trình bày tình hình kinh tế việt nam vùng pháp chiếm trong kháng chiến chống Pháp
Trang 1MỞ ĐẦU
Kể từ sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nền kinh tế Việt Namchuyển sang một thời kỳ hoàn toàn mới- kinh tế thời chiến Từ đây kinh tế ViệtNam không thể xem xét trên phạm vi cả nước mà phải chia làm hai khu vực khácnhau đó là kinh tế vùng tự do và kinh tế vùng tạm chiếm Trong đó kinh tế vùngPháp chiếm là một nội dung rất quan trọng cần phải tìm hiểu
Vùng Pháp chiếm có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế ViệtNam Về dân cư, vùng này chiếm khoảng một nửa dân số Xét về sản lượng hay vềgiá trị sản lượng, thì nó vượt trội hơn vùng kháng chiến về một loạt sản phẩm quantrọng Đây cũng là vùng mà Pháp để lại những di sản đáng kể cho thời kỳ sau: baogồm các thành phố, cơ sở công nghiệp bến cảng và cả những gì mà Pháp để lại baogồm các thành phố, cơ sở công nghiệp bến cảng và cả những đồng bằng vốn trùphú, nay đã bị chiến tranh tàn phá, những “vành đai trắng” … mà Chính phủ ViệtNam Dân chủ cộng hòa tiếp quản sau hiệp định Giơnevơ
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứuđầy đủ về kinh tế vùng Pháp chiếm ngoài 1 bài nghiên cứu của Phạm Thành Vinhtrong cuốn “Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắnglợi” và 1 bài của Bùi Đình Thanh trong cuốn “45 năm kinh tế Việt Nam” Nhưng
cả 2 bài này đều mới chỉ trình bày những nét sơ lược về vùng tạm chiếm
I QUAN NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VÙNG PHÁP CHIẾM.
1, Khái niệm vùng Pháp chiếm.
Vùng Pháp chiếm trong thời kỳ kháng chiến có nhiều cách gọi khác
nhau Về phía ta, thì gọi là vùng tạm chiếm (hay vùng địch hậu, vùng tề) với ý
nghĩa là chỉ bị Pháp chiếm đóng tạm thời, cuối cùng sẽ được giải phóng và trở vềvới chính quyền Việt Minh
Trang 2Về phía Pháp cũng có những cách gọi khác nhau như vùng Pháp kiểm soát, vùng đã được quản lý, vùng của Chính phủ Chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng nên thì gọi đó là Vùng Chính phủ Việt Nam, vùng quốc gia.
Suốt trong thời kỳ kháng chiến, một bộ phận rất lớn của vùng Phápchiếm lại đồng thời là vùng do Việt Minh khống chế ở những mức độ khác nhau.Những vùng gọi là vùng tự do của Việt Minh thì hầu như không có bàn tay củachính quyền Pháp Nhưng ở những vùng do Pháp chiếm thì vẫn luôn luôn tồn tạinhững lực lượng của Việt Minh hoặc dân quân du kích, hoặc bộ đội địa phương,hoặc chính quyền bí mật, hoặc những tổ chức quần chúng công khai, hoặc nhiềukhi lại là chính những hội tề do Pháp lập nên…
Ông Vũ Đình Hòe, nguyên Bộ trưởng Tư Pháp của Chính phủ ViệtNam dân chủ cộng hòa trong suốt thời kỳ kháng chiến đã giải thích như sau vềcách phân chia các vùng bị Pháp chiếm trong thời kỳ kháng chiến: “Ngoài vùng tự
do là vùng hoàn toàn do chính quyền Việt Minh quanr lý, thì phân loại các vùngcòn lại như sau: Vùng căn cứ du kích là những vùng giáp ranh với Pháp hay lọthẳn trong vùng Pháp, nhưng Pháp không kiểm soát được thường xuyên, mà chỉ uyhiếp Thỉnh thoảng, Pháp có tổ chức những đợt hành quân càn quét khủng bố, cònbình thường thì vẫn do lực lượng kháng chiến địa phương làm chủ, có chính quyềncông khai là Ủy ban Hành chính kháng chiến xã, huyện, thậm chí tới cấp tỉnh và cókhi có cả các cơ quan thuộc các ngành chuyên môn Còn vùng địch hậu là tên gọithông thường, không có ranh giới rõ ràng, chỉ có ý nghĩa chung là: phía sau lưngđịch Vùng du kích là vùng Pháp kiểm soát được thường xuyên hơn, nhưng vẫnthường xuyên tồn tại cả chính quyền lẫn lực lượng vũ trang của kháng chiến, lúccông khai, lúc bí mật Vùng tề là vùng Pháp đã thiết lập được chính quyền địaphương, đã thường xuyên quản lý đất đai và dân chúng, nhưng vẫn có thể bị lựclượng kháng chiến khống chế Vùng tạm chiếm là vùng Pháp có thể kiểm soátđược hoàn toàn, chủ yếu là các đô thị và ven đô”
Trang 3Năm 1951, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã có một bản nghịquyết riêng về nhiệm vụ và phương châm công tác tại vùng Pháp tạm chiếm vàvùng du kích Theo Nghị quyết thì :
- Vùng tạm bị chiếm là những nơi tạm thời địch đã kiểm soát hoàn toàn Chính quyền địch, ngụy đã thành lập và hoạt động công khai, chính quyền ta thì hoặc bị địch phá hoặc vẫn còn, nhưng không thể hoạt động công khai.
Địch chiếm đóng vị trí và đi lại tự do Bộ đội ta chỉ có thể tồn tại bí mật Dân chúng bị địch kiểm soát, bắt buộc phải theo luật lệ của chính quyền địch, ngụy Lệnh của chính quyền ta hoặc không thi hành, hoặc chỉ có thể thi hành bí mật, hoặc thi hành trong một phần nào.
Trong vùng tạm chiếm lại cần phải phân biệt: những đô thị lớn và đường giao thông quan trọng Ở những nơi này địch ra sức giữ vững và kiểm soát ngặt nghèo hơn Những vùng thôn quê hoặc các thị trấn nhỏ, không có tác dụng chiến lược lớn, địch không kiểm soát chặt chẽ.
- “Vùng du kích” là những vùng địch và ta giằng co nhau, sự đấu
tranh ở đây rất ác liệt và phức tạp.
Chính quyền của ta tồn tại và làm việc công khai hay bán công khai, chính quyền của địch cũng có hoạt động công khai hay bán công khai.
Bộ đội địa phương và dân quân du kích của ta đi lại hoạt động được, nhưng chưa đủ sức đối phó với tất cả các cuộc đánh phá của địch…Địch cũng có
cứ điểm nhưng không kiểm soát được địa phương.
Đời sống của dân được ta bảo vệ nhưng luôn bị địch uy hiếp Dân chấp hành mệnh lệnh của chính quyền ta nhưng đối với địch cũng buộc phải đóng góp một phần.
Trong vùng du kích, thường có “Căn cứ du kích” là những vùng tự do lớn hay nhỏ sau lưng địch, trong đó ta có cơ sở khá mạnh, từ vài xã cho đến một hai huyện hoặc rộng hơn nữa.
Trang 4Như vậy, khái niệm “vùng tạm chiếm” là một khái niệm có tính cogiãn và rất tương đối Trong phần này, có thể hiểu một cách ước lệ là những vùng
mà Pháp còn trực tiếp khống chế, ở những mức độ khác nhau
2 Đặc điểm địa lý vùng Pháp chiếm.
Dù co giãn như thế nào, thì trong suốt thời kỳ kháng chiến, vùng Phápchiếm vẫn có một số đặc điểm như sau
- Bao gồm những đô thị và những khu công nghiệp quan trọng nhấtcủa Việt Nam như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, HònGai, trong suốt thời kỳ kháng chiến luôn luôn thuộc sự kiểm soát của Pháp Đó làxương sống của những lực lượng Pháp
- Những vùng nông nghiệp trù phú và đông dân cư nhất như đồngbằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ về cơ bản là do Pháp khống chế, tuy chínhquyền Việt Minh cũng có khống chế ở những mức độ khác nhau, tùy ở từng thời
kỳ và ít hay nhiều vẫn đóng góp cho kháng chiến
- Những vùng cửa ngõ quan trọng nhất như Hải Phòng, Đà Nẵng, QuyNhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Vũng Tàu, Rạch Giá…cũng thuộc vùng Pháp
- Những cơ sở hạ tầng quan trọng, sau một thời gian bị phá hoại, đãđược đảm bảo trở lại, như hệ thống giao thông, thông tin lien lạc, điện nước, cácdịch vụ sinh hoạt cần thiết cho người Pháp
Như vậy đối với Pháp thì hậu phương chính là các đô thị và các khucông nghiệp, tiền tuyến là nông thôn Ngược với vùng Việt Minh- hậu phương làcác vùng rừng núi, tiền tuyến là các vùng đòng bằng giáp ranh và thành thành phố
3 Dân cư trong vùng Pháp chiếm.
Vào giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, phạm vi của vùng Phápchiếm mở rộng nhưng dân số ít hơn vì phần lớn dân cư đã chạy ra vùng khángchiến, kể cả một số nhà địa chủ, tư sản, các bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn
Trang 5Hưởng, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư Phạm Thiều,Đặng Minh Trứ, Hồ Văn Lai…
Khi Pháp đánh ra các vùng nông thôn, tất cả nông dân đều bỏ chạy,thực hiện chính sách “vườn không nhà trống”của Chính phủ kháng chiến, vùngPháp chiếm không những không có dân mà cũng không có kinh tế theo đúng nghĩacủa nó
Nhưng từ cuối năm 1947, do Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng, lại
do khó khăn ở vùng tản cư nên bắt đầu có làn sóng hồi cư
Đến năm 1953, vùng Pháp chiếm bắt đầu co lại, một loạt vùng đãđược giải phóng, dân cư ở vùng đó lại trở về với chính quyền kháng chiến
Vì bao gồm hầu hết các thành phố lớn và các khu công nghiệp, chonên vùng Pháp chiếm, tỷ lệ dân cư đô thị và công nhân rất cao, còn vùng nông thônthì chủ yếu là nông dân
Một đặc điểm chung của dân cư vùng Pháp chiếm là: dù thuộc thànhphần nào, giàu hay nghèo, địa vị cao hay thấp, già hay trẻ,…tuy sống trong vùngPháp nhưng hầu hết lại không theo Pháp Trừ một số ít do lợi ích đã gắn bó quá sâuvới thực dân Pháp, cộng tác với Pháp Còn hầu hết dân cư vùng tạm chiếm đều cótấm lòng chống Pháp, hướng về kháng chiến, hướng về cách mạng
Đặc điểm về địa lý, dân cư trong vùng Pháp chiếm có ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động kinh tế của ta trong vùng này
II CHÍNH SÁCH VÀ ĐỐI SÁCH KINH TẾ.
Nghiên cứu về kinh tế vùng Pháp chiếm ngoài việc tìm hiểu chínhsách và đối sách kinh tế của Chính phủ Việt Nam, chúng ta còn phải tìm hiểu cảnhững chính sách kinh tế của Pháp Bởi vì chính sách của Pháp và chính sách củaChính phủ kháng chiến là hai nhân tố đối lập nhau, nhưng cùng tác động đến thựctrạng kinh tế của vùng Pháp tạm chiếm
Trang 61-Nói đến chính sách của Pháp và những đối sách kinh tế của Chính phủkháng chiến có thể chia là hai thời kỳ:
* Thời kỳ từ khi bùng nổ chiến sự ở miền Nam 1945 đến giải phóng Biêngiới năm 1950 Đây là thời kỳ mà người Pháp ôm ấp niềm hi vọng đánh nhanhthắng nhanh, và nghĩ rằng Việt Minh sẽ bị tiếu diệt, người Pháp sẽ chiếm đượcĐông Dương, dựng nên 1 chính quyền bù nhìn thân Pháp, tiếp tục giúp Pháp thựchiện nền kinh tế thuộc địa
Từ 1945 đến trước năm 1947, Pháp dùng quân sự với âm mưu đánhnhanh thắng nhanh, nên chúng chưa chú trọng phá hoại ta về kinh tế Đồng thờichúng thực hiện kế hoạch tương đối quy mô, goi là “kế hoạch phục hồi, hiện đạihóa và trang bị kinh tế trong 10 năm” (kế hoạch Buôc-goanh – mang tên của tên kĩ
sư phụ trách kế hoạch này ở Đông Dương) để thực hiện âm mưu khai thác và bóclột đại quy mô các đất nước Đông Dương
Từ năm 1948, sau thất bại của chiến dịch Việt Bắc, địch chuyển sangtấn công sang phòng ngự, cuộc chiến tranh trở nên toàn diện, địch chú ý ta về mặtchính trị và kinh tế hơn trước Địch củng cố vùng tạm bị chiếm, dùng ngụy quân vàngụy quyền phá hoại nhân lực, vật lực của ta, tiếp tục thực hiện kế hoạch Buôc-goanh
* Thời kỳ từ Chiến dịch Biên Giới 1950 đến 1954 khi Chiến dịch Điện BiênPhủ kết thúc Trong không khí lo lắng, bi quan về cuộc chiến có thể thất bạinhanh chóng, người Pháp đã tranh thủ vơ vét, tàn phá kinh tế Việt Nam
Cuối năm 1950, chiến dịch Biên giới thắng lợi, địch phải rút ngắnphòng tuyến, tập trung binh lực ở Bắc Bộ để đối phó với các cuộc tiến công của ta,chúng tiến hành ráo riết cuộc chiến tranh mọi mặt ở khắp vùng tạm chiếm và vùng
du kích Chúng ra sức thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùngngười Việt đánh người Việt”
Trang 7Đây cũng là thời kỳ Pháp tăng cường xin viện trợ Mỹ về kinh tế vàquân sự, tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ đặt chân vào Đông Dương Mặt khác các
tổ chức kinh tế tư bản lũng đoạn của Pháp ở Đông Dương đã bắt đầu cuộc rút vốnhỗn loạn sang các thuộc địa khác và thi hành chính sách bòn rút tận cùng không
kể ngày mai đối với các xí nghiệp, vườn cây của chúng ở Việt Nam
2- Về phía ta, Chính Phủ đề ra chính sách vừa đối phó với kinh tế của địch vừaphát triển kinh tế của ta trong vùng tạm chiếm
Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” ngày 22-12-1946 đã nêu ra nhữngkhẩu hiệu kiên quyết về kinh tế:
“không đi lính cho Pháp,
“không nộp thuế cho Pháp,
“không bán lương thực cho Pháp,
“không mua hàng của Pháp”
Cương lĩnh đấu tranh kinh tế toàn diện do đồng chí Trường Chinh đề
ra “Cuộc kháng chiến về mặt kinh tế của ta chống Pháp có hai phần: tiêu cực và tích cực Tiêu cực là phá hoại kinh tế của địch; tích cực là xây dựng kinh tế của ta”
Cụ thể đó là phá hủy máy móc, kho tàng, đường giao thông, vận tải của địch,chống chính sách bóc lột của địch bằng cách thực hiện “vườn không nhà trống”,được nhân dân ta ở vùng tạm chiếm thực hiện rất tích cực
Tới năm 1951, khi cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới Đảng
chủ trương “dùng mọi hình thức đấu tranh thích hợp từ thấp đến cao, từ hợp pháp đến bất hợp pháp, từ chính trị, kinh tế đến vũ trang , chống lại giặc Pháp, bọn can thiệp Mỹ và bọn bù nhìn”
Thực hiện chủ trương đó, Đảng phát động nhân dân đấu tranh, quantâm tới lợi ích của nhân dân: “tổ chức, phát động và lãnh đạo nhân dân chốngchính sách cướp bóc, tàn sát của địch…” “không chỉ chú ý đến lợi ích chính trị màphải chú ý đến lợi ích kinh tế hàng ngày của dân như bảo vệ mùa màng, giúp đỡ
Trang 8đồng bào bị nạn, chống địch cướp bóc, thu thóc, chống dồn làng…” Một điểm rấtquan trọng nữa cũng được đề ra là “nơi nào có hoàn cảnh thì thực hiện giảm tô,chia công điền, tạm cấp ruộng đất của Pháp và Việt gian”
Về mặt phá hoại kinh tế địch, Nghị quyết Trung ương chủ trươngphân biệt rõ rệt như sau”
“Đối với những kho tàng, nhà máy, hầm mở, nhà cửa, đường cầu… của địch.
- Những cái gì có quan hệ trực tiếp tới quân sự, đến chiến tranh thì tàn phá, nhưng phải cân nhắc lợi hại, nếu hại cho địch nhiều, lợi cho ta nhiều về quân sự, mà không hại nhiều đến nhân dân, đến cơ sở thì phá (nếu chưa có điều kiện phá to thì phá thường xuyên)
- Đối với những cái gì không trực tiếp quan hệ đến quân sự, đến chiến tranh thì phá hoại thường xuyên để gây thiệt hại kinh tế cho địch”
Chủ trương, đường lối đấu tranh về kinh tế rõ ràng và cụ thể đó đãphối hợp được các mặt đấu tranh của ta ở trong vùng tạm chiếm và vùng du kích.Ngoài ra chủ trương, đường lối đúng đắn đó cũng đã kịp thời phá tan hoặc hạn chếcác âm mưu của địch dùng kinh tế vào mục tiêu chiến tranh
III THỰC TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN KINH TẾ.
Trang 9Sự đi xuống của công nghiệp Việt Nam vùng tạm chiếm
3262.950
4.3321.373
(nguồn: Kinh tế Việt Nam từ cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi)
Trừ xi măng là ngành phục vụ chiến tranh (để xây dựng đồn bốt, sânbay, đường xá) và thuốc lá là ngành có nguyên liệu nhập khẩu từ Mỹ, là có tănglên Còn tất cả các ngành công nghiệp khác đều sa sút
Vị trí thứ hai trong nền công nghiệp cũng không khác lắm so với thờithuộc địa là thuộc về tư bản người Hoa Họ nắm trong tay những ngành côngnghiệp xay xát, chế biến nông phẩm, thực phẩm và dịch vụ
Phần còn lại là những xí nghiệp nhỏ có tính chất địa phương là củacác nhà công nghiệp Việt Nam Nhưng do thời cuộc nên họ chỉ làm ăn cầm chừng,chờ đợi chiến tranh kết thúc
Ngoài những lĩnh vực công nghiệp dài hạn, một số lĩnh vực sản xuất
có tính chất ngắn hạn, như giấy, gỗ, vật liệu xây dựng, đồ nhựa…đã có những sựphát triển đáng kể Về các hãng thời trang có hãng Sita của người Việt Nam khánổi tiếng có trụ sở ở Hàng Quạt (Hà Nội) Sita chuyên sản xuất các loại giày da,cung cấp cho người Hà Nội, Sài Gòn, quân đội Pháp và quân đội Bảo Đại; hãng
Trang 10giầy vải Lan Sinh ở Hàng Da (Hà Nội) chuyên sản xuất các loại giầy vải và giầybasket, dép cao su nhãn hiệu “con hổ” phục vụ cả vùng Pháp lẫn vùng khángchiến
Trong lĩnh vực cơ khí vận tải, Mai Văn Hàm ở Hà Nội đã thành côngmột số cơ sở đóng thùng, ghế, mui đệm cho những chiếc xe chở hành khách nhậpkhẩu dưới dạng tổng thành, tức chỉ nhập đầu máy và bệ xe
Ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Đồng Nai, Biên Hòa, một số nhà công nghiệp đãphát triển được các cơ sở chế biến gỗ, chủ yếu là cưa xẻ gỗ thành khí để phục vụcho xây dựng và đóng bàn ghế Một vài cơ sở đã có thể sản xuất được giấy viết vàgiấy in, sản xuất lưới đánh cá cho cư dân
Trong công nghiệp sành xứ, thủy tinh, người Hoa và người Việt có vịtrí xấp xỉ nhau Ở những vùng sản xuất đồ gốm như Bát Tràng thì những tư sảnngười Việt gần như độc quyền Trong khi Móng Cái, người Hoa lại chiếm vị trítrọng yếu
Trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, nhất là với những sản phẩm cổtruyền như nước mắm, tôm, cá khô, bánh kẹo…người Việt Nam có nhiều cơ hội đểhoạt động trong điều kiện chiến tranh Một số lĩnh vực khác như chế biến thịt xuấtkhẩu, chế biến cà phê, hồ tiêu…thì người Hoa vẫn có truyền thống làm chủ thịtrường
Có một số lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp sang thời kỳ này lại chiếmlĩnh được thị trường Tuy thị trường không lớn lắm, nhưng lại không bị chèn ép bởicác công ty Pháp như thời thuộc địa Ví dụ trong lĩnh vực công nghiệp dệt may, khicác xí nghiệp dệt của Pháp gặp khó khắn vì thiếu sợi, bông thì một số cơ sở dệt thủcông đã có cơ hội để hoạt động
Ở miền Nam, Tân Châu (An Giang), vốn là vùng truyền thống dệtlụa, sang thời kỳ này lại có điều kiện phát triển, vì sản phẩm của họ được ngườidân thành thị ưa chuộng Một số vùng nông thôn cũng bắt đầu tiêu dùng hàng
Trang 11lụa Lụa Tân Châu còn được tiêu thụ trên thị trường Thái Lan, Singapo, HồngKông Vào những năm 50, Tân Châu đã có nhiều cải tiến Chuyển hướng từphương pháp xe tơ dệt vải và dệt lụa thủ công sang sử dụng máy, cả Tân Châu
có tới hơn 300 khung dệt máy Những nhà kinh doanh nổi tiếng nhất lúc này là
Đỗ Quốc Hòa, Trần Văn Tôn, Trịnh Thế Nhân, Trần Ngọc Linh, Trần VănNho… Do nhu cầu nguyên liệu tăng, kĩ thuật ươm tơ cũng được cải tiến Theophương pháp mới, sợi tơ đều và bền hơn Tuy nhiên, miền Nam không có truyềnthống dệt đũi Mặt hàng đũi được ưa thích ở miền Nam, nhưng lại phải đặt ởngoài Bắc sản xuất Do đó một số vùng ở Hà Đông, Nam Định đã có cơ hội đểphát triển sản xuất mặt hàng này
Nhìn chung, công nghiệp của người Việt Nam trong vùng Pháp chiếm
là mọt lĩnh vực sản xuất tạm bợ, chờ thời cơ và vẫn không thể không mang tínhchất cơ hội Nhập khẩu và viện trợ Mỹ cũng là những nhân tố có sức ép rất mạnh.Vải, sợi, thuốc lá, đường, giấy, máy móc, xe cộ, đồ dùng gia đình và đồ dùng cánhân nhập từ Pháp, Mỹ…đã chiếm lĩnh một bộ phận rất lớn trên thị trường Chiếntranh chỉ chừa lại cho nền công nghiệp nội địa một địa bàn nhỏ hẹp
2 Nông nghiệp.
Khác với công nghiệp, tình hình nông nghiệp vùng Pháp chiếm khóthống kê hơn Vì tình thế cài răng lược, khó có thể nói sản lượng lúa, ngô, trâu, bò,lợn…đó là thuộc vùng Pháp hay vùng Việt Minh
Còn sản xuất nông nghiệp của bản thân người Việt Nam trong vùngPháp chiếm thì có thể chia làm hai loại hình:
Ở những vùng giáp ranh, có chiến sự và có hoạt động quân sự của cảhai bên, thì nông nghiệp cũng như đời sống của nông dân rất khó khăn Ở nhữngvùng này, bộ đội và những lực lượng kháng chiến ra sức bảo vệ nhân dân, bảo vệtrâu bò, nhà cửa Quân Pháp thì lại coi đây là vùng của đối phương và tìm đủ cách
để triệt phá khả năng sản xuất và triệt tiêu những điều kiện sinh hoạt của người
Trang 12nông dân Đồng lúa bị đốt phá Đê điều, mương máng không được chăm sóc.Đường sá không được quan tâm Trâu bò, nông cụ bị tàn phá nghiêm trọng Thậmchí nhiều nơi Pháp cấm nhân dân đi gặt, đi cấy… Nhiều nơi, nhân dân phải đợi banđêm để lẻn ra đồng làm ruộng, làm một cách bí mật Tờ mờ sáng lại trở về Cónhiều nơi, buổi sáng quân Pháp tỉnh dậy thấy những cánh đồng đã được cấy hếtqua 1 đêm, họ cho rằng phải có bàn tay của Việt Minh, họ lại vào làng càn quét đểtìm kiếm bộ đội.
Ở những vùng mà quân Pháp quản lý ổn định hơn, tức những vùng đãlập được hội tề hoặc ở gần đô thị, thì Pháp để cho nhân dân được sản xuất tươngđối tự do Ở đó không có càn quét, không bị bắt bớ, không cấm gặt, cấm cấy, cấmcày bừa…Có những nơi quân đội Pháp còn tạo điều kiện cho các cơ quan canhnông, thú y xuống giúp đỡ nông dân tổ chức sản xuất và cải tiến kỹ thuật Từ ngày
có viện trợ Mỹ, không rõ theo khoản mục nào, ở một số nơi chính quyền địaphương đã gọi nông dân lên đồn để nhận những tặng phẩm của viện trợ Mỹ
Ở những vùng này, không những sản xuất được thuận lợi, mà tiêu thụcũng có nhiều thuận lợi hơn trước Lúc bầy giờ, đô thị là nơi tập trung quân đội vàthị dân, sự tiếp tế nông phẩm lại bị thu hẹp lại Thay vì cả nước cung cấp nôngphẩm cho các thành phố thì từ nay chỉ còn lại một vành đai nông nghiệp nhỏ hẹp
Ở Bắc Bộ, ngay cả gạo cũng không cung cấp đủ cho dân cư đô thị Pháp buộc phảicho chuyển gạo từ miền nam ra Hải Phòng phân phối về các tỉnh Gạo Sài Gòn cònđược đem bán ở một số vùng thôn quê miền Bắc Sở dĩ miền Bắc không đủ gạo ănvì: chuyển sang sản xuất một số nông sản khác cung cấp cho thành phố: trồng rau,hoa quả, chăn nuôi… Vì sản xuất những mặt hàng này có lợi nhuận cao hơn trồnglúa
Nói đến nông nghiệp vùng Pháp chiếm trong thời kỳ này, cũng cầnxét đến những yếu tố ảnh hưởng quan trọng: đó là mối tương quan về giá Nôngsản tương đối khan hiếm, cầu lớn hơn cung Thêm vào đó do viện trợ Mỹ và nhu