1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công cuộc khai khẩn vùng đất phía nam của các triều đại phong kiến việt nam

45 1,3K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công cuộc khai khẩn vùng đất phía nam của các triều đại phong kiến việt nam
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 411 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

công cuộc khai khẩn, vùng đất phía nam, công cuộc nam tiến

Trang 1

I Khái quát lịch sử khai khẩn vùng đất phía Nam.

Lãnh thổ Việt Nam trước đây bao gồm ba quốc gia: Đại Việt, Chăm

Pa và một phần lãnh thổ quốc gia Phù Nam Trong đó, lãnh thổ Đại Việt banđầu chỉ kéo dài đến sông Gianh (Quảng Bình), quốc gia Chăm Pa có cươngvực từ Sông Gianh (Quảng Bình) đến Sông Dinh (Bình Thuận), còn PhùNam trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay tương ứng với vùng đất Nam Bộ Tuynhiên lãnh thổ của ba quốc gia này có sự biến động liên tiếp Đó là sự suyyếu dẫn đến suy vong của hai quốc gia Chăm Pa và Phù Nam Sự thu hẹp vàdần dần sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt của hai vương quốc này như mộtđiều tất yếu của lịch sử Và quá trình sát nhập của các vương quốc Chăm Pa,Phù Nam cũng như công cuộc Nam tiến của Đại Việt đã bắt đầu từ nhà Lý

và đến tận nhà Nguyễn mới hoàn tất

1 Công cuộc xâm lấn đất Chiêm Thành

Từ triều Lý, nền độc lập nước ta bắt đầu vững vàng, nên các triều đạiđều muốn bành trướng về phía Nam, và bắt buộc nước Chiêm Thành phảigiữ bổn phận chư hầu Trong khi Chiêm Thành luôn tìm mọi cách để chốngđối, dựa vào Trung Quốc để xâm lăng Đại Việt Đó là nguyên nhân khiếnhai nước Chiêm, Việt tranh chấp, chinh chiến hơn 10 thế kỷ trên dải đất từnúi Hoành Sơn đến biên giới nước Chân Lạp Để rồi Chiêm Thành vì đấtđai bị tước đoạt lần lượt, không còn đủ sức làm một nước chư hầu của triềuNguyễn nữa mà đã bị trôi tên trên bản đồ

Năm 1068, Dương Bộc Thi Lợi Luật Đà Bàn Ma Đề Bà (Chế Củ) sai

sứ sang nhà Tống cống phương vật, xin mua ngựa và lừa để chuẩn bị chinhchiến với nhà Lý Cùng năm đó sau khi cống voi trắng cho vua Lý, ChiêmThành lại liên tiếp sang quấy nhiễu biên giới Đại Việt Vua Lý Thánh Tôngquyết ý thân chinh Tháng 2-1069, Lý Thường Kiệt được chọn làm nguyênsúy, đem 5 vạn quân theo đường thủy tiến đánh Chiêm Thành Đến cửa Nhật

Trang 2

Lệ, thuyền quân Lý Thường Kiệt bị quân Chiêm chặn đánh Vua sai tướngHoàng Kiện đối địch Quân Chiêm thua Đại quân tiếp tục tiến lên ghé vàocửa Thị Nại, tiến lên đóng quân ở bờ sông Tu Mao Tại đây quân Lý dàntrận đánh tan quân Chiêm, bắt giết Bố Bì Đa La Được tin quân mình thua,Chế Củ đang đêm bỏ thành đem vợ con chạy trốn vào phía Nam, nhưng bịbắt tại biên giới Chân Lạp Tháng 7-1069, Chế Củ xin dâng ba châu: BốChính, Địa Lý, Ma Linh và sau đó được tha về Ba châu này thuộc đất tỉnhQuảng Bình và phần Bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay.

Châu Bố Chính là miền phía Nam và phía Bắc sông Gianh; thời thuộcMinh đổi là Trấn Bình; đời Lê chia làm hai châu (Nội Bố Chính và ngoại BốChính), nay là đất huyện Bố Trạch, huyện Quảng Trạch, huyện Tuyên Hóa(tỉnh Quảng Bình)

Châu Địa Lý: là đất nằm giữa và nam tỉnh Quảng Bình ngày nay, sau

đó đổi thành Lâm Bình, đời Trần Duệ Tông đổi thành Tân Bình, thời LêTrung Hưng đổi thành Tiên Bình Nay là đấy phủ Quảng Ninh, huyện LệThủy tỉnh Quảng Bình

Châu Ma Linh là miền Bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay, sau đó đổi thànhMinh Linh, thời thuộc Minh đổi là Nam Linh, nhà Lê đặt làm huyện và đổithành Minh Linh, nay là đất huyện Minh Linh và Do Linh tỉnh Quảng Trị

Năm 1075, vua Lý sai Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành, bịHarivarman đánh thua Lý Thường Kiệt chỉ họa đồ hình thể núi sông bachâu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh rồi trở về Vua Lý đổi châu Địa Lý thànhchâu Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh rồi xuống chiếu mộnhân dân đến ở và tổ chức lại việc cai trị Chiếu chiêu mộ dân này là một sựkiện quan trọng trong lịch sử nước ta, đấy là bước đầu của công cuộc Namtiến mà dân tộc theo đuổi trong 6,7 thế kỷ sau này

Trang 3

Như vậy đến hết thời Lý, chúng ta mới tiến vào đến nửa tỉnh QuảngTrị ngày nay, và Chiếm Thành đã mất phần đất cực Bắc Đây là phàn đất cóđịa thế thủy bộ rất quan trọng cho việc phòng thủ

Sang thời Trần, từ khi vua Thái Tông lên ngôi, Chiêm Thành đã hailần sai sứ sang cống hiến, nhưng thỉnh thoảng lại sang quấy nhiễu vùng đấtbiên giới Việt Chiêm và âm mưu giành lại vùng đất đã mất Trong khi cácvua nhà Trần luôn muốn tiến sâu vào lãnh thổ Chiêm

Năm 1301, Thượng hoàng Nhân Tông có đi sứ sang Chiêm nhằm thịsát đất đai của Chiêm Thành và hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua ChếMân để dễ dàng thực hiện mục đích của mình, lúc bấy giờ vua Chế Mân đã

có hoàng hậu là người Qua oa Năm 1305, vua Chiêm sai xứ là Chế Bồ Đàiđem lễ vật vàng, bạc, hương quý, vật lạ đến dâng sính lễ Triều thần đềukhông bằng lòng Sau đó Chế Mân nạp hai châu Ô, Lý làm lễ nạp trưng

Năm 1307, Vua Anh Tông đổi hai châu Ô, Lý làm Thuận Châu vàHóa Châu, chọn người trong dân chúng làm quan, cấp cho ruộng đất và miễn

tô thuế 3 năm Thuận Châu ngày nay bao gồm phủ Triệu Phong, huyện HảiLăng (tỉnh Quảng Trị) và huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà (ThừaThiên Huế) Hóa Châu ngày nay bao gồm huyện Phú Lộc, Phú Vang (ThừaThiên Huế) và huyện Hòa Vang, Đại Lộc, phủ Điện Bàn, phủ Duy Xuyên(Quảng Nam) Như vậy người Chiêm đã mất cánh đồng Bình Trị Thiên vàmất thêm hai cửa biển Tư Dung (nay là Tư Hiền) thời ấy rất sâu và tiện chothủy quân, và cửa biển Đà Nẵng, nơi đất thiêng của dân tộc Chiêm

Cuối thế kỷ XIV, Chiêm Thành bước vào thời kỳ hưng thịnh nhất với

sự cầm quyền của Chế Bồng Nga Lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần, ChếBồng Nga ra sức bành trướng về phía Bắc Năm 1377, Chế Bồng Nga đemquân ra đánh thành Thăng Long, chiếm vùng đấtThuận Hóa, Nghệ An, DiễnChâu, Thanh Hóa

Trang 4

Năm 1390, Chế Bồng Nga bị quân Trần Khát Chân của nhà Trần đánhbại Chế Bồng Nga chết, nhà Trần liền nghĩ đến việc thu hồi lại đất cũ.Tháng 2 -1394, vua sai Lê Quý Ly đem quân đi tuần châu Hóa, xét địnhquân ngũ, sửa xây thành trì Đất Hóa Châu trở ra Nghệ An lại trở về ĐạiViệt.

Năm 1400, sau khi tiếm ngôi nhà Trần, Lê Quý Ly đã lập ra triều Hồ

Để xoa dịu dư luận đương buộc tội mình, Hồ Quý Ly liền nghĩ đến việc xâmlấn đất Chiêm Thành

Tháng 7-1402, Hồ Hán Thương đem quân đi đánh Chiêm Thành, quânChiêm thua, vua Chiêm xin dâng một voi trắng, một voi đen, phương vật vàdâng đất Chiêm Động để yêu cầu nhà Hồ rút quân Đó là một hi sinh lớn laocủa người Chiêm vì phải rời bỏ thêm kinh đô một lần nữa; Đồng Dương vàTrà Kiệu (đã mất rồi) là những nơi còn những thánh điện và tích trữ bảo vậtcủa bao triều vua trong lịch sử Nhưng Bố Điền đã đến thương lượng với HồQuý Ly, Hồ Quý Ly ép phải đổi tờ biểu, chịu nạp cả Cổ Lũy Động nữa

Chiêm Động là phần phía nam tỉnh Quảng Nam ngày nay chia làm haichâu Thăng, Hoa; Cổ Lũy Động là phần phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi ngày naychia làm hai châu Tư, Nghĩa Như vậy Chiêm Thành chỉ còn một nửa đất đai

so với khi chưa bị chiếm

Sau khi nhường đất Chiêm Động và Cổ Lũy Động cho ta, ChiêmThành thu lấy những dân tiệm cận về nước, còn người ở lại thì dùng làmquân, có lẽ để đóng ở biên giới Họ Hồ hạ lệnh cho dân có của mà không córuộng ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào ở để khai khẩn, dân ấy phảithích hai chữ tên châu mình ào cánh tay; mộ người có trâu đem nạp cấp chophẩm tước, để lấy trâu cấp phát cho dân cày Người Chiêm Thành không có

họ, từ Thăng Hoa trở vào nam, ai có họ thì là dân Đại Việt đến khai khẩn

Trang 5

Bị mất đất, vua Chiêm La Khải sai người sang nhà Minh dâng cốngphẩm tố cáo An Nam xâm lược đất đai, xin thiên tử xuống chiếu dăn giới.Vua Minh Thành Tổ (lên ngôi năm 1403) nhận lời Lợi dụng tình hình này,lại có sự hậu thuẫn của Chiêm Thành từ phía Nam, nhà Minh đem quân sangxâm lược Đại Việt (1407).

Họ Hồ mới thành lập chưa củng cố lại được bộ máy chính quyền vàphát triển đất nước, nên trước sự tấn công của quân Minh từ phía Bắc và sựchiếm đánh của quân Chiêm ở phía Nam nên đã thất bại nhanh chóng ĐạiViệt bước vào thời kỳ thuộc Minh (1407-1418) Thấy họ Hồ thua chạy,Chiêm Thành đem quân sang lấy lại Chiêm Động và Cổ Lũy Động QuânChiêm thường xuyên sang nhà Minh nạp cống vật nên được nhà Minh ủng

hộ, giúp đỡ

Trước ách cai trị tàn bạo của nhà Minh, khởi nghĩa Lam Sơn do LêLợi lãnh đạo đã bùng nổ (1418-1428) và giành thắng lợi năm 1428, giảiphóng đất nước, lập ra triều Lê sơ

Ngay sau khi lên ngôi, năm 1428, vua Lê Thái Tổ thấy Hóa Châu làtrọng trấn, nên sai trọng thần vào trấn thủ, đặt chức Tổng quản, Tri phủ cho

lộ ấy Lúc bấy giờ vua Thái Tông còn nhỏ, người Chiêm tưởng có thể thừa

cơ đánh phá Năm 1434, Chiêm Thành cướp Hóa Châu, nhưng không thành

Năm 1441, vua Chiêm là Ba Địch Lại mất, từ đó Chiêm Thành bị nộiloạn, ngoại xâm, nên ngày càng suy yếu Cháu là Ma Ha Bí Cai lên nối ngôi,liền sang cống nhà Minh, nên được nhà Minh ủng hộ Được lòng nhà Minh,

Bí Cai mấy lần cho quân ra cướp phá nước ta

Trước thái độ của người Chiêm, triều Lê phải nghĩ đến việc đem đạibinh đi chinh phạt Tháng giêng năm 1471, vua đóng ở Thuận Hóa, sai thủyquân Thuận Hóa ra biển luyện tập, và sai người Thuận Hóa là Nguyễn Võ vẽbản đồ sông núi nước Chiêm Thành để noi theo mà tiến binh Quân của Trà

Trang 6

Toàn và Trà Toại thua chạy Trà Toàn thì xin quy phục trước vua Lê thánhTông Trà Toại sang nhà Minh xin cứu nạn

Sau khi vua Lê Thánh Tông chiếm được Trà Bàn, một tướng Chiêm là

Bô Trì Trì chạy thoát, đem tàn quân vào Phan Lung (Phan Rang) tự xưngvương, giữ được hơn 1/5 đất đai cũ của Chiêm, sai người đến xin xưng thần

và nạp cống Vua Thánh Tông, nhân dịp đó chia đất đai còn lại của ChiêmThành làm 3 nước cho suy yếu đi:

- Chiêm Thành : từ Thạch Bi trở về nam phong cho Bô Trì Trì

- Nam Bàn: từ đất núi trở về tây, phong cho dòng dõi của vua cũnước Chiêm còn sót lại

- Hoa Anh

Sau khi thắng quân Chiêm trở về, vua có xuống chiếu chiêu mộ nhândân vào ở đất mới chiếm lại và mới lấy thêm nữa, nghĩa là từ Thăng Hoa đếnBình Định ngày nay

Sau khi chiếm kinh đô Trà Bàn , vua Lê Thánh Tông tổ chức lại việccai trị các châu Thăng, Hoa, Tư Nghĩa đã lọt vào tay Chiêm Thành từ thờiMinh thuộc Năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếmlại đặt làm đạo Thừa Tuyên Quảng Nam

Đầu thế kỷ XVII, thái tổ Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, saukiêm Lãnh sứ Quảng Nam, mà đất cực nam của Quảng Nam là huyện TuyViễn, thuộc phủ Hoài Nhân, tức là phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định ngày nay.Bên kia đèo Cù Mông là nước Chiêm Thành

Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai chủ sự là Văn Phong đem quân vàođánh Chiêm Thành, lấy đất bên kia đèo Cù Mông, đến núi Thạch Bi, đặt làmphủ Phú Yên, gồm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phonglàm Lưu thủ Đó là bước Nam tiến đầu tiên của các chúa Nguyễn

Trang 7

Chúa Thái Tổ khi lâm chung dặn lại chúa Hi Tông rằng: “Đất Thuận, Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi bền vững, núi sẵn vàng, sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng, nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với nhà Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời, còn nếu thế lực không địch được thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội” Xem ra Thái Tổ

Nguyễn Hoàng đã nuôi chí mở rộng lãnh thổ về phía Nam để xây dựng cơnghiệp

Năm 1653, đời chúa Thái Tông bước một bước nữa trên đường tiếnvào đất Chiêm Thành Nhân sự kiện vua Chiêm là Bà Tấm xâm lấn PhúYên, chúa sai Cai Cơ Hùng Lộc đem 3000 quân đi đánh Quân chúa Nguyễnvượt núi Thạch Bi, đại phá quân Chiêm, Bà Tấm bỏ chạy, quân ta chiếm đếnsông Phan Giang Bà Tấm sai con đem thư đến xin hàng và dâng phần đấtphía đông sông Phan Giang, hàng năm phải giữ lệ cống Chúa đặt vùng đất

từ Phú Yên đến phía Đông sông làm dinh Thái Khương (sau đổi là dinhBình Khương, tức tỉnh Khánh Hòa ngày nay)

Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh lại đem quân nổi dậy cướp giếtnhân dân phủ Diên Ninh, dinh Bình Khương Chúa Hiển Tông sai NguyễnHữu Kính đem quân đi đánh Tháng Giêng năm 1693, quân Việt đánh bạiChiêm Thành, Bà Tranh bỏ chạy nhưng sau đó bị bắt lại Chúa Nguyễn sátnhập nước Chiêm vào bản đồ nước mình, đặt làm 1 trấn lấy tên là ThuậnThành

Năm 1697, chúa Nguyễn đặt phủ Bình Thuận, lấy đất từ Phan Rang,Phan Rí trở về tây chia làm hai huyện An Phước và Hòa Đa

Tóm lại từ năm 1693, chúa Nguyễn đã chiếm hết đất Chiêm Thành,chỉ để lại cho họ một khoảnh đất Thuận Thành và một tước Phiên Vương

Trang 8

cũng do quan người Việt kiểm soát Nhưng rồi không lâu sau đó, biến cốdồn dập, Thuận Thành cũng bỏ và Chiêm Thành bị xóa hẳn tên trên bản đồ.

2 Công cuộc chiếm đất Chân Lạp, khai phá vùng đất Nam Bộ

Từ thế kỷ XVI, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia

rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kỳ suy vong, hầu như không có điều kiệnquan tâm đến vùng đất còn ngập nước ở phía Đông và trên thực tế Chân Lạp

đã không còn đủ sức để quản lý vùng đất này Trong bối cảnh đó nhiều cưdân Việt từ vùng đất Thuận Quảng đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (ĐôngNam Bộ) khai khẩn đất hoang, lập làng sinh sống Vua Chân Lạp CheyChetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lan bang Tiêm La nguy hiểm đãxin cưới một công chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộcủa triều đình chúa Nguyễn Còn Chúa Hi Tông vốn cũng có mưu đồ xa xôi,năm 1602 đã gả công chúa cho vua Chân Lạp.Với chúa Nguyễn, quan hệhữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt, vốn đã có mặt từ trước,được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên đất Thủy Chân Lạp

và tăng cường ảnh hưởng của họ Nguyễn với triều đình Oudong

Năm 1623, chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chân Lạp đểcho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và đểquản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế.Vua Chân Lạp chấp nhận đề nghị này Vào thời điểm đó cư dân Việt đã cómặt ở hầu hết miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn

Sau cái chết của vua Chey Chetta II vào năm 1628, nội bộ giới cầmquyền Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc Nhiều cuộc chiến tranh giữa các phe phái

đã diễn ra với sự giúp đỡ của một bên là quân Xiêm với một bên là quânNguyễn Những cuộc chiến ấy không làm ảnh hưởng đến việc người Việttiến hành khai phá những vùng đất hoang hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 9

mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho Chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soátchính thức của mình trên những vùng đất cư dân Việt lập nghiệp

Trong thời kỳ này, sự thần phục của các nhóm di thần nhà Minh gópphần đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổNam Bộ Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhómDương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức việc khaiphá và phát triển kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho), cho nhómTrần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dântiếp tục mở mang vùng Biên Hòa- Đồng Nai Trong vòng gần 20 năm mộtvùng đất trải dài từ Bà Rịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được những cư dânViệt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thành những trungtâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phường sầm uất, hảicảng nhộn nhịp có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Dương, Bồ Bà(Java) đến buôn bán

Trên cơ sở những đơn vị tụ cư đã đông đúc, những trung tâm kinh tếphát triển, năm 1698, chúa Nguyễn đã cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vàokinh lý vùng đất này và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủGia Định Với phủ Gia Định, bấy giờ chúa Nguyễn đã có nghìn dặm đất đaivới 4 vạn hộ dân Chúa sai chiêu mộ thêm lưu dân từ Bố Chánh trở vào namđến ở, thiết lập xã, thôn, phường, ấp, chia ranh giới, khai khẩn ruộng đất,đánh tô thuế, làm bộ đinh, bộ điền Người Tàu lúc này cũng rất đông, nênchúa Nguyễn cũng lập làng xã cho họ và thực hiện chính sách đồng hóa.Như vậy vào cuối thế kỷ XVII chúa Nguyễn đã xác lập được chủ quyền củangười Việt trên vùng đất mà trên thực tế chính quyền Chân Lạp chưa khi nàothực thi một cách đầy đủ chủ quyền thực sự của mình

Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là vào năm 1708, Mạc Cửu ở

Hà Tiên xin quy phụ chúa Nguyễn Mạc Cửu là một thương nhân Hoa Kiều

Trang 10

ở Lôi Châu, thường xuyên tới buôn bán ở vùng biển Đông Nam Á Mạc Cửusớm nhận ra vị trí địa lý thuận lợi của vùng đất Mang Khảm (này là HàTiên), nên đã lưu ngụ, chiêu mộ dân sửa sang bến thuyền, mở mang chợ búa,khai phá đất đai, biến một vùng đất còn hoang vu thành một nơi buôn bánsầm uất Lúc đầu (khoảng năm 1680) Mạc Cửu đã từng xây dựng quan hệthần phục với vua Chân Lạp, nhưng sau này thế lực Chân Lạp suy giảm,không đủ sức bảo vệ cho công việc làm ăn của cư dân vùng đất này khỏi sựtiến công cướp bóc của người Xiêm nên đã tìm đến chá Nguyễn xin nộithuộc vào năm 1708 Chúa Nguyễn đã phong Mạc Cửu làm tổng binh để giữtrấn này.

Năm 1731, một di dân Lào ở làng Sà Tốt, xúi giục những người ChânLạp quá khích tàn sát tất cả những người Việt Nam trong vùng Banam mà

họ gặp Chúa Nguyễn Phúc Chú cử thống suất Trương Phước Vĩnh đemquân vào bảo vệ di dân Việt Nam Vua Nặc Tha sợ vạ lây, gửi thư thanhminh rằng mợi việc chỉ do di dân Lào gây ra, cam kết sẽ trừng trị bọn nổiloạn Sau khi diệt được bọn nổi loạn, vua Nặc Tha phải cắt hai vùng Mỹ Tho

và Vĩnh Long dâng chúa Nguyễn để tạ tội (1732) Chúa Nguyễn đựt dinhLong Hồ và lập châu Định Viễn

Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, chúa Nguyễn Phúc Chú (1725-1738)phong cho con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ làm đô đốc, tiếp tục cai quảntrấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ mở rộng Hà Tiên đến Rạch Giá và Cà Mau.Năm 1757, chúa Nguyễn đặt ra đạo Kiên Giang (ở Rạch Giá) và đạo LongXuyên (ở Cà Mau) cho thuộc về trấn Hà Tiên

Năm 1753, người Côn Man (tức người Chawmpa sinh sống trên đấtChân Lạp) bị một số người Chân Lạp ngược đãi Chúa Nguyễn Phúc Khoát(1738-1765) cho quân vào giải thoát được hơn 5.000 người Côn Man VuaChey Chetta V (tức Nặc Nguyên) chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ tâu

Trang 11

với chúa Nguyễn xin cắt hai vùng Tầm Bôn và Soài Rạp để tạ tội (1756).Chúa Nguyễn cho nhập hai vùng đất ấy vào châu Định Viễn.

Vua Nặc Nguyên mất, Nặc Thuận xin hiến hai vùng Trà Vinh và SócTrăng để được chúa Nguyễn công nhận là vua Chân Lạp Không bao lâu sau,Nặc Thuận bị rể là Nặc Hinh giết Con của Nặc Thuận là Nặc Tôn chạy sang

Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở Nặc Hinh bị giết Chúa Nguyễn PhúcKhoát công nhận Nặc Tôn làm vua Chân Lạp, cử Mạc Thiên Tứ cùng tướng

sĩ hộ tống Nặc Tôn về kinh đô Udong Nặc Tôn dâng đất An Giang để tạ ơn

Nặc Tôn để tỏ lòng biêt ơn với Mạc Thiên Tứ đã cắt 5 phủ Cần Bột,Vũng Thơm, Chưn Rùm, Sài Mạt, Linh Quỳnh Mạc Thiên Tứ dâng hết chochúa Nguyễn Chúa Nguyễn nhập 5 phủ ấy vào trấn hà Tiên và giao choMạc Thiên Tứ cai quản

Đến đây, toàn bộ vùng đất nay là Nam Bộ được triều đình Chân Lạpchuyển giao cho nhà nước Đàng Trong Năm 1757, chúa Nguyễn lập đạoĐông Khẩu (ở Sa Đéc), đạo Châu Đốc (ở Châu Đốc), và đạo Tân Châu (ở

Cù lao Giêng), cho cả 3 đạo thuộc về dinh Long Hồ

Năm 1772, chúa Nguyễn Phúc Thuần lập đạo Trường Đồn (ở MỹTho) đến năm 1778 đổi thành dinh Trường Đồn

Như vậy đến giữa thế kỷ XVIII, dưới thời các chúa Nguyễn, nước ĐạiViệt ta đã hoàn thành công cuộc khai khẩn vùng đất Nam Bộ, tạo nên mộtbản đồ Việt Nam như ngày nay Việc các nước Chiêm Thành và Chân Lạpsuy yếu và dần dần sát nhập vào Đại Việt là một tất yếu của lịch sử, ngườiChăm Pa và người Chân Lạp hòa nhập vào cộng đồng người Việt để tạo nênmột dân tộc thống nhất

II Qúa trình khai khẩn vùng đất phía Nam.

1 Con đường mở rộng đất đai về phía Nam.

Trang 12

Lãnh thổ Đại Việt mở rộng từ Bắc trung bộ kéo vào đến hết miềnNam bộ là một công lao vô cùng to lớn của các triều đại phong kiến tronglịch sử Công cuộc khai khẩn này được thực hiện liên tục và rất hợp pháp bởi

sự kết hợp, đan xen của ba con đường chủ yếu: chiến tranh xâm chiếm lãnhthổ, con đường hôn nhân, con đường ngoại giao hòa bình

Đối với Chiêm Thành, từ thế kỷ X, khi nước ta thoát khỏi ách Bắcthuộc, thì Chiêm Thành là một nước mạnh, đối trị với nước ta Người Chiêm

là giống người hiếu chiến lại thiện chiến hơn người Việt thế nhưng cuốicùng đều phải từ bỏ đất đai cho Đại Việt Bởi vì người Việt không hiếuchiến mà có lẽ khôn khéo và nhẫn nại, ngoài chiến tranh biết dùng nhiều thủđoạn khác để xâm lấn đất địch

Đời Lê Đại Hành, Chiêm Thành phải nể sợ ta, bắt đầu dâng hiếnphương vật Để chống chế với ta, Chiêm Thành thần phục Trung Quốc,thường cống hiến rất hậu, cũng mong nhờ vào thiên triều để ngăn cản sựbành trướng của nước láng giềng đang ngày càng mạnh mẽ

Nhưng với con đường bộ mà Lê Đại Hành đã sai Ngô Tử An dùng 3vạn người khai thông từ nam giới đên châu Địa Lý năm 992, chứng tỏ ýmuốn Nam tiến của người Việt đã được xác định

Đến đời Lý, Chiêm Thành cống hiến và xưng thần, nhưng vua LýThánh Tông là một người có ý chí mở rộng bờ cõi đã tìm cách buộc ChiêmThành nhượng một ít đất đai tiếp giáp với nước mình Đã nhượng ba châu

Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh rồi người Chiêm lại hối tiếc, liên tục quấy phá

Có lẽ vua Nhân Tông đã nghĩ rùng vũ lực quân sự để ép buộc không bằngdùng người để xâm nhập, cách này tuy chậm, nhưng mới chắc chắn đi đến

sự chinh phục đất đai Và bắt đầu có cuộc di dân năm 1075, với những bản

đồ rõ ràng về hình thế đất đai, sông núi Và bài học này được các chúaNguyễn áp dụng ở đất Chân Lạp

Trang 13

Đời Trần nhờ mở rộng đất đai một cách hòa bình, đời vua Anh Tông(năm 1306), người Việt vào đến Thừa Thiên và địa đầu Quảng Nam Mặcdầu có sự bất phục tạm thời của các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng.Cuộc chung sống của người Chiêm và người Việt lần này cũng không đếnnỗi hằn học, vì ở trên hai nhà vua hai nước đã kết nghĩa thông gia Với tìnhthân thiện giữa hai dân tộc, nên người Chiêm đã ở lại đông Sự phối hợphôn nhân là cơ hội độc nhất trong lịch sử bang giao Chiêm Việt mà nhữngảnh hưởng lẫn nhau trong các phương diện sinh hoạt của hai dân tộc đượctăng tiến.

Việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là một thủ đoạn chínhtrị, có thể nói là noi theo một chính sách khởi xướng từ thời Lý, dùng hônnhân vì mục đích chính trị Các chúa nhà Lý thường đem gả công chúa chocác Châu mục các khê động Man ở biên thùy để thu phục các bộ lạc ấy Nhờcác cuộc hôn nhân này, các miền thượng du miền Bắc là miền đất đai hiểmtrở, nhân dân các dân tộc thiếu số lại phức tạp, khó kiểm soát và khuất phục,

đã được yên, làm phên giậu giữ vững cho triều đình Đời Lý đối với cáccuộc hôn nhân ấy, nhân dân chấp thuận Nhưng đến đời Trần, tư tưởng kì thịbắt đầu xuất hiện do ảnh hưởng của tư tưởng “Hoa, di” trong Nho học Hơnnữa trước đó vua Trần Thái Tông đã đem công chúa Ngoạn Thiềm gả choNguyễn Nộn, một tên giặc cỏ vì không dẹp được; vua Nhân Tông cũng gảcông chúa Thiêm Tư cho Thoát Hoan khi thấy thế giặc Nguyên ban đầumạnh quá; hai cuộc gả bán ấy đã làm cho nhân dân không mặn mà gì với thủđoạn hôn nhân chính trị Nhưng đến đời vua Anh Tông, gả công chúa HuyềnTrân như là “đem má phấn đổi lấy trường thành” Với đất Ô, Lý làm bànđạp, người Việt tiện bề vượt núi Hải Vân để vào xa trong Nam Chính sáchhôn nhân chính trị ấy, chúa Hi Tông Nguyễn Phước Nguyên cũng dùng đến

Trang 14

và chính nhờ gả công chúa cho vua Chân Lạp mà tổ tiên chúng ta đã lấy đấtNam Việt ngày nay một cách dễ dàng.

Vào thời nhà Hồ tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng đã nhanh chóng thựchiện được ý chí Nam tiến của mình bằng việc đem quân đi chinh phục, vừa

để mở rộng đất đai vừa để xoa dịu dư luận Nhà Hồ đã đưa di dân vào cácThăng, Hoa, Tư, Nghĩa Nhưng không được lâu nước ta rơi vào thời kỳMinh thuộc Chiêm Thành dựa vào quân Minh chiếm lại nhiều vùng đất đai

Vì vậy mà cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tông sau này phải đương đầuvới các lực lượng Chiêm Thành bao nhiêu phen để giành lại đất đai

Triều Lê, từ ban đầu mới chỉ nghĩ đến việc khôi phục đất đai ở ChiêmThành sau đó nảy thêm vấn đề thanh toán Chiêm Thành Thắng trận lần nàycủa vua Lê gần như là đòn định đoạt cuối cùng vận mạng của vương quốcChiêm Vì mất các đồng bằng Nam, Nghĩa, Bình Định là những đồng bằngrộng rãi, phì nhiêu nhất, phải lui về những miền đất khô khan ở phía Nam, từđây triều đình Chiêm Thành không đủ sức để tồn tại, nên không chống nổi

sự bành trướng của các chúa Nguyễn sau này

Khi cuộc chiếm cứ đất Chiêm Thành gần hoàn tất, với những hoạtđộng ngoại giao và quân sự, các chúa Nguyễn đã lần lượt xâm lấn đất ThủyChân Lạp để đem vào bản đồ một miền Nam rộng rãi, phì nhiêu Ngoại giao

để can thiệp vào nội tình Hoàng Gia Chân Lạp và nhất là đối với nước Tiêm

la, từ nhiều thế kỷ đã xem Chân Lạp như một chư hầu của mình, nên không

từ bỏ dễ dàng bá quyền trên nước ấy Còn quân sự thì chỉ khi cần mới dùngđến

Với cuộc hôn nhân giữa Chey Chetta II và nàng công chúa của vua HiTông, đưa đến việc thiết lập các cơ sở Việt Nam ở Sài Gòn năm 1623, chúaNguyễn đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ ở triều đình Chân Lạp và trên đất ThủyChân Lạp

Trang 15

Từ năm 1658, đời chúa Thái Tông, sau cuộc dùng binh của NguyễnPhước Yên, phó tướng dinh Phú Yên đánh phá Bà Rịa, bắt vua Chân lạp làNặc Ông Chân, Chân lạp bắt đầu thần thuộc chúa Nguyễn và phải để ngườiViệt làm ăn trên đất mình.

Năm 1674, sau cuộc dùng binh của chúa Thái Tông, vua Chân Lạpđều hàng năm nạp cống, quyền lợi của người Việt ở Thủy Chân lạp càng dễbành trướng

Sau năm 1679, đời chúa Thánh Tông, với những tập đoàn di dân củaDương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, hai đất Mỹ Tho, Đồng Nai, bắtđầu mở mang về thương mại, khai thác đất đai, tuy trên pháp lý là đất củaChân Lạp nhưng trên thực tế đã ảnh hưởng của chúa Nguyễn

Đến giữa thế kỷ XVIII, sau các cuộc dùng binh của chúa Nguyễn,chúa Nguyễn đã chính thức đặt chính quyền ở khắp Nam Bộ : Gia Định,Biên Hòa, Mỹ Tho, Tiền Giang…

Nếu như vùng đất Nam Bộ trước đây chuyển từ tay Phù Nam sangChân Lạp bằng bạo lực (do cuộc tấn công năm 550 của Bhavavarman) thì

sự chuyển giao lại chủ quyền vùng đất ấy cho vương quốc Đàng Trong lạidiễn ra một cách hòa bình

Nam Bộ lúc ấy còn trong tình trạng hoang vu, là vùng đất chưa địnhhình, nên không được các vua Chân Lạp đánh giá cao Mặt khác họ chưa đủsức khai phá và cải tạo vùng đất này, nên chưa vươn tay quản lý đến đó một

cách chặt chẽ Giáo sư Trần Văn Giàu đã kết luận rằng : “Nói rằng đây là đất vô chủ thì không đúng hẳn, mà nói rằng đây mà tỉnh, huyện của Chân lạp thì cũng không thật phải”

Do đó các vua Chân Lạp mở rộng vòng tay đón nhận di dân Việt vàHoa đến làm ăn sinh sống, đồng ý cho chúa Nguyễn lập hai trạm thu thuế(1623), đặt các cơ quan hành chính và quân sự (1679) và không phản đối

Trang 16

việc chúa Nguyễn lập phủ huyện trên đất Nam Bộ (1698) Mặt khác cũngsẵn sàng cắt hết vùng này đến vùng khác nhường cho chúa Nguyễn để đền

ơn, tạ tội hay để được triều đình Thuận Hóa công nhận là vua Chân Lạp

Từ con đường mở rộng lãnh thổ về phía Nam của các vua chúa ĐạiViệt, chúng ta có thể khẳng định rằng việc sát nhập Chiêm Thành và ChânLạp là một điều tất yếu của lịch sử Nước yếu, nước nhở hòa nhập vào nướclớn là một quy luật sinh tồn của tự nhiên Đặc biệt là vùng đất Nam Bộ,không thể quan niệm một cách đơn giản rằng chủ quyền của người Việt trênđất Nam Bộ là do chiếm của người Chân Lạp Chứng cứ lịch sử cho thấyquóc gia đầu tiên trên vùng đất này là Phù Nam mà cư dân chủ yếu là ngườiProtomalais, đến đầu thế kỷ VII mới bị Chân Lạp tấn công, tiêu diệt.Tuynhiên đây là vùng đất có nhiều đầm lầy ngập mặn, bị nước biển xâm lấn nên

bỏ hoang hóa rất nhiều, người Chân Lạp đã không có điều kiện để quản lý

và khai thác vùng đất này Sự sầm uất, trù phú của Nam bộ là công lao khaiphá của nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ thế kỷ XVII Mà chúaNguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá này và việc khẳng địnhquyền quản lý lãnh thổ là một hệ quả tự nhiên Quá trình thụ đắc vùng đấtNam Bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hòa bình kết hợp vớiđàm phán ngoại giao để khẳng định chủ quyền

2 Cách thức, kỹ thuật khai khẩn vùng đất phía Nam

Cùng với quá trình xâm lấn đất đai về phía Nam, các triều đại phongkiến Việt Nam đã liên tục thực hiện các chính sách quản lý lãnh thổ với tưcách là chủ nhân của những vùng đất mới này Đó là chiêu mộ dân di cư kếthợp khai khẩn đất hoang, từng bước thiết lập chế độ cai trị để xác định chủquyền của dân tộc mình

Ngay từ thời Lý, sau khi chiếm được ba châu Bố Chính, Địa Lý và MaLinh vua Lý Thường Kiệt đã chỉ họa đồ hình thể núi sông ba châu Bố Chính,

Trang 17

Địa Lý, Ma Linh, rồi đổi châu Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linhlàm châu Minh Linh rồi xuống chiếu mộ nhân dân đến ở và tổ chức lại việccai trị

Chiếu chiêu mộ dân này là một sự kiện quan trọng trong lịch sử nước

ta, đấy là bước đầu của công cuộc Nam tiến mà dân tộc theo đuổi trong 6,7thế kỷ sau này

Đáp ứng chiếu ấy, nhiều người đã từ Bắc, đa số là miền Nghệ An, bắtđầu đến đất này khai khẩn, làm ăn Trong số người di dân ấy, những ngườicùng một họ tộc thường tụ tập một nơi, rồi lập thành một làng xã Có nhiềutên làng mang tên họ như Phan xá, Hoàng Xá, Ngô Xá, Vũ Xá…

Sang thời nhà Hồ, sau khi chiếm đất Chiêm Động và Cổ Lũy đã chiathành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa Đặt lộ Thăng Hoa thống hạt 4 châu,còn ở đầu nguồn thì đặt làm Trấn Tân Ninh cử Nguyễn Cảnh Chân làm Anphủ sứ lộ Thăng Hoa, bổ Chế Ma Nô Đa Nan Cổ Lũy huyện Thượng Hầu đểtrấn giữ hai châu Tư, Nghĩa Nhà Hồ nhanh chóng chiêu mộ dân nghèokhông có ruộng vào khai khẩn vùng đất này

Trong các đất đai vua Lê Thánh Tông vừa mới thu hoạch có miềnVijaya, vua đặt là phủ Hoài Nhân, tức là tỉnh Bình Định ngày nay, là vùngđất rộng rãi, có những đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn nên thu hút dân

ở xa đến khai khẩn như Nghệ An, vốn quen nghề ghe thuyền; họ đã vượtbiên di cư đến đó Đời Lê, có những phần tử bắt buộc phải di cư vào Nam,

đó là những kẻ từ nhân bị kết án lưu Trong ngũ hình của pháp luật thời Lê,

về hình lưu đày có 3 bậc: lưu cận châu là đi các xứ Nghệ An, Hà Hoa (tức là

Hà Tĩnh ngày nay); lưu ngoại châu là lưu đi các xứ thuộc châu Bố Chính;lưu viễn châu là đi các xứ thuộc châu Tân Bình Sau khi lấy được các đất từThăng Hoa trở vào, năm 1474, vua Thánh Tông sắc chỉ rằng tù xử tội lưu đicận châu thì sung Vệ quân ở Thăng Hoa, đi ngoại châu, thì sung vệ quân ở

Trang 18

Tư nghĩa, đi viễn châu thì sung vệ quân ở Hoài Nhơn, tội nhân được tha tộichết cũng sung vệ quân ở Hoài Nhơn.

Thời Lê sơ, khi vua Thái Tổ mới đuổi quân Minh, ra Đông Đô, thìchia nước ta làm 4 đạo là Tây đạo, Đông đạo, Nam đạo, Bắc đạo đem cácphủ lộ, trấn, châu, huyện và xã, chia thành các khu vực để lệ thuộc vào đạo.Đến khi trong nước đã yên, đặt thêm đạo Hải tây cho các lộ Thanh Hóa,Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa lệ thuộc vào Chưa thấy nói tới các đấtThăng, Hoa, Tư, Nghĩa đương do Chiêm Thành làm chủ từ thời Minh thuộc

Đời vua Lê Thánh Tông, năm 1466, đặt ty Tuyên chánh sứ các đạo,lấy Nguyễn Thì Đạt làm Tuyên chánh sứ Thuận Hóa Cũng năm ấy, vua chianước thành 12 đạo Thừa Tuyên là : Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, ThiênTrường (Nam Định), Nam Sách (Hải Dương), Quốc Oai (Sơn Tây), BắcGiang (Bắc Ninh), An Bang (Quảng Yên), Hưng Hóa, Tuyên Quang, TháiNguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô, châu Sa Bôi Chưa thấy nói đến đất đai

ở phía Nam Thuận Hóa, Thuận Hóa thừa Tuyên gồm hai phủ: Phủ TriệuPhong và Tân Bình Phủ Triệu Phong lãnh 6 huyện: Kim Trà, Đan Điền, HảiLăng, Tư Vinh, Điện Bàn, Vũ Xương Phủ Tân Bình gồm hai huyện:Khương Lộc, Lệ Thủy và hai châu Minh Linh, Bố Chánh Như vậy ThuậnHóa thừa tuyên bao gồm đất từ núi Hoành Sơn vào đến nửa phía Bắc tỉnhQuảng Nam ngày nay, phủ Tân Bình là từ biên giới phía bắc từ Quảng Bìnhđến cửa Việt tỉnh Quảng Trị ngày nay, từ đó vào Quảng Nam là phủ TriệuPhong

Cuộc di dân thời Lê Thánh Tông là việc làm rất quan trọng, vì nó xácđịnh đất đai vĩnh viễn, làm cho người dân yên ổn làm ăn, không phải lo sợngười Chiêm Thành đánh phá, cướp bóc như ở Thuận Hóa trước kia nữa; vảlại chính đa số người Việt này sẽ đến ở những đất đai còn lại của ChiêmThành và đất Thủy Chân Lạp sau này

Trang 19

Đối với vùng đất Thủy Chân Lạp, việc chính thức sát nhập đất đai vàđặt chính quyền cũng thường xảy ra sau khi người Việt đến ở đông đúc.Người Việt làm ăn cần cù siêng năng, mặt khác văn hóa, phong tục tập quánlại khác nhau, nên thường hễ người Việt đi đến đâu thì người Chân Lạp bỏ

đi nơi khác Cũng có nơi dân Miên, Việt ở lẫn lộn nhau Khi người Việt đãđến một nơi nào đó đông rồi, chúa Nguyễn mới tìm cách chính thức chiếm

cứ lãnh thổ, đặt chính quyền

Về việc khai thác đất đai, chính quyền rất dễ dãi để khuyến khích việc

khẩn hoang, lập ấp Theo Gia Định thành thông chí thì dân ở tỉnh này có thể

tự do đến khai khẩn đất ruộng ở các tỉnh khác, ai muốn đến đâu, khai khẩnruộng gò, ruộng thấp, lập làng, lập ấp đến đâu tùy ý Lựa chọn đất đai rồi chỉkhai báo với nhà cầm quyền là mình trở thành nghiệp chủ đất ấy Chínhquyền cũng không đo đạc, không cần biết đất ấy tốt xấu thế nào, ngườinghiệp chủ tùy theo đất mình chiếm rộng hat hẹp mà nạp thuế nhiều hay ít,

và nạp thuế bằng thóc, dùng hộc già hay hộc non cũng được Sau này đếnthời Gia Long đất ruộng mới đo đạc và thuế ruộng ấn định công bằng hơn,tuy vậy cách đánh thuế ở Gia Định cũng rộng rãi hơn ở các tỉnh miền Bắcnhiều

Thật ra, những di dân người Việt đầu tiên đến Nam Bộ không manggươm giáo để giành giật đất đai của ai, mà chỉ trang bị chiếc búa, cái rựa đểchặt cây, cái phảng, con dao để chém cỏ, như trong câu ca dao sau mô tả

Người đi dao rựa dắt lưng Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng cao Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết “Những di dân ra sức chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng” Họ đã đổ mồ hôi nước mắt, có khi phải đổ cả máu, để chinh phục

Trang 20

thiên nhiên, chống chọi với thú dữ, biến vùng đất hoang sơ này thành mộtnơi có thể sống được.

Cũng chẳng ai chống đối sự có mặt của họ Đất hoang ở Nam Bộthuở ấy còn rộng, ai có sức bao nhiêu thì khai phá bấy nhiêu

Ruộng đồng mặt sức chim bay Biển hồ lai láng, cá đầy đua bơi

Người ở cũ cũng mở rộng vòng tay đón người mới đến, sẵn sàng đùmbọc giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn trong buổi đầu định cư

Nước sông trong sao lại chảy hoài Thương người xa xứ lạc loài tới đây

Tuy ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán có điểm khác nhau nhưngngười Việt và người Khơme sống bên nhau một cách hòa bình, thân ái vì họchính sách chung cảnh ngộ: đều là những người nghèo khổ, không chịu nổicác gánh nặng sưu thuế, lao dịch và binh dịch, nạn quan lại hà khắc bóclột…phải bỏ quê hương đi phiêu bạt đến mảnh đất hoang vu này, tuy đầykhắc nghiệt nhưng tự do, tìm một cuộc sống mới Họ sống khu biệt và không

có quan hệ hành chính với bất cứ một quốc gia nào thời đó

Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu ở Nam Bộcủa cộng đồng cư dân, các chính quyền của người Việt đã liên tục thực hiệnchính sách quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân của vùng đất này Từ thế

kỷ XVII, để thực thi chủ quyền, các chúa Nguyễn đã tổ chức các đơn vịhành chính, sắp đặt quan cai trị, lập sổ sách quản lý dân đinh và định ra cácloại thuế Phủ Gia Định thành lập năm 1698 gồm 2 dinh Trấn Biên (BiênHòa) và Phiên Trấn (Gia Định) quản lý hơn 4 vạn hộ Sau năm 1774 vùngđất từ nam Hoành Sơn đến mũi Cà Mau được chia làm 12 tỉnh, trong đóvùng đất Nam Bộ chia thành 4 tinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Hà

Trang 21

Tiên), Trừ Hà Tiên lúc đầu còn là một dinh phụ thuộc, mỗi dinh quản hạtmột phủ.

Triều Nguyễn thiết lập vào năm 1802 tiếp tục sự nghiệp của các chúaNguyễn đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lý trên quy

mô cả nước Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ lục tỉnhNam Kỳ Bên cạnh chính sách chính trị, quân sự triều đình khuyến khíchphát triển kinh tế, xã hội, mở mang phát triển các dinh điền, đồn điền, xâydựng các công trình thủy lợi, phát triển giao thông thủy bộ Năm 1817, vuaGia Long cho đào kênh Thoại Hà Vào đầu những năm 20, vua Minh Mạnggiao cho đào kênh Vĩnh Tế, nối Châu Đốc với Hà Tiên dài trên 70km

3 Lực lượng khai khẩn

Qúa trình khai phá đất đai về phía Nam không chỉ có Người Việt, màcòn có cả Người Hoa và Người Khơme Về điều này trong Gia Định Thành

thông chí đã viết: "Người Kinh, người Trung Quốc, người Cao Miên làm nhà ở liền nhau, kết thôn họp chợ, để đón đợi chằm sông rừng núi"

Người Việt là một lực lượng chủ yếu trong công cuộc Nam tiến Ngay

từ thời các vua Lý, Trần, Hồ, Lê khi xâm lấn đất đai Chiêm Thành, ngườiViệt đã đi tiên phong trong quá trình khai khẩn Chủ yếu là cư dân các vùngThanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thăng Hoa, Tư, Nghĩa…

Ngoài những cuộc di dân mà triều đình xuống chiếu chiêu mộ, khuyếnkhích sau mỗi lần lấn được đất Chiêm Thành, và những tù nhân bị án lưuhình, còn những người di cư lẻ tẻ, từng người một, từng gia đình, từng nhómthì chắc là thời nào cũng có Đó là những người bất mãn với chế độ đươngthời, hoặc can phạm tội nên phải tránh, trốn hoặc vì nghèo khó muốn tìmđến chỗ làm ăn dễ dàng hơn, hoặc vì phiêu lưu muốn tìm sự may mắn, giàusang, đến đất dụng võ dễ dàng hơn

Trang 22

Đối vùng đất Nam Bộ, thì lực lượng khai khẩn không chỉ có ngườiViệt mà còn có cả người Hoa, người Khơme, người Chăm Cho đến nửacuối thế kỷ XI, nhiều tài liệu dân tộc học tại các chùa Khmer tại Trà Vinh vàSóc Trăng, có những dòng di dân theo sông Mê Kông từ Campuchia đếnđịnh cư ở vùng miền Tây Nam Bộ và cho đến thế kỷ XIII, mật độ cư dânCampuchia xuống ngày càng dày đặc hơn Đó là những cuộc di dân hàngloạt của những sư sãi, quan chức, dân thường, người nghèo khi vương triềuAngkor của Campuchia tan vỡ bởi sự xâm lược của quân đội Xiêm hùngmạnh Họ lập ra những phun sóc, những chùa Phật theo dòng Tiểu thừa ởnhiều nơi thuộc miền Tây Nam Bộ Những vùng đất Gò Công, Tân An, SaĐéc mà vua Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn vào năm 1755 và 1757 saunày chúa Nguyễn di dân Việt tới khai khẩn Những nơi ấy, Người Kinh,người Thổ (người Khơme nhà ở xen lẫn nhau Họ cùng nhau khai khẩnruộng cỏ, nuôi cá bán hoặc làm mắn muối, phơi mang khô, đốt tre đem bánlàm kế sinh nhai.

Như vậy trong 59 năm liền, toàn bộ vùng đất nam Bộ ngày nay đã trởthành một bộ phận của nước Việt Nam Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức

là đã có "các thôn ấp lẻ tẻ đó đây bấy giờ cũng được lập nên xung quanh cácdoanh trại, các đồn, bờ rạch ven sông, khu tập trung là Châu Đốc, HồngNgự, Tân Châu, Sa Đéc" Vào cuối thế kỷ XIX, trong quy ước Pháp-Campuchia ngày 11-8-1863 và hiệp ước Pháp- Campuchia ngày 17-6-1884của vua Norodom nước Campuchia với Thống đốc Nam kỳ đã cùng nhauxác định ranh giới của nước Campuchia như ngay nay và Nam Bộlà phầnđất của Việt nam là thành phần dân cư đã khẩn hoang và định cư ở hầu khắpcác lãnh thổ của vùng này từ trước khi có những hiệp ước nói trên

Nam Bộ là vùng đất lập nghiệp của người nghèo Cho đến trước cáchmạng tháng Tám năm 1945, Nam Bộ vẫn là một vùng đất lập nghiệp của

Ngày đăng: 10/08/2013, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w