1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề suất giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại việt

74 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 511,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước xu hướng khu vực hoá và xu hướng toàn cầu hoá đã và đang trở thành xu hướng tổng quát bao trùm lên toàn bộ đời sống của mỗi quốc gia và toàn bộ quốc tế, nó không những mang lại thời cơ mà còn chứa đựng nhiều những thách thức cho các doanh nghiệp Việt nam. Trong những năm gần đây Nhà nước ta từng bước thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, mở ra cho Việt Nam một thị trường mới nhằm nâng cao vị thế của mình trên thương trường quốc tế. Với việc ra nhập AFTA (Asean Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN), APEC (Asia Pacific Economic Cooporation Group – nhóm hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương), hiệp hội các nước Đông Nam á ( Association of South East Asia Nations), và sự kiện đáng chú ý nhất là Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới WTO ( World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới ) đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực hết sức để đáp ứng nhu cầu thị trường đồng thời phải nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong tiến trình cạnh tranh, hội nhập và xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, Công Ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại Việt đang đứng trước một yêu cầu bức thiết: một là xây dựng Công ty ngày càng phát triển vững mạnh, hai là thực hiện thành công nhiệm vụ đến năm 2011 trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp lớn của nước ta, góp phần thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Để đứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh đó thì một trong những vấn đề đang được công ty quan tâm là công tác phân tích tài chính. Bởi lẽ, phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ đắc lực và quan trọng nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp để các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra được các quyết định quản lý tài chính hiệu quả phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài "Phân tích và đề suất giải pháp cải thiện tỡnh hỡnh tài chớnh tại Cụng ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại việt" Nội dung của chuyờn đề bao gồm ba phần : Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tài chính doanh nghiệp Chương 2: Tổng quan về công ty tnhh tư vấn và phát triển công nghệ đại việt Chương 3: Một số biện phỏp cải thiện tỡnh hỡnh tài chớnh của cụng ty tnhh tư vấn và phát triển công nghệ đại việt Do thời gian thực tập cú hạn và kiến thức cũn nhiều hạn chế nờn những vấn đề trỡnh bày trong bài chuyờn đề này không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của cỏc thầy cụ giỏo trong trường và các cô chú trong phũng kinh doanh của Cụng ty Đại Việt để bài viết của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phũng kinh doanh, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô nguyễn minh Huệ đó nhiệt tỡnh hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyờn đề tốt nghiệp của mỡnh.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3

1.1.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Vị trí, vai trò tài chính doanh nghiệp 4

1.1.3 Các báo cáo tài chính doanh nghiệp 5

1.1.3.1.Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) 6

1.1.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 6

1.1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) 7

1.1.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính 8

1.1.4 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp 8

1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính 8

1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu sinh lợi 9

1.1.4.3 Nhóm chỉ tiêu hoạt động 10

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp 11

1.1.5.1 Những nhân tố bên trong doanh nghiệp 11

1.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Mục đích 17

1.2.3 Nội dung phân tích tài chính 19

1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 19

1.2.3.2 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính 20

1.2.3.3 Phân tích đòn bẩy tài chính 22

1.2.3.4 Phân tích các chỉ tiêu an toàn tài chính 27

Trang 2

1.2.4 Phương pháp phân tích tài chính 29

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ ĐẠI VIỆT 33

2.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của cụng ty 33

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh của cụng ty 33

2.1.3 Kết quả về hoạt động kinh doanh của công ty 35

2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn của công ty 38

2.1.5.1 Những thuận lợi 38

2.1.5.2 Những khó khăn 38

2.2 Phân tích tài chính của công ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại Việt 39

2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty 39

2.2.2.1 Phân tích các thành phần ảnh hưởng tới chỉ tiêu hiệu quả tài chính.41 2.2.2.2 Phân tích hệ số sinh lợi doanh thu 45

2.2.2.3 Phân tích chỉ tiêu năng suất sử dụng tài sản 47

2.2.2.4 Phân tích tỷ số tài trợ 52

2.2.3 Phân tích các đòn bẩy 53

2.2.3.1 Mức độ tác động của đòn bẩy định phí – DOL 53

2.2.3.2 Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính ( DFL) 56

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TèNH HèNH TÀI CHÍNH CỦA CễNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ ĐẠI VIỆT 58

3.1 Phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2009-2012 58

3.1.1 Mục tiêu hoạt động 58

3.1.2 Chiến lược phát triển 59

3.1.3 Kế hoạch tài chính năm 2009, 2010 60

3.2 Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty 60

3.2.1.Tăng doanh thu 60

3.2.2 Giảm chi phí 61

3.2.3 Giảm tài sản lưu động 62

Trang 3

3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ 65

KẾT LUẬN 67

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trước xu hướng khu vực hoá và xu hướng toàn cầu hoá đã và đang trởthành xu hướng tổng quát bao trùm lên toàn bộ đời sống của mỗi quốc gia vàtoàn bộ quốc tế, nó không những mang lại thời cơ mà còn chứa đựng nhiềunhững thách thức cho các doanh nghiệp Việt nam Trong những năm gần đâyNhà nước ta từng bước thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới, mở ra cho Việt Nam một thị trường mới nhằm nâng cao vị thế của mìnhtrên thương trường quốc tế Với việc ra nhập AFTA (Asean Free Trade Area– Khu vực mậu dịch tự do ASEAN), APEC (Asia Pacific EconomicCooporation Group – nhóm hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương), hiệphội các nước Đông Nam á ( Association of South East Asia Nations), và sựkiện đáng chú ý nhất là Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổchức kinh tế lớn nhất thế giới WTO ( World Trade Organization Tổ chứcthương mại thế giới ) đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực hết sức để đáp ứngnhu cầu thị trường đồng thời phải nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Trong tiến trình cạnh tranh, hội nhập và xu hướng toàn cầu hoá, khuvực hoá, Công Ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại Việt đang đứngtrước một yêu cầu bức thiết: một là xây dựng Công ty ngày càng phát triểnvững mạnh, hai là thực hiện thành công nhiệm vụ đến năm 2011 trở thànhtrung tâm kinh tế nông nghiệp lớn của nước ta, góp phần thực hiện đường lốiđổi mới của Đảng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Đểđứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh đó thì một trong nhữngvấn đề đang được công ty quan tâm là công tác phân tích tài chính Bởi lẽ, phântích tài chính doanh nghiệp là một công cụ đắc lực và quan trọng nhằm đánhgiá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp để các nhà quản

lý doanh nghiệp đưa ra được các quyết định quản lý tài chính hiệu quả phù hợpvới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xuất phát từ những lý do

trên tôi đã chọn đề tài "Phân tích và đề suất giải pháp cải thiện tỡnh hỡnh tài

Trang 5

chớnh tại Cụng ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại việt"

Nội dung của chuyờn đề bao gồm ba phần :

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Tổng quan về công ty tnhh tư vấn và phát triển công nghệ đại việt Chương 3: Một số biện phỏp cải thiện tỡnh hỡnh tài chớnh của cụng ty

tnhh tư vấn và phát triển công nghệ đại việt

Do thời gian thực tập cú hạn và kiến thức cũn nhiều hạn chế nờn nhữngvấn đề trỡnh bày trong bài chuyờn đề này không thể tránh khỏi những sai sót

Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của cỏc thầy cụ giỏo trong trường

và các cô chú trong phũng kinh doanh của Cụng ty Đại Việt để bài viết của

em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phũng kinhdoanh, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô nguyễn minh Huệ đónhiệt tỡnh hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyờn đề tốtnghiệp của mỡnh

Hà nội, ngày 1 thỏng 4 năm 2010

Sinh viờn

Mai Ngọc Mạnh

2

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Tài chính doanh nghiệp được hiểu là các mối quan hệ về mặt giá trịđược biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủthể có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạolập

Các quan quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm:

Thứ nhất: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước.

Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện cácnghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (nộp thuế cho ngân sách Nhà nước).Ngân sách nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nứơc và có thể góp vốnvới công ty liên doanh hoặc cổ phiếu (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua tráiphiếu) tuỳ theo mụch đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyếtđịnh tỷ lệ góp vốn cho vay nhiều hay ít

Thứ hai: Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác.

Từ sự đa dạng hoá hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường, đã tạo

ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác(doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân), giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư,cho vay, với bạn hàng và khách hàng thông qua việc hình thành và sử dụngcác quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh các doanh nghiệp baogồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá phí bảo hiểm, chitrả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu: giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các

tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình doanh nghiệp vay và hoàn trả vốn,trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng

Trang 7

Thứ ba: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.

Gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng và

tổ đội sản xuất trong việc nhận tạm ứng, thanh toán tài sản, vốn liếng

Gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trongquá trình phân phối thu nhập cho lao động dưới hình thức tiền lương, tiềnthưởng, tiền phạt và lãi cổ phần

Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệthông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem

là các quan hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp

là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồngthời phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâukhác trọng hệ thống tài chính nước ta

Tài chính doanh nghiệp có các chức năng sau: Chức năng tạo vốn, luânchuyển vốn; chức năng phân phối thu nhập bằng tiền; chức năng kiểm tra

1.1.2 Vị trí, vai trò tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chínhquốc gia và là khâu cơ sở của hệ thống tài chính

Nếu xét trên phạm vi của một đơn vị sản xuất – kinh doanh thì tài chínhdoanh nghiệp được coi là một trong những công cụ quan trọng để quản lý sảnxuất – kinh doanh của đơn vị Bởi mọi mục tiêu, phương hướng sản xuất kinhdoanh chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở phát huy tốt các chức năng của tàichính doanh nghiệp từ việc xác định nhu cầu vốn cho sản xuất – kinh doanh tạonguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đã xác định khi có đủ vốn phải tổ chức sửdụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả xác định giá thành đồng vốn đến việcphải theo dõi, kiểm tra, quản lý chặt chẽ các chi phí sản xuất - kinh doanh theodõi tình hình tiêu thụ sản phẩm, tính toán bù đắp chi phí sử dụng đòn bảy tài

4

Trang 8

chính kích thước, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh thông qua việc phânphối lợi nhuận của doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp.

Nếu xét trên góc độ của hệ thống tài chính nước ta thì tài chính doanhnghiệp được coi là một bộ phận của hệ thống tài chính, trong đó ngân sáchnhà nước giữ vai trò chủ đạo, các định chế tài chính trung gian (hệ thống tíndụng, hệ thống bảo hiểm) có vai trò hỗ trợ tài chính các tổ chức xã hội và hộdân cư bổ sung nhằm tăng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế, còn tài chínhdoanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống Sự hoạt động có hiệu quả của tàichính doanh nghiệp có tác dụng củng cố hệ thống tài chính quốc gia

Tài chính doanh nghiệp bao gồm: tài chính của các đơn vị, tổ chức sảnxuất - kinh doanh hàng hoá và cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinhtế

Tài chính doanh nghiệp có những vai trò sau đây:

- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác thu hút các nguồn tàichính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp

- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và

1.1.3 Các báo cáo tài chính doanh nghiệp

Báo cáo tài chính là một trong các báo cáo được lập dựa vào phươngpháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tàichính phát sinh tại những thời điểm hoặc những thời kỳ nhất định Các báo

Trang 9

cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tạinhững thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốntrong những thời kỳ nhất định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đốitượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tìnhhình sản xuất kinh doanh của dơn vị để đề ra các quyết định phù hợp.

Hệ thống các báo cáo tài chính ở nước ta bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán Mẫu B.01- DN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B.02 – DN

- Báo cấo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B.03 – DN

- Bản thuyết minh các báo cáo tài chính Mẫu số B.09 – DN

1.1.3.1.Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)

BCĐKT là báo cáo tổng hợp, cho biết tình hình tài chính của doanhnghiệp tại những thời điểm nhất định

Kết cấu của bảng được chia thành 2 phần : tài sản và nguồn vốn, đượctrình bầy dưới dạng 1 phía (bảng cân đối báo cáo) hoặc 2 phía (bảng cân đối

kế toán)

Bảng cân đối kế toán cung cáp thông tin tài chính chủ yếu phục vụ chocông tác tài chính của công ty Đây là báo cáo tài chính phản ánh tương đối trungthực và chính xác tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của công ty

1.1.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tìnhhình tài chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định Đó là kết quảhoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theotừng loại hoạt động kinh doanh ( sản xuất, kinh doanh; đầu tư tài chính; hoạtđộng bất thường) Ngoài ra, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn chobiết tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp trong kỳkinh doanh đó

6

Trang 10

Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, người sửdụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp trong kỳ; so sánh với các kỳ trước và với các doanhnghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanhnghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý,quyết định tài chính phù hợp.

1.1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)

BCLCTT là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin củadoanh nghiệp Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực của cải (tài sản) vànguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thunhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh,thì BCLCTT được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào,

ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệptrong từng thời kỳ

BCLCTT cung cấp những thông tin cần thiết về những luồng vào, racủa tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao,

có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ítchịu rủi ro lỗ về giá trị do những sự thay đổi về lãi xuất Những luồng vào, racủa tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm: lưuchuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh; lưu chuyển tiền tệ từ hoạtđộng đầu tư và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và được lập theophương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp, kết cấu BCLCTT được khái quát theobiểu sau:

Những thông tin từ BCLCTT và những thông tin ở báo cáo tài chínhkhác , giúp cho người sử dụng phân tích, đánh giá khả năng tạo ra các luồng

Trang 11

tiền trong tương lai, khả năng thanh toán các khoản nợ, khả năng chi trả tiềnlãi cổ phần Đồng thời những tin này còn giúp cho người sử dụng nó xem xét

sự khác nhau giữa lãi thu được và các khoản thu chi bằng tiền

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh 3 mục thông tin chủ yếu

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư

- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

1.1.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh các báo cáo tài chính lập được nhằm cung cấp các thôngtin về tình hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tàichính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tàichính chưa được trình bầy, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể

Mẫu thuyết minh các báo cáo tài chính có thể do nhà nước qui định, cóthể một phần do doanh nghiệp lập để tiện cho công tác quản lý và phân tíchtài chính doanh nghiệp

1.1.4 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp

1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính

a Khả năng thanh toán hiện hành (Curent Ratio)

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán đáp ứng các khoản nợ đếnhạn của doanh nghiệp là cao hay thấp (phải thanh toán trong vòng 1 năm hay

1 chu kỳ kinh doanh) Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán ngắn hạn phụthuộc vào ngành nghề kinh doanh Hệ số này nói lên doanh nghiệp có baonhiêu đồng tài sản có thể chuyển đổi để đảm bảo có thể thanh toán một đồng

nợ đến hạn trả Nếu hệ số này cao điều đó chứng tỏ doanh nghiệp luôn sẵnsàng thanh toán các khoản nợ và ngược lại Tuy nhiên hệ số này quá cao sẽlàm giảm hiệu quả sử dụng vốn vì doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tàisản lưu động Qua thực tế chúng ta thấy thường hệ số này bằng hoặc lớn hơn

8

Trang 12

bằng 2 là tốt hơn.

Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động và ĐTNH

Tổng nợ ngắn hạn

b Khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio)

Khả năng thanh toán nhanh là mối quan hệ giữa số tài sản dùng đểthanh toán nhanh với tổng số nợ ngắn hạn của đơn vị

Khả năng thanh toán nhanh = TSLĐ và ĐTNH – Hàng tồn kho

Tổng nợ ngắn hạnNếu tỷ lệ này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việcthanh toán công nợ Tuy nhiên, độ lớn của tỷ lệ này cũng phụ thuộc vàongành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu, phải trảtrong kỳ

c Khả năng thanh toán lãi vay:

Lãi vay phải trả là khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợinhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng

So sánh giữa nguồn để trả lãi với lãi vay phải trả cho chúng ta biết doanhnghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay tới mức nào

Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn

để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay chochúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức nào và đem lại mộtkhoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay không

Khả năng thanh toán lãi vay =

Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Lãi vay

1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu sinh lợi

a Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợi

Trang 13

nhuận sau thuế Tỷ số càng lớn thì khả năng sinh lợi của công ty càng cao vàngược lại Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả

Tỷ số lợi nhuận trên

Lợi nhuận sau thuếDoanh thu

b Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA)

Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của 100 đồng giá trị tài sản bìnhquân mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh có khả năng tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này càng cao thể hiện sự sắp xếp phân bổ

và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả Nhà nước, chủ nợ, cổ đông rấtquan tâm tới chỉ số này

Tỷ suất sinh lợi của tài sản

Lãi ròngTổng tài sản bình quân

c Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equip )

Hệ số này phản ánh khả năng sinh lợi của 100 đồng vốn chủ sở hữutham gia tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng Chủ sở hữu doanh nghiệp rất quantâm tới hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Nếu chỉ tiêu này cao, sẽ thu hútđược các nhà đầu tư, cho phép doanh nghiệp mở rộng vốn và đảm bảo lợi íchcủa chủ doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn, hìnhthành nên tài sản Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu lệ thuộc vào suất sinh lợicủa tài sản

Suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) = Lãi ròng

Vốn chủ sở hữu bình quân

1.1.4.3 Nhóm chỉ tiêu hoạt động

a Năng suất sử dụng tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của

10

Trang 14

doanh nghiệp Nó thể hiện 100 đồng tài sản bình quân tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh đã thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Sức sảnxuất của tổng tài sản càng lớn hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tăng vàngược lại

Năng suất sử dụng của

Tổng doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân

b Năng suất sử dụng tài sản cố định

Phản ánh 100 đồng tài sản cố định bình quân tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu thuần Tỷ số này cao phản ánh tình hình giá trị tài sản cố địnhchuyển dịch nhanh vào giá trị sản phẩm, sớm hoàn thành kỳ luân chuyển vốn.Nếu tỷ số này thấp chứng tỏ việc đầu tư tài sản cố định không hợp lý, vốn ứđọng

Năng suất sử dụng tài sản

Doanh thu thuầnTài sản cố định bình quân

c Năng suất sử dụng tài sản lưu động

Phản ánh 100 đồng tài sản lưu động bình quân tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu thuần Tỷ số này cao phản ánh tình hình hoạt động của doanhnghiệp đã tạo ra mức doanh thu cao và ngược lại

Năng suất sử dụng tài sản

Doanh thu thuầnTài sản lưu động bình quân

d Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover)

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quânluân chuyển trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinhdoanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồnkho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho bình quân

Trang 15

e Kỳ thu nợ (Collection Period)

Kỳ thu nợ bình quân hay thời gian thu tiền bình quân là số ngày củamột vòng quay các khoản phải thu, nhằm đánh giá việc quản lý của công tyđối với các khoản phải thu do bán chịu

Kỳ thu nợ bình quân = Nợ phải thu bình quân

Doanh thu/360

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp

1.1.5.1 Những nhân tố bên trong doanh nghiệp

Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của cácdoanh nghiệp Trong phạm vi nghiên cứu ta chỉ xem xét các yếu tố ảnhhưởng tới chỉ tiêu tài chính ở doanh nghiệp Có thể dễ dàng nhận biết một sốnhân tố như:

a Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp

Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện

có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:

- Doanh nghiệp Nhà nước

- Công ty cổ phần

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

- Doanh nghiệp tư nhân

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Những đặc điểm riêng về mặt hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệpgiữa các doanh nghiệp trên có ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu tài chính doanhnghiệp như việc tổ chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phốilợi nhuận

* Doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước,

do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh

12

Trang 16

hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội doNhà nước giao.

Doanh nghiệp Nhà nước được ngân sách nhà nước đầu tư toàn bộ hoặcmột phần vốn điều lệ ban đầu nhưng không thấp hơn tổng mức vốn pháp địnhcủa các ngành nghề mà doanh nghiệp đó kinh doanh Ngoài số vốn Nhà nướcđầu tư, doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới các hình thức như pháthành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liên doanh và các hình thức khác, nhưngkhông được làm thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Việc phân phốilợi nhuận sau thuế (lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp) đượcthực hiện theo quy định của Chính phủ

* Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một công ty trong đó các thành viên cùng góp vốndưới hình thức cổ phần để hoạt động Số vốn điều lệ của nó được chia thànhnhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần

Hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần có đặc điểm:

+ Công ty cổ phần là một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, cácthành viên góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu Trong quá trìnhhoạt động, công ty có thể phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn(nếu có đủ các điều kiện quy định), điều đó tạo cho công ty có thể dễ dàngtăng thêm vốn chủ sở hữu trong kinh doanh

+ Các chủ sở hữu có thể chuyển quyền sở hữu về tài sản của mình chongười khác mà không làm gián đoạn các hoạt động kinh doanh của công ty và

có quyền được hưởng lợi tức cổ phần, quyền biểu quyết, quyền tham dự vàbầu Hội đồng quản trị

+ Quyền phân chia lợi tức sau thuế thuộc các thành viên của công tyquyết định

+ Chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn

mà họ đã góp vào công ty

Trang 17

* Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại công ty có ít nhất hai thành viêngóp vốn để thành lập và họ cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn

đã góp vào công ty Đây cũng là ưu thế của công ty trách nhiệm hữu hạn sovới loại hình doanh nghiệp tư nhân

Vốn điều lệ của công ty do các thành viên đóng góp, có thể bằng tiền(tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ), bằng tài sản hoặc bản quyền sở hữu côngnghiệp Các phần vốn góp có thể không bằng nhau Trong quá trình hoạtđộng, để tăng thêm vốn, công ty có thể thực hiện bằng cách kết nạp thêmthành viên mới Đây cũng là điểm thuận lợi cho công ty khi mở rộng quy môsản xuất kinh doanh

Ngoài phần vốn góp của các thành viên, công ty có thể sử dụng các hìnhthức khác để huy động vốn từ bên ngoài hoặc kết nạp thành viên mới, hoặctrích từ quỹ dự trữ nhưng không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoánnào

Việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự

do, còn việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thànhviên của công ty phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ítnhất ắ số vốn điều lệ của công ty

Việc phân phối lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định và việcphân chia lợi nhuận cho các thành viên tuỳ thuộc vào số vốn đã đóng góp

* Doanh nghiệp tư nhân

Là một đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, domột cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình

về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Như vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân là người bỏ vốn đầu tư bằng vốn củamình và cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay

14

Trang 18

Trong khuôn khổ của luật pháp, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự dokinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Loại hình doanhnghiệp này không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào trên thịtrường để tăng thêm vốn Như vậy, nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân làhạn hẹp, loại hình doanh nghiệp này thường thích hợp với kinh doanh quy mônhỏ.

Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanhnghiệp Trong hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Điều đó cũng có nghĩa là về mặt tàichính, chủ doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản

nợ của doanh nghiệp Đây cũng là điều bất lợi của loại hình doanh nghiệpnày

* Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định các hình thức đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam gồm có doanh nghiệp liên doanh vàdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam, do các nhà đầu tư nước ngoàiđầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn nhằm thực hiện các mục tiêu chung là tìmkiếm lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, mang quốc tịch Việt Nam, tổ chức vàhoạt động theo quy chế của công ty trách nhiệm hữu hạn và tuân theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam

Doanh nghiệp liên doanh có đặc điểm: Phần vốn góp của bên nước ngoàivào vốn pháp định không hạn chế ở mức tối đa nhưng lại hạn chế ở mức tốithịểu, tức là không được thấp hơn 30% của vốn pháp định, trừ những trườnghợp do Chính phủ quy định Việc góp vốn của các bên tham gia có thể bằngtiền nước ngoài, tiền Việt Nam, tài sản hiện vật, giá trị quyền sở hữu côngnghiệp, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên … theo

Trang 19

quy định của pháp luật tại Việt Nam (có quy định cụ thể cho mỗi bên nướcngoài và Việt Nam).

Các bên trong doanh nghiệp liên doanh có quyền chuyển nhượng giá trị phầnvốn của mình, nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các bên trong liên doanh.Việc sử dụng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp liên doanh đểtrích quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng

Việc các nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận và muốn chuyển số lợinhuận đó về nước họ thì phải nộp một khoản thuế về việc chuyển lợi nhuận

ra nước ngoài tuỳ thuộc vào mức vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài quyđịnh trên cơ sở quy chế pháp lý về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ởViệt Nam

b Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh

Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng khôngnhỏ tới chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặcđiểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:

+ ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh

ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh củadoanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như

tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hưởng tới tốc

độ luân chuyển vốn ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toánchi trả

+ ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh:

Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn

sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu

kỳ ngắn thì nhu cầu vốn giữa các thời kỳ trong năm thường không có biếnđộng lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đógiúp cho doanh nghiệp dẽ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền;

16

Trang 20

cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh.Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài,phản ứng ra một lượng vốn tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trongngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn giữa các quý trong nămthường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tìnhhình thanh toán, chi trả cũng thường gặp những khó khăn Cho nên việc tổchức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằngtiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn.

1.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.2.1 Khái niệm

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công

cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin kháctrong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng vàtiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyếtđịnh tài chính, quyết định quản lý phù hợp

Để phục vụ tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanh các nhà quản trịcần phải thường xuyên tổ chức phân tích tình hình hoạt động tài chính củadoanh nghiệp mình Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập theođịnh kỳ, phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình tài sản, nguồn vốn,công nợ, kết quả kinh doanh…,bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đíchthông tin về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp chocác nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chứcnăng của nhà nước

1.2.2 Mục đích.

Thứ nhất: Phân tích tài chính phải cung cấp thông tin đầy đủ, hữu íchcho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính để họ có quyết định đúng đắn

Trang 21

nhất phù hợp với lợi ích của mình.

Thứ hai: Phân tích tài chính phải cung cấp thông tin đầy đủ, hữu íchcho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính trong việc đánh giá khả năng vàtính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quảvốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Thứ ba: Phân tích tài chính phải cung cấp thông tin về nguồn vốn chủ

sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện và các tình huống làmbiến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

Các mục tiêu trên đây có quan hệ mật thiết với nhau và nó góp phầncung cấp thông tin quan trọng cho những đối tượng nghiên cứu khác nhau củadoanh nghiệp như:

+Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Phântích tài chính nhằm đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, xác định điểmmạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ sở để định hướng các quyết địnhcủa Ban giám đốc, dự báo kế hoạch tài chính như: Kế hoạch đầu tư, ngân quỹ

và kiểm soát các hoạt động quản lý

Như vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp cần phải

có đầy đủ thông tin về tình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, từ đó có thểđánh giá đúng đắn tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính,khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi, rủi ro và dự đoán chính xác tình hìnhtài chính để đề ra quyết định đúng đắn

+Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Phân tích tàichính của doanh nghiệp giúp cho họ nhận biết khả năng vay và trả nợ củakhách hàng Mối quan tâm của họ chủ yếu nhận biết khả năng trả nợ củadoanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đến lượng tiền và các tài sản có thểchuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được

18

Trang 22

khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra các chủ ngân hàng

và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng của vốn chủ sởhữu, đó chính là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặprủi ro Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vaykhông đảm bảo chắc chắn khoản vay sẽ được thanh toán đúng hạn Người chovay cũng rất quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, vì đó là cơ sởcủa việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn

+Đối với các nhà cung cấp vật tư thiết bị, hàng hoá dịch vụ: Phân tích

tài chính doanh nghiệp giúp họ nhận biết khả năng thanh toán của doanhnghiệp, từ đó có thể quyết định bán hàng hay không bán hàng, áp dụngphương thức thanh toán hợp lý để có thể thu hồi tiền bán hàng nhanh chóng

+Đối với các nhà đầu tư: Phân tích tài chính giúp họ nhận biết tình hìnhthu nhập của vốn chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu

tư Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lợi củadoanh nghiệp, đó chính là căn cứ quan trọng trong việc ra quyết định có nênđầu tư vào doanh nghiệp hay không

Mối quan tâm của các nhà đầu tư hướng vào các yếu tố như: Sự rủi ro,thời gian hoàn vốn, mức sinh lợi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy họ cầnnhững thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinhdoanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp, đồng thời các nhà đầu

tư cũng rất quan tâm đến việc điều hành và tính hiệu quả của công tác quản

lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầutư

+ Đối với khách hàng: Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ đánhgiá khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín củadoanh nghiệp để quyết định có ứng trước tiền hàng hay không

Trang 23

+ Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Phân tích tài chính giúp

họ hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp, nắm bắt được xu hướng pháttriển của doanh nghiệp, từ đó nâng cao trách nhiệm đối với công việc mà họđảm nhận, giúp họ đánh giá được thu nhập của bản thân sẽ tăng lên hay giảmđi

+ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như tài chính, ngân hàng, kiểm

toán, thuế…: Phân tích tài chính giúp cho việc kiểm tra, giám sát, kiểm toán,

hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ, thể

lệ về tài chính, kế toán, thuế và kỷ luật tài chính, tín dụng, ngân hàng…

Tóm lại, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính, nó có thểđược ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau, nhằm mục đích phục vụ chonhiều mục đích khác nhau Chính vì lẽ đó phân tích tài chính chứng tỏ thực sự

có ích và cần thiết đối với nhiều đối tượng

1.2.3 Nội dung phân tích tài chính

1.2.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp

Mục đích của việc phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp

là cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu (lành mạnh haykhông lành mạnh)

Nội dung phân tích khái quát tình hình tài chính là tính các chỉ tiêu antoàn và hiệu quả tài chính chủ yếu Các chỉ tiêu này được so sánh với cácchuẩn như so với số liệu năm trước, so với số kế hoạch hoặc so với số liệutrung bình của ngành (nếu có) để đánh giá sự thay đổi từng chỉ tiêu và kết quảkinh doanh của doanh nghiệp

Tài liệu dùng để phân tích đó là các báo cáo kết quả kinh doanh vàbảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

20

Trang 24

1.2.3.2 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính

Mục đích của việc phân tích này là trả lời câu hỏi tình hình tài chính củadoanh nghiệp có hiệu quả hay không và do các thành phần nào( chỉ tiêu nào)

Nội dung phân tích được tiến hành như sau :

a Phân tích Dupont

Phương pháp phân tích Dupont cho thấy mối quan hệ tương giữa các tỷ

số tài chính Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Hoa Kỳ sử dụng các mốiquan hệ hỗ tương này để phân tích các tỷ số tài chính, vì vậy phương phápnày được gọi là hệ thống Dupont Ngày nay, phương pháp này được sử dụngkhá rộng rãi

Hệ thống phân tích này xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số lợinhuận thuần trên doanh thu (ROS), năng suất sử dụng tổng tài sản và hệ số tàisản/vốn chủ sở hữu bình quân và được tạo thành bởi các mối quan hệ sau:

ROE =

Lợi nhuận sauthuếDoanh thu thuần

xDoanh thu thuần

Tổng tài sảnbình quân

x

Tổng tài sản bình

quânVốn chủ sở hữubình quân

dụng tổng tài sản x

Tổng tài sản bình quân(Tổng nguồn vốn – nợ)

bình quân

x

Năng suất sửdụng tổng tài sản x

1

1 – Hệ số nợ

Sự phân tích về các thành phần tạo nên ROE cho thấy rằng ROE tăng lên

Trang 25

hay giảm đi phụ thuộc vào 3 nhân tố: tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu(ROS), năng suất sử dụng tổng tài sản và hệ số tài sản/vốn chủ sở hữu bìnhquân.

b Phân tích chỉ tiêu ROS

Tỷ suất lợi nhuận trên

Lợi nhuận sau thuếDoanh thu

Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế Tỷ số càng lớn thì khả năng sinh lợi của công ty càng cao vàngược lại Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả tàichính của công ty

Theo công thức trên để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến ROS ta điphân tích các nhân tố như doanh thu, chi phí, lợi nhuận trước thuế và sau thuếnhưng chủ yếu là nhân tố doanh thu và chi phí

c Phân tích chỉ tiêu năng suất

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản củadoanh nghiệp Nó thể hiện 100 đồng tài sản bình quân tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh đã thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Năng suất

sử dụng của tổng tài sản càng lớn hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tăng vàngược lại

Năng suất sử dụng tổng tài

22

Trang 26

một quá trình sản xuất kinh doanh có hợp lý nhau hay không, để từ đó rút racác biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản.

d Phân tích chỉ tiêu tài trợ:

Tỷ suất tài trợ = Tổng tài sản = Tổng tài sản

Tổng tài sản – Nợ Nguồn vốn chủ sở hữu

Tỷ suất tài trợ là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn chủ sở hữutrong tổng nguồn vốn hiện có trong doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệpbao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại nàyxác định sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp.Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cho phép chúng ta đánh giá sự độc lập về tàichính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp

1.2.3.3 Phân tích đòn bẩy tài chính

a Đòn bẩy định phí( đòn bẩy tác nghiệp( DOL)

Đòn bẩy tác nghiệp là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp

sử dụng chi phí cố định trong hoạt động của mình Doanh nghiệp có đòn bẩytác nghiệp cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí của doanhnghiệp cao Đòn bẩy tác nghiệp cao sẽ khiến cho một thay đổi nhỏ về doanhthu có thể gây ra một thay đổi lớn về lợi nhuận trước lãi và thuế (EBIT)

Độ nghiêng của đòn bẩy tác nghiệp (DOL) là mức thay đổi tính bằng tỷ

lệ phần trăm của EBIT ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanhthu

DOL = Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EBIT = EBIT/ EBIT

Mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh số Q/Q

Vì EBIT = Q (P – V) – F ; EBIT = Q (P – V) Nên:

DOL = Q( P – V ) = Q ( P - V ) x Q

Trang 27

Q( P-V ) - F Q( P – V ) - F Q

QQ

DOL = Q ( P – V ) = EBIT + F

Trong đó: Q: Sản lượng bán ra P: Giá bán sản phẩm

V: Chi phí biến đổi đơn vị F: Chi phí cố định

Tuy nhiên để xác định lợi nhuận hoạt động sẽ thay đổi như thế nào so vớivới mức sản xuất và ở mức nào thì doanh nghiệp hoà vốn, thì cần phải phântích điểm hoà vốn Điểm hoà vốn là mức doanh thu tạo ra bằng tổng chi phíhoạt động hoặc là mức doanh thu tạo ra thu nhập bằng không

Công thức tính điểm hoà vốn như sau:

EBIT = Doanh thu – Tổng chi phí

Nếu ký hiệu Q: Số lượng đơn vị bán hàng

P: Giá bán đơn vị sản phẩmV: Biến phí đơn vị

F: Tổng định phíThì EBIT = Q.P – (Q.V + F)

Hay SHV = Tổng định phí/ [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)]

Trong đó: [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)] : là tỷ lệ số dư đảm phí

Một số ứng dụng của việc phân tích điểm hoà vốn:

+ Đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp:

24

Trang 28

Qua việc phân tích điểm hoà vốn, ta có thể đánh giá rủi ro kinh doanhcủa doanh nghiệp bằng cách xem xét sự ảnh hưởng đối với EBIT và điểm hoàvốn khi các điều kiện kinh doanh thay đổi.

Phân tích điểm hoà vốn đối với sự thay đổi của giá bán đơn vị sảnphẩm P và tổng định phí (tương tự như trên) cũng cho ta thấy độ nhạy của lợinhuận hoạt động

+ Dùng để lựa chọn phương án sản xuất:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, xu hướng chung của các doanhnghiệp là ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm nâng cao năngsuất lao động, điều này có thể giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí Mặtkhác, do áp dụng các phương pháp sản xuất hoặc quản lý khác nhau sẽ dẫnđến sự thay đổi kết cấu chi phí cũng như giá bán của doanh nghiệp Nhà quản

lý doanh nghiệp có thể sử dụng kiến thức về phân tích điểm hoà vốn để phântích các khả năng lựa chọn và dự báo những ảnh hưởng có thể xảy ra đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của mình

+ Đánh giá lợi nhuận đạt được từ việc đưa ra thị trường sản phẩm mới

Khi đưa một sản phẩm mới vào thị trường, doanh nghiệp cần đánh giáxem khả năng đem lại lợi nhuận của sản phẩm này là như thế nào Từ việcđánh giá đó sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra phương hướng điều chỉnh kịp thời để

có thể nâng cao lợi nhuận Để đánh giá lợi nhuận có thể đạt được của sảnphẩm mới, nhà quản trị doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp phân tíchđiểm hoà vốn Muốn vậy, doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin về kỹthật cũng như Marketing để dự báo chính xác doanh số tiềm năng nhằm cungcấp cho việc phân tích điểm hoà vốn của sản phẩm mới

Phân tích điểm hoà vốn được coi là một công cụ rất hữu ích để xem xéthoạt động của một doanh nghiệp hay một dự án Tuy vậy, phương pháp nàycũng có một số hạn chế nhất định:

Trang 29

- Kết cấu chi phí hoạt động rất phức tạp và bao gồm nhiều khoản mụckhác nhau Vì vậy khi phân tích thành định phí và biến phí thường rất khókhăn và không hoàn toàn chính xác Chính vì lý do này mà khi áp dụng phântích điểm hoà vốn đối với kết cấu chi phí đó sẽ rất khó khăn

- Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệpthường tiến hành sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, khi đó người ta coicác loại sản phẩm khác nhau đó là “một sản phẩm hỗn hợp” để tạo thành “mộtđơn vị sản xuất” tượng trưng Điều này làm cho việc phân bổ chi phí và xácđịnh “số lượng đơn vị hàng bán được” rất phức tạp

- Chúng ta đều biết rằng giá trị của đồng tiền tại các thời điểm khácnhau là khác nhau.Trong khi đó phân tích điểm hoà vốn lại không quan tâmđến thời giá của tiền Vì vậy, chỉ áp dụng phương pháp này đối với nhữngkhoảng thời gian ngắn, nếu áp dụng với những khoảng thời gian dài thì chiphí và doanh thu cần được biểu hiện dưới hình thức giá trị hiện tại Điều nàyđòi hỏi phải ứng dụng phương pháp phân tích độ nhạy với yêu cầu chính xác

về doanh số hàng bán được với mức doanh thu mà tại đó NPV >0

Mô hình phân tích điểm hoà vốn cơ bản đánh giá theo đường thẳng (tức

là giá bán và biến phí đơn vị sản phẩm không thay đổi), nhưng giá bán vàbiến phí đơn vị hàng bán lại có thể thay đổi tuỳ theo mức độ sản xuất

Tóm lại, phân tích điểm hoà vốn là một công cụ hữu hiệu để phân tíchđòn bẩy định phí của một doanh nghiệp hay dự án đầu tư trong tình huốngđơn giản Trong tình huống phức tạp, tính hữu ích của điểm hoà vốn lại bị hạnchế, do đó đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các công cụ tài chính khác

b Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn bẩy nợ)

Đòn bẩy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử

26

Trang 30

dụng các khoản vay nợ có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn củamình Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trêntổng nguồn vốn của doanh nghiệp cao Đòn bẩy nợ càng cao thì rủi ro tàichính càng lớn, tuy nhiên lợi nhuận cổ đông đại chúng càng cao nếu tỷ suấtsinh lời chung của doanh nghiệp cao hơn lãi suất vay nợ.

Độ tác nghiệp của đòn bẩy tài chính (DFL) là mức thay đổi tính bằng tỷ

lệ phần trăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (EPS) ứng với mức thay đổitính bằng phần trăm của lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)

DFL = Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EPS = EPS /EPS

Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EBIT EBIT/EBITVì: EBIT = Q (P-V) - F

EPS

NNên

EBIT

EBIT

Trang 31

Trong đó:

I: lãi vay phải trả

T: Thuế suất thuế thu nhập

N: Số cổ phần

c Đòn bẩy tổng DTL

Đòn bẩy tổng là một khái niệm phản ánh tác động của một sự thay đổi

về doanh thu đến lợi tức trên mỗi cổ phiếu (EPS)

Độ nghiêng của đòn bẩy tổng (DTL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phầntrăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (EPS) ứng với mức thay đổi tính

bằng phần trăm của doanh thu

Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EPS

= EPS /EPSMức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh số Q/Q

Đòn bẩy tổng là kết quả tổng hợp của đòn bảy định phí và đòn bẩy nợ,

do đó nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy định phí và đòn bẩy nợ cao thì chỉ

tác động nhỏ về doanh thu sẽ gây ra tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ

phần (EPS) tăng lên nhanh chóng Chính vì thế doanh nghiệp cần phải lựa

chọn một mức độ sử dụng hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất

1.2.3.4 Phân tích các chỉ tiêu an toàn tài chính

Mục đích của việc phân tích các chỉ tiêu an toàn tài chính nhằm trả lời

28

Trang 32

câu hỏi tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không khi so với các chỉtiêu chuẩn.

a Phân tích nguồn tài trợ: Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh

nghiệp cần có tài sản bao gồm TSLĐ và đầu tư ngắn hạn, TSCĐ và đầu tư dàihạn Để hình thành 2 loại tài sản này phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứngbao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả

- Nguồn vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt.Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mànguồn vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sáchnhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần…

- Nợ phải trả: Là số tiền mà doanh nghiệp đi vay mượn, hoặc chiếmdụng và cam kết phải thanh toán cho các chủ sở hữu số tiền đó trong mộtkhoảng thời gian nhất định, bao gồm: nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn, phải trảngười bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp ngân hàng,các khoản phải trả công nhân viên, các khoản phải trả ngắn hạn khác) và nợdài hạn (vay dài hạn, nợ dài hạn…)

Theo nguyên tắc quản lý tài chính và sử dụng nguồn vốn, nợ ngắn hạnkhông nên sử dụng để đầu tư hình thành TSCĐ và đầu tư dài hạn vì việc nàytạo áp lực trả nợ vay rất lớn gây mất an toàn tài chính của doanh nghiệp Bêncạnh đó, nợ dài hạn cũng không khuyến khích để hình thành tài sản lưu động

và đầu tư ngắn hạn vì việc sử dụng vốn như vậy sẽ gây lãng phí Như vậy khixem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn để tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp được an toàn thì :

* TSLĐ và đầu tư ngắn hạn được tài trợ bởi nợ ngắn hạn

* TSCĐ và đầu tư dài hạn được tài trợ bởi nợ dài hạn và nguồn vốn chủ

sở hữu

Trang 33

b Phân tích chỉ tiêu khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán là khả năng mà doanh nghiệp trả được các khoản

nợ phải trả khi nó đến thời hạn thanh toán Nếu doanh nghiệp có khả năngthanh toán cao cho thấy tình hình tài chính khả quan và ngược lại Do vậy khiphân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta thường xem xét các hệ sốthanh toán như: Hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nhanh và hệ sốthanh toán lãi vay

Sau khi xác định xong các chỉ tiêu an toàn tài chính ta tiến hành lựa chọn

và sắp xếp các chỉ tiêu tuỳ theo góc độ nghiên cứu của nhà phân tích và lậpbảng để so sánh, đánh giá bằng cách tiến hành so sánh giữa số cuối năm với sốđầu năm về từng chỉ tiêu và so với mức trung bình của ngành, từ đó tìm ra cácnguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng an toàn tài chính của doanh nghiệp

1.2.4 Phương pháp phân tích tài chính.

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ vàbiện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, mối quan hệbên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính tổng hợp

và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp,nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh và phân tích

tỷ lệ

- Phương pháp so sánh:

Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo cả điều kiện có thể

so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, nội dungtính chất và đơn vị tính toán ) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc sosánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳphân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thểđược lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân; nội dung so

30

Trang 34

sánh bao gồm:

+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ

xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng haythụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấucủa doanh nghiệp

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của cácnghành của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được

+ So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so vớitổng thể, so sánh với chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về

số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kếtoán liên tiếp

- Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích

Khi phân tích có thể chi tiết chỉ tiêu phân tích theo bộ phận cấu thành,theo thời gian và theo địa điểm Sau đó mới tiến hành xem xét so sánh mức độlàm được của từng bộ phận giữa các kỳ phân tích so với kỳ gốc và mức độảnh hưởng của từng bộ phận với tổng thể cũng như xem xét tiến độ thực hiện

và kết quả đạt được trong từng thời gian hay mức độ đóng góp của từng bộphận vào kết quả chung Bằng cách xem xét chỉ tiêu phân tích theo các hướngkhác nhau, các nhà phân tích sẽ nắm được tác động của các giải pháp màdoanh nghiệp đã áp dụng trong từng thời gian, từng địa điểm, từng bộ phận

Từ đó tìm cách cải tiến các giải pháp cũng như điều kiện vận dụng từng giảipháp một cách phù hợp có hiệu quả

- Phương pháp loại trừ

Trang 35

Theo phương pháp này, để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào

đó, nhà phân tích phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại Đặc trưngnổi bật của phương pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các trườnghợp giả định khác nhau để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biếnđộng của các chỉ tiêu nghiên cứu

- Phương pháp liên hệ cân đối

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp hình thành rất nhiều mốiquan hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanhnhư quan hệ cân đối giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn hình thành tài sản,giữa thu chi và kết quả… điều đó dẫn đến sự cân bằng về mức biến động giữ

kỳ phân tích so với kỳ gốc của chúng Dựa vào mối quan hệ cân đối nàyngười phân tích sẽ xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến độngcủa chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích Phương pháp này đòi hỏi mối quan

hệ giữa các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích là mối quan hệlỏng (mối quan hệ dạng tổng số hoặc hiệu số)

- Phương pháp xác định giá trị theo thời gian của tiền

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, để đánh giá chính xáchiệu quả vốn đầu tư nhất thiết phải tính đổi tiền về một thời điểm nhất định.Phương pháp này thường được sử dụng trong các dự án đầu tư

- Phương pháp kết hợp

Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh doanhnói chung và phân tích báo cáo tài chính nói riêng Phương pháp này sử dụngkết hợp một số phương pháp phân tích với nhau Điều này là cần thiết vì đốitượng phân tích rất đa dạng, phong phú

Ngoài các phương pháp phổ biến trên, phân tích tài chính còn sử dụngnhiều phương pháp khác như phương pháp chỉ số, phương pháp đồ thị… để

32

Trang 36

nghiên cứu đối tượng của mình.

Tóm tắt:

Tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh và có mốiquan hệ trực tiếp với hoạt động kinh doanh Tất cả các hoạt động sản xuấtkinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lạitình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh Nguyên tắc cơ bản của tài chính là có kếhoạch, tiết kiệm và có lợi, đảm bảo nâng cao hiệu quả của đồng vốn bỏ ra Dovậy, tài chính thực chất là có liên quan tới việc tạo lập, phân phối và sử dụngcác quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra

Mục đích của phân tích tài chính giúp ta đánh giá được tình hình tàichính của doanh nghiệp có an toàn và hiệu quả hay không Để phục vụ tốt chocông tác quản lý hoạt động kinh doanh các nhà quản trị cần phải thườngxuyên tổ chức phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mình Các báocáo tài chính của doanh nghiệp được lập theo địng kỳ, phản ánh một cáchtổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinhdoanh bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đích thông tin về kết quả tình hìnhtài chính của doanh nghiệp cho các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư,các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, công chúng , tuỳ theo mối quan

hệ nhất định mỗi cá nhân hay tổ chức có được các thông tin thích hợp trongmối quan hệ với doanh nghiệp

Để hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ sử dụng nguồn vốnkinh doanh mà còn sử dụng nguồn vốn đó sao cho đạt hiệu quả cao nhất cóthể Nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng bao gồm vốn chủ sở hữu và nguồnvốn vay Sự phối hợp của các nguồn vốn tạo nên cơ cấu vốn của doanh

Trang 37

nghiệp Quá trình đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức tài sảnlưu động và tài sản cố định tạo nên cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.

Việc tạo lập, sử dụng và phân phối các quỹ tiền tệ của doanh nghiệptrong quá trình sản xuất sao cho hiệu quả là một yêu cầu hàng đầu củamỗi doanh nghiệp Để nắm bắt tình hình tài chính doanh nghiệp đòi hỏidoanh nghiệp phải phân tích đánh giá hiệu quả tài chính thông qua các chỉtiêu tài chính một cách thường xuyên, trên cơ sở đó đề ra các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp đồng thời đạt đượccác mục tiêu đề ra

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH TƯ VẤN

VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ ĐẠI VIỆT 2.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của cụng ty

Cụng ty tnhh tư vấn và phát triển công nghệ Đại việt được thành lập vàotháng 03 năm 1991

Tên công ty: công ty TNHH tư vấn và phát triển công nghệ Đại ViệtTên thường gọi: Đại việt

Trụ sở chớnh: phũng 312_nơ 7_chung cư pháp vân

Điện thoại: (84-4)36813192

Cơ cấu tổ chức ban đầu của công ty máy tính bao gồm:

- Ban Giám đốc: 01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc

- Phũng Tổng hợp

34

Ngày đăng: 27/08/2018, 10:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w