1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở việt nam

23 593 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 288 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận gồm có 3 phần chính: Chương 1: Khái quát về lý luận và thực tiễn: Trình bày những khái niệm cơ bản về lý luận, thực tiễn và mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Chương 2: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam. Chương 3: Thành tựu hạn chế.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nước ta đang trên con đường tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và hội nhập quốc tế Vì vậy, việc nắm vững các quan điểm thực tiễn, pháttriển lý luận nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpquốc tế luôn là vấn đề cần thiết cần sự quan tâm của cả xã hội

Trong xã hội, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triểncủa bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức vàthực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉcho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội cho hoạt động Chúng tabiết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đãchỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác.Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảngtriết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ,

đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng vàphát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyếtkhông thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn,phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khuvực và thế giới về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội

và qua ba mươi năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên Hoạtđộng nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quantrong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi,nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay Vì vậy, em quyết định chọn nội dung

“Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

làm đề tài tiểu luận của mình

Trang 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT

GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nội dung

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin nói chung và lý luận nhận thức nói riêng Việcnắm vững chủ nghĩa Mác - Lê nin nói chúng và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn của con người Đặc biệt, là đối với cán bộ, đảng viên trong công cuộc xâydựng đất nước hiện nay

Theo quan điểm của Mác xít, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mụcđích, mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thâncon người

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánhnhững mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật, hiện tượng

1.1 Tổng quan về lý luận

1.1.1 Nguồn gốc của lý luận

Lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết, khái quátnhững tri thức kinh nghiệm, nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát từkinh nghiệm và không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm Dotính đọc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ liệu kinh nghiệm.Muốn hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinhnghiệm, đó là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các sự vật, hiệntượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm

Lý luận là kết quả cao nhất của nhận thức, là hệ thống những tri thức đượckhái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các

sự vật, hiện tượng trong thế giới

Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thựctiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới kháchquan Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên

hệ với thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác độngqua lại, trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định

Lý luận được hình thành trên cơ sở của quá trình nhận thức, nhưng khôngphải là quá trình nhận thức trực tiếp đối tượng mà nó mang tính gián tiếp Tức làquá trình hình thành lý luận chỉ thông qua quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá.Quá trình đó diễn ra trên cơ sở kết quả của tri thức khoa học

Để hình thành tri thức khoa học, con người phải thông qua quá trình nhậnthức kinh nghiệm Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lạidiễn biến của các sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thứckinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và

Trang 3

tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ởtrình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận.

Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó,

có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triểncủa một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạtđộng của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và conngười, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của conngười

Lý luận cũng có lý luận khoa học, là những lý luận được hình thành trên cơ

sở tư duy khoa học, là kết quả của nhận thức khoa học và được thực tiễn kiểmnghiệm, các lý luận khoa học cũng chính là các chân lý tương đối, trong quá trìnhtiệm cận tới chân lý tuyệt đối của nhận thức loài người; cũng có lý luận phản khoahọc, hoặc phi khoa học là những lý luận không dựa trực tiếp trên tư duy khoahọc, và bị chi phối bởi những lợi ích không phù hợp với lợi ích chung của sự tiến

bộ xã hội

1.1.2 Chức năng của lý luận

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản

là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp cho hoạtđộng thực tiễn Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chunghay chung nhất Nó lược bỏ những yếu tố ngẫu nhiên hoặc cái riêng để hình thànhnhững quy luật chung về quá trình tồn tại, vận động, phát triển và biến đổi của hiệnthực khách quan Tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học cũng như tri thức lý luậnđều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những trình độ khác nhau Tri thức lýluận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạohiện thực khách quan

Chức năng phương pháp luận của lý luận (hay tri thức lý luận) cho quá trìnhhoạt động thực tiễn ở trình độ chung hay chung nhất Đó vừa là chức năng phươngpháp luận cho hoạt động nhận thức, vừa là chức năng cho hoạt động cải tạo hiệnthực khách quan Có phương pháp luận chung nhất, phương pháp luận chung vàphương pháp luận chuyên ngành Mỗi cấp độ phương pháp luận có vai trò và hiệuquả khác nhau trong quá trình hoạt động Mỗi lĩnh vực cụ thể đều có phương phápluận cụ thể Phương pháp luận cụ thể chỉ đúng khi không đối lập với phương phápluận chung hay chung nhất

1.2 Tổng quan về thực tiễn

1.2.1 Các quan điểm về thực tiễn

Trước Mác đã có rất nhiều quan điểm về thực tiễn được đưa ta nhưng nhữngquan điểm ấy đều tồn tại khuyết điểm chủ yếu là chưa thấy hết vai trò của thực tiễnđối với nhận thức

Trang 4

Một số nhà triết học như Ph.Bêcơn, Đ.Diđơrô đề cao vai trò của thực nghiệmhóa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhậnthức.

G.Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là hoạtđộng vật chất mà là hoạt động tinh thần

L.Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉđược ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi

C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong

lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức

Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểmthứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”

1.2.2 Thực tiễn là gì

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội – lịch sử củacon người nhằm biến đổi tự nhiên và xã hội để phục vụ cuộc sống của mình

1.2.3 Các hình thức cơ bản của thực tiễn

Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:

- Thực tiễn lao động sản xuất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt độngtrực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và pháttriển của xã hội

- Thực tiễn chính trị xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, là hoạt động củacon người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện cácthiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất vàtạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấutranh giai cấp và cách mạng xã hội

- Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đíchphục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học

1.3 Yêu cầu của Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

1.3.1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,

lý luận hình hành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Thực tiễn là cở sở của lý luận: Những tri thức được khái quát thành lý luận

là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua kết quả hoạtđộng thực tiễn, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của cácyếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Quá trìnhhoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đượckhái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người còn làm nảy sinh nhữngvấn đề mới đời hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó lýluận được bổ sung, mở rộng Đối với chủ nghĩa Mác, thực tiễn trước hết là sự hoạtđộng sản xuất vật chất, nó là cơ sở sinh sống của con người , nó quyết định sự sinhtồn của xã hội Lý luận xuất hiện trên cơ sở của thực tiễn, nó là kết quả tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn của con người Không có thực tiễn thì không có lý luận khoahọc Thực tiễn đề ra những vấn đề mà lý luận cần phải làm sáng tỏ, cần phải giải

Trang 5

đáp Chỉ có lý luận nào gắn với thực tiễn, phục vụ cho nhu cầu thực tiễn và đượcthực tiễn kiểm tra thì mới có lý do để tồn tại lâu dài.

Thực tiễn là động lực của lý luận: Hoạt động của con người không chỉ là

nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệcủa con người với tự nhiên và xã hội Lý luận được vận dụng làm phương phápcho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con ngườibám sát thực tiễn để khái quát lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sựtồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắchơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế trong không gian và thờigian Thông qua đó thực tiễn đã thúc đẩy các ngành khoa học ra đời, các lý luậnphát triển

Thực tiễn là mục đích của lý luận: Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức

khái quát về thế giới để làm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mụcđích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người trước hiệnthực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đadạng của cá nhân và xã hội Tự thân lý luận không tạo nên những sản phẩm đápứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thựctiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của conngười để đem lại cho con người ngày càng nhiều lợi ích Đó thực chất là mục đíchcủa lý luận Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người Lýluận quay về xâm nhập vào thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, làm cho thựctiễn ngày càng hiệu quả hơn

Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận thực

chất là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểmnghiệm, là giá trị của phương pháp lý luận đối với hoạt động thực tiễn của conngười Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Thông quathực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tang trí thức nhânloại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặcnhận thức lại Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt độngthực tiễn Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọithực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luậnkhi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn

đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tấtyếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Nếu lý luậnchỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận cóthể xa rời thực tiễn Do đó chỉ lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thựctiễn thì mới đạt đến chân lý

C Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân

lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đềthực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” Thừanhận thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, cần chú ý những vấn đề sau:

Trang 6

- Thực tiễn chỉ là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tínhtoàn vẹn của nó.

- Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ kháiquát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn

Ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩn khác như: tiêuchuẩn logic, tiêu chuẩn giá trị…

Qua đó, yêu cầu xây dựng lý luận phải xuất phát từ thực tế, dựa trên cơ sởthực tiễn, đi sâu vào thực tiễn Nếu xa rời thực tiên sẽ dẫn đến các sai lầm của bệnhchủ quan, duy ý chí, giáo điều, quan liêu,…tức lý luận suông

1.3.2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây

tổ, nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một côngtrình, họ đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ Tức làhoạt động của con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con ngườichưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tạicủa mình Thông qua đó con người khái quát thành lý luận Từ đó những hoạt độngcủa con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường Chính nhờ có

lý luận soi đường, hoạt động của con người trở thành tự giác, có hiệu quả và đạtđược mục đích mong muốn

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng địnhhướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luậncòn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dựbáo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế, những thất bại có thể có trongquá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả

mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của conngười Mặt khác, còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, liên kết các cá nhânthành cộng đồng, tạo thành sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo tựnhiên và xã hội

Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn có tính lịch sử, cụ thể

Do đó khi vận dụng lý luận, chúng ta cần phân tích sự vật, hiện tượng, quá trìnhtrong mỗi tình hình cụ thể Nếu vận dụng lý luận máy móc thì chẳng những hiểusai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thốngnhất tất yếu của lý luận và thực tiễn

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăncủa con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy phong phú

và đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễnđược khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phươngpháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biệnpháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt độngthực tiễn, không những thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực

Trang 7

tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, từ lý luận để xây dựng mô hìnhthực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễnbiến, các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh trong quá trình pháttriển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực để đạt kết quảcao hơn.

Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu so với thựctiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến củathực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc cóthể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tế Khi vận dụng lý luận vào thực tế,chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc không, hoặc kết quả chưa rõ ràng Trongtrường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định Tính năng động của

lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Lênin nhận xét rằng: “Thựctiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến,

mà cả của tính hiện thực trực tiếp”

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

2.1 Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế ở Việt Nam

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là mộtquá trình tất yếu của mỗi một quốc gia, từ một nước có nền kinh tế kém phát triểnvươn lên thành nước có nền kinh tế phát triển Đối với nước ta, đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là vẫn đề quan trọng của toàn Đảng,

toàn dân trong quá trình thực hiện mục tiêu: công bằng, dân chủ, văn minh

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước

ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức Đó là bài học về quán triệt quan điểmthực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cơ bản vàhàng đầu của triết học Mác xít Sự nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khókhăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học soi sáng Sự khám phá về lý luận phảitrở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt độngthức tiễn Tuy nhiên, lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờchuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới Hơn nữa, thực tiễn lại là

cơ sở để nhận thức, của lý luận Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có

cơ sở đề khái quát thành lý luận

Vì vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ởnước ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rútthành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quá trình đổi mới Có nhữngđiều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi

Trang 8

mới biết, thậm chí có nhiều điều phải chờ thực tiễn Ví dụ như vấn đè chống lạmphát, vấn đề khoán trong nông nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm Trong quátrình đó, tất nhiên sẽ không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm,lệch lạc nhất định.

Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ vànhân dân là rất quan trọng Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, hãy làm rồithực tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa - đó là bài học không chỉ của sự nghiệpkháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi mới vừa qua vàhiện nay

Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp,không hề coi nhẹ lý luận Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình, cốgắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

2.2 Trong hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận khoa học làm phương pháp, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với không gian và thời gian

Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn mụcđích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử

đã được lý luận khái quát Mặc dù thực tiễn diễn biến phức tạp, ít khi lặp lạihoàn toàn, song thực tiễn nào cũng mang tính khách quan, mang tính khuynhhướng Chính vì lý luận có khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lýluận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thực tiễn V.I Lênin đã nói rấtđúng rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lêninlàm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình Kiênđịnh lập trường đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản ViệtNam khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Namtheo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh” Chính vì chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khôngchỉ được hình thành trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, trong sựphát triển của khoa học tự nhiên cũng như những thành tựu của lý luận thế kỷXVIII – XIX mà còn được khái quát từ thực tiễn phong trào cách mạng của quầnchúng lao động, đồng thời nó phù hợp với thực tiễn của lịch sử

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và pháttriển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa vàphát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoánhân loại” “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân

ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và nhân dân ta”

Trang 9

Lý luận không chỉ có kế thừa mà còn có tính cách mạng, tính dự báo Khảnăng đó đã được thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh Nhưng lý luận chỉkhái quát thực tiễn dưới hình thức khuynh hướng Sự phát triển phong phú, đadạng, phức tạp của thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn chính trị - xã hội càng đòi hỏiphải dựa vào khuynh hướng cơ bản của lý luận để bổ sung, hoàn thiện lý luận vềchủ nghĩa xã hội phù hợp thực tiễn nước ta hiện nay.

Vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa phù hợp với cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ hiện nay chính là khẳng định độc lập về tư tưởng của chúng ta

Coi trọng lý luận chính là vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học nhânloại đã đạt được vào điều kiện cụ thể của nước ta Khoa học và công nghệ khôngchỉ phản ánh chân lí khách quan mà còn phản ánh nhu cầu và nguyện vọngkhách quan của con người Thành tựu của khoa học và công nghệ đã tác độngsâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội thế giới Không có một quốc gianào đứng ngoài sự tác động của nó Khoa học và công nghệ là sự kế thừa vàtích hợp thành tựu của quá khứ và hiện tại, sự cố gắng không mệt mỏi của baothế hệ, là thành tựu mang tính nhân loại Con đường phát triển ngắn nhất vàbền vững nhất hiện nay của các quốc gia chậm phát triển là tranh thủ thời cơ,ứng dụng triệt để thành tựu của khoa học và công nghệ nhân loại để phát triểnđất nước Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu cơ bản trở thànhnước công nghiệp vào năm 2020, chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận và ứngdụng triệt để sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới mới có thể phát huyhết tiềm năng vốn có Chính vì vậy, định hướng phát triển khoa học và công nghệnước ta trong thời gian tới là: "Tập trung xây dựng và phát triển tiềm lực khoahọc và công nghệ của đất nước, tăng năng lực tiếp thu, làm chủ thích nghi, cảitiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài trong một số lĩnh vực sản xuất,dịch vụ, kết cấu hạ tầng, rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, sớm đưavào ứng dụng trong sản xuất"

Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin khi vận dụng vào thựctiễn phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, đồng thời biết tiếp thu nhữngthành tựu của tư duy nhân loại trong xây dựng nền kinh tế thị trường, thànhtựu về xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lí khoa học, côngnghệ, văn hoá, xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh

Một trong những lĩnh vực hoạt động của con người mà thực tiễn và lýluận được kết hợp một cách mật thiết là lĩnh vực giáo dục và đào tạo Giáodục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển từ khi nềncộng hoà được thiết lập Trong quá trình cách mạng, giáo dục và đào tạo đã gópphần đào tạo lớp người lao động mới có lí tưởng cách mạng, có năng lực hoànthành nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, có sức khoẻ và có kỉ luật Thắng lợi củahai cuộc kháng chiến, của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong

Trang 10

thời kì đổi mới càng chứng tỏ giáo dục, đào tạo nước ta đã đóng góp tích cựccho sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy thế, giáo dục và đào tạo nước ta cònnhiều bất cập Mô hình các bậc học, các loại hình đào tạo chưa thật khoa học và

ổn định, chưa thật phù hợp với thực tiễn Nội dung, chương trình, chất lượng đàotạo chưa đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, của sự phát triển khoahọc và công nghệ Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, giáo dục và đàotạo được xác định là quốc sách hàng đầu Theo đó, đầu tư hàng năm cho giáodục và đào tạo được tăng lên Mục tiêu giáo dục và đào tạo của nước ta là mởmang dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đại hội IX xác định: “Bồidưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc,

lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếuhọc, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người laođộng có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quảthiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ.Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhàvăn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lí Chính sách sử dụng lao động và nhân tàiphải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhânphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” Giáo dục và đào tạo phải xuấtphát từ thực tiễn kinh tế - xã hội nước ta, đáp ứng sự phát triển của đất nước,phấn đấu để rút ngắn khoảng cách giữa giáo dục và đào tạo nước ta với các nướctiên tiến trong khu vực và trên thế giới Trong "Phương hướng, nhiệm vụ kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005", Chính phủ khẳng định:

“Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyểnbiến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo Tiếp tục đổi mớichương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũlao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế, kỹ thuật mũinhọn, công nghệ cao Đổi mới cơ bản công tác quản lí và tổ chức giáo dục;xây dựng hệ thống giáo dục nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể học tậpsuốt đời theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu của xã hội Hoànthiện cơ chế, chính sách và luật pháp để bảo đảm sự nghiệp giáo dục phát triển

ổn định, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về con người và nguồn nhân lựccho đất nước phát triển nhanh và bền vững Ngăn chặn và đẩy lùi những hiệntượng tiêu cực trong ngành giáo dục, xây dựng một nền giáo dục lành mạnh”

2.3 Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là những biểu hiện khác nhau của sự viphạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Bệnh kinh nghiệm là tuyệt đối hoá những thành công trong hoạt động thựctiễn trước đây thành nguyên tắc hoạt động trong hiện tại khi những yếu tố và điều

kiện đã thay đổi Bệnh kinh nghiệm xuất phát từ tri thức kinh nghiệm Trithức kinh nghiệm là trình độ thấp của tri thức Tri thức này chỉ khái quát thực tiễn

cụ thể với những yếu tố và điều kiện đơn giản, chưa biến đổi hoặc đã biến đổi

Trang 11

nhưng chưa được phản ánh kịp thời Những tri thức kinh nghiệm góp phần tạo nênnhững thành công không nhỏ, đặc biệt thành công trong quá khứ đã củng cố niềmtin để tiếp tục khẳng định giá trị của các kinh nghiệm Những thành công tiếp theokhi tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm cũ vào hiện tại đã tạo nên chủ nghĩa kinhnghiệm Khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi hoặc có những diễn biến phứctạp nhưng vẫn tiếp tục vận dụng kinh nghiệm cũ thì nó trở thành bệnh kinhnghiệm.

Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ rấtthấp Đó là thực trạng của một nền kinh tế truyền thống - nền kinh tế chỉ dựa vàokinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng hình thức dân gian Điều

đó dẫn đến phong cách tư duy, phong cách hoạt động của người Việt Nam chủ yếudựa vào kinh nghiệm Truyền thống đó là một trong những nguyên nhân sâu xa củabệnh kinh nghiệm Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thực hiện một thời giandài ở nước ta đã triệt tiêu tính sáng tạo của người lao động và tạo nên tâm lý ỉ lại,dựa dẫm là một trong những nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa - tuyệtđối hoá kinh nghiệm của thế hệ trước, của cấp trên Cơ chế hoạt động của từng lĩnhvực chưa được luật hoá, việc tổ chức thực hiện tuỳ tiện dẫn đến chủ nghĩa kinhnghiệm

Kinh nghiệm có thể mang lại thành công Những kinh nghiệm đó đáng đượctrân trọng Nhưng quá đề cao kinh nghiệm để trở thành căn bệnh thì rất nguy hiểm.Tiếp tục vận dụng kinh nghiệm khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi để dẫnđến thất bại kéo dài, thậm chí sụp đổ thần tượng sẽ làm mất lòng tin với lớp người

đã có nhiều công lao với dân tộc, với đất nước Đó là một trong những tội lỗi

Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt phải quán triệt sâu sắcnguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăngcường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ sung, vận dụng lý luận phù hợp Mặtkhác, phải triệt để thực hiện cơ chế thị trường Nền kinh tế thị trường đề cao thànhcông hiện tại, quá khứ mang tính tham khảo Do đó không có chỗ cho bệnh kinhnghiệm tồn tại Khi thị trường hoá toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất cũngnhư các lĩnh vực xã hội thì sẽ khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm

Trái với bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều lại tuyệt đối hoá lý luận hoặctuyệt đối hoá lòng tin khi các yếu tố và các điều kiện đã thay đổi

Biểu hiện của bệnh giáo điều là chỉ hiểu lý luận theo một số nghĩa căn bảnnào đó, chỉ “tầm chương trích cú”, bỏ qua sự vận động, phát triển, biến đổi củathực tiễn cũng như bản thân lý luận, coi chân lí đã được hình thành là bất di bấtdịch; chưa hiểu tính cụ thể, tính tương đối, tính tuyệt đối của chân lí Người mắcbệnh giáo điều chỉ căn cứ vào “câu, chữ” mà chưa hiểu được bản chất đích thựccủa chúng; hoặc vận dụng chúng như “chiếc bùa hộ mệnh” để bảo vệ sự hiểu biếttrống rỗng của mình Thực chất của bệnh giáo điều là xa rời thực tiễn, chưa coitrọng vai trò của thực tiễn Mặt khác, do chủ thể hoạt động ngại nghiên cứu, vận

Ngày đăng: 27/08/2018, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w