học cần đi cùng với sự phát triển xã hội

3.2.3 Dạy Tiếng Việt giai đoạn III

Giai đoạn III, năm học thứ tư, trên thực tế có nghĩa là giai đoạn cao cấp Trong quá trình này, học viên được đào tạo liên tục với kỹ năng dịch Dịch tiếp tục

là một khoá học quan trọng đối với sinh viên Nhóm nghiên cứu cũng dành ra một

số giờ cho sinh viên đồng thời làm quen với thực hành và một số kỹ năng cơ bản

để phiên dịch Điều cần được tập trung trong giai đoạn này là thực hành dịch phải được cụ thể hơn Các tài liệu được chọn có thể bao gồm các chủ đề như cải cách kinh tế, bảo vệ môi trường, giáo dục, khủng hoảng năng lượng, đô thị hoá và những chủ đề tương tự Nói cách khác, các chủ đề được lựa chọn phải nằm trong mối quan tâm của thế giới để có thể đánh thức sự quan tâm và lòng nhiệt tình của các học viên trẻ để họ suy nghĩ và nói về nó

Mục tiêu của giai đoạn này là để nâng cao kỹ năng dịch của học viên Đồng thời, giáo viên nên giúp các sinh viên mở rộng tầm nhìn kiến thức của họ Điều đó

sẽ rất hữu ích cho công việc tương lai của họ

Thực tế, trong giai đoạn trung cấp và cao cấp, sinh viên có cơ hội để nâng cao kiến thức về ngôn ngữ mà họ đã học được trong giai đoạn trước đó Điều này phù hợp với các mục tiêu của việc học ngôn ngữ là để sử dụng, đối với bất kỳ ngôn ngữ

Trang 28

Chen Bilan

nào cũng phải có đầy đủ thông tin về cuộc sống trong giao tiếp Các nhà giáo dục nên, bằng các biện pháp, cố gắng giúp sinh viên khắc phục những cái gọi là "tiếng Việt câm" hoặc "tiếng Việt im lặng" Trong công việc thực tế, chúng tôi nhận thấy một số sinh viên thực sự giỏi môn ngữ pháp và viết, nhưng khá yếu trong việc nói những gì mà họ đang nghĩ trước đám đông Đó không phải là kết quả mà giáo viên muốn có Giáo viên luôn luôn hy vọng các sinh viên thể hiện ý nghĩ của họ bằng các ngôn ngữ mục tiêu một cách tự do và chính xác Bởi vì chúng tôi đào tạo các sinh viên kỹ năng dịch thuật, chúng tôi hy vọng rằng họ sẽ thu được kết quả tốt hơn trong việc học ngôn ngữ và thành công trong công việc tương lai của họ

3.3 Điểm nổi bật của cải cách giảng dạy

3.3.1 Nhấn mạnh tiếng Anh như Công cụ ngôn ngữ thứ hai dành cho sinh viên

Một trong những điểm nổi bật trong cải cách giảng dạy là học tiếng Anh được nhấn mạnh trong toàn bộ quá trình học ngôn ngữ Ngoài tiếng Việt, sinh viên vẫn được yêu cầu học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai Ý tưởng chính của cải cách là ngôn ngữ chủ yếu vẫn là tiếng Việt và tiếng Anh chỉ xếp thứ hai Khi kết thúc bậc đại học, các sinh viên sẽ có hai ngoại ngữ như là công cụ hữu ích trong công việc và cuộc sống của họ Nói cách khác, đối với chuyên ngành tiếng Việt thì tiếng Anh được coi là công cụ thứ hai được sử dụng rộng rãi

Giảng dạy tiếng Việt tại Trung Quốc, như chúng ta đã biết, theo mô hình mà các sinh viên chỉ học tiếng Việt Văn phạm, từ vựng, đọc và viết tiếng Việt là cốt lõi trong thiết kế khoá học nhằm thu hút sự chú ý của sinh viên để học tiếng Việt Dần dần, sinh viên sẽ hình thành một ấn tượng rằng là người học chuyên ngành tiếng Việt phải học tiếng Việt tốt nhất Trên thực tế, nó thực sự có hại cho các sinh viên suy nghĩ theo cách này Vậy làm thế nào để giúp đỡ các sinh viên để thoát khỏi tư tưởng này là một câu hỏi lớn cho các nhà giáo dục

Chúng tôi yêu cầu các sinh viên học tiếng Anh bên cạnh tiếng Việt vì những

lý do sau đây

Trước tiên, các sinh viên có thể tiếp tục học hỏi và thực hành tiếng Anh tại trường đại học Tại Trung Quốc, sinh viên bắt đầu học tiếng Anh tại các trường trung học cơ sở và tại các thành phố, sinh viên thậm chí bắt đầu học tiếng Anh tại trường tiểu học Khi họ học đại học, họ đã học tiếng Anh ít nhất sáu năm Nếu họ ngừng học tiếng Anh vào lúc này, những gì họ biết trong giai đoạn trước đó có thể trở thành một sự lãng phí Trong nhiều trường đại học, những sinh viên học chuyên ngành tiếng Việt sẽ học tiếng Anh như tiếng Anh không chuyên Có nghĩa

là họ chỉ cần học tiếng Anh như môn không chuyên ngành và mỗi tuần họ có năm giờ học tiếng Anh bắt buộc Trong năm thứ hai của bậc học đại học, họ tham gia

Trang 29

DẠY TIẾNG VIỆT NAM TẠI MIỀN NAM TRUNG QUỐC - MÔ HÌNH DẠY HỌC…

Quốc Trong năm thứ ba, mỗi tuần chỉ có hai giờ học tiếng Anh Luật, tiếng Anh

Du lịch, tiếng Anh Khoa học và Công nghệ đang thiết kế cho các chuyên ngành tương ứng Không có lớp học thêm tiếng Anh nào trong năm thứ tư Nghiên cứu cho thấy, sinh viên rất háo hức muốn học thêm tiếng Anh khi họ đang trong trường đại học, đặc biệt trong hai năm đầu của bậc đại học Dựa trên những kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu quyết định thiết kế các lớp học tiếng Anh cho chuyên ngành tiếng Việt từ năm thứ nhất đến năm thứ tư Trong khi đó, những thay đổi lớn đã được thực hiện để học tiếng Anh Trong hai năm đầu tiên, chúng tôi bổ sung thêm 3 - 5 giờ cho việc học tiếng Anh ở lớp Thời gian học trên lớp nhiều hơn sẽ tạo ra hiệu quả học tập tốt hơn Hơn nữa, các khoá học như Nghe tiếng Anh và Nói tiếng Anh được dạy bởi các giáo viên bản ngữ tiếng Anh sẽ giúp

đỡ sinh viên trau dồi ngôn ngữ để có một cảm giác ngôn ngữ tốt hơn Trong hai năm tiếp theo, tiếng Anh vẫn là trọng tâm trong chương trình học Việc thiết kế khoá học dịch thuật Việt-Trung-Anh cho sinh viên, là một thách thức lớn đối với

cả học viên và giáo viên Trong một khoá học như vậy, dịch thuật Việt-Trung-Anh

là chủ yếu và tiếng Anh sẽ được bổ sung khi cần và nếu cải cách thành công, các học viên sẽ rất có lợi

Thứ hai, sinh viên học giỏi tiếng Việt và tiếng Anh sẽ có nhiều khả năng tìm việc làm tốt khi họ tốt nghiệp Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam Chẳng hạn như, các biển báo giao thông, hợp đồng bán hàng, và logo quảng cáo được viết bằng tiếng Anh Với xu thế toàn cầu hoá, tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế càng ngày càng trở nên quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc Các dữ liệu cho thấy, những sinh viên tốt nghiệp tiếng Việt, đồng thời có vốn tiếng Anh tốt có thể dễ dàng hơn trong việc tìm một công việc tốt

Thứ ba, tiếng Anh rất hữu ích cho việc học tập suốt đời của họ Học tại trường đại học chỉ là một giai đoạn quan trọng của một người Tuy nhiên, việc học tập nên kéo dài trong toàn bộ cuộc sống Rất nhiều tài liệu có giá trị được viết bằng tiếng Anh và được cả thế giới chia sẻ, đặc biệt là các tài liệu về công nghệ tiên tiến Nhiều cuốn sách về khoa học xã hội và nhân văn cũng được xuất bản bằng tiếng Anh Có thể đúng khi nói rằng sinh viên không thể cải thiện chính mình trong việc học tập mà không thông thạo tiếng Anh

3.3.2 Trau dồi cảm giác văn hoá cho sinh viên

Các chuyên gia đưa ra định nghĩa văn hoá từ các quan điểm khác nhau Một trong những quan niệm đó là: văn hoá là hệ thống các kiến thức được chia sẻ bởi một nhóm người tương đối lớn Một nền văn hoá là tổng hợp các hành vi ứng xử học được của một nhóm người được coi là truyền thống, mà mọi người truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các nhóm văn hoá khác nhau suy nghĩ, cảm nhận và hành động khác nhau Không nghi ngờ gì nữa, những người học tiếng có nhiều

Trang 30

mẹ đẻ của họ Văn hoá Việt Nam được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác với

sự hỗ trợ của ngôn ngữ Người ta khó có thể tưởng tượng rằng một người học một ngoại ngữ mà lại không biết gì về nền văn hoá được chuyển tải qua ngôn ngữ đó Dựa trên sự hiểu biết này, nhóm nghiên cứu đưa ra một số khoá học định hướng văn hoá cho các sinh viên để giúp họ nuôi dưỡng ý thức văn hoá Các khoá học này bao gồm Lịch sử và Văn hoá tiếng Việt, văn học Việt Nam Sinh viên được khuyến khích đọc các cuốn sách nguyên bản về văn hoá tiếng Việt, phong tục và truyền thống nuôi dưỡng tinh thần của họ hướng về văn hoá Việt Nam Năm thứ ba của bậc học đại học, sinh viên có cơ hội học tập tại Hà Nội trong nửa năm, mà chắc chắn rất hữu ích đối với việc học ngôn ngữ và tìm hiểu về văn hoá của đất nước này

vì họ đang sống trong một môi trường văn hoá thực sự Với sự hiểu biết đầy đủ về văn hoá, sinh viên sẽ nhận được những hiệu ứng rất lớn khi học tiếng Việt

4 Những khó khăn mà chúng tôi phải đối mặt trong cải cách dạy tiếng Việt

Mặc dù công tác cải cách giảng dạy đã bắt đầu được hơn một năm, chúng tôi vẫn gặp phải một số khó khăn

4.1 Không có mẫu để làm theo

Tiếng Việt đã được giảng dạy tại Trung Quốc trong hơn năm thập kỷ qua Phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở ngữ pháp là phương pháp dạy học truyền thống đã được thực hành rộng rãi Phương pháp giảng dạy này được thừa nhận

đã có những đóng góp trong việc giảng dạy tiếng Việt tại Trung Quốc Tuy nhiên, phương pháp này không thể đáp ứng nhu cầu của điều kiện mới hiện nay

Khi chúng tôi thực hành các mô hình dạy học mới để đào tạo biên, phiên dịch Việt - Trung, chúng tôi thấy rằng không có mô hình nào trước đó để làm theo hoặc học hỏi Điểm khởi đầu của chúng tôi là giáo dục phải đáp ứng các nhu cầu của xã hội Chúng tôi nỗ lực để đưa ra 4, 5 cải cách phương pháp giảng dạy này để tìm kiếm một con đường mới và thực tiễn cho việc giảng dạy tiếng Việt

Mặc dù lý thuyết và kỹ năng dịch thuật được nhấn mạnh trong quá trình dạy

và học, sinh viên được yêu cầu phải học nhiều khoá học liên quan như văn học Việt Nam, ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh kinh doanh, tiếng Việt kinh doanh, du lịch Việt Nam v.v Nếu sinh viên không trở thành một dịch giả hoặc thông dịch viên sau khi tốt nghiệp từ các trường đại học, họ có thể tham gia vào các công việc khác

và những gì họ tìm hiểu về ngôn ngữ vẫn là một công cụ hữu ích đối với họ

Trang 31

DẠY TIẾNG VIỆT NAM TẠI MIỀN NAM TRUNG QUỐC - MÔ HÌNH DẠY HỌC…

Tại Trung Quốc, nhiều trường đại học vẫn còn sử dụng các sách do Đại học Bắc Kinh biên soạn để dạy tiếng Việt trong nhiều năm qua

Vì chúng tôi đặt ra mục tiêu mới cho việc giảng dạy ngôn ngữ, các tài liệu giảng dạy nên phản ánh ý tưởng giảng dạy mới Thật vậy, để đào tạo dịch giả và phiên dịch viên có trình độ tốt, các tài liệu cần được cập nhật và mang tính thực tế Một cuốn sách giáo khoa đã được sử dụng trong nhiều năm qua, không thể bắt kịp với những thay đổi đáng kể về thời gian, nên nó không thể đáp ứng nhu cầu giảng dạy Hơn nữa, vì nhiều lý do, không dễ để có được sách giáo khoa dịch thuật Việt - Trung bao gồm nhiều chủ đề khác nhau và phù hợp trong công tác giảng dạy Do đó, giáo viên có thể phải dành nhiều thời gian và công sức hơn nữa

để tìm kiếm các tài liệu phù hợp cho công tác giảng dạy

4.3 Thời gian giới hạn trong lớp học

Sinh viên phải tham dự nhiều khoá học khác nhau theo yêu cầu Kết quả là, thời gian trong lớp đào tạo tiếng Việt là khá hạn chế Sẽ không thể đào tạo ra một dịch giả có trình độ với chỉ vài giờ thực hành trong lớp học Không thiết thực và không thực tế để bổ sung thêm giờ học hơn trong tình hình hiện tại Một điều thực

tế cần lưu ý rằng sinh viên bắt đầu học tiếng Việt chỉ khi họ vào đại học Để đạt được mục tiêu, cần phải thực hiện một số bước thực tế Hiện nay, việc tự học hỏi của học viên sẽ là một cách tốt để giải quyết vấn đề Tự học là một trường học giáo dục coi người học như những cá nhân có thể và nên tự học, nghĩa là, chịu trách nhiệm cho việc học tập riêng của họ Ngày nay, tự học tập ngày càng trở nên quan trọng hơn trong học tập, đặc biệt là đối với sinh viên đại học Tự học sẽ giúp sinh viên phát triển ý thức, tầm nhìn và thực tiễn của họ Trong trường hợp này, giáo viên không nên định hướng cho các học viên, cũng không quản lý và chỉ đạo Dịch thuật cần có đủ thời gian để thực hành ở trong và ngoài lớp Thực hành trên lớp chủ yếu phụ thuộc vào những người học, trong khi giáo viên nên đưa ra kế hoạch học tập, tài liệu, hỗ trợ công nghệ và khuyến khích người học trực tiếp Nhờ các cơ

sở vật chất của trường đại học và qua mạng Internet, việc tự học của học viên có hiệu lực và hiệu quả đối với chuyên ngành tiếng Việt

5 Kết luận

Phát triển xã hội đặt ra một yêu cầu mới trong giảng dạy tiếng Việt ở Nam Trung Quốc Cải cách phương pháp dạy và học tiếng Việt nên được thực hiện ngay từ bây giờ để khám phá một cách tiếp cận mới trong việc đào tạo sinh viên tốt nghiệp đủ trình độ, có khả năng để làm những công việc trong tương lai của

họ Với mục tiêu đào tạo dịch giả và phiên dịch viên đủ trình độ để phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, chúng ta nên tập trung hết sức mạnh để thực hiện và tìm ra các biện pháp thiết thực trong việc giảng dạy ngôn ngữ Mặc

Trang 32

Chen Bilan

dù đang có một số khó khăn trong quá trình thực hiện, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra một mô hình tốt trong việc giảng dạy tiếng Việt trong những năm gần đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gile, D., Khái niệm cơ bản và các mô hình dành cho đào tạo Biên và Phiên dịch viên,

Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 1995

2 Hoàng Văn Vân, Nghiên cứu dịch thuật, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005

3 Kramsch Claire, Bối cảnh và Văn hoá trong giảng dạy ngôn ngữ, Thượng Hải: Ấn bản

Giáo dục Ngoại ngữ Thượng Hải, 1999

4 Lefevere, Andr Dịch thuật/Lịch sử/Văn hoá – Sách nguồn London và New York:

Routledge, 1992

5 Littlewood, W Định nghĩa và phát triển tự học trong bối cảnh Đông Á [J] Ngôn ngữ

học ứng dụng, 20 (1): 71-94, 1999

Trang 33

VIỆT NAM HỌC VÀ CƠ CẤU CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY VIỆT NAM HỌC…

VIƯT NAM HäC

Vµ C¥ CÊU CH¦¥NG TR×NH GI¶NG D¹Y VIƯT NAM HäC

ë §¹I HäC TH¡NG LONG - VIƯT NAM

TS Nguyễn Văn Chiến *

1 Điểm xuất phát của vấn đề nằm ở đâu?

1.1 Trước khi bàn về cơ cấu (khung) chương trình giảng dạy Việt Nam học

trong các trường đại học ở Việt Nam, chúng ta mặc nhiên đã phải thừa nhận

“Việt Nam học” (Vietnamese studies) như một ngành khoa học (nghiên cứu) độc lập và là một ngành đào tạo trước hết ở bậc đại học Song, theo chúng tơi, cái “mặc nhiên” ấy khơng thực sự đơn giản vì thực tiễn cịn ngổn ngang nhiều vấn đề

Việc nghiên cứu Việt Nam đã cĩ từ xa xưa và ở nhiều nước trên thế giới Cho đến nay, các trung tâm, hiệp hội, học viện, tổ chức nghiên cứu,… về Việt Nam và các trường đại học cĩ ngành Việt Nam học khơng phải là ít1; nhưng rõ ràng, khơng nơi nào giống nơi nào về mục đích nghiên cứu, về phương pháp tiếp cận,

về nội dung của các mơn học trong trương trình đào tạo và các vấn đề cơ bản được đặt ra cùng với một hệ thống đề tài tâm điểm

Cĩ 2 quan niệm về thực trạng này:

1) Quan niệm thứ nhất cho rằng tính đa dạng trong các xu hướng, trào lưu nghiên cứu và giảng dạy về Việt Nam học là hiển nhiên và cần thiết Vì, đơn giản

là khơng nên gị ép tất cả phải như nhau trong khi hồn cảnh, mục đích, ý đồ,… nghiên cứu và giảng dạy cùng một đối tượng khơng giống nhau;

2) Quan niệm thứ hai cho rằng trong đa dạng phải cĩ (và cố gắng đi tới) một

sự thống nhất nào đấy

* Trường Đại học Thăng Long, Hà Nội

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA

TIĨU BAN NH÷NG VÊN §Ị VỊ Lý THUỸT Vµ PH¦¥NG PH¸P §µO T¹O VIƯT NAM HäC

Trang 34

Nguyễn Văn Chiến

1.2 Chúng tôi xem xét câu chuyện trên từ một xuất phát điểm khác: muốn

xác lập khung chương trình giảng dạy Việt Nam học, việc đầu tiên là phải làm rõ,

ít nhất, những vấn đề sau đây:

1) Mối quan hệ và sự khác biệt giữa nghiên cứu Việt Nam học và việc giảng dạy, đào tạo Việt Nam học

2) Trong việc giảng dạy và đào tạo Việt Nam học, đối tượng được giảng dạy

và đào tạo là ai? Người nước ngoài hay người Việt? Hay cả hai?

3) Tri thức về Việt Nam học là tri thức ở bậc đại học hay là những tri thức không phải ở bậc đại học? Nếu là tri thức ở “bậc đại học” thì nó sẽ phải được quan niệm như thế nào? (Cho mọi đối tượng)

2 Vấn đề thứ nhất: nghiên cứu về Việt Nam và giảng dạy, đào tạo Việt Nam học

có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không hề đồng nhất, không phải là một

2.1 Trước hết, không phải tất cả những gì nghiên cứu (và nghiên cứu được)

về Việt Nam đều đem ra giảng dạy (điều này phụ thuộc vào nhiều nhân tố và những đặc thù của công tác giảng dạy và đào tạo chuyên ngành ở đại học); trong lúc việc giảng dạy và đào tạo Việt Nam học trên căn bản lại phải dựa vào kết quả, những thành tựu nghiên cứu cụ thể về Việt Nam (từ xưa đến nay, từ ngoài nước đến trong nước,…) của các nhà khoa học trên thế giới và của người Việt Nam

2.2 Giảng dạy và đào tạo Việt Nam học sẽ không định hướng được nếu như

việc nghiên cứu Việt Nam học, tự bản thân mình, chưa xác định được đối tượng chuẩn xác nhất của nó là gì? (Đây là sự phân giới của ngành học)

Thực tế, như đã nói, trào lưu và xu hướng nghiên cứu Việt Nam học quả là nhiều và đa dạng; trong khi đó, đối tượng nghiên cứu thật sự của ngành học thì xem chừng vẫn còn mờ mờ, ảo ảo! Do đó, câu chuyện đầu tiên ở khu vực này lại đụng chạm đến việc nhận thức về ngành khoa học: Việt Nam học Nói một cách khác, các nhà nghiên cứu phải có được trong tay cái nội hàm rõ ràng của khái niệm “Việt Nam học”

2.3 “Việt Nam học là gì?” là một câu hỏi cho đến nay đang chia cắt các nhà

nghiên cứu ra thành, ít nhất, hai chủ kiến đối lập Một phía cho rằng không hề có ngành khoa học này; còn phía kia thừa nhận có một ngành khoa học được gọi là

“Việt Nam học”

Trong việc thừa nhận Việt Nam học như một ngành khoa học (nghiên cứu) độc lập, thì đa số ý kiến cho rằng đối tượng nghiên cứu của Việt Nam học là tất cả những gì đề cập đến Việt Nam và con người Việt Nam nói chung

Trang 35

VIỆT NAM HỌC VÀ CƠ CẤU CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY VIỆT NAM HỌC…

2.4 Kiến giải của chúng tôi tập trung vào những điểm quan yếu sau đây:

a) Việt Nam học dù có đề cập đến mọi thứ về Việt Nam thì cũng không đơn giản và không hề là số cộng đơn thuần của các bộ môn khoa học có trước nó như lịch sử Việt Nam, địa lý Việt Nam, ngôn ngữ và văn học Việt Nam, kinh tế Việt Nam,…

b) Việt Nam học - một ngành khoa học độc lập nhằm vào đối tượng nghiên cứu của nó là Việt Nam trên cơ sở các bộ môn nói trên, thậm chí, trên những kết quả của những môn học đó; nhưng phải tìm ra được, phải đi đến được cái đặc thù, cái đặc trưng nhất, cái “Việt Nam” nhất - cái hằng số bên cạnh những biến số - bằng các phương pháp tiếp cận đa ngành (Multidiscipline), liên ngành (Interdiscipline) và/hay lối tiếp cận tổng thể (Holistic approach) - với tinh thần không chỉ xem xét tất cả mọi thứ về con người, mà còn chú tâm vào rất nhiều bình diện của những tri thức mà con người tích luỹ - nhằm chỉ ra cho được, cuối cùng, chúng ta là ai? Người Việt Nam là ai? Dân tộc Việt Nam là như thế nào?

c) Đương nhiên, không thể có sự nhầm lẫn giữa đối tượng nghiên cứu của những chuyên ngành hẹp về Việt Nam với đối tượng nghiên cứu rất đặc thù của Việt Nam học, dù có gán cho chúng những tên gọi và đưa ra những cách giải thích nào đi nữa Mỗi ngành khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, không thể dẫm đạp lên nhau trong sự phân giới của chính mình Việt Nam học cũng vậy và càng phải vậy! Có điều là đối tượng nghiên cứu hướng tới của Việt Nam học trong trạng thái lý tưởng của nó, cũng như trong tương quan hy hữu với các ngành khoa học nói trên là cái đối tượng có thuộc tính chung nhất, khái quát nhất, tổng hợp nhất và tập trung nhất nhằm mục đích nhận diện chân dung Việt Nam (The Vietnam’s portrait), bản sắc Việt Nam (The Vietnam’s identity) như một chủ thể nhận thức toàn vẹn Có lẽ, ở đây, không gì khác hơn là con người Việt Nam trong mối quan hệ và quan hoà (trong lối hành xử - cách nghĩ, cách cảm, cách tác động,…) với môi trường tự nhiên, xã hội (các thiết chế, thể chế) và vũ trụ tâm linh được hình thành, vận hành theo suốt chiều dài của lịch sử dân tộc

d) Một đối tượng tiếp cận như vậy sẽ có xu hướng làm cho một số bộ môn khoa học, vấn đề khoa học,… trong hàng loạt các bộ môn và chuyên ngành khoa học dễ có khả năng bước vào giao lộ chung hơn một số khác Chẳng hạn như: nghiên cứu nhân học xã hội, lịch sử, văn hoá học, ngôn ngữ học, văn học,… so với toán học, lý học, y học,… (thậm chí, ngay cả trong y học nói chung, thì y học cổ truyền Việt Nam với hệ thống y triết của mình cũng có thể trở thành một trong những tâm điểm của nghiên cứu Việt Nam học theo định hướng này)

e) Một đối tượng tiếp cận như vậy không hoàn toàn phải là bản sao của nghiên cứu đất nước học – đưa ra và miêu tả một bức tranh chung chung về con người, thiên nhiên và xã hội Việt Nam để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết tối

Trang 36

Nguyễn Văn Chiến

thiểu, thoạt đầu tiên với bất kỳ ai, dù là người bên trong (insiders) hay người bên ngoài (outsiders)

g) Nhận thức về một Việt Nam học như đã nói sẽ hướng tới một

“Vietnamism” của tương lai, đi từ nghiên cứu chuyên ngành theo định hướng Việt Nam học, tới nghiên cứu đa ngành, liên ngành và tiếp cận tổng thể nhằm khắc phục những gì phiến diện, cực đoan có thể có của các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành trong khuôn viên hẹp

3 Việt Nam học như một ngành khoa học

3.1 Như trên đã trình bày về đối tượng nghiên cứu Việt Nam học, theo nhận

thức của chúng tôi, cũng có nghĩa là chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc thừa nhận tính đa dạng của các quan niệm, trào lưu, xu hướng nghiên cứu Việt Nam học Nhưng mặt khác, tác giả không phải là không cố gắng hướng tới một đường hướng chung trong việc xây dựng Việt Nam học như một ngành khoa học độc lập

Có hai điểm cần lưu ý trước khi đi vào những đường hướng cụ thể

a) Xét Việt Nam học như một ngành khoa học độc lập, thì không hề có câu chuyện Việt Nam học của người bên trong (insiders) và Việt Nam học của người bên ngoài (outsiders) Nhưng xét từ chủ thể tiếp cận nghiên cứu Việt Nam thì quả thực có một tình hình dưới đây:

- Những người nước ngoài (hay những người bên ngoài – outsiders) tiếp cận Việt Nam theo một cách riêng, một nhận thức riêng với những mục đích và ý đồ nhất định, bằng các phương pháp nhất định

- Còn người Việt Nam chúng ta đã, đang và sẽ phải tiếp cận Việt Nam trong một tinh thần nhận thức như thế nào?

Đứng trước câu hỏi này, chúng tôi chủ trương: Việt Nam học là một ngành khoa học nghiên cứu về Việt Nam như một khách thể, nhưng với con mắt (tiếp cận) của người trong cuộc (Vietnamese studies from the view point of insiders) việc nghiên cứu có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định;

b) Chúng tôi thận trọng với chủ nghĩa Sôvanh trong nghiên cứu khoa học và chủ nghĩa dân tộc cực đoan [3; 14-17], nhưng muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam học là một ngành khoa học nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ lợi ích của chúng

ta là căn bản (trước mắt và lâu dài cũng vậy), nghiên cứu để duy trì và phát triển dân tộc trong tinh thần chung vì lợi ích của nhân loại toàn cầu!

3.2 Với tinh thần trên, có thể tạm phác thảo một số đường hướng nghiên cứu

cụ thể về Việt Nam học như sau:

Trang 37

VIỆT NAM HỌC VÀ CƠ CẤU CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY VIỆT NAM HỌC…

nhất trong đa dạng” (Identity in diversity) Đa dạng, khác biệt quan trọng không kém

gì thống nhất, giống nhau Thống nhất trong cái đa dạng chứ không đồng nhất b) Nghiên cứu Việt Nam với tư cách là đối tượng của một ngành khoa học cần tuân thủ những bước đi cơ bản:

- Các thành tựu nghiên cứu Đông phương học của Châu Âu và Tây Âu - với

tư cách những người bên ngoài (outsiders), trên căn bản, thực sự bắt đầu từ việc nghiên cứu văn hoá, các nền văn minh phương Đông và nhằm tới diện mạo lịch

sử của chúng Chìa khoá để mở ra các “bí mật” đều được trao cho bộ môn ngôn ngữ học và văn tự học Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến điều này đối với nghiên cứu Việt Nam học trong trật tự của các hướng tiếp cận

- Mặt khác, ở cấp độ khu vực, giải mã Việt Nam không thể tách khỏi việc hiểu biết Trung Hoa và Ấn Độ trong mối quan hệ với Việt Nam và các nước Đông Nam Á Song, từ góc nhìn (hay điểm xuất phát) của người trong cuộc (insiders), mức độ của những quan tâm này cần phải được định giá về nội dung theo một tỷ lệ nhất định, trước những đối tượng phục vụ cụ thể

c) Hiển nhiên, cùng với ngôn ngữ học, văn tự học và lịch sử, vai trò và vị trí của việc nghiên cứu kinh tế, các thiết chế chính trị, địa lý nhân văn, địa chính trị,… của Việt Nam là cực kỳ quan yếu Đây chính là những môn học giúp chúng ta xây dựng một hệ thống đề tài tâm điểm có khả năng đối mặt với những vấn đề của hiện tại, giải các bài toán có tính sống còn của hôm nay

d) Tiếp cận Việt Nam với tư cách là một đối tượng được phân giải trong các thế, các trạng thái lưỡng phân, nhị nguyên: truyền thống và hiện đại, xưa và nay, tĩnh và động, hằng số và biến số,… Bởi lẽ, điều này không chỉ có giá trị về ý nghĩa

lý luận, mà còn cả giá trị về ý nghĩa thực tiễn - trong cái hiện đại hoàn toàn có thể nhìn ra cái truyền thống theo một phương thức mới; từ hiện tại có thể giúp chúng

ta thấy được tương lai với vai trò dự báo và hiện tại, như đã nhấn mạnh, chính là bài toán của hôm nay

e) Nghiên cứu Việt Nam học, trên tất cả những gì mới đề cập, phải lấy con người - con người Việt Nam - làm tâm điểm, trước hết và đầu tiên

- Khái niệm “con người Việt Nam” bao gồm người Việt (dân tộc Kinh) và tất

cả các cộng đồng tộc người khác cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam Việc nghiên cứu những tộc người này sẽ giúp chúng ta tìm thấy các giá trị khoa học và chính trị nhất định, nhằm xác lập danh tính Việt Nam như một quốc gia dân tộc thống nhất

- Chú trọng vào con người cũng có nghĩa là chú trọng vào mối quan hệ giữa con người (chủ nhân của văn hoá, kẻ làm ra tất cả và dựng nên tất cả) với tất cả những gì mà con người chia sẻ, tác động vào (tác động vào đời sống tự nhiên, đời sống xã hội và thế giới tâm linh thông qua các biểu tượng,…); từ đây có thể làm rõ

Trang 38

Nguyễn Văn Chiến

được bản chất quan hệ và sự tách phân tương đối giữa các văn hoá vốn được gọi

là vật thể và phi vật thể

- Chú trọng vào con người với tư cách chủ thể của mọi văn hoá cũng có nghĩa là nhấn mạnh vào sự tương tác giữa nó với những điều kiện tự nhiên, lịch

sử và xã hội,… hình thành nên nó và những nét tính cách của nó

g) Nghiên cứu Việt Nam sẽ hướng sự nỗ lực của chúng ta vào việc phát hiện những nét đặc trưng, những nét nổi bật của Việt Nam trong thế giới ngày nay cũng như trước đây, trong tương quan với các cộng đồng của khu vực và toàn thế giới h) Xuất phát từ quan điểm: tính thiết thực và cơ bản, tính cần và đủ, cũng như sự cập nhật của mọi tri thức về Việt Nam, chúng tôi cho rằng Việt Nam học phải tìm đường đến với những thành tựu nghiên cứu gần đây nhất về Việt Nam, nhưng không thể bỏ qua những gì mà quá khứ đã xây đắp nên với các giá trị căn bản của nó

Từ toàn bộ cách nhìn vấn đề Việt Nam học như trên, chúng tôi chủ trương một cơ cấu (khung) chương trình giảng dạy Việt Nam học như dưới đây; nhưng trước hết, phải nói rõ việc nhận thức Việt Nam học như một ngành đào tạo ở trình

độ đại học

4 Việt Nam học như một ngành đào tạo cử nhân đại học và cơ cấu (khung) chương trình giảng dạy Việt Nam học

4.1 Nhận thức ngành đào tạo “Việt Nam học”

Dựa vào kết quả nghiên cứu về Việt Nam trên thế giới và ở Việt Nam từ trước đến nay, dựa vào nhu cầu ngày càng gia tăng về sự hiểu biết Việt Nam của thế giới và của chính người Việt Nam, trong tinh thần toàn cầu hoá tự nhiên như

“nước” và “gió” - theo lối nghĩ của Bill Clinton - cựu tổng thống Mỹ [xem: 2] - trong đó Việt Nam cũng là một con thuyền trên nước và chịu sức gió của đại dương bao la này, thì “Việt Nam học” trở thành một ngành đào tạo ở trình độ đại học tại các trường đại học ở Việt Nam là có thể và cần thiết Dựa vào tình hình cụ thể hiện nay về đào tạo Việt Nam học trên thế giới và ở trong nước, chúng tôi thấy cần chấp nhận tính đa dạng của các chương trình đào tạo ngành học này xuất phát

từ những quan niệm và hoàn cảnh cụ thể, mục tiêu đào tạo và thị trường lao động của từng nước, từng vùng miền,… Tuy nhiên, trong đa dạng, như đã nói, có thể có những điểm sau cần đi đến thống nhất:

a) Việt Nam học với các học phần bắt buộc ở kiến thức chuyên ngành phải có

sự tính toán chi tiết, sự điều chỉnh cần thiết về số lượng môn học, nội dung và trật

Trang 39

VIỆT NAM HỌC VÀ CƠ CẤU CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY VIỆT NAM HỌC…

b) Một “Việt Nam học” với những tri thức đại học sẽ không có sự phân biệt giữa người nước ngoài học Việt Nam học và người Việt Nam tham gia quá trình đào tạo này, dù cho điểm xuất phát của họ trước khi vào học không giống nhau

Do vậy, chắc chắn, việc chuẩn bị cho người nước ngoài học Việt Nam học ở Việt Nam sẽ phải khác với sinh viên Việt Nam bước vào ngành học này ở giai đoạn dự bị đại học

c) Đào tạo Việt Nam học, cụ thể ở trường Đại học Thăng Long phải đảm bảo mục tiêu chung nhất của ngành học, nhưng cũng phải cho thấy những điểm riêng của một trường tư thục, ngoài công lập Đây chính là tính đặc thù cần phải có ở một ngành đào tạo cụ thể, thuộc một trường đại học cụ thể, trong những hoàn cảnh và điều kiện xã hội cụ thể

4.2 Dự kiến khung chương trình ngành Việt Nam học (của khoa Việt Nam học - Đại học Thăng Long)

4.2.1 Trên tổng thể, các môn học trong giáo dục chuyên nghiệp về Việt Nam học bao gồm:

a) Các môn cơ sở khối ngành (ở đây Việt Nam học thuộc khối ngành khoa học xã hội – nhân văn);

b) Các môn chuyên ngành

4.2.2 Đối với các môn chuyên ngành Việt Nam học, căn cứ vào thực tế, chúng tôi nhằm tới 3 phân ngành đào tạo theo định hướng cụ thể:

a) Phân ngành Việt Nam học định hướng nghiên cứu cơ bản;

b) Phân ngành Việt Nam học định hướng cho du lịch;

c) Phân ngành Việt Nam học định hướng cho quan hệ quốc tế

Số lượng các môn học và nội dung của chúng trong 3 phân ngành nói trên không hoàn toàn giống nhau Có những môn chuyên ngành chung cho cả 3 phân ngành Có những môn học dành riêng cho những phân ngành cụ thể (tham khảo

sơ đồ hình cây cuối bài)

4.2.3 Ở bậc đại học, kiến thức (tri thức) Việt Nam học cơ bản mà sinh viên bắt buộc phải thụ đắc trong chương trình đào tạo, tập trung vào 3 khối lớn:

a) Khối kiến thức về ngôn ngữ và văn tự học Việt Nam:

Ở khối kiến thức về ngôn ngữ và văn tự học Việt Nam (khối 1) - đối lập với 2 khối còn lại (khối 2 & 3) - những khối kiến thức ngoài ngôn ngữ và văn tự học, bao gồm các môn học:

- Tiếng Việt (lý thuyết và thực hành);

- Hán Nôm (lý thuyết và thực hành);

Trang 40

Nguyễn Văn Chiến

- Tiếng Anh Việt Nam học

Trong 3 kiểu loại môn học trên, chúng tôi xây dựng một hệ thống phân môn

và các giáo trình giảng dạy cụ thể, theo một trật tự trước sau chặt chẽ và logic:

- Đối với các môn học về tiếng Việt, có các phân môn sau:

+ Tiếng Việt thực hành;

+ Tiếng Việt lý thuyết (bao gồm: Ngữ âm tiếng Việt; Từ vựng - nghĩa học tiếng Việt; Ngữ pháp tiếng Việt; Văn bản và phong cách học tiếng Việt; Những đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của Việt ngữ );

+ Loại hình tiếng Việt và lịch sử văn tự Việt Nam

- Đối với các môn học Hán Nôm, chúng tôi tập trung vào các phân môn về Hán Nôm thực hành (để hỗ trợ, sau này chúng tôi sẽ đưa tiếng Trung Quốc hiện đại vào thành một phân môn)

- Đối với các môn học về tiếng Anh Việt Nam học, chúng tôi xây dựng 2 phân môn:

+ Tiếng Anh Việt Nam học;

+ Ngôn ngữ học đối chiếu (trên ngữ liệu Việt - Anh và Anh - Việt)

Khu vực của các phân môn Tiếng Anh Việt Nam học có vai trò của ngoại ngữ

- ngôn ngữ công cụ dành cho Việt Nam học

Khối kiến thức về ngôn ngữ học và văn tự học Việt Nam được coi là một đối trọng (trong sơ đồ hình cây, nó được thiết kế ở khu vực trung tâm)

b) Khối kiến thức Việt Nam học trong truyền thống

Khối kiến thức Việt Nam học truyền thống (trong sơ đồ hình cây, được thiết

kế ở bên trái và bên phải) bao gồm các môn học:

- Cơ sở văn hoá Việt Nam;

- Văn học Việt Nam (với các phân môn: Văn học dân gian Việt Nam; Văn học Việt Nam hiện đại; Tục ngữ dân gian Việt Nam);

- Văn minh lúa nước và tính cách người Việt;

- Di tích lịch sử và những di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam;

- Nghệ thuật Việt Nam;

- Tư tưởng dịch học ở Việt Nam

Khối kiến thức thuộc khu vực này được coi là nền tảng của Việt Nam học

Ngày đăng: 28/08/2018, 00:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Tuong Vu, “Vietnamese Political Studies and Debates on Vietnamese Nationalism,” JVS 2, no.2 (2007):175-230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnamese Political Studies and Debates on Vietnamese Nationalism,” "JVS
Tác giả: Tuong Vu, “Vietnamese Political Studies and Debates on Vietnamese Nationalism,” JVS 2, no.2
Năm: 2007
[2] George Dutton, “Ly Toet in the City: Coming to Terms with the Modern in 1930s Vietnam,” JVS 2, no.1: 80-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ly Toet in the City: Coming to Terms with the Modern in 1930s Vietnam,” "JVS
[3] Nu-Anh Tran, “South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper Chinh Luan [Political Discussion], 1965-1969,” JVS 1, nos.1-2 (2006):169- 209. Charles Keith, “AnnamUplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church, 1919-1945,” JVS 3, no.2 (2008):128-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper "Chinh Luan "[Political Discussion], 1965-1969,” "JVS" 1, nos.1-2 (2006):169-209. Charles Keith, “AnnamUplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church, 1919-1945,” "JVS
Tác giả: Nu-Anh Tran, “South Vietnamese Identity, American Intervention, and the Newspaper Chinh Luan [Political Discussion], 1965-1969,” JVS 1, nos.1-2 (2006):169- 209. Charles Keith, “AnnamUplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church, 1919-1945,” JVS 3, no.2
Năm: 2008
[5] K. W. Taylor, “Robert Buzzanco’s ‘Fear and (Self) Loathing in Lubbock,” JVS 1, nos.1-2 (2006): 436-452. Edward Miller, “The Taylor-Buzzanco Debate and How We think about the Vietnam War,” JVS 1, nos.1-2 (2006): 453-484 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robert Buzzanco’s ‘Fear and (Self) Loathing in Lubbock,” "JVS" 1, nos.1-2 (2006): 436-452. Edward Miller, “The Taylor-Buzzanco Debate and How We think about the Vietnam War,” "JVS
Tác giả: K. W. Taylor, “Robert Buzzanco’s ‘Fear and (Self) Loathing in Lubbock,” JVS 1, nos.1-2 (2006): 436-452. Edward Miller, “The Taylor-Buzzanco Debate and How We think about the Vietnam War,” JVS 1, nos.1-2
Năm: 2006
[6] Stan B-H Tan, “’Swidden, Ressettlements, Sedentarizations, and Villages’: State Formation among the Central Highlanders of Vietnam under the First Republic, 1955-1961,” JVS 1, nos.1-2 (2006): 210-252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ’Swidden, Ressettlements, Sedentarizations, and Villages’: State Formation among the Central Highlanders of Vietnam under the First Republic, 1955-1961,” "JVS
Tác giả: Stan B-H Tan, “’Swidden, Ressettlements, Sedentarizations, and Villages’: State Formation among the Central Highlanders of Vietnam under the First Republic, 1955-1961,” JVS 1, nos.1-2
Năm: 2006
[7] John C. Schafer, “Death, Buddhism and Existentialism in the Songs of Trinh Cong Son,” JVS 2 no.1 (2007):144-188. Nguyen-Vo Thu-Huong, “History Interrupted: Life after Material Death in South Vietnamese and Diasporic Works of Fiction,” JVS 3, no.1 (2008):1-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Death, Buddhism and Existentialism in the Songs of Trinh Cong Son,” "JVS" 2 no.1 (2007):144-188. Nguyen-Vo Thu-Huong, “History Interrupted: Life after Material Death in South Vietnamese and Diasporic Works of Fiction,” "JVS
Tác giả: John C. Schafer, “Death, Buddhism and Existentialism in the Songs of Trinh Cong Son,” JVS 2 no.1 (2007):144-188. Nguyen-Vo Thu-Huong, “History Interrupted: Life after Material Death in South Vietnamese and Diasporic Works of Fiction,” JVS 3, no.1
Năm: 2008
[8] Lien-Hang T. Nguyen, “The War Politburo: North Vietnam’s Diplomatic Road to the Tet Offensive,” JVS 1, nos.1-2 (2006):4-58. Christopher Goscha, “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950),” JVS 1, nos.1-2 (2006). Merle L. Pribbenow II Sách, tạp chí
Tiêu đề: The War Politburo: North Vietnam’s Diplomatic Road to the Tet Offensive,” "JVS " 1, nos.1-2 (2006):4-58. Christopher Goscha, “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950),” "JVS
Tác giả: Lien-Hang T. Nguyen, “The War Politburo: North Vietnam’s Diplomatic Road to the Tet Offensive,” JVS 1, nos.1-2 (2006):4-58. Christopher Goscha, “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950),” JVS 1, nos.1-2
Năm: 2006
[9] Ken Maclean, “Manifest Socialism: The Labor of Representation in the Democratic Republic of Vietnam (1956-1959),” JVS 2, no.1 (2007):27-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manifest Socialism: The Labor of Representation in the Democratic Republic of Vietnam (1956-1959),” "JVS
Tác giả: Ken Maclean, “Manifest Socialism: The Labor of Representation in the Democratic Republic of Vietnam (1956-1959),” JVS 2, no.1
Năm: 2007
[10] Martin Gainsborough, “From Patronage to ‘Outcomes’: Vietnamese Communist Party Congresses Reconsidered,” JVS 2, no.1 (2007):3-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From Patronage to ‘Outcomes’: Vietnamese Communist Party Congresses Reconsidered,” "JVS
Tác giả: Martin Gainsborough, “From Patronage to ‘Outcomes’: Vietnamese Communist Party Congresses Reconsidered,” JVS 2, no.1
Năm: 2007
[11] Jason Gibbs, “The Music of the State: Vietnam’s Quest for a National Anthem,” JVS 2, no.2 (2007):129-174.`[12] Lan T. Chu, “The Catholic Church in Vietnam,” JVS 3, no.1 (2008):151-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Music of the State: Vietnam’s Quest for a National Anthem,” "JVS" 2, no.2 (2007):129-174.` [12] Lan T. Chu, “The Catholic Church in Vietnam
Tác giả: Jason Gibbs, “The Music of the State: Vietnam’s Quest for a National Anthem,” JVS 2, no.2 (2007):129-174.`[12] Lan T. Chu, “The Catholic Church in Vietnam,” JVS 3, no.1
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w