1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp 1958 1969

29 947 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải Tạo Xã Hội Chủ Nghĩa Đối Với Nông Nghiệp 1958-1960
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 1958-1960
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa về nông nghiệp từ 1958-1960

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Nước ta là một nước nông nghiệp, thiên nhiên ưu đãi, nhân dân lại cần

cù lao động Nền nông nghiệp Việt Nam có đủ những điều kiện để phát triểntoàn diện Thế nhưng dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến, nềnnông nghiệp nước ta vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu

Cách mạng tháng tám thành công, kháng chiến chống Pháp thắng lợi,cách mạng Việt Nam chuyển mình sang giai đoạn mới, đặc biệt là sau 1954miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đã mở ra mộthướng phát triển mới cho nông nghiệp Đất nước bước vào thời kỳ quá độ đilên chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với nền kinh tế quốc dân cũng cần phải cảitạo để trở thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Là một nước kinh tế nôngnghiệp là chủ đạo nên nông nghiệp sẽ phải đóng vai trò trung tâm trong côngcuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế

Trong thời kỳ cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, nền nôngnghiệp hợp tác hóa đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và công cuộc giải phóng miền Nam thống nhấtnước nhà Đặc biệt công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền nông nghiệp miềnBắc trong giai đoạn đầu tiên 1958-1960, với những thành tựu đạt được đãtạo tiền đề, cơ sở cho quá trình hợp tác hóa nhà nước trong các thời kỳ sau

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp trong ba năm1958-1960 bên cạnh những thành tựu đạt được còn nhiều hạn chế và khuyếtđiểm Chính vì thế nghiên cứu về nông nghiệp miền Bắc trong giai đoạn nàygóp phần tìm hiểu rõ hơn về công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp của miềnBắc nói riêng và những chủ trương và đường lối về hợp tác hóa nông nghiệpcủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung

Trang 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Đề tài về cải tạo nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam đã được viếttrong nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu khoa học

- Trong cuốn “cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của đồng chí

Lê Duẩn cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề nông nghiệp và nông dân…trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, có một phần viết về nông nghiệp ViệtNam trong giai đoạn 1958-1960

- Cuốn “Nông dân Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội” do viện sử học xuất bản năm 1979 và “Nông nghiệp miền Bắc trên đường hợp tác hóa” do

nhà xuất bản thanh niên 1962, nhưng mới chỉ đề cập đến một mặt nào đó về

sự chuyển biến trong tư tưởng của người nông dân trong quá trình đi lên chủnghĩa xã hội

- Cuốn “30 năm phát triển kinh tế văn hóa của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” do tổng cục thống kê xuất bản 1978, đã đề cập đến sự chuyển

biến của nông nghiệp miền Bắc trong thời giai đoạn hợp tác hóa nôngnghiệp 1958-1960, nhưng mới chỉ thống kê thành tựu của sự phát triển vềnông nghiệp

- Luận văn thạc sĩ: “Quá trình xây dựng nền nông nghiệp miền Bắc

Xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến năm 1975” của Phạm Văn Lực NXB

Đại học sư phạm Hà Nội, 1986 cũng có đề cập đến những thành tựu củanông nghiệp miền Bắc trong giai đoạn 1958-1960 nhưng rất khái quát, chưađánh giá về những thành tựu đó

Tuy nhiên chưa có một công trình nào đề cập một cách toàn diện vàđầy đủ về quá trình cải tạo nông nghiệp miền Bắc trong giai đoạn 1958-

1960 Chính vì thế nghiên cứu về đề tài này sẽ góp phần làm rõ hơn nềnnông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hợp tác hóa 1958-1960

Trang 3

3 Đối tượng, nhiệm vụ của đề tài.

- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa

đối với nền nông nghiệp miền Bắc, trong giai đoạn ba năm cải tạo kinh tế1958-1960

- Nhiệm vụ đề tài:

+ Phân tích được tại sao đến năm 1958-1960, Đảng và Nhà nước talại tiến hành cải tạo nền nông nghiệp của miền Bắc theo hướng đi lên chủnghĩa xã hội

+ Làm sáng tỏ những thành tựu, hạn chế khuyết điểm của công cuộccải tạo đối với nền nông nghiệp miền Bắc

+ Đánh giá được những thành tựu và hạn chế của công cuộc tập thểhóa nông nghiệp ở miền Bắc

+ Qua đó rút ra được những nguyên nhân ra đời và sự tồn tại của môhình tập thể hóa nông nghiệp ở miền Bắc

4 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chủyếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Ngoài ra tôi còn

sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh đối chiếu phân tích, đánh giá tổnghợp để làm sáng quá trình cải tạo nền nông nghiệp miền Bắc trong giai đoạn1958-1960

Trang 4

I ĐƯỜNG LỐI NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ QUÁ

ĐỘ VÀ TÌNH HÌNH MIỀN BẮC TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH TẬP THỂ HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP

1 Đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng trong thời kỳ quá độ.

Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàntoàn giải phóng, bước ngay vào thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xãhội Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ trong điều kiện khối liên minh côngnông vững chắc, với sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên miền Bắc bước vàothời kỳ quá độ khi chưa có quan hệ sản xuất mới, lực lượng sản xuất với đặctrưng là nền đại công nghiệp có khí mà theo Lênin đây là cơ sở vật chất duynhât của chủ nghĩa xã hội Bản thân miền Bắc lúc bước vào thời kỳ quá độtrong hoàn cảnh nghèo nàn vì bị chiến tranh tàn phá Vì thế để đi lên xâydựng chủ nghĩa xã hội phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nhưng đặcbiệt phải chú ý đến nông nghiệp

Ở miền Bắc nước ta, xuất phát từ một nước nông nghiệp nên muốntích lũy cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa chúng ta không thể đi theocon đường tích lũy của tư bản chủ nghĩa và cũng không hoàn toàn giống conđường của các nước xã hội chủ nghĩa khác mà phải dựa vào những điều kiệnsẵn có trong nước về đất đai, lao động, điều kiện tự nhiên thuận lợi Muốnđảm bảo tích lũy cho công nghiệp thì trước tiên phải phát triển sản xuất nôngnghiệp, nông nghiệp phải làm cở sở cho công nghiệp hóa Với đường lối

Đảng đề ra đó là “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên

cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”, Đảng ta lấy nông nghiệp

làm cơ sở đi lên Điều đó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nôngnghiệp trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồngthời trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền , trước yêu cầu ngàycàng cao về sức người và sức của cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và

Trang 5

cũng để đảm bảo việc thực hiện quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội

là thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần của nhân dântrên cơ sở nền công nghiệp hiện đại, đòi hỏi nền nông nghiệp phải cải biếntừng bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Mặt khác cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạngtriệt để nhất trong lịch sử, nó chẳng những xóa bỏ chế độ bóc lột mà cònxóa bỏ nguồn gốc sinh ra chế độ bóc lột đó là chế độ tư hữu về tư liệu sảnxuất Quá trình tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là kết hợp giữacải tạo với xây dựng, cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới cùng lực lượngsản xuất mới, với nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.Trong một quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất bao giờ cũng phải phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Xuất phát từ mối quan hệcách mạng kết hợp giữa cải tạo với xây dựng trong cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc nước ta mà nông nghiệp là một bộ phận quan trọng Đó là

cơ sở để Đảng đề ra đường lối chung về nông nghiệp- đường lối cải tạo nềnnông nghiệp xã hội chủ nghĩa theo hướng tập thể hóa, đưa nhân dân vào conđường làm ăn tập thể

2 Tình hình Miền Bắc sau thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp.

Sau thời kỳ khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh, miềnBắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quốc dântrong hoàn cảnh rất khó khăn Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền

Đế quốc Mỹ và tay sai đang âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, chúngmuốn biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới Tình hình

đó gây nhiều cản trở cho miền Bắc trong quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa

xã hội, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân

Trang 6

Hơn nữa miền Bắc sau thời kỳ khôi phục kinh tế hàn gắn vết thươngchiến tranh vẫn là nền sản xuất nhỏ phân tán, mà chính nền sản xuất nhỏ nàyđang hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản rên một quy mô ngày càngrộng lớn Sự phân hóa và khung hướng tự phát đi lên chủ nghĩa tư bản trongnền xuất nhỏ ở miền Bắc ngày càng rõ rệt và mạnh mẽ hơn bao giờ hết Vìvậy để ngăn chặn khuynh hướng tự phát đi lên chủ nghĩa tư bản, để đưamiền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội tiến hành cải tạo nền kinh tế quốc dân làyêu cầu cấp bách bức thiết và là một tất yếu lịch sử

Thực tế sau thời kỳ khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh,nhìn vào toàn bộ nền kinh tế miền Bắc nói chung, nền nông nghiệp nói riêngvận trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phổ biến là lao động thủ công vớinăng suất lao động thấp, phân tán không tập trung Chúng ta mới chỉ quantâm đến phục hồi nền nông nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh chứ chưa nóiđến cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủnghĩa Đặc biệt là trong nông nghiệp với thắng lợi của cải cách ruộng đất,chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến đã được xóa bỏ nhưngthay vào đó là chế độ sở hữu ruộng đất cá thể của nông dân trên một quy môhết sức rộng lớn nhưng bình quân ruộng đất lại quá 5 sào một người

Sau cải cách ruộng đất nông dân ai cũng có ruộng và phấn khởi giatăng cày cấy, sản lượng nông nghiệp có tăng lên những vẫn chưua được baonhiêu Mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất, công cụ lại thô sơ, kỹ thuật lạchậu cho nên còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất như thiếu vốn mua phânbón và nông cụ mới, không đủ sức để chống thiên tai hạn hán hay thú rừng,sâu chuột phá hoại mùa màng…Ruộng đất thì phấn tán mỗi người từngmảnh nhỏ làm cho diện tích cày cấy bị thu hẹp, vừa không tiện chăm bón, lạikhông sử dụng đúng với chất đất vì ai cần gì thì trồng nấy Việc biến ruộng

từ một vụ thành hai ba vụ cũng khó mà thực hiện được Như vậy thì chỉ có

Trang 7

cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp thì mới nâng cao hơn nữa sảnlượng nông nghiệp lên được.

Sự tồn tại của nền sản xuất cá thể của nông dân trong nông nghiệp ,trên thực tế đang dễn ra một sự phân hóa giàu nghèo rất mạnh mẽ, mànguyên nhân chính là do tính chất tư hữu tư mảnh ruộng được chia trong cảicách ruộng đất của người nông dân Do trong quá trình sản xuất của ngườinông dân không phải ai cũng có điều kiện sản xuất như nhau mà thậm trí cònhoàn toàn khác nhau Những người có đủ điều kiện sản xuất thì sẽ làm ănphát đạt hơn, thu nhập của gia đình và bản thân họ sẽ cao hơn, vì thế sảnphẩm có phần dư thừa cho vay Còn nhiều người nông dân khác không cóđiều kiện sản xuất có thể bị phá sản, phải bán ruộng đất, phải vay mượn củanhững người làm ăn phát đạt Thực trạng đó làm cho người nghèo càngnghèo thêm, người giàu thì tranh thủ cơ hội để bóc lột những người nghèo.Một điều hiển nhiên là nền sản xuất nhỏ của nông dân sẽ tự phát đẻ ra chủnghĩa tư bản trên một quy mô lớn Đây chính là bản chất của nền sản xuấtnhỏ, đúng như Lê-nin đã nói “nền sản xuất nhỏ của nông dân đang hàngngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản trên một quy mô ngày càng rộng lớn”.tình hình phân hóa trong nền sản xuất nhỏ cá thể của nông dân nó khôngnhững chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất mà nó còn thể hiện mộtvấn đề

Nền sản xuất cá thẻ của nông dân cso nhiều nhược điểm cho nên thuhoạch của nông dân thấp, nếu như người nào gặp phải lúc thiên tai khôngchống đỡ nổi hay khi trong nhà có người bị nạn, ốm đau thì sản xuất khókhăn, dễ dẫn tới phá sản và rơi vào cuộc sống nghèo khổ, bần cùng Nhữngngười có điều kiện hơn thì trở nên giàu có Như vậy nền sản xuất nhỏ phânhóa kẻ giàu người nghèo, kẻ bóc lột, người bị bóc lột Như vậy là làm cholực lượng chủ nghĩa tư bản được tăng cường, lực lượng cách mạng suy yếu,

Trang 8

đời sống của nhân dân sẽ không được cải thiện và chủ nghĩa xã hội sẽ khôngthực hiện được Do đó cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp là xóa

bỏ cơ sở đẻ ra chế độ bóc lột ở nông thôn Việt Nam, đưa người nông dântiến lên chủ nghĩa xã hội và mới đảm bảo cho người nông dân được thảomãn nhu cầu về vật chất và văn hóa

Việc chia ruộng đất cho nông dân không phải đã là việc làm mang lạicho người nông dân không phải là việc làm mang lại cho họ thực sự có mộtcuộc sống no ấm, hạnh phúc, làm cho họ thực sự thoát khỏi cảnh bần nônghóa Mà muốn mang lại cuộc sống thực sự no ấm cho người nông dân, cứuvớt họ khỏi cảnh bần cùng, phá sản là phải đưa họ vào con đường làm ăn tậpthể Chia việc và chia ruộng đất đồng nghĩa với việc giành ruộng đất từ tayđịa chủ chia cho nông dân Người nông dân có tư liệu sản xuất Nhưng như

thế chưa đủ, mà “chỉ có canh tác tập thể mới là con đường thoát” (theo

Lênin trong tác phẩm “Bàn về hợp tác hóa nhà nước”) của người nông dân

để không bị rơi vào cảnh bị bần cùng hóa, bị áp bức và bóc lột Đồng thờicũng chỉ có con đường làm ăn tập thể thì người nông dân mới không bị đuổi

ra khỏi sản nghiệp của họ Đúng như Mac đã chỉ rõ: “Người tiểu nông tự canh tác lấy cho bản thân mình đã không bảo đảm được quyền sở hữu với mảnh ruộng của họ…Bởi vì chính nền kinh tế cá thể, kết quả của nền tư hữu

cá nhân mới làm cho nông dân đi đến diệt vong Nếu họ cứ muốn bảo tồn nền kinh tế cá thể thì họ sẽ bị đuổi ra khỏi sản nghiệp của họ” Cho nên, con

đường duy nhất để đảm bảo cho người nông dân có cuộc sống ấm no hạnhphúc là đưa họ vào con đường làm ăn tập thể Còn nếu để người nông dânlàm ăn cá thể thì chẳng những không phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất làviệc áp dụng các biện pháp kỹ thuật , thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp đưamáy móc vào đồng ruộng và càng không thể nói đến việc xây dựng các côngtrình thủy lợi đào mương máng…để phục vụ sản xuất nông nghiệp Bởi vì

Trang 9

việc làm ấy nó động chạm các mảnh ruộng tư hữu của nông dân hai là vớilao động cá thể riêng lẻ ta không thể nào huy động được sức mạnh của laođộng tập thể Để tiến hành công việc đòi hỏi phải có nhiều công sức, laođộng mà nếu là lao động các thể của từng hộ thì không thẻ nào huy độngđược Như vậy sẽ là một cản trở cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp

Mà đứng trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng nhưyêu cầu của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà đòi hỏi nông nghiệp ngàycàng phải cung cấp nhiều lương thực, thực phẩm cũng như các yêu cầu cấpthiết khác

Nền nông nghiệp kém phát triển thì cản trở công nghiệp phát triển vìsản xuất nông nghiệp làm cơ sở cung cấp lương thực và nguyên liệu chocông nghiệp Hơn nữa nếu thu nhập của nông dân thấp thì sức mua hàngcũng kém, thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp sẽ giảm sút Nền sảnxuất nhỏ của nông dân rõ ràng không những cản trở sự phát triển của nôngnghiệp mà còn cản trở sự phát triển của công nghiệp Sảm xuất cá thể củangười nông dân dẫn đến chỗ sản xuất không có kế hoạch, vì mạnh ai người

ấy làm, thứ gì bán được giá thì họ đua nhau sản xuất, tình trạng đó làm choviệc lãnh đạo kinh tế phát triển theo kế hoạch của Nhà nước không thể thựchiện được, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Tóm lại có cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp thì mới khắcphục được những khó khăn trong sản xuất, có điều kiện để cải tiến kĩ thuật,tăng thu nhập, cải thiện đời sống ngày càng cao của người nông dân, xóa bỏđược tính tự phát tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, tạo điều kiện cho nềnkinh tế quốc dân phát triển cân đối nhịp nhàng theo kế hoạch của Nhà nước.Như vậy khối liên minh công nông của công nhân và nông dân cũng đượccủng cố vững chắc, lực lượng của Đảng và Nhà nước được tăng cường, làmcho cách mạng xã hội chủ nghĩa thu được thắng lợi và thủ tiêu vĩnh viễn cơ

Trang 10

sở của chế độ người bóc lột người Cải tạo nông nghiệp theo chủ nghĩa xãhội là phù hợp với yêu cầu sản xuất, phù hợp với nguỵên vọng và lợi ích củaquần chúng nhân dân.

Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân là mộtyêu cầu cấp bách và là một tất yếu lịch sử Bên cạnh những khó khăn rất lớnchúng ta cũng có những thuận lợi cơ bản, có Đảng lãnh đạo có nhà nướcchuyên chính vô sản vững mạnh, có khối liên minh công nông vững chắc.Chúng ta hoàn toàn có khả năng thực hiện được nhiệm vụ to lớn mà lịch sửđòi hỏi Song vấn đề đặt ra ở chỗ chúng ta tiến hành cải tạo nền kinh tế quốcdân như thế nào?

Muốn nông nghiệp hoàn thành nhiệm vụ nặng nề ấy phải cải tạo nềnkinh tế cá thể của nông dân, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể mớiphát triển sản xuất nông nghiệp, khi nông nghiệp phát triển mới khai thác hếtkhả năng tiềm tàng to lớn của nền nông nghiệp nhiệt đới Cho nên sau thời

kỳ khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh Đảng ta tiến hành hợptác hóa nông nghiệp, đây là yêu cầu cấp thiết nhất của miền Bắc để đi lênchủ nghĩa xã hội đồng thời cũng là đòi hỏi để phát triển sản xuất nôngnghiệp trong giai đoạn mới của cách mạng Góp phần to lớn vào việc củng

cố hậu phương miền Bắc vững mạnh, tạo cơ sở chỗ dựa vững chắc cho cuộcđấu tranh thống nhất nước nhà

Trang 11

II QUÁ TRÌNH CẢI TẠO NÔNG NGHIỆP Ở MIỀN BẮC TRONG GIAI ĐOẠN 1958-1960.

1 Chủ trương cải tạo nông nghiệp của Đảng và Nhà nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối chủ trương đúng đắn phùhợp với tình hình thực tiễn miền Bắc nước ta Xuất phát từ đặc điểm , miềnBắc nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp Cho nên Đảng ta xác định, cảitạo xã hội chủ nghĩa đối với nền sản xuất cá thể của nông dân, thực hiện hợptác hóa nông nghiệp làm trọng tâm cho toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủnghĩa ở miền Bắc nước ta Tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp sẽ làm mấtchỗ dựa của tầng lớp tư thương ở nông thôn Góp phần đẩy mạnh công cuộccải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh phát triển và tiến hành đượcthuận lợi Như vậy hợp tác hóa nông nghiệp giữ vai trò vị trí rất quan trọngtrong công cuộc cải tao xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân ở miền Bắc

1- Muốn cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp thì phải đưa nông nghiệp vào con đường hợp tác hóa, từng bước tổ chức nông dân vào các tổ đổi công, các hợp tác xã sản xuất, mua bán, vay mượn Cuối năm

1957 chúng ta đã tổ chức được 41 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp gồm trên1.500 xã viên, 84.000 tổ đổi công, 230 hợp tác xã vay mượn gồm 14 vạn xãviên và nhiều cơ sở hợp tác xã mua bán ở các huyện, xã Đảng và Nhà nướcđặt mục tiêu trong 3 năm tới (1958-1960) phải xây dựng được 17.000 hợptác xã sảm xuất chuẩn bị cho một cao trào tiến tới hợp tác hóa toàn bộ nềnnông nghiệp

Việc tổ chức các tổ đổi cong và hợp tác xã các loại phải dựa trên 3nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ Ba nguyên tắc đó cóquan hệ mật thiết với nha trong đó nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc tựnguyện Bởi vì không thể bắt buộc người lao động bằng mệnh lệnh Đi vàocon đường hợp tác hóa là đi vào con đường đảm bảo ấm no hạnh phúc của

Trang 12

người nông dân, khi họ nhận rõ thì họ sẽ sẵn sàng tham gia Vì thế chúng takhông được dùng phương pháp mệnh lệnh, cưỡng bức mà phải kiên trìthuyết phục bằng lý lẽ, bằng những ví dụ điển hình tốt về lối làm ăn tập thể

có lợi hơn làm ăn cá thể, bằng sự lãnh đạo và sự giúp đỡ nhiệt tình của Đảng

Thứ hai là phải tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân

trên mặt kinh tế, tạo ra nhiều khả năng giúp đỡ nông dân về mặt cải tiến kỹthuật như cung cấp nông cụ cải tiến, phân bón, giống tốt và tiến tới cung cấpmáy móc làm ruộng cho nông dân, làm cho nông dân tin tưởng vào tiền đồ

xã hội chủ nghĩa

Đồng thời Đảng và Nhà nước phải dùng mọi biện pháp để hạn chếkinh tế tư bản chủ nghĩa, trong các chính sách thuế khóa, chống đầu cơ tíchtrữ, quan lý thị trường, thống nhất thu mua,… từng bước cắt đứt mối quan

hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa với kinh tế của nông dân Ở nông thôn phải hạnchế kinh tế phú nông và dần dần tiến tới xóa bỏ

Thứ ba là phải ra sức tuyên truyền giáo dục nông dân, giúp đỡ và

thuyết phục họ bằng những hành động thực tế để cho họ nhìn thấy Phải đưanông dân tiến từng bước từ thấp đến cao, trải qua kinh nghiệm thực tế mànâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho họ Cần phải đưa nông dân từ làm

Trang 13

ăn cá thể đến các tổ đổi công từng vụ, từng việc rồi đến tổ đổi công thườngxuyên Khi đã có phong trào đổi công vững chắc rồi thì đưa họ vào nhữnghợp tác xã sản xuất nửa xã hội chủ nghĩa và tiến tới những hợp tác xã hoàntoàn xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư là phải củng cố bộ máy ở nông thôn như chi bộ Đảng chính

quyền xã, các đoàn thể quần chúng Đặc biệt cần phải chú trọng xây dựngĐảng làm cho chi bộ Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào hợp táchóa ở nông thôn, làm cho mỗi một Đảng viên phải trở thành những phần tửkiên quyết nhất, tiên tiến nhất, gương mẫu nhất trong cuộc đấu tranh để thựchiện xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Cần phải có sự chẩn bị đầy đủ về mọimặt : chính trị, kinh tế, tư tưởng, tổ chức và lãnh đạo như thế rồi mới có thểtiến vào hợp tác hóa toàn bộ trong nông nghiệp một cách thắng lợi được

3- Trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp phải quán triệt và nắm vững đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn Đường lối giai

cấp ở nông thôn miền Bắc nước ta trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp

là dựa vào bần nông kể cả trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ với trungnông, thuyết phục và cải tạo phú nông, đồng thời ngăn ngừa và đấu tranhchống mặt tiêu cực của họ Sở dĩ Đảng phải dựa vào hạng bần nông và trungnông lớp dưới vì họ là những người làm ăn riêng lẻ và gặp nhiều khó khăn.Trung nông nhất là trung nông lớp trên thường có nhiều điều kiện sản xuấtriêng lẻ hơn bần nông và trung nông lớp dưới, nên trướ xon đường hợp táchóa còn do dự, nhưng họ là người lao động đông đảo ở nông thôn, cho nênphải kiên nhẫn giáo dục và chờ đợi họ, đoàn kết chặt chẽ với họ và đưa họtiên lên chủ nghĩa xã hội

Phú nông nước ta thì nguồn sống chính là do boc lột mà có, nhưngphần lớn phú nông lại có lao động, trải qua cách mạng, kháng chiến và cảicách ruộng đất, kinh tế phú nông đã bị sa sút Một số phú nông đã từng tham

Trang 14

gia kháng chiến, hoặc có con em đi bộ đội, làm cán bộ, cho nên phú nông cóthể tiếp thu cải tạo được Nhưng phú nông là giai cấp bóc lột, quyền lợi của

họ đi ngược với chủ nghĩa xã hội nên luôn luôn phải chú ý ngăn ngừa và đấutranh chống mặt tiêu cực của họ

2 Quá trình cải tạo nông nghiệp ở miền Bắc và những thành tựu đạt được.

Đến năm 1957 miền Bắc nước ta là một nước nông nghiệp trong đó

nghị quyết trung ương lần thứ 14 của Đảng đã chỉ rõ: “kinh tế miền Bắc nước ta căn bản là kinh tế nông nghiệp, chúng ta phải lấy hợp tác hóa nông nghiệp làm khâu chính để thức đẩy toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa” [ 1 ; 15]Tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc nước ta trong

hoàn cảnh hoàn toàn mới mẻ khác với các nước xã hội chủ nghĩa anh emnhư Liên Xô, khi bước vào công cuộc tập thể hóa nông nghiệp đã có sẵn nềnđại công nghiệp cơ khí đủ sức trang bị cho nền nông nghiệp và các ngànhkinh tế khác Cho nên việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở Liên Xôđược sự chi viện phục vụ đắc lực của công nghiệp, hoặc như ở các nước xãhọi chủ nghĩa anh em khác cũng vậy

Còn ở miền Bắc nước ta, tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp tronghoàn cảnh khó khắn, công nghiệp nhỏ bé không có gì, lại trải qua 15 nămchiến tranh tàn phá, thời kỳ khôi phục kinh tế mói phục hồi lại dc tình hìnhcông nghiệp trở lại mức bình thường bằng và vượt mức trước chiến tranhnhưng vẫn không đáng kể, bản thân nền nông nghiệp thì lại lạc hậu trì trệtrải qua 15 năm chiến tranh Tuy khôi phục kinh tế nông nghiệp chúng ta thuđược những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung nền kinh tế nông nghiệpvẫn phân tán lạc hậu, nghèo nàn về cơ sở vật chất…Trong hoàn cảnh ấy, đòihỏi Đảng ta phải có đường lối cụ thể, trên cớ sở nắm chắc nguyên lý của chủnghĩa Mac-lênin vận dụng vào thực tế miền Bắc nước ta Nhất là việc vận

Ngày đăng: 10/08/2013, 21:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thống kê số xã viên trong hợp tác xã. - cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp 1958 1969
Bảng 1. Thống kê số xã viên trong hợp tác xã (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w