các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa trung quốc: con người, xã hội, tự nhiên...
Trang 1Giữa nền văn minh nhân loại, nền văn hóa Trung Quốc hiện lên nhưmột tấm thảm đầy màu sắc Chúng ta không khỏi ngỡ ngàng khi đứng trướcVạn Lý Trường Thành hùng vĩ, Tử Cấm Thành uy nghiêm, bí hiểm vàkhông thể không ấn tượng với nền văn thơ đồ sộ của nền văn hóa TrungHoa Văn thơ Trung Quốc thời cổ trung đại không chỉ là đỉnh cao cảu vănhóa Trung Quốc mà còn là đỉnh cao của văn hóa nhân loại Cũng giống nhưbất kỳ nền văn hóa nào của nhân loại, văn thơ Trung Quốc luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với các yếu tố con người và xã hội Con người nào thì nền vănthơ ấy và ngược lại văn thơ cũng chi phối đời sống tinh thần của con người.Văn hóa vừa là sản phẩm vừa là tác nhân tác động đến xã hội và con người
1 Con người xã hội
Con người là chủ thể của nền văn thơ, là yếu tố đóng vai trò trung tâmthen chốt và nguồn gốc sáng tạo ra văn thơ Con người sáng tạo ra nền vănhóa nào thì cũng chịu tác động của nền văn hóa đó
Trung Quốc là nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, vuađược coi là thiên tử do trời sai xuống để cai trị muôn dân Vì thế vua cóquyền hành tuyệt đối Mọi lời nói của vua đều là mệnh lệnh Muôn dân đềutôn xưng vua là hoàng đế, thiên tử còn tự coi mình là thảo dân, dân đen, tiệndân Người dân Trung Quốc thường có truyền thống vâng phục và cúi đầutrước vua Vua cho chết thì được chết Trong chế độ xã hội ấy con người bịbiến thành con giun, con kiến, không được tôn trọng về nhân cách
Trong văn học thời Tiền Đường cũng thường tập trung viết về đờisống của vua quan và triều đình Tác phẩm Kinh Thi – tập thơ ca đầu tiêncủa văn học Trung Quốc được các vua Chu và các nước chư hầu sai quanphụ trách về âm nhạc tập hợp những bài thơ ca của các địa phương để phổnhạc Những bài thơ sưu tầm, pần lớn được tập hợp lại thành một tácphamr
Trang 2gọi là Thi Trên cơ sở, Khổng Tử đã chỉnh lý lại một lần nữa, đến thời HánNho giáo được đề cao, Thi được gọi là Kinh Thi.
Kinh Thi có 305 bài chia làm 3 phần: Phong, Nhã ,Tụng Trong phầnNhã là những bài thơ do tầng lớp qúy tộc sáng tác Còn phần Tụng là nhữngbài thơ do các quan phụ trách tê lễ và bói toán sáng tác dùng để hát khi cũng
tế ở miếu đường Kinh Thi không chỉ đơn giản là sản phẩm do con ngườisáng tác mà nó còn được các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tưtưởng Chính Khổng Tử đã nói”
“Các trò sao không học Thi? Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có thể giúp ta mở rộng tàm nhìn, có thể làm cho mọi người đoàn kết với nhau, có thể làm cho ta biết oán giận gần thì có thể vận dụng để thờ cha, xa thì thờ vua Lại viết được nhiều tên chim muông cây cỏ” (Luận ngữ- Dương Hóa)
Các nước Phương Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng, conngười luôn luôn có truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, bởi họ quanhnăm phải vật lộn với hạn hán, lũ lụt Là đất nước nổi tiếng với những ngọnnúi cao, và những con sông dài nó không chỉ đem lại nguồn sống, nguồncảm hứng vô tận cho thơ văn mà còn là kẻ thù hung dữ của con người Hàngnăm người Trung Hoa phải đối mặt với những trận bão cát từ sa mạc rồi lạigồng mình chống lại những trận lũ lụt ở lưu vực các con sông lớn (Hoàng
Hà, Trường Giang), hạn hán, mất mùa, đói rét…
Trúc bách giai đống tử Huống bỉ vô y dân Nãi tri đại hàn tuế Nông giả đa khổ tân…
(Bạch Cư Dị- Thôn cư khổ hàn) (Trúc thông đều chết rét.
Huống chi người dân không áo
Trang 3…Mới biết năm nay đại hàn Nhà nông thật lắm đau khổ)
Chính những thử thách đó đã tạo nên một nền văn hóa đậm đà tínhcần cù, bất khuất, kiên cường, chịu thương, chịu khó Vì thế, các sáng tácvăn thơ của Trung Quốc nó không chỉ lãng mạn như văn thơ trữ tìnhPhương Tây mà rất thực tế, nó phản ánh trung thực tình hình xã hội TrungQuốc đương thời Ngay từ tập thơ ca đầu tiên của người Trung Quốc đó làKinh Thi sáng tác trong khoảng 500 năm từ đầu thời Tây Chu đến giữathời Xuân Thu Tập thơ với những lời thơ gọn gàng, thanh thoát mộc mạcnhững đầy hình tượng, lên án sự áp bức bóc lột và cảnh giàu sang của giaicấp thống trị, đồng thời nói lên nỗi khổ của nhân dân Trong bài thơ Chặt
Gỗ đàn có đoạn:
Không cấy không gặt
Lúa có ba trăm, Không bắn không săn Sân treo đầy thú Này ngài quân tử Chớ có ăn không.
Con người là một sinh thể xã hội và trong tư cách ấy nó là “tổng hòacủa những mối quan hệ xã hội” Con người trong văn học tức là con ngườiđược nhìn được xem xét trong những mối quan hệ xã hội của nó Trong xãhội phong kiến Trung Quốc con người là thần dân với quân vương, là kẻ sĩđối với xã hội, là binh sĩ trong chiến tranh, …nhưng chủ yếu đó là nhữngcon người bất hạnh
Khi xã hội có biến động, con người tầm thường với những lo âu vụnvặt, những đau đớn lại trở thành đối tượng của thơ ca Văn học Trung Quốclại tiếp tục chú ý đến những cảnh đời cơ cực
Trang 4Nằm đói đã mười ngày rồi
Áo rách vá trăm mảnh chằng chịt Hay: Rượu thừa cùng chả nguội Đến đâu cũng tủi thầm
Những cảnh bôn ba lận đận đã đẩy nhà thơ về với nhân dân, gần gũivới cuộc sống của nhân dân Sự gần gũi với nhân dân khiến nhà thơ có thểtìm thấy cảm thông và phản ánh những cảnh tượng đau lòng trong những bàithơ hiện thực nổi tiếng như “Binh xa hành”, “Tuế án hành” Người lính,người dân đen được đưa vào vị trí trung tâm của bài thơ Cuộc đời của ngườidân đen được phản ánh một cách hầu như trọn vẹn bằng lời tự bạch củachính họ Dù là dân đen hay bính lính họ đều chỉ là những công cụ của giaicấp bóc lột Đồng thời qua thơ Đỗ Phủ vạch trần sự áp bức bóc lột và xa xỉcủa giai cấp thống trị:
Trong bài thơ “ Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên” ông đã mô tả tỉ mỉvới dụng ý tố cáo cảnh xa hoa phè phỡn của Đường Huyền Tông, DươngQuý Phi và cả tập đoàn quý tộc ở Ly Sơn:
Bóng đèn ngọc chập chờn sáng rực Quan Vũ lâu chầu chực đông sao!
Vua tôi sung sướng biết bao
Kẻ ra bàn tắm người vào bàn ăn.
Thêm chanh chua, quất ngọt, rượu mùi.
Trang 5Nhưng tiếp sau đó ông lại miêu tả cảnh trái ngược trong xã hội, đốilập với cuộc sống xa hoa, hoang phí của vua chúa:
Cửu son rượu thịt để ôi
Có thằng chết lả phơi xương ngoài đường
Máu và nước mắt của nhân dân đã thấm đẫm vườn thơ Đỗ Phủ Hiệnthực đau thương của nhân dân đời Đường thời chiến loạn và suy thoái đã trởthành đối tượng phản ánh của dòng thơ hiện thực:
Sinh gần bên trạm khổ vô biên Quan cứ bắt tôi đi kéo thuyền Ngày đắng cay nhiều, ngày vui hiếm.
Ven bờ ngủ nước như chim biển Đêm lạnh tơi ngắn áo dính da.
Ngực thủng chân rách dám kêu ca.
Đến sáng đắng cay không chỗ nói Kéo thuyền lê bước hò dô ta
(Vương Kiến- Thủy Phu dao)
Trang 6Hiện thực cuộc sống cũng được phản ánh trong các tiểu thuyết Tiểuthuếy là một hình thức văn học mới bắt đầu phát triển từ thừoi Minh- Thanh.Trước đó ở các thành phố lớn có những người chuyên làm nghề kể chuyện,
đề tài của họ thường là những sự tích lịch sử Dựa vào những câu chuyện ấy,các nhà văn đã viết thành các tiểu thuyết chương hồi như: Truyện Thủy Hửcủa Thi Nại Am, Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây Du Kýcủa Ngô Thừa Ân, Nho Lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộngcủa Tào Tuyết Cần
Truyện Thủy Hử kể lại cuộc khởi nghĩa nông dân của Lương Sơn Bạc
do Tống Giang lãnh đạo Qua tác phẩm, tác giả không những đã thuật lại rõràng quá trình diẽn biến của cuộc khởi nghĩa mà còn hết sức ca ngợi tài trí
và sự dũng cảm của các vị anh hùng nông dân Tác phẩm có tác dụng cổ vũrất lớn đối với cuộc đấu tranh của nông dân chống sự áp bức bóc lột của giaicấp phong kiến
Hồng Lâu Mộng viết về câu chuyện hưng suy của một gia đình quý
tộc phong kiến và tình yêu của một đôi thiếu niên nhưng qua đó tác giả đã vẽnên bộ mặt của xã hội phong kiến Trung Quốc trong gia đoạn suy tàn Bằngcách xây dựng cho hai nhân vật chính của tác phẩm là Giả Bảo Ngọc vàLâm Đại Ngọc tính cách chống đối chế độ thi cử, chế độ quan trường, đạođức và lễ giáo phong kiến, khát vọng tự do và hạnh phúc, đồng thời dànhcho những người thuộc tầng lớp bị coi là thấp hèn nhất những tâm hồn caođẹp và tình cảm chân thành, tác giả đã đánh trực tiếp vào hệ ý thức của giaicấp phong kiến lúc bấy giờ Vì vậy Hồng Lâu Mộng được đánh giá là tácphẩm có giá trị nhất trong kho tàng văn học hiện thực cổ điển Trung Quốc
Như vậy con người sáng tác ra văn thơ không chỉ để phục vụ cho đờisống tinh thần của mình, để phản ảnh cuộc sống hiện thực mà còn dùng văn
Trang 7thơ làm ngòi bút tấn công vào xã hội phong kiến với đầy rẫy áp bức bất côngđối với nhân dân.
2 Tư tưởng, tôn giáo.
Tôn giáo là yếu tố nhạy cảm và thường có nguồn gốc từ PhươngĐông, sau đó do mối giao lưu về kinh tế, chính trị, tôn giáo thăng hoa vàlan tỏa trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhân loại.Tôn giáo có tính chất phổ biến cho nên nó mang đậm sắc thái văn hóa nơi
nó đâm hoa kết trái
Về phương diện tôn giáo, văn thơ Trung Quốc chịu ảnh hưởng sâusắc của tư tưởng tôn giáo, đặc biệt là Nho Giáo Bởi tầng lớp sáng tácđều là trí thức nho học, các nho sinh được đào tạo bài bản trên cơ sởnền giáo dục Nho học phong kiến Vì thế mà văn thơ cũng mang đậmdấu ấn của Nho giáo
Về phương diện tư tưởng, thời tiền Tần đã từng có một nền triết học,
tư tưởng phát triển rất phong phú với nhiều học thuyết sâu sắc và độc đáo.Nhưng từ đời Hán về sau, do chủ trương “độc tôn nho thuật, bãi truất báchgia” nên trong suốt chế độ phong kiến chuyên chế hơn 2000 năm của TrungQuốc chỉ có Nho Gia được đề cao, trở thành xương sống ý thức hệ của xãhội và về cơ bản Trung Quốc không có tự do trong tư tưởng Nhưng đến đờiĐường cho phép tương đối tự do trong tư tưởng, không độc tôn Nho giáo màcho phép tất cả các trào lưu tư tưởng được tự do truyền bá Tất cả các tôngiáo ngoại lai, những tư tưởng triết học truyền thống của Trung Quốc đềuđược phát triển Trong đó sự hưng thịnh của ba dòng tư tưởng Nho, Phật,Đạo Nhưng nhìn chung qua các triều đại thì Nho giáo vẫn được đề cao
Tư tưởng Nho gia rất đề cao việc học tập, thi cử Từ thời nhà Tùychế độ thi cử được thực hiện Kế thừa chế độ khoa cử đời Tùy, nhà Đườngcũng tổ chức các khoa thi để chọn quan lại vào hàng ngũ cai trị Chế độ
Trang 8khoa cử đã tạo ra một đội ngũ quan lại đông đảo trong xã hội, nhất lànhững kẻ hiền sĩ, nho sinh uyên thâm Không một triều đại nào lại không
có một đội ngũ nho sĩ đa dạng: văn, thơ Đặc biệt thời nhà Đường, các vuaĐường cũng làm thơ và rất trọng thi sĩ, tạo nên một không khí trọng thơtrong toàn xã hội Từ hoàng đế, quan lại đến ni cô, đạo sĩ, hòa thượng chođến ngư tiều, kỹ nữ cũng đều có thể làm thơ…Đó là điều kiện thuận lợicho thơ ca phát triển và không giới hạn Thơ Đường là niềm tự hào vănhóa của người Trung Hoa vì nó đạt tới trình độ nghệ thuật uyên bác sâu
xa, hàm xúc, biểu hiện được nội tam và cốt cách của các bậc thi nhân Nólột tả được cái thần, cái hồn mà tác giả gửi gắm Thơ Đường là thơ củagiới trí thức cao cấp, của các bậc quyền quý
3 Yếu tố láng giềng
Bản thân con người bị tác động bởi văn hóa Trong các quốc gia đều
bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa của các nước láng giềng Văn hóa là yếu tốnhạy cảm dễ thăng hoa, phát tán sang các nước láng giềng gần xa Giữa cácnước láng giềng gần nhau, các yếu tố văn hóa thường ảnh hưởng trực tiếp.Thường những nước chịu ảnh hưởng Nho Giáo đều gần Trung Quốc vàthông qua con đường giao lưu kinh tế, trao đổi, buôn bán hàng hóa, qua conđường chiến tranh đô hộ
Văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Việt Nam Đặcbiệt là thơ Đường Trong hơn 1000 năm thống trị và đô hộ Việt Nam (từ179tr.CN đến năm 938) với chính sách đồng hóa của các triều đại phongkiến Trung Hoa đã phần nào du nhập các yếu tố văn thơ của người PhươngBắc Và tiêu biểu đó là thơ Đường Thơ Đường tuy chỉ hưng thịnh trongtriều đại nhà Đường nhưng sang các triều đại sau nó vẫn phổ biến trong giớinho sinh quý tộc các triều đại sau theo đó mà sáng tác hưởng ngoạn coi đó
Trang 9như là một thú chơi quý phái của những bậc có học thức, chứ không phải làluồng văn hóa chung có tính dân gian.
Đối với bất kỳ nền văn hóa nào, các yếu tố xã hội luôn ảnh hưởngtrực tiếp đến văn hóa nói chung và văn thơ nói riêng Xã hội nào thì sẽsáng tạo ra nền văn thơ đó, và văn thơ phản ánh lại hiện thực xã hội.Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Quốc lại có một kho tàng văn thơ
đồ sộ đến như thế Qua nền những thành tựu của văn thơ Trung Quốc thờiphong kiến chúng ta thấy được sự phát triển đến đỉnh cao của văn hóaHán Văn thơ Trung Quốc không chỉ là của người Hán mà còn có ảnhhưởng lan rộng tới nhiều quốc gia
Giải thích các thuật ngữ
1.Kim thoa: Kim là cái trâm cài mũ và cài vào tóc của người phụ nữ; thoa là cái dải mũ Kim thoa chỉ người đàn bà, con gái.
2.Trâm anh: Trâm là những lời giáo huấn mà cha mẹ dạy con cái; anh là
người con gái đẹp Trâm anh là con cái nhà tử tế, có học thức
3.Nhất cử lưỡng tiện: Nhất là một, cử là hành động nhắc tay, lưỡng là hai, tiện là lợi, có lợi Nhất cử lưỡng tiện nghĩa là làm một việc mà kết hợp
giải quyết được cả việc khác
5 Nguyên tiêu: nguyên là đầu tiên, tiêu là đêm Nguyên tiêu chỉ đêm rằm
đầu tiên của năm mới đó là rằm tháng giêng
6 Tùng quân: tùng nghĩa là cây tùng, được ví với người trượng phu; quân
ví như người quân tử Tùng quân chỉ người tiết tháo ngay thẳng vững vàng
7 Tin nhạn: tin nghĩa là tin tức, nhạn là con chim nhạn Tin nhạn là tin
do chim nhạn đưa đến, chỉ việc đưa thư của người xưa, họ buộc thư vàochân chim nhạn để chuyển thư đi
Trang 108 Long ân: Long là rồng, con vật biểu trưng cho sự cao quý, quyền lực;
ân là ơn huệ Long ân là ơn huệ của vua ban cho.
9 Giáng lâm: Giáng tức là chuyển từ cao xuống thấp; lâm là đến Giáng
lâm nghĩa là người ở bậc trên mình tới
10 Đồng môn: Đồng là cùng, môn theo nghĩa hẹp là cửa còn nghĩa rộng
là chỉ nơi học hành, môn phái Đồng môn chỉ người cùng học chung mộttrường hoặc cùng môn phái
11 Đồng liêu Liêu là làm quan, Đồng liêu là cùng làm quan với nhau
12 Đồng song Nghĩa là thành đôi với nhau
13 Khuyển ưng: Khuyển là con chó trông nhà; ưng là con chim ưng (thợ
săn thường dùng chim ưng để bắt mồi hộ) Khuyển ừng là hai con vật đầy tớtrung thành với chủ
Trang 11PHỤ LỤC
Điển tích Đồng tước
Trong Truyện Kiều có đoạn "Thanh minh trong tiết tháng Ba" chị emKiều trên đường đi tảo mộ về, chợt trông thấy nấm mồ hoang đầy cỏ dại,lạnh không chút khói hương Trong lúc lòng Kiều đang xót xa cho thân phậnĐạm Tiên, thì Kim Trọng, trên lưng ngựa trắng, theo sau lẽo đẻo hai tiểuđồng, cũng tình cờ đi ngang qua Lần đầu tiên được diện kiến giai nhân, tâmtrạng vui mừng của chàng thư sinh được diễn tả bằng hai câu thơ:
Trộm nghe thơm phức hương lân Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều
Đồng Tước, tên của một đền đài nguy nga tráng lệ thời Tam Quốc,nay không còn nữa Khi qua sông Xích Bích, Đỗ Phủ đã có bài thơ hoài cổ:
Đông Phong bất dữ Châu lang tiện Đổng tước thâm xuân tỏa nhị Kiều
(Gió đông chẳng giúp thụân chiều,Trong đền Đồng tước hai Kiều khóa xuân)Thời Tam Quốc cho xây đài Đồng Tước trên sông Chương Giang,tỉnh Hà Nam Trong lễ tiệc khánh thành, Tào Thực con của tào Tháo đã
có bài vịnh trong đó câu:
Liên nhị Kiều ư Đông Tây hề Nhược trường không chi nhuế đống.
(Bắc liền hai cầu ở Đông Tây
Như các cầu vồng nổi lên giữa trời)Vào lúc này, thế Lưu Bị đã suy yếu hẳn, quân sư Khổng Minh phải
sử dụng mưu lược mới mong khôi phục được nhà Hán, bắng cách tạo mốithù địch giữa Tôn Quyền và Tào Tháo ở Giang Đông, tuy Tôn Quyền là
Trang 12chúa tể, nhưng mọi binh quyền đều thuộc về Châu Du và Tôn Sách, con rểcủa Kiều Công Tôn Sách lấy người chị là Đại Kiều, Châu Du lấy người em
là Tiểu Kiều Cả hai chị em đều là giai nhân tuyệt sắc Khổng Minh lặn lộiđến Đông Ngô, tìm Châu Du để đưa ra yêu cầu : “Trong lúc thế chiến đangcăng thẳng,, dân gian đang mong đợi thành bình, vậy mà Tào Tháo vẫn lấy
uy quyền của vua để ức hiếp nhân dân Lại còn lấy của kho xây đài ĐồngTước, tốn biết bao nhiêu mà kể, mục đích làm gì, tướng có biết không?”
Châu Du chưa trả lời, thì Khổng Minh đã tiếp: ”Tào Tháo xây ĐồngTước đài là muốn gây chiến vơi Đông Ngộ Cùng với việc luyện tập thủybinh, Tào Tháo còn cho xây cất Đồng Tước đài, để sau chiến tranh, chiếm
cứ được Đông Ngô, Tào Tháo sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều về Đồng Tướcđài mà hoan lạc.”
Châu Du tức giận, tướng hữu dõng vô mưu đã trúng kế độc củaKhổng Minh Sau đó, tướng này đã dàn trận hỏa công trên sông Xích Bích,thiêu rụi mười vạn quân Tào, Ngụy Võ Đế đại bạị Lợi dụng thời cơ, Lưu Bịxua quân chiếm Kinh Châu, chiếm vào Lưỡng Xuyên, hình thành thế chânvạc thời Tam Quốc
Điển tích “Tin nhạn”
Theo sách “Hán Thư” đã chép lại câu chuyện Tô Vũ được vua hánsai đi sứ Hung nô, nhưng bị chúa Hung nô giam giữ, bị bắt đi đày chăn dê
ở Bắc Hải Cảnh đày xa xứ ròng rã suốt 19 năm trời đói khổ nhưng Tô
Vũ vẫn không đổi chí, vẫn giữ lòng trung thành với đất nước
Đến thời quan hệ Hung - Hán thân thiện vua Hán mới sai sứ giảsang xin cho Tô Vũ về Chúa Hung Nô nói dối rằng Tô Vũ đã chết VuaHán không tin sai sứ sang lần nữa, nói với Thiên Vu rằng: Vua Hán vừa
đi săn có bắn được một con chim nhạn , chân có buộc một bức thư viết
Trang 13trên lụa nói rõ rằng Tô Vũ vẫn còn sống Thiên Vu kinh ngạc tưởng thật
và đành trả cho Tô Vũ về
Điển tích “Nguyên tiêu”
Nguyên tiêu là đêm rằm tháng giêng Theo phong tục của ngườiTrung Hoa, đêm rằm tháng giêng dân chúng đi lễ chùa, hội hè đông vui
Lễ hội này bắt đầu thực hiện tư nhà hán để thực hiện chính sách
“Quân dân cộng lạc” (vua và dân cùng vui) sau khi Hán Văn Đế bịnh địnhđược “chư lữ chi loạn” và lên ngôi
Việc bình loạn hoàn tất vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch nên nhàvua quyết định hàng năm cứ tới đêm Rằm tháng Giêng là tổ chức đi dungoạn bên ngoài để cùng dân chúng vui chơi đêm trăng sáng Tiêu có nghĩa
là đem, còn Nguyên là đầu tiên Hán Văn Đế hạ chiếu cho nhân dân láy ngàyRằm tháng Giêng là ngày tết đầu tiên kỷ niệm “ngày khai sáng đất nướcthanh bình”
Vào đêm Rằm tháng Giêng cung điện được trang hoàng rực rỡ Tưvua, các quan văn võ cho đến dân đều vui vẻ ăn uống, nhảy múa dưới ánhtrăng
Đến đời nhà Tống thì có thêm bữa ăn Rằm Nguyên Tiêu Trongquyển "Bình Viên", tác giả Châu Tất Đại viết: "Ngày Nguyên Tiêu phảinấu món bánh trôi viên mà người tiền bối chưa từng làm, để trả nợ ôngbà" Sách "Võ lâm cựu sự" của Châu Mật cũng viết: "Tháng Giêng mừngđầu xuân cầu phúc an dân thái bình, ai cai cũng phải làm một loại bánhbằng bột nếp với nhân bằng các thứ trái cây, các thứ đậu: trộn đường vothành viên bỏ vào nước sôi luộc chín, sau đó nấu nước đường thả bánhvàọ Chiếc bánh vừa nổi vừa chìm nên gọi là "phù nguyên tử"; về sau còngọi là 'bánh Nguyên tiêu" Lễ Nguyên Tiêu ăn "phù nguyên tử" lấy đó