Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa)
TẠI KHU VỰC TÂY BẮC BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CÂY HOÀNG ĐẰNG (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa)
TẠI KHU VỰC TÂY BẮC BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Lớp : K45 – QLTNR – N02 Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Đặng Kim Tuyến
Thái Nguyên năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng năm 2017
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, họ và tên)
XÁC NHẬN CỦA GVHD
TS Đặng Kim Tuyến
Người viết cam đoan
Nông Thị Lưu Chuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn TS Đặng Kim Tuyến tôi đã thực hiện
đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa) tại khu vực Tây Bắc Bộ”
Học đi đôi với hành, lý thuyết đi đôi với thực tiễn, cho nên việc thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã được học, đồng thời vận dụng lý thuyết vào thực hành từng bước nâng cao trình độ chuyên môn cũng như phương pháp làm việc sau này
Để thực hiện và hoàn thành đề tài này, trong thời gian thực tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa đặc là biệt sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của cô giáo TS Đặng Kim Tuyến - Khoa Lâm nghiệp Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã chỉ dậy và hướng dẫn tôi từng bước trong suốt quá trình bắt đầu thực hiện cho đến khi hoàn thiện đề tài
Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo thực tập Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn chỉnh hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Năm 2017
Sinh viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm phân loại và bảo tồn của hai loài cây Hoàng đằng 11
Bảng 3.1: Điều tra phẫu diện đất 20
Bảng 3.2: Các tiêu trí đánh giá mẫu đất 21
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hàm lượng Palmatin 21
Bảng 4.1: Tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Hoàng đằng 23
Bảng 4.2: Tri thức bản địa về sử dụng và gây trồng loài Hoàng đằng 25
Bảng 4.3: Kích thước thân, lá cây Hoàng đằng trong khu vực nghiên cứu 29
Bảng 4.4: Kích thước trung bình quả Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 31
Bảng 4.5: Trọng lượng hạt Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 4.6: Tổng hợp độ cao và hàm lượng Palmatin theo các tỉnh tại khu vực nghiên cứu 33
Bảng 4.7: Tổng hợp nơi có hàm lượng Palmatin cao nhất 35
Bảng 4.8: Phẫu diện đất theo từng tỉnh 37
Bảng 4.9: Kết quả phân tích đất khu vực có cây Hoàng đằng 39
Bảng 4.10: Tổng hợp độ cao và hàm lượng Palmatin tại khu vực Bắc Bộ 42
Bảng 4.11: Tổng hợp số liệu phân tích hàm lượng Palmatin và hoá tính đất khu vực Bắc Bộ 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 4.1 Hình ảnh thân, rễ cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 30
Hình 4.2: Hình ảnh lá của cây Hoàng đằng 30
Hình 4.3: Hình ảnh quả Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 31
Hình 4.4: Hình ảnh hạt cây Hoàng đằng 32
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 5
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
3.2 Nội dung nghiên cứu 13
3.2.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương và tình hình khai thác sử dụng cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 13
3.2.2 Đặc điểm hình thái cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 13
3.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoằng đằng tại khu vực nghiên cứu 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu 13
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại học 14
3.3.3 Điều tra sơ thám 14
3.3.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường 15
3.3.5 Phương pháp nội nghiệp 22
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 23
Trang 94.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Hoàng đằng 23
4.1.1 Sự hiểu biết của người dân 23
4.1.2 Khai thác, sử dụng, gây trồng cây Hoàng đằng 25
4.2 Đặc điểm hình thái cây hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 28
4.2.1 Đặc điểm nổi bật thái thân, rễ cây hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu.28 4.2.2 Đặc điểm nổi bật hình thái của lá Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 30 4.2.3 Đặc điểm nổi bật hình thái của quả, hạt 31
4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 32
4.3.1 Ảnh hưởng của độ cao đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 32
4.3.2 Ảnh hưởng của đất đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong của Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu 36
4.4 Thuận lợi khó khăn, và đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển loài Hoàng đằng tại khu vực Tây Bắc Bộ 45
4.4.1 Thuận lợi 45
4.4.2 Khó khăn 46
4.4.3 Đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây Hoàng đằng tại khu vực Tây Bắc Bộ 46
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hoàng đằng là một cây thuốc quý hiếm, mọc hoang chủ yếu ở các nước vùng nhiệt đới, ở nước ta cây mọc phổ biến ở nước ta Ngoài ra còn thấy mọc nhiều ở Trung và Hạ Lào, Campuchia Hoàng đằng thu hái hầu như quanh năm, thu hoạch
về thái mỏng, phơi hay sấy khô hoặc không chế biến gì khác Người ta đã tìm thấy trong rễ và thân Hoàng đằng rất giàu Palmatin Palmatin là hoạt chất của nhiều loài
cây như có: Mật gấu (Vernonia amygdalyna), Hoàng liên gai (Berberis julianae), Hoàng liên ô-rô (Mahonia nepalensis), nhiều loài cây thuộc chi Hoàng liên (Coptis)
mà đại diện điển hình là loài Hoàng liên Chân gà (Coptis quinquesecta), Hoàng bá (Phellodendron amurense) Trong thân và rễ cây Hoàng đằng hàm lượng Palmatin
rất cao, ở nước ta đây là nguồn nguyên liệu rất quý để chiết xuất Palmatin
Trong nhân gian, người ta dùng Hoàng đằng chữa lỵ, đau mắt, viêm ruột Trong y học dùng Palmatin làm thuốc chữa lỵ, đau mắt, viêm ruột
Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn đường ruột Thường dùng chữa các loại sưng viêm, chữa đau mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột ỉa chảy, viêm tai,
lở ngứa ngoài da và cũng dùng làm thuốc bổ đắng Ngày dùng 6 - 12g sắc uống và nấu nước rửa ngoài Còn dùng dưới dạng thuốc bột, thuốc viên hay thuốc nhỏ mắt
Vị thuốc lấy thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour hay Fibraurea recisa Pierre) Cây mọc hoang ở các vùng rừng núi nước
ta Có chứa Alkaloid (3%), chủ yếu là Palmatin làm giảm viêm, chữa viêm ruột, viêm bàng quang, viêm gan, đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ, hồi hộp, mất ngủ Làm nguyên liệu chế Palmatin Theo (Cây Hoàng đằng-Tuệ Tĩnh) [19]
Có công dụng làm thuốc trị bệnh nên Hoàng đằng đã bị khác thác từ nhiều năm nay, vì khai thác quá mức, nên số lượng còn lại trong tụ nhiên không nhiều Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật (1996) [2] đã mô tả tình trạng cây Hoàng đằng:
Trang 11Sắp nguy cấp tại Việt Nam Khu phấn bố đang bị thu hẹp do khai thác liên tục và do nạn phá rừng gây nên Sách đỏ Việt Nam (1996), xếp ở mức độ đe dọa: Bậc VU
Trước đây Hoàng đằng mọc hoang khắp các vùng núi nước ta từ Lạng Sơn cho tới Nam Bộ, phân bố phong phú hơn các vùng núi từ Nghệ An trở vào Có nhiều ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Sông Bé, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An và Thanh Hóa
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc cung cấp những thông số
về Palmatin nói chung và Palmatin có trong cây Hoàng đằng nói riêng, ở các khu
vực khác nhau Do vậy tôi đã thực hiện khoá luận: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa tại khu vực Tây Bắc Bộ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Xác định được ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng tại
khu vực nghiên cứu thuộc các tỉnh phía Tây Bắc Bộ Việt Nam (Sơn La, Yên Bái, Điện Biên, Lào Cai và Lai Châu)
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học
- Giúp sinh viên củng cố lại và bổ sung kiến thức đã học để nâng cao chất
lượng và hiệu quả học tập Qua đó giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học
- Cung cấp những kinh nghiệm thực tế cho sinh viên trong quá trình tiếp xúc
và làm việc với người dân
- Giúp tôi hiểu thêm về công dụng của hoạt chất Palmatin của cây Hoàng đằng
- Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và cây Hoàng đằng nói riêng
Trang 12- Biết đƣợc tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Việc nghiên cứu và đánh giá giúp có việc xác định hàm lƣợng hoạt chất Palmatin của loài Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu, nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý, hiếm
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour và Fibraurea recisa Pierre) thuộc
họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales) Thành phần hóa học:
Hoạt chất trong Hoàng đằng là Alkaloid mà chất chính là Palmatin 1 - 3,5 % và một
ít jatrorrhizin, columbamin và berberin theo Gao-Xiong Rao et al (2009) [17]
Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) năm (2003), Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Á Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon Phillipines, loài
Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa phân bố tại các tỉnh
Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn Độ, loài Fibraurea
tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia
Theo Lecomte H (1950) [18], mô tả cây Hoàng đằng trong tập Quần thể
thực vật Đàng Trong (Flora Cochinchinensis) Hoàng đằng là cây dây leo bằng
thân quấn, dài tới 10 m Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màu vàng Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 9 – 18
cm, rộng 3 -7 cm, gốc bằng hoặc hơi tròn, đầu có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, 3 gân chính rõ; cuống lá dài 5 – 14 cm, phình ở hai đầu Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa chùm mọc ra ở phần thân già đã rụng lá Hoa nhỏ màu vàng chanh, có 6 lá đài, cánh hoa 3 rộng và mỏng hơn lá đài Hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị dài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu Hạt 1 hình thuôn hơi dẹt Hoàng đằng ra hoa vào tháng 4 –5, quả chín vào tháng 11 – 12 Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác
Tính chất chung của Alkaloid
Theo Gao-Xiong Rao et al (2009) [17]
Trang 14- Mùi vị: Đa số Alkaloid không có mùi có vị đắng và có một số ít có vị cay
như capsa, icin, piperidin, Palmatin…
- Màu sắc: Hầu hết các Alkaloid đều không màu, trừ một số ít Alkaloid có màu vàng như Berberin, Palmatin Cần lợi dụng tính chất này trong chiết xuất và phân lập Khi nghiên cứu về các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ cho thấy các Alkaloid mới từ cây Hoàng đằng
đã được xác định là 1,2-methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)- aporphine Thân của cây Hoàng đằng là một loại thảo dược chống nấm có hiệu quả
Hoàng đằng có tên trong phần những cây thuốc và vị thuốc chữa lỵ trực trùng Trong Hoàng đằng chủ yếu là Palmatin với tỷ lệ 1 - 3,5 % Ngoài ra, còn có một ít jatrorrhizin, columbamin
2.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Nguyễn Tiến Bân và Cs (2003) [1] Trong “Danh lục các loài thực vật
Việt Nam” đã mô tả, có hai loài Hoàng đằng ở Việt Nam:
1 Fibraurea recisa Pierre (1885), Tên gọi Nam hoàng, Hoàng đằng, Hoàng
liên nam, Vàng giang, Dây nam hoàng, Khau khem
Phân bố: Thừa Thiên-Huế (Hồi Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu, Đà Nẵng),
Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kon Tum (Đắc Giây; Đắc Tin; Sa Thầy; Mo Ray), Lâm Đồng (Lạc Dương; Đan Kia; Bảo Lộc; Pnom Sapoum) Còn có ở Lào, Campuchia
Dạng sống và sinh thái: Dây leo, thân to dài tới 20 - 25 m, cây ưa sáng và
ẩm, nhưng cũng chịu được bóng Thường mọc rải rác trong rừng thứ sinh, ven nương rẫy, ở độ cao tới 1000 m Ra hoa tháng 1 - 3, có quả tháng 4-6
Công dụng: Gỗ làm thuốc nhuộm vàng Rễ làm thuốc bổ đắng, thanh nhiệt,
giải độc, lợi tiểu Còn dùng chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, viêm ruột, viêm dạ dày, kiết
lỵ, viêm bàng quang, đái đường, viêm ruột cấp tính, viêm kết mạc Thân và lá sắc uống chữa đau lưng Cây có chứa Palmatin
2 Fibraurea tinctoria Lour (1790), - F.chloroleuca Mies (1871), - Cocculus
fibraurea DC (1817), Hoàng đằng, Nam hoàng liên, Nam hoàng nhuộm
Trang 15Phân bố: Lâm Đồng (Di Linh), Đồng Nai (Biên Hòa) Còn có ở Trung Quốc,
Malaixia, Inđônêxia
Dạng sống và sinh thái: Dây leo, thân to, dài 8 - 10 m Mọc rải rác trong
rừng thưa, nơi sáng Ra hoa tháng 3 -8
Công dụng: Thân và rễ phơi hay sấy khô, tán bột, làm thành viên chữa lỵ,
viêm ruột ỉa chảy, sốt rét, viêm tai, lở ngứa ngoài da Rễ bổ, lợi tiểu Gỗ làm thuốc nhuộn vàng Trong cây có chứa Palmatin
“Alkaloid là những hợp chất hữu cơ chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có
phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi trong động vật, thường có dược tính mạnh và có những phản ứng hoá học với một số thuốc thử chung của alkaloid” Dược điển Việt Nam (2002) [3]
Hàm lượng alkaloid trong cây thường rất thấp, từ một số trường hợp như cây canhkina hàm lượng Alkaloid đạt 6 – 10 %, trong nhựa thuốc phiện có 20 – 30 % Bình thường một dược liệu chứa 1 - 3 % Alkaloid được coi là hàm lượng khá cao
Trong cây, Alkaloid ít khi có trạng thái tự do (Alkaloid bazơ) mà thường tồn tại ở dạng muối với axit hữu cơ như malat, oxalat, acetat… đôi khi có ở dạng muối của axit vô cơ, chúng tan trong dịch tế bào Ở một số cây Alkaloid kết hợp với tanin với acid hay với đường ở trong cây Điều đáng chú ý là hàm lượng alkaloid trong cây phụ thuộc nhiều vào yếu tố khí hậu, ánh sáng, chất đất, phân bón, giống cây và thời kỳ sinh trưởng [3]
Trong tự nhiên Alkaloid phân bố ở cả trong thực vật và động vật nhưng chủ yếu là ở thực vật
Trong cây một lá mầm đã tìm thấy khoảng 500 Alkaloit, trong khi đó ở cây hai lá mầm đã tìm thấy hơn 3600 chất Ở thực vật hạt kín – Angiospermae sự phân
bố Alkaloid có tính nhảy vọt theo Nguyễn Văn Đàn - Nguyễn Viết Trực (1985) [6]
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa alkaloid được sử dụng rộng rãi Theo cuốn "Dược điển Việt Nam" nhà xuất bản Y dược (2002) [3] thì dược
Trang 16phẩm từ cây Hoàng đằng có công dụng chữa đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ và ngộ độc thức ăn
Đỗ Tất Lợi (1999) [10] Trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi đã nêu Hoàng đằng dùng để thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu tiện, chữa đinh nhọt, nóng tím, viêm ruột cấp tính, đau họng, viêm kết mạc, đau mắt
và bệnh hoàng đảm, chữa lỵ, thân và lá sắc uống chữa đau lưng, đau tai Hoàng đằng còn làm nguồn nguyên liệu chiết xuất Palmatin
Các nghiên cứu về cây hoàng đằng ở Việt Nam
Phạm Hữu Hạnh, Hà Văn Năm (2014) [7].“Nghiên cứu nhân giống cây Hoàng đằng tại Quảng Ninh” Với mục tiêu bảo tồn và phát triển cây Hoàng
đằng (Fibraurea tinctoria) trên đất Quảng Ninh, bảo tồn nguồn gen, hướng tới
công tác cải thiện giống cây Hoàng đằng và bổ sung loài cây trồng quý hiếm vào
cơ cấu cây lâm nghiệp của tỉnh
Trần Đức Long (2004) [9] Đã cho thấy kích thước cây càng lớn thì hàm lượng
Alkaloid trong nguyên liệu càng cao Ở các bộ phận khác nhau trong cây hàm lượng Alkaloid là khác nhau Hàm lượng cao nhất ở rễ gìa và gốc sau đó giảm dần về hai phía rễ và thân Ở phần ngọn và lá không phát hiện thấy Alkaloid Do đó khi thu hái
ta nên lấy bộ phận già của cây để có chất lượng nguyên liệu tốt
Nguyễn Thị Lê (2012) [8] “Nghiên cứu đa dạng sinh học của cây Hoàng
đằng tại miền Bắc” Tác giả đã thu thập mẫu cây Hoàng đằng ở 4 khu vực khác
nhau (3 mẫu tại Ba Vì Hà Nội; 3 mẫu tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên; 4 mẫu
ở Thị xã Cao Bằng và Uông Bí Quảng Ninh) Kết quả thu được sau khi phân tích DNA và hàm lượng Palmatin: 2 mẫu Hoàng đằng thu ở 2 huyện ở Thái Nguyên tuy
có điều kiện sống khác hẳn nhau (núi đất – mẫu 2 – huyện Phú Lương và núi đá vôi – mẫu 3 – huyện Đồng Hỷ), đặc điểm hình thái khác nhau, thành phần và hàm lượng các chất trong dịch chiết có sự khác nhau (mẫu 2 phát hiện 6 thành phần, tỉ lệ Palmatin chiếm 84,05 % trong thành phần dịch chiết, hàm lượng Palmatin đạt 1,11; mẫu 3 phát hiện 8 thành phần, tỉ lệ Palmatin chiếm 78,05 % thành phần dịch chiết, hàm lượng Palmatin đạt 0,73 %) nhưng DNA vẫn giống nhau ở mức cao nhất so với
Trang 17các mẫu khác (0,92) Như vậy, dù điều kiện sống có thay đổi nhưng DNA vẫn ít chịu ảnh hưởng Điều đó góp phần khẳng định thêm việc sử dụng phương pháp phân loại bằng sinh học phân tử đã và đang trở thành khoa học mũi nhọn trong phân
loại học, bổ sung cho phương pháp phân loại học truyền thống
Hàm lượng Palmatin trong các mẫu Hoàng đằng: Mẫu Hoàng đằng ở Cao Bằng có hàm lượng cao nhất là 3,27 % Mẫu Hoàng đằng ở Thái Nguyên (huyện Đồng Hỷ) và ở Hà Nội (Ba Vì) có hàm lượng thấp nhất 0,73 % Mẫu ở Quảng Ninh (huyện Uông Bí) 2,18 % Mẫu thu ở Thái Nguyên (huyện Phú Lương) 1,11 %
Mặc dù nguồn gen Hoàng đằng là loài quý hiếm, được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (1996), Nghị định Số 32/2006/NĐ-CP Nhưng hiện nay, chưa có tài liệu tổng quan nào đánh giá sự phân bố, khả năng khai thác và phát triển nguồn gen Hoàng đằng ở vùng sinh thái phía Tây Bắc Việt Nam nói riêng và các vùng sinh thái Việt Nam Chưa có sự đánh giá về đa dạng nguồn gen loài cây thuốc quý có nguy cơ tuyệt chủng này để phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và phát triển
Do vậy, việc điều tra đánh giá về phân bố, đặc điểm sinh học, chất lượng nguồn gen cây Hoàng đằng trong phạm vi cả nước là hết sức cần thiết Qua đó sẽ xác định được các vùng sinh thái có tiềm năng phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng sản phẩm cao phục vụ cho nhu cầu làm thuốc Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm tài nguyên đất rừng và quan trọng hơn là sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao và đồng đều về hàm lượng hoạt chất Palmatin
Phân vùng sinh thái của đề tài nghiên cứu:
- Phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái cũng là một dạng phân vùng lãnh thổ nhưng nội dung phân vùng lại là các hệ sinh thái khác nhau
- Phương pháp luận trong phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân định địa lý
tự nhiên, không gian môi trường, xác định các quy luật sinh thái đặc thù của từng vùng, tiểu vùng Có rất nhiều phân vùng khác nhau Ví dụ: Địa lý tự nhiên, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi
Trang 18- Những công trình phân vùng sinh thái ở Việt Nam
1) Phân vùng sinh thái đất trồng ngô Trần An Phong và nnk (2000) Lãnh thổ đất liền Việt Nam được chia thành 3 miềm 9 vùng
2) Phân vùng sinh thái thuỷ lợi Miền Trung Viện thủy lợi miền Nam (2008),
đã phân chia miền Trung thành 4 vùng sinh thái là: Cát ven biển, đồng bằng, gò đồi trung du và núi cao
3) Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng (Cao Liêm, 1990) Trong 3 loại đất là: Bạc màu, chua mặn, úng trũng, đã phân chia 8 vùng, 13 tiểu vùng, thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000
4) Phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản 8 tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐHQG TP HCM) trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 đến 1/100.000
5) Được sử dụng hiệu quả và rộng rãi nhất là công trình “Phân vùng sinh thái nông nghiêp” Sự phân chia lãnh thổ thành các vùng nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở các điều kiện sinh thái như đất, nước, khí hậu khác nhau Phân vùng sinh thái nông nghiệp tạo cơ sở cho viêc sử dụng tài nguyên nông nghiệp có hiệu quả tối
ưu, phát huy đầy đủ tiềm năng của từng vùng nhằm lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất nông - lâm nghiệp [12]
Việt Nam đã hoàn thành việc phân vùng sinh thái nông nghiệp, toàn lãnh thổ được chia thành 7 vùng là: Miền núi và trung du Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Bắc Trung Bô, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long
Phân vùng sinh thái nông nghiệp gắn kết chặt chẽ với phân vùng sinh thái lâm nghiệp, và đôi khi đã được sử dụng cho quy hoạch phát triển lâm nghiệp Tám vùng sinh thái lâm nghiệp chỉ khác 7 vùng sinh thái nông nghiệp là có thêm vùng Tây Bắc Bộ (gồm các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu và Hoà Bình)
Tây Bắc
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc
Trang 19Bộ và là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng)
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi
là địa máng sông Đà) Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa
Lộ, Mường Thanh
Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của Macma Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 m
Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng Đông Bắc - Tây Nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông Bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận Đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía Nam Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2 - 3 OC Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo
Trang 20điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc Nhìn chung, trong điều kiện của Trung
du và miền núi Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét Hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối
Mặc dù không rộng như các phân vùng sinh thái khác, phân vùng sinh thái Tây Bắc Bộ bao gồm các khu rừng trong vùng phân theo các độ cao khác nhau tạo nên hệ sinh thái đặc trưng Mức độ đa dạng sinh học cao, bởi vì diện tích rừng phân bố và tập trung trên nhiều độ cao khác nhau, mà cả nước không có phân vùng nào có Hiện có rất nhiều loài động vật quý hiếm và các loài thực vật đặc hữu quý hiếm
Hoàng đằng là một loài thực vật quý hiếm, nguồn nguyên liệu tự nhiên quý cho dược liệu còn có phân bố rải rác trong khu vực này
Bảng 2.1 Đặc điểm phân loại và bảo tồn của hai loài cây Hoàng đằng
Tên Khoa học tinctoria Lour 1790 - Fibraurea recisa Pierre, 1885 và Fibraurea
Tên Việt Nam - Nam hoàng - Hoàng đằng
Tên khác
- Hoàng đằng, Hoàng liên nam, Vàng giang, Dây nam hoàng
- Nam hoàng liên, Nam hoàng nhuộm
Tên địa phương - Mằng đằng (Đức Ninh) - Khau Khem (Nhân Mục)
Tên đồng nghĩa
- Không có
- F.chloroleuca Mies (1871) - Cocculus fibraurea
DC (1817) Chi: Hoàng đằng, Vàng giang Fibraurea
Lớp: Ngọc lan (Hai lá mầm) Magnoliopsida (Dicotyledones)
Ngành Ngọc lan (Hạt Kín) Magnoliophyta (Angiospermae)
Sách đỏ Việt Nam 1996 - Loài Fibraurea tinctoria phân hạng: Sẽ nguy cấp
Trang 21Không có tên trong sách đỏ Việt
Nhóm cây Cây dây leo thân gỗ Cả 2 loài cây này đều chứa hàm lƣợng Palmatin trong rễ và thân
(Nguồn: IUCN, Sách đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006 NĐ-CP)
Qua bảng trên ta thấy cả hai loài Hoàng đằng Fibraurea recisa Pierre và
Fibraurea tinctoria Lour cùng chi Hoàng đằng, Vàng giang – Fibraurea Thuộc
nhóm cây dây leo thân gỗ Trong rễ và thân đều chứa hoạt chất Palmatin, đƣợc sử dụng trong công nghiệp chế biến dƣợc liệu Trong 2 loài trên chỉ có loài cây Hoàng
đằng - Fibraurea tinctoria có trong sách đỏ Việt Nam (1996) đƣợc xếp ở mức độ
phân hạng sẽ nguy cấp và nhóm IIA trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 nhƣng không có trong sách đỏ Việt Nam (2007) và sách đỏ thế giới (2001)
Còn loài Hoàng đằng Fibraurea recisa Pierre (1885), không đƣợc xếp vào
sách đỏ và cũng không đƣợc xếp vào Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006
Trang 22Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng
- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất Panmetin ở các tỉnh Tây Bắc Bộ Việt Nam
- Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
+ Đề tài được tiến hành từ tháng 7/2016 đến tháng 12/2016
+ Địa điểm nghiên cứu: Tại khu vực vùng Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái)
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương và tình hình khai thác sử dụng cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu
3.2.2 Đặc điểm hình thái cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu
3.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoằng đằng tại khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của độ cao đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoằng đằng tại khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của đất đến hàm lượng hoạt chất Palmatin trong cây Hoằng đằng tại khu vực nghiên cứu
- So sánh hàm lượng Palmatin với 2 phân vùng sinh thái Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
3.2.4 Thuận lợi, khó khăn trong bảo tồn và phát triển cây Hoàng đằng tại khu vực Tây Bắc Bộ và đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây Hoàng đằng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
Trang 23- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, hình thái, tái sinh, giá trị sử dụng, của loài Hoàng đằng được thực hiện ở trong và ngoài nước
- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các đặc điểm phân vùng sinh thái tại khu vực nghiên cứu (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái)
- Thừa kế một số tài liệu trong khu vực nghiên cứu của các bạn sinh viên làm cùng nhóm nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái loài cây Hoàng đằng
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại học
- Để xác định, làm quen và nhận rõ loài khi triển khai nghiên cứu thực địa thì việc nghiên cứu phân loại loài rất quan trọng:
+ Thực hiện tốt giúp nhà nghiên cứu không nhầm lẫn đối tượng nghiên cứu + Chỉ rõ vị trí phân loại của loài trong các hệ thống phân loại
+ Xác định sơ bộ về loài đang nghiên cứu để tránh mất thời gian khi nhận biết loài bên ngoài thực địa
- Để thực hiện được nội dung này, nội dung đã tiến hành nghiên cứu các tài
liệu liên quan về hệ thống của chi và họ Tiết dê (Menispermaceae) trên thế giới và
trong nước tập chung vào đặc điểm thân, lá và rễ để dễ dàng xác định loài hơn và được thầy giáo La Quang Độ giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên hướng dẫn cách nhận biết cây Hoàng đằng ngoài thực địa (KBT Thần Sa Phượng Hoàng) để không bị nhầm lẫn với các cây khác Các đặc điểm hình thái của loài cũng được ghi chép để phục vụ nghiên cứu hình thái loài
3.3.3 Điều tra sơ thám
Sau khi đã có những thông tin sơ bộ về hình thái và phân bố của loài, đề tài tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra Điều tra sơ thám nhằm:
Nhận diện chính xác loài và xác định sơ bộ khu vực nghiên cứu của loài Hoàng đằng
Xác định sơ bộ tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các trạng thái rừng đại diện, nơi có loài Hoàng đằng phân bố
Trang 243.3.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường
a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [11] Cụ thể như sau:
- Quan sát mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: Thân cây,
vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt của cây Hoàng đằng, đối với thân cây ta dùng thước dây để xác định chu vi tại vị trí D1.3, đo lá và quả bằng cách chọn những lá và quả sinh trưởng bình thường không bị sâu bệnh hay biến dạng dùng thước kẻ hoặc thước dây đo chiều dài và rộng rồi ghi lại các thông số đã đo vào bảng, ngoài ra chúng ta có thể dùng thước kẹp để đo kích thước quả rất tiện lợi và có độ chính xác cao
- Lấy mẫu tiêu bản không những của loài nghiên cứu mà lấy của các loài khác trong quần xã phục vụ cho việc định danh loài Các mẫu vật thu được cần so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm xác định tính chính xác của loài Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [11]
- Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Hoàng đằng: Thu hái 100 mẫu
lá, quả ở 3 vị trí trên tán cây (Dưới tán, giữa tán và đỉnh tán)
- Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo độ cao, GPS,…
Phương pháp thu mẫu
Tiến hành thu mẫu tại các vùng Tây Bắc: Huyện Mường La tỉnh Sơn La; huyện Mường Chà, Nậm Pồ, Tủa Chùa tỉnh Điện Biên; huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu;
huyện Bát Xát, Sa Pa tỉnh Lào Cai; huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái
Mẫu được thu là các cây Hoàng đằng mọc hoang dại tại các địa điểm trên, thu lấy các bộ phận chính của cây chủ yếu là Rễ, thân sát gốc
Đối với mẫu để định loại ta thu lấy phần ngọn (thân, lá, hoa, quả) đem ép khô thành tiêu bản Chụp ảnh mẫu khi còn tươi
Trang 25Đối với mẫu làm nguyên liệu dùng để nghiên cứu hoạt chất ta thu lấy các bộ phận cần thiết (rễ, thân sát gốc) đem rửa sạch đất bám vào thân rễ sau đó đem chia làm hai phần: Một phần cạo bỏ lớp bần, một phần để nguyên Đem các phần đó tán nhỏ và bảo quản riêng trong túi polietylen [6]
b) Phương pháp phỏng vấn người dân
Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết và sử dụng các loài Hoàng đằng trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng phỏng vấn như sau: Những người được phỏng vấn gồm những người đã từng khai thác và sử dụng các loài cây gỗ, cây thuốc trong khu vực để sử dụng cho sinh hoạt, phục vụ sản xuất cũng như để trao đổi và mua bán, những người đã từng đi khác thác cây Hoàng đằng bán cho thương lái Những người am hiểu các loài cây tại khu vực như các cụ già, các cán bộ tuần rừng, cán bộ Kiểm lâm trong khu bảo tồn … điều tra trong dân theo mẫu biểu thống nhất, khi phỏng vấn cho người dân xem cụ thể mẫu loài cây để thu thập các thông tin về giá trị sử dụng, phân bố, … theo phiếu phỏng vấn (phiếu phỏng vấn tại phụ lục 1) Số lượng điều tra 150 phiếu 30 phiếu/ 1 khu vực nghiên cứu
Điều tra cây cá thể
Điều tra trong dân nhờ lãnh đạo xã giới thiệu cán bộ kiểm lâm, cán bộ lâm nghiệp dẫn đi tìm các cây cá thể còn trong vườn nhà của dân Điều tra trong dân theo mẫu biểu thống nhất, khi phỏng vấn cho người dân xem cụ thể mẫu loài cây, hình ảnh để thu thập các thông tin của các loài về giá trị sử dụng, phân bố
Các cây điều tra được điền vào mẫu bảng 01 phụ lục 02
Dụng cụ thu mẫu: Chúng tôi sử dụng hộp, túi đựng mẫu, giấy báo, dây buộc,
nhãn, bút chì 2B, sổ ghi chép, kéo cắt cành
Phương pháp thu mẫu: Chúng tôi cắt mẫu bằng kéo cắt cành và đựng mẫu
bằng túi nilon, có sổ ghi chép riêng, nhãn hay băng dính giấy có thể viết được
- Nguyên tắc thu mẫu:
+ Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa đối với cây lớn hay cả cây đối với cây thảo và có quả càng tốt
Trang 26+ Mỗi cây nên thu từ 3 – 5 mẫu ( mẫu lá để xác định loài, mẫu thân, rễ để phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin) còn mẫu cây thân thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài vừa để trao đổi
+ Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thực địa như: đặc điểm
vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy mẫu như: màu sắc, mùi vị…
+ Thu và ghi chép xong cho vào túi nilon mang về nhà mới làm mẫu Việc cho mẫu vào túi nilon có lợi là gọn nhẹ, không bị va quệt khi băng qua rừng, mẫu giữ tươi lâu kể cả khi trời nắng to nhưng cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ nhàng, nếu
có hoa thì dùng các lá của mẫu để bọc lấy trước khi cho vào túi Có thể dùng túi nhỏ và mỏng đựng từng loài và buộc chặt lại rồi tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to hay bao tải
c) Điều tra theo tuyến ngẫu nhiên
Phương pháp được thực hiện là những phương pháp thông dụng được sử dụng trong điều tra lâm học và nghiên cứu thực vật học: Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [14] Tại mỗi khu vực, nắm bắt thông tin chung thông qua tài liệu của VQG và thông qua phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương, … Kế thừa tài liệu đã có kết hợp với điều tra bổ sung theo tuyến ngoài thực địa nhằm xác định vùng phân bố của loài Hoàng đằng Tại Khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra đi qua khu vực có loài Hoàng đằng phân bố và đi qua các trạng thái rừng khác nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra phát hiện bằng cách quan sát Nhận dạng qua đặc điểm hình thái trên những tuyến điều tra
- Dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ quản lý khu vực tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan và các cán bộ, người dân quen biết thông thạo địa hình Lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp
- Chọn và lập tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu, tiến hành lập tuyến điều tra trên các tỉnh (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên,Yên Bái) Mỗi tuyến cách nhau 1 – 3 km
Trang 27Kết quả điều tra được trên tuyến ghi vào mẫu bảng 02 phụ lục 02
d) Điều tra trên các OTC điển hình
Điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình (những nơi có loài Hoàng đằng xuất hiện) để xác định về tính đa dạng của thực vật nhất là đối với điều tra mật độ loài, mức độ thường gặp, mà trong điều tra theo tuyến không thể hiện được các chỉ tiêu này
Qua sơ thám, điều tra trên các tuyến, chúng tôi đã lập được tổng tổng cộng
40 điểm đo, tại các điểm đo này lập các OTC mỗi ô có diện tích 2000 m2 với kích thước 50 m x 40 m Mỗi tuyến lập 1 OTC có cây Hoàng đằng
- Để tăng tính đại diện của ô mẫu điển hình phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Ô phải nằm gọn trong lâm phần hoặc lô rừng
- Ô phải nằm cách xa đường mòn lớn, đường cái, bìa rừng ít nhất là 10m
- Ô không được vượt qua khe hoặc vắt qua dông núi
- Ô phải đồng nhất về các yếu tố kết cấu địa hình, đất đai, đã nêu trên
- Ô không chứa đựng các khoảng trống lớn trong ô (mật độ cây phải rải đều trong toàn bộ diện tích ô)
- Phải thuận lợi cho các thao tác điều tra Tại các điểm đo nếu xuất hiện loài Hoàng đằng, tiến hành lập các OTC Trên các điểm đo, tiến hành điều tra toàn bộ diện tích 2000 m2, chỉ tiến hành đo đếm các thông tin như tầng cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi và thảm tươi khi trên diện tích OTC và diện tích xung quanh OTC có cây Hoàng đằng phân bố tự nhiên
Cách lập ô tiêu chuẩn (OTC)
Sử dụng cọc tiêu + thước dây: Để lập ô bằng phương pháp này trước tiên ta phải xác định được hướng của ô định lập sau đó dùng cọc tiêu xác định một điểm làm tâm của OTC
Số liệu thu thập được ở các ô tiêu chuẩn trên tuyến điều tra, trên các vị trí khác nhau được nghi chép theo các mẫu biểu lập sẵn Các chỉ tiêu cần xác định là: loài cây chiếm ưu thế tầng cây cao, tầng cây bụi và tình hình tái sinh của loài, dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: GPS, máy ảnh, thước kẹp, thước dây, thước đo cao, bảng biểu lập sẵn
Trang 28Tại các OTC có loài Hoàng đằng phân bố, tiến hành điều ta, mô tả các chỉ
tiêu cần phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của đề tài như độ dốc mặt đất, hướng
phơi, độ cao, xác định tên loài cây có trên OTC
Sau đó xách định tên loài và các chỉ tiêu đo đém của tầng cây gỗ:
- Đường kính thân cây (D1.3 cm) được đo bằng thước dây
- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m) được đo bằng
thước đo cao với độ chính xác đến dm Hvn của cây rừng được xách định từ gốc tới
đỉnh sinh trưởng của cây, Hdc được xác định từ gốc đến cành cây đầu tiên tham gia
vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (Dt, m) được đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán lá trên
mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây, Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
Điều tra tầng cây gỗ được ghi vào mẫu bảng 03 phụ lục 02
e) Phương pháp điều tra cây tái sinh
Tiến hành đo tái sinh cây Hoàng đằng tiến hành các bước, xác định:
- Đo đếm toàn bộ cây tái sinh loài hoàng đằng trên OTC
- Xác định chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt là cây thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không
sâu bệnh
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém,
sâu bệnh
+ Còn lại là cây có chất lượng trung bình
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Hạt hay chồi
+ Khi điều tra tái sinh trên OTC, chúng tôi đồng thời xách định các chỉ tiêu: + Độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất tại vi trí ODB
Điều tra cây tái sinh được ghi vào mẫu bảng 04 phụ lục 02
f) Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích đất, Palmatin
- Lấy mẫu và bảo quản đất
Trang 29Phương pháp lẫy mẫu tại hiện trường, các dụng cụ lưu giữ mẫu, bảo quản mẫu, vận chuyển mẫu, tiếp nhận mẫu phải tuân thủ theo đúng hướng dẫn trong các TCVN tương ứng
- Trong mỗi OTC xuất hiện loài Hoàng đằng, chúng tôi tiến hành đào phẫu diện đất, mỗi phẫu diện đất mô tả các chỉ tiêu chính sau:
+ Độ dày trung bình tầng đất + Màu sắc
+ Độ ẩm + Độ xốp
+ Tỷ lệ đá lộ đầu, đá lẫn + Thành phần cơ giới
Bảng 3.1: Điều tra phẫu diện đất
Thành phần cơ giới
Trang 30Bảng 3.2: Các tiêu trí đánh giá mẫu đất
g) Nghiên cứu đánh giá hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng
- Phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin ở rễ, thân cây Hoàng đằng
Dùng phương pháp HPLC và TLC-Scanner để phân tích định lượng hoạt chất Palmatin trong rễ, thân cây Hoàng đằng Lấy rễ, thân cây Hoàng đằng ở những cây ≥ 5 năm tuổi (Do ≥ 1cm (lấy ở 7 điểm/1 vùng sinh thái: 1 điểm tại Sơn La, 3 điểm ở Điện Biên, 1 điểm Lai Châu, 1 điểm ở Lào Cai, 1 điểm tại Yên Bái) để phân tích hàm lượng Palmatin
Để đánh giá hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng cao hay thấp giữa các vùng phân bố, chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn đánh giá của Dược điển Việt Nam (2002)
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hàm lượng Palmatin
5,1 - 5,5 chua ít
5,6 - 6,5 gần trung tính
Kiềm ít
7,6 - 8
Trang 31- Lựa chọn vùng sinh thái thích hợp cho cây Hoàng đằng sinh trưởng, phát triển và có hàm lượng hoạt chất Palmatin cao Với các vùng sinh thái khác Tôi tiến hành so sánh với 2 phân vùng sinh thái ở Miền Bắc Việt Nam là vùng sinh thái Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Trên cơ sở kết quả phân tích hàm lượng hoạt chất Palmatin ở rễ, thân cây Hoàng đằng trong vùng sinh thái và kết quả phân tích đất xác định được vùng sinh thái phù hợp nhất cho cây Hoàng đằng sinh trưởng, phát triển và đạt hàm lượng Palmatin cao
Hàm lượng hoạt chất Palmatin đươc phân tích tại: Viện các hợp chất thiên nhiên Quận Cầu Giấy Hà Nội
3.3.5 Phương pháp nội nghiệp
Toàn bộ số liệu thu thập xử lý bằng phần mền Excel 5.0, lọc, phân loại, nhóm kết quả
Trang 32Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Hoàng đằng
4.1.1 Sự hiểu biết của người dân
Bảng 4.1: Tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Hoàng đằng
để ý là rất khó tìm thấy
- Cây dây leo, thân lõi màu vàng, vị đắng,
vỏ mủn, có màu xám trắng
- thân già vỏ mủn xốp, vị đắng, lõi màu vàng
- Lá to, lá mặt trên xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn
- Lá già có thể lên tới 30
cm
- Lá to nhẵn,
lá non xanh
mạ, lá già xanh đậm
- Không để ý nên không biết hoa và quả của loài cây này
Điện Biên
(26/30)
- Cây mọc ở tất cả các vị trí như: chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi và khe suối, những nơi gần sông nhưng mọc nhiều nhất là chân đồi, khe suối và gần bờ sông rừng xen tre nứa hoặc rừng tái sinh sau nương rẫy đồi chè, rừng cọ
- Là cây thân gỗ dây leo, thân hình trụ, nứt dọc theo thân
- Thân cây già
vỏ ngoài xốp, nứt nẻ, gỗ bên trong có màu vàng vị rất đắng
- Thân cây non
vỏ nhẵn, màu lục
- Lá hình mác thuôn nhọn, chất da, nhẵn
- Lá non nhỏ
có màu xanh nhạt, là già to
có màu xanh đậm
- Ít khi thấy ra hoa, cây già mới có hoa, có khi vài năm mới ra hoa một lần
- Ra hoa nhưng đậu quả khá ít
- Quả non màu xanh khi chín có màu vàng
Sơn La
(22/30)
- Cây Hoàng đằng mọc ở tất cả các trạng thái rừng sau nương rẫy
- Cây phân bố ở núi đất mọc tự
- Hoàng đằng là cây dây leo bằng thân quấn
- Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ
và khi cắt ngang
- Lá rất to rộng gần bằng hai lòng bàn tay và dài
- Lá khi non
- Ít khi thấy ra hoa, ra quả Khi nào cây ra quả xong thì trên thân cây chỗ ra quả
Trang 33- Thân non nhẵn, khi bẻ ra
có nhựa trắng chảy ra
có màu xanh nhạt khi già
có màu xanh đậm
xong thì có những u lồi đây là dấu hiểu
để nhận biết cây đực, cái
- Quả non màu xanh khi chín có màu vàng ,to bằng ngón tay cái Quả có mùi thối, quả khi vò nát trong lớp vỏ quả có một chất rất dính
Lai Châu
(24/30)
Cây phân bố ở núi đất, những khu rừng tre – nứa, đồi chè, rừng cọ, rừng tái sinh
- Thân dài không xác định
- Khi nhỏ thì vỏ màu xanh mềm khi già vỏ xốp, sần sùi
- Rễ và thân già màu vàng
- Lá cũng được sử dụng làm thuốc
- Lá hình mác thuôn nhọn, chất da, nhẵn
- Lá non nhỏ
có màu xanh nhạt, là già to
có màu xanh đậm
- Ít khi thấy ra hoa, cây già mới có hoa, có khi vài năm mới ra hoa một lần
- Ra hoa nhưng đậu quả khá ít
- Quả non màu xanh khi chín có màu
- Thân gỗ dây leo, thân hình trụ, nứt dọc theo thân
- Thân cây già
vỏ ngoài xốp, nứt nẻ, gỗ bên trong có màu vàng vị rất đắng
- Lá hình mác thuôn nhọn
- Lá khi non
có màu xanh nhạt khi già
có màu xanh đậm
- Ít khi thấy ra hoa, ra quả, có khi vài năm mới ra hoa một lần
- Quả non màu xanh khi chín có màu vàng
(Nguồn: Tổng hợp phỏng vấn người dân)
Qua phỏng vấn người dân khu vực Tây Bắc cho thấy:
Trang 34Hoàng đằng thường phân bố chân đồi, khe suối và gần bờ sông rừng xen tre nứa hoặc rừng tái sinh sau nương rẫyđồi chè
- Phân dạng thân: Là loài dây leo thân cứng mọc leo, hình trụ, thường có màu xám, có nhiều vân dọc, có sẹo ở cuống lá Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ phần gỗ có màu vàng Mặt cắt ngang có màu vàng phần vỏ hẹp, phần gỗ có những tia ruột xếp thành hình nan hoa bánh xe, khó bẻ gãy và có vị rất đắng
- Phân dạng lá: Lá mọc so le, cứng, nhẵn, phiến lá hình bầu dục, đầu nhọn, có
ba gân chính rõ Cuống lá dài, phình lên ở hai đầu nối với thân và lá Lá khi non có màu xanh nhạt khi già có màu xanh đậm
- Phân dạng quả: Quả to bằng ngón tay cái, cùi nhớt và có mùi hôi thối Non
có màu xanh, già chín có màu vàng, vỏ quả gần rụng có màu xám đen Rất ít khi ra quả Qủa mọc trên thân khi đã có quả chỗ ra hoa quả trên thân thường có u lồi
4.1.2 Khai thác, sử dụng, gây trồng cây Hoàng đằng
Bảng 4.2: Tri thức bản địa về sử dụng và gây trồng loài Hoàng đằng
để bán
- Hiện nay do
số lượng không còn nhiều cho nên người dân
đã hạn chế khai thác và gần như không còn xuất hiện trên thị
5/30 Cây Hoàng đằng được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: kiết
lỵ, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sát trùng, tiêu viêm, riêng một số Thầy lang còn dùng
để trị bệnh
0/30
- Mặc dù là cây
có giá trị kinh tế nhưng người dân
ở đây không có
hộ nào gây trồng
- Không có ai biết về gây trồng bằng hạt và cũng không có cơ sở sản xuất giống
- Không biết kỹ
- Trước năm
2009, thì vẫn còn những cây
to bằng cổ chân và có cả quả (người dân nói)
- Trước đây khoảng 10 năm còn rải rác
- Trong khoảng 5 năm
Trang 35từ 12.000 - 15.000 đồng/kg khi tươi, phơi khô giá khoảng 40.000 - 50.000 đồng/kg
18/30 Loài cây này được người dân sử dụng làm thuốc phục vụ sức khỏe cho con người, chữa được một số loại bệnh như:
đau bụng, tiêu chảy, mất ngủ
…
4/30
- Trong thôn, bản chủ yếu là những người cao tuổi mới biết trị dược liệu và gây trồng loài
- Hoàng đằng ở trong vườn gia đình để phục vụ cho nhu cầu sức khỏe của họ
- Trước đây 10 năm thì còn rất nhiều -Hiện tại có rất ít do
bị khai thác quá mức, dẫn đến bây giờ rất khó để tìm thấy loài cây này
- Trước đây chủ yếu là khai thác
rễ để bán cho người thương lái với giá từ 6.000 – 7.000 đồng/kg (khô),
và 3.000 – 4.000 đồng /kg (tươi)
- Hiện nay thì
5/30
- Rễ và thân Hoàng đằng được người dân dùng làm thuốc chữa một số bệnh
về đường tiêu hóa như: đau bụng, ỉa chảy, làm thuốc nhỏ mắt, mụn
0/30
- Tuy có giá trị kinh tế cao và được khai thác
và sử dụng rất nhiều trước đây nhưng chưa có
hộ gia đình nào trồng gây trồng
- Không biết kỹ thuật tạo giống gây trồng
- Trước đây khoảng 10 năm còn nhiều cây to đường kính lớn
- Trong khoảng 5 năm trở lại đây chỉ còn những cây
có đường kính nhỏ nhưng số lượng cũng