1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)

83 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 872 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013 2016 (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

LƯỜNG THỊ THỦY

TỔ CHỨC DỰ BÁO, PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY RỪNG TẠI

HẠT KIỂM LÂM ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khoá : 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

LƯỜNG THỊ THỦY

Tên đề tài: TỔ CHỨC DỰ BÁO, PHÒNG CHÁY VÀ CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HẠT KIỂM LÂM ĐỒNG HỶ,TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Mạn

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-

2016” đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu thu thập

khách quan và trung thực Kết quả nghiên cứu chưa được sử dụng và công bố

trên tài liệu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2017

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong những năm học vừa qua, được sự giúp đỡ dạy bảo của các thầy, cô giáo trong trường và sự cố gắng nỗ lực của bản thân, nay em đã hoàn thành khóa học, để đánh giá kết quả sau thời gian học tập, nghiên cứu tại trường, nhằm vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp, em thực hiện chuyên đề

tốt nghiệp: “Tổ chức dự báo phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm

Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2016”

Trong quá trình thực hiện chuyên đề ngoài sự cố gắng của bản thân, luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của địa phương nơi em thực tập, các thầy cô giáo trong khoa đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Mạn đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình làm chuyên đề

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô, Hạt kiểm lâm Đồng

Hỷ và nhân dân địa phương đã giúp em hoàn thành chuyên đề này

Do thời gian có hạn, mặt khác đây là lần đầu tiên em làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên báo cáo chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em kính mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của các thầy, cô giáo và các bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Lường Thị Thủy

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cấp nguy cơ cháy rừng theo độ lớn P 13

Bảng 2.2 Khả năng chấy rừng theo độ lớn P 14

Bảng 2.3 Mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và mức độ nguy hiểm của cháy rừng 15

Bảng 2.4 Mùa cháy rừng tại các vùng sinh thái 19

Bảng 2.5 Thống kê diện tích rừng dễ cháy 28

Bảng 2.6: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo ba loại rừng 30

Bảng 2.7: Tổng diện tích đất lâm nghiệp cập nhật theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2015 (Huyện Đồng Hỷ) 31

Bảng 4.1: Lực lượng tham gia PCCCR 46 Bảng 4.2 Thống kê tổ quần chúng bảo vệ rừng phòng cháy chữa cháy rừng 53

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Tam giác lửa 5

Hình 2.2 Chuyển hóa giữa các loại cháy rừng 9

Hình 2.3 Hệ thống tổ chức phòng cháy chữa cháy 21

Hình 2.4 Hệ thống tổ chức PCCC 22

Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ 34

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên đầy đủ

BCĐ : Ban chỉ đạo BVR : Bảo vệ rừng BCĐTW : Ban chỉ đạo trung ương BCH : Ban chấp hành

DQTV : Dân quân tự vệ

HC : Hành chính KLĐB : Kiểm lâm địa bàn KLCĐ : Kiểm lâm cơ động PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng PTR : Phát triển rừng

QLBVR : Quản lý bảo vệ rừng UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Khái quát về cháy rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng 4

2.1.1 Cháy rừng 4

2.1.2 Các loại cháy rừng 5

2.1.2.1 Cháy dưới tán 6

2.1.2.2 Cháy tán rừng (cháy trên ngọn) 7

2.1.2.3 Cháy ngầm 8

2.1.3 Tác hại của cháy rừng 10

2.1.4 Phòng cháy rừng 11

2.1.5 Chữa cháy rừng 12

2.2 Tình hình nghiên cứu về PCCCR trong và ngoài nước 12

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về PCCCR trên thế giới 12

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về PCCCR ở Việt Nam 15

2.3 Tổng quan về cơ sở thực tập 23

2.3.1 Khái quát về hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 23

2.3.2 Khái quát về địa bàn hoạt động của Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 26

Trang 9

2.3.2.1 Khái quát về huyện Đồng Hỷ 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thời gian và phạm vi thực hiện 32

3.2 Nội dung thực hiện 32

3.3 Các bước thực hiện 32

Phần 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN THẢO LUẬN 34

4.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Hạt kiểm lâm Đồng Hỷ 34

4.1.1 Cơ cấu tổ chức của Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 34

4.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 35

4.2 Nội dung công tác dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 38

4.2.1 Nội dung công tác dự báo tại hạt kiểm Lâm Đồng Hỷ 38

4.2.2 Nội dung phòng cháy tại Hạt kiểm Lâm Đồng Hỷ 40

4.3 Quá trình tổ chức dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 44

4.3.1 Quá trình tổ chức dự báo cháy rừng 44

4.3.2 Quá trình tổ chức PCR 46

4.3.2.1 Thực hiện biện pháp lâm sinh trong PCCCR 47

4.3.2.2 Quy vùng sản xuất nương rẫy 47

4.3.2.3 Một số biện pháp làm giảm vật liệu cháy 47

4.3.2.4 Biện pháp hành chính tổ chức lực lượng phòng cháy 48

4.3.3 Quá trình tổ chức chữa cháy rừng 49

4.4 Kết quả dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 51

4.4.1 Xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng 51

4.4.1.1 Mục tiêu 51

4.4.2 Kết quả công tác dự báo 59

Trang 10

4.4.3 Công tác phòng cháy rừng 60

4.4.4 Công tác chữa cháy rừng 62

4.5 Một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 67

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.3 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 11

Theo tài liệu mà Maurand p công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu

ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ Vào thời kì đó độ che phủ ở Bắc Bộ vào khoảng 68%, ở Trung Bộ khoảng 44% và ở Nam Bộ vào khoảng 13% Trước năm 1945, rừng nguyên sinh ở Việt Nam bị phá hoại rất nhiều và chỉ còn lại ở những nơi xa xôi, hiểm trở, nhưng do khả năng phục hồi của rừng rất cao nên những khu rừng già có trữ lượng cao (từ 250m3 - 300m3), vẫn còn khá phổ biến ở nhiều vùng núi Việt Nam Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những nằm 1990, đặc biệt từ năm 1980-1995 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, bình quân mỗi năm hơn 100 ngàn ha rừng bị mất

Ở Việt Nam theo số liệu thống kê ở Quảng Ninh từ năm 1962 - 1963 bị cháy 15.800 ha rừng thông, ở Huế mùa hè năm 1991 do ý thức kém của người dân làm cháy 300 ha rừng thông, ở An Giang và Long Xuyên trong 3 năm từ

1987 - 1990 làm cháy 2.850 ha rừng tràm Đặc biệt những vụ cháy rừng lớn ở

Trang 12

U Minh Thượng tháng 2 - 2002 làm cháy 3.212 ha rừng tràm, cháy rừng tại vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) tháng 2-2010 với diện tích là 1.700 ha (Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng) [6] Theo ban chỉ đạo trung ương phòng cháy chữa cháy rừng quý I năm nay cả nước xảy ra 45 vụ cháy gây thiệt hại 632 ha rừng (Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 3 tháng đầu năm 2012 Bộ NN&PTNT, 2012) [4]

Đồng Hỷ là một trong các địa phương trọng điểm để sẩy ra cháy rừng của tỉnh Thái Nguyên Với diện tích đất lâm nghiệp là 24.118 ha, trong đó diện tích rừng có là 23 026,4 ha, diện tích đất trống đồi núi trọc chủ yếu là cây bụi thảm thực bì dầy đặc và chịu mùa khô khắc nghiệt kéo dài 6 tháng, từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau, là cho vật liệu cháy rừng khô nỏ Khối lượng vật liệu cháy trong rừng bình quân từ 18 – 20 tấn/ha, nên rất dễ sảy ra cháy rừng, làm cho đất bị bạc màu, khô cằn, xói mòn, làm phá vỡ môi trường sinh thái

Do vậy việc phòng chống cháy rừng là mối quan tâm lớn của Đảng , Chính Phủ, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Để hạn chế thiệt hại sảy ra mỗi địa phương cần phải xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ Phương án được xây dựng sẽ tạo ra động lực mới để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng của Huyện, nhăm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại

do cháy rừng gây ra, góp phần bảo vệ và phát triển vốn rừng trên địa bàn Huyện

Trước những thực tế trên, một nhiệm vụ cấp bách là phải nghiên cứu xây dựng những giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả cho các địa phương Để góp phần làm cơ sở khoa học cho công tác phòng cháy chữa

cháy rừng tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tổ chức dự báo,

phòng cháy và chữa cháy rừng tại hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 13

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Xác định được quá trình tổ chức và kết quả dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ

- Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức và thực hiện dự báo, phòng cháy và chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ

Trang 14

Phần 2:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái quát về cháy rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng

Một phản ứng cháy xảy ra khi đủ các yếu tố

- Vật liệu cháy: Là những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy

- Oxy: oxy tự do luôn sẵn có trong không khí (nồng độ khoảng 22%) và lấp đầy các khoảng trống giữa vật liệu cháy Khi nồng độ oxy giảm xuống dưới 15% thì không còn khả năng duy trì sự cháy

21 Nguồn lửa (nguồn nhiệt gây cháy) Nguồn lửa gây cháy gây ra cháy rừng có nhiều nhưng có thể chia ra làm 2 nhóm: lửa do các hiện tượng tự nhiên và lửa do các hoạt động của con người

+ Nguồn lửa do các hiện tượng tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa,

động đất, v.v rất khó khống chế Nguyên nhân này này chiếm tỷ lệ thấp 1-

5% và chỉ xuất hiện trong những điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc với các vật liệu khô nóng trong rừng (Phạm Ngọc Hưng 2004) [15]

+ Trong thực tế nguồn lửa gây ra các đám cháy trong rừng là do con người gây nên như từ các hoạt động cố ý hay vô ý như: đốt nương, đốt ong, đốt lửa sưởi ấm, vv Theo thống kê nguồn lửa gây cháy rừng do hoạt động của con người chiếm trên 90%

Trang 15

Nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố trên quá trình cháy không xảy ra, sự kết hợp

3 nhân tố này tạo thành một tam giác lửa (Bế Mỉnh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002).[7]

Vật liệu cháy

Hình 2.1 Tam giác lửa

Qua hình 2.1 nếu thay đổi giảm hoặc phá hủy 1, hoặc 2 cạnh thì

“tam giác lửa” sẽ thay đổi phá vỡ, điều đó có nghĩa là đám cháy bị suy yếu hoặc bị dập tắt Đây cũng là cơ sở khoa học của của công tác PCCCR

Vấn đề PCCCR cũng cần lưu ý cả ba yếu tố trên:

- Giảm bớt vật liệu cháy trước mùa khô hanh

- Kiểm soát các nguồn lửa

- Ngăn sự tiếp xúc của Oxy với vật liệu cháy

2.1.2 Các loại cháy rừng

Có ba tầng vật liệu cháy chủ yếu phân bố trong rừng là dưới mặt đất, sát mặt đất và trên tán rừng Từ cơ sở khoa học này sự phân bố theo không gian, thực tiễn và sản xuất kinh doanh, người ta chia ra làm ba loại cháy rừng

là: Cháy dưới tán, cháy tán rừng và cháy ngầm

Trang 16

gỗ lớn

Loại cháy rừng này thường gặp ở ngưỡng khu rừng thưa, rừng phân

bố trên địa hình tương đối dốc, các savan trong đó có cây bụi, thảm cỏ chiếm ưu thế và những khu rừng khô, rụng lá theo mùa, rừng trồng có tầng thảm mục khô nỏ nhưng không dày lắm Ở những savan cây bụi, cháy lan theo chiều gió rất nhanh nhưng cũng chóng tàn

Căn cứ vào tốc độ cháy mà người ta phân ra cháy dưới tán thành 2 loại: Cháy lướt nhanh và cháy chậm ổn định (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

- Cháy lướt nhanh ở mặt đất rừng: Là loại cháy xảy ra khi vật liệu cháy khô, tốc độ cháy có thể đạt tới trên 180m/h, sức cháy yếu ngọn lửa thấp nên tác hại ít hơn cháy chậm Nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của tốc độ gió ở bề mặt đất rừng, tuy nhiên loại cháy này rất dễ chuyển thành cháy tán Đặc biệt là ở rừng Thông và rừng Khộp ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

- Cháy rừng dưới tán chậm ổn định: Có tốc độ cháy nhỏ hơn 180m/h, thường xảy ra ở nơi tích tụ nhiều vật liệu cháy với độ ẩm vật liệu cháy dưới và tầng giữa là >30% Cháy chậm ổn định thiêu hủy hoàn toàn

Trang 17

lớp cây bụi thảm tươi, cây non tái sinh và thảm mục, cháy xung quanh rễ

và cỏ cây rừng, gây thiệt hại nặng cho rừng và ảnh hưởng xấu cho cây rừng còn lại

+ Loại cháy này tốc độ chậm, khói nhiều và đen hơn, ngọn lửa ít khi cao quá 2m, cháy dưới tán ổn định rất dễ chuyển thành cháy ngầm ở những nơi có tầng than bùn

+ Cháy dưới tán thường gây thiệt hại cho tất cả các loài cây con non - cây tái sinh, khả năng tái sinh sau cháy rừng (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

2.1.2.2 Cháy tán rừng (cháy trên ngọn)

Sự lan truyền của ngọn lửa trên tầng tán của rừng được gọi là cháy dưới tán rừng Cháy tán rừng là hình thức cháy rừng được phát triển từ cháy dưới tán lên tán rừng, nhiệt lượng tỏa ra lớn có thể lên tới 9000

C Khi cháy dưới tán ngọn lửa đốt nóng và làm khô tán rừng sau đó cháy qua các cây tái sinh, cây bụi rồi cháy lên tán rừng và ngọn lửa sẽ lan từ tán này sang tán khác (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

Loại cháy này chiếm khoảng 2% trong tổng số vụ cháy Tuy nhiên thiệt hại là rất lớn đối với hệ sinh thái rừng

Cháy tán rừng thường xuyên xuất hiện ở những kiểu rừng có mật độ tán dày của những loài cây có dầu, khi gió mạnh và thời tiết khô nóng kéo dài Cháy tán cũng có hai loại: Cháy tán ổn định (cháy toàn bộ tán rừng)

và cháy lướt nhanh

- Cháy tán ổn định: khi ngọn lửa cháy lan tràn theo tất cả các tầng rừng, từ lớp thảm tươi đến tán rừng Rừng sẽ bị hại hoàn toàn, tốc độ lan truyền không lớn, bình quân khoảng 0.5 km/h, có lúc có thể đạt 4 - 5 km/h

- Cháy lướt nhanh trên tán:

Chỉ phát triển khi có tốc độ gió mạnh Ngọn lửa thường được lan truyền theo tán rừng và thường được phát triển từ cháy dưới tán cháy lên

Sự lan truyền ngọn lửa của loại cháy rừng này không như nhau mà chúng quấn theo hướng gió Lúc đầu khi mới bén được tán rừng ngọn lửa lan tràn rất nhanh,sau đó ít phút tốc độ của nó giảm đi rõ rệt, chính vào lúc

Trang 18

đó các vật liệu ở mặt đất sẽ được đốt nóng và sấy khô, rồi các cây gỗ cũng

bị cháy Cường độ cháy ở dưới tán cũng sẽ rất lớn, sẽ đốt nóng và chuẩn bị cho sự bốc cháy các tán bên cạnh Thiếu sự đốt nóng đó thì cháy tán sẽ dừng lại và chỉ khi cháy dưới tán đi qua khu vực mà ở đó đã cháy trụi các tán cây, sự đốt nóng và làm khô tương đối các tán cây bên cạnh theo hướng gió sẽ bắt đầu, sau đó các tán sẽ bốc cháy và ngọn lửa sẽ nhanh chóng lan tràn sang khu vực đã sấy khô tương đối Sự phát triển của đám cháy tán rừng như thế lan tràn đi từ tán cây này sang tán cây khác với những bước nhảy làm cho quy mô cháy rừng và cường độ cháy tăng lên (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

Tốc độ lan tràn của ngọn lửa vào lúc nháy qua tán có thể đạt đến 20

- 25 km/h

- Cháy tán thường xảy ra ở những khu rừng thuần loại lá có dầu hay nhựa dễ bắt cháy như: Thông, rừng long não, bạch đàn.Hoặc có thể gặp ở rừng tự nhiên hỗn giao có độ dốc lớn (15 - 300

), tán cây nọ gối tán cây kia

và ngày một lên cao dần theo sườn dốc Các đám cháy thường rất rộng, gây thiệt hai lớn Cây rừng bị cháy đen và đổ gẫy ngổn ngang Rừng hầu như bị cháy hoàn toàn và sau khi cháy chỉ còn lại đất trống đồi trọc

2.1.2.3 Cháy ngầm

Là loại cháy mà ngọc lửa cháy lan dưới mặt đất làm tiêu hủy lớp mùn, than bùn và tiêu hủy những vật liệu hữu cơ khác được tích lũy dưới tầng đất mặt trong nhiều năm

Cháy ngầm chiếm khoảng 1% trong tổng số vụ cháy rừng, tốc độ của đám cháy rừng thường rất chậm, đạt khoảng 0.5 - 5 m/ngày

Mùn và than mùn được tích tụ lâu ngày trong quá trình phát sinh, phát triển của rừng, bao gồm tầng thảm mục do lá cây, cành khô để lại,…

bị vùi lấp dưới mặt đất Ở Việt Nam thường gặp lớp mùn và than bùn tương đối điển hình trong rừng Tràm ở Kiên Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Long An và Cà Mau Lớp mùn này cũng có thể gặp ở một số trạng thái

Trang 19

rừng trên núi cao, có nhiệt độ lạnh quanh năm do quá trình phân hủy không hoàn toàn tạo thành

Cháy ngầm không có ngọn lửa và ít khói nên rất khó phát hiện Loại cháy này gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng

Trong thực tế tùy theo mức độ của cháy rừng mà người ta phân ra làm cháy yếu, trung bình và cháy mạnh, ngoài ra có một số khái niệm cháy khác đó là cháy lớn, tức là đám cháy bao gồm tất các loại cháy đồng thời xảy ra Ở Việt Nam diện tích cháy rừng từ 1,0 ha trở nên được gọi là cháy lớn, tuy nhiên ở các nước phát triển diện tích này có thể lên tới 100 ha (Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế có thể xảy ra đồng thời 3 loại cháy trên Mỗi loại cháy có thể phát sinh độc lập nhưng cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau

Hình 2.2 Chuyển hóa giữa các loại cháy rừng

(Phạm Ngọc Hưng, 1993) [10]

Cháy tán lướt

Cháy tán ổn định

Cháy dưới tán

lướt nhanh

Cháy dưới tán (Cháy mặt đất)

Cháy dưới tán

ổn định

Cháy ngầm

Trang 20

2.1.3 Tác hại của cháy rừng

Có thể khẳng định, cháy rừng ảnh hưởng toàn diện đến các mặt kinh

tế, xã hội và môi trường, thể hiện chủ yếu như sau:

- Có thể làm thay đổi số lượng và thành phần sinh vật rừng

- Ảnh hưởng đến hoạt động sống của vi sinh vật rừng trong đất

Tác hại của rừng được thể hiện ở một số khía cạnh cụ thể sau:

- Cháy rừng là một trong những thảm họa thiêu hủy nguồn lợi thiên nhiên và ảnh hưởng lớn đến môi trường

- Đối với môi trường đất: Sau khi cháy rừng hàm lượng các nguyên

tố dinh dưỡng tăng lên Tuy nhiên thời gian sau do không có độ che phủ của tán rừng và lớp thực bì (mất nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và bảo

vệ đất) nên nhanh chóng trở nên bạc màu, xói mòn, rửa trôi, sạt lở…

- Đối với môi trường nước: Cháy rừng có thể gây ra những ảnh hưởng sâu sắc tới đặc điểm thủy văn Mất rừng làm mất khả năng điều tiết nguồn nước, tạo nên lũ quét khi có mưa kết hợp với địa hình dốc, phức tạp Ảnh hưởng đến mực nước ngầm cũng như khả năng dự trữ nước ở các vùng hạ lưu Trong nhiều trường hợp, cháy rừng còn làm ô nhiễm nguồn nước

- Đối với không khí và khí hậu: Cháy rừng sinh ra các loại bụi và khí

đa số là ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng của cây rừng Sau khi cháy rừng khí hậu bị biến đổi theo hướng bất lợi: Nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm, gió thổi mạnh…

Trang 21

- Đối với con người: Cháy rừng làm ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống

xã hội, đặc biệt là đời sống người dân sống trong và gần rừng Trong nhiều trường hợp dẫn đến hậu quả di dân tự do đến nơi khác an toàn hơn, ảnh hưởng đến công tác quản lý rừng của địa phương Đôi khi cháy rừng còn gây thiệt hại cả tính mạng con người(Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa

(2002)[7]

2.1.4 Phòng cháy rừng

Cháy rừng là hiện tượng mang tính xã hội, cho nên công tác phòng cháy rừng là hoạt động mang lại lợi ích cho toàn xã hội và cần sự hợp tác, liên kết chặt chẽ của toàn xã hội

Phòng cháy rừng là việc thực hiện đầy đủ các biện pháp tổ chức, kinh

tế, xã hội, pháp chế, khoa học công nghệ, tuyên truyền, giáo giục, cảnh báo,

dự báo,… và điều tiết các hoạt động của con người trong và gần rừng, xây dựng các công trình phòng lửa nhằm ngăn chặn không để xảy ra cháy rừng ( Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng)[2]

Trong phòng cháy rừng phải thực hiện triệt để những yêu cầu mang tính nguyên tắc: Không để xảy ra sự kết hợp đồng thời cả ba yếu tố oxy, vật liệu cháy và nguồn nhiệt gây cháy

- Quản lý tốt nguồn lửa rừng, kiểm tra điều tiết các hoạt động của người dân trong mùa cháy

- Giảm bớt vật liệu cháy trước mùa khô hanh

- Kiểm soát các nguồn lực

- Hạn chế mức thấp nhất khả năng bắt lửa của vật liệu cháy bằng việc xây dựng và áp dụng các biện pháp phòng cháy có hiệu quả

Đây chính là những nguyên tắc xây dựng những biện pháp phòng cháy rừng có hiệu quả để cháy rừng không xảy ra hoặc nếu khi xảy ra thì những thiệt hại về tài nguyên rừng cũng hạn chế

Trang 22

Tuy nhiên, đôi khi cháy rừng cũng có thể do những điều kiện tự nhiên mang lại nhưng chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, ở Việt Nam tỉ lệ này < 1%, những vụ cháy rừng do thiên tai như: Sấm sét, đá đổ làm phát ra nguồn lửa, khi gặp vật liệu cháy có độ ẩm thấp sẽ rất dễ xảy ra cháy rừng (Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến, 2003) [23]

2.1.5 Chữa cháy rừng

Chữa cháy rừng là hoạt động không thể thiếu và đảm bảo ba yếu tố

- Dập tắt khẩn trương, kịp thời và triệt để

- Hạn chế thấp nhất thiệt hại về mọi mặt

- Đảm bảo an toàn tuyệt đối về người, phương tiện, dụng cụ chữa cháy

“Chữa cháy rừng là: Huy động nhanh chóng lực lượng, phương tiện dập tắt kịp thời không để lửa lan tràn, hạn chế và chấm dứt thiệt hại do

cháy rừng gây ra” ( Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy

rừng)[2]

Chữa cháy rừng được phân làm hai loại:

- Chữa cháy rừng trực tiếp: Là sử dụng lực lượng và phương tiện tác động trực tiếp vào đám cháy để dập tắt đám cháy Chữa cháy rừng trực tiếp

áp dụng cho các đám cháy nhỏ (<1 ha), cháy dưới tán, cháy dưới mặt đất

- Chữa cháy rừng gián tiếp: Là sử dụng lực lượng và phương tiện tạo chướng ngại vật ngăn cản cháy lan; để giới hạn đám cháy Biện pháp này áp dụng cho những đám cháy lớn và diện tích rừng còn lại nhiều

2.2 Tình hình nghiên cứu về PCCCR trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về PCCCR trên thế giới

Trên thế giới công tác dự báo cháy rùng được tiến hành cách đây hàng

trăm năm (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7], đến nay đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau và được áp dụng ở nhiều nơi tùy thuộc vào từng quốc gia và lãnh thổ (Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến, 2003) [23]

Trang 23

Ở Hoa Kỳ năm 1914, E.A.Beal và C.B.Show đã đưa ra phương pháp

dự báo cháy rừng thông qua việc xác định độ ẩm của tầng thảm mục trong rừng với các yếu tố khí tượng thủy văn, để từ đó đề ra những biện pháp PCCCR Họ cho rằng độ ẩm của thảm mục rừng nói lên mức độ khô hạn của rừng độ khô hạn càng cao thì khả năng xuất hiện cháy rừng càng lớn

Ở Nga trong những năm 1929 - 1940 Nesterop đã tiến hành nghiên cứu tổng họp (các yếu tố khí tượng thủy văn và các yếu tố khác), ông đã tìm

ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng xảy ra cháy rừng với các chỉ số khác như: số ngày không mưa, nhiệt độ không khí lúc 13h, nhiệt độ nhiễm sương từ đó ông đã xây dựng lên công thức thể hiện mối quan hệ này:

Pi =

Trong đó:

Pi: chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng

N: số ngày không mưa kể cả ngày cuối cùng có P < 5 mm

Ti: nhiệt độ không khí lúc 13h

Di: nhiệt độ nhiễm sương

Căn cứ vào độ lớn của P để lập cấp dự báo cháy rừng như sau:

Bảng 2.1 Cấp nguy cơ cháy rừng theo độ lớn P

Cấp nguy cơ cháy rừng Chỉ tiêu tổng hợp theo

Nesterop

Mức độ nguy cơ cháy rừng

Trang 24

Phương pháp của Nesterop có ưu điểm dễ thực hiện, chỉ cần xác định được nhiệt độ lúc 13h từ ngày mưa cuối cùng là có thể xác định được p

Ở Thụy Điển và các nước thuộc bán đảo Scandinavia người ta sử dụng chỉ so Angstrom để dự báo khả năng cháy rừng Công thức tính như sau:

I = R / 20 + (27 -T) /10

Trong đó:

I: Chỉ so Angstrom để xác định khả năng cháy rừng

R : Độ ẩm không khí tương đối thấp nhất trong ngày (%)

T : Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (°C)

Sau khi tính được tiến hành phân cấp khả năng cháy rừng như sau:

Bảng 2.2 Khả năng chấy rừng theo độ lớn P

Cấp nguy cơ cháy rừng Chỉ số I Mức độ nguy cơ cháy rừng

I I > 4,0 Không có khả năng cháy rừng

II 2,5 <1 <4,0 ít có khả năng xuất hiện cháy rừng

III 2,0 < I < 2,5 Có nhiều khả năng xảy ra cháy rừng

IV I<2,0 Rât có khả năng xảy ra cháy rừng

(Nguồn: Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng)[2]

Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản dễ tính, nhưng nhược điểm

là độ chính xác không cao (Bộ tài liệu tập huấn công tác PCCCR) [2]

Ở Đức Waymann qua nghiên cứu thấy độ ẩm nhỏ nhất của vật liệu cháy và nhiệt độ cao nhất trong ngày có mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ

đó ông đã đưa ra mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và khả năng cháy rừng để dự báo nguy cơ cháy rừng

Trang 25

Bảng 2.3 Mối quan hệ giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy và mức

độ nguy hiểm của cháy rừng Cấp nguy cơ cháy rừng Hàm lượng nước Mức độ nguy cơ cháy rừng

(Nguồn: Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng)[2]

Phương pháp dự báo cháy rừng này đòi hỏi việc tiến hành tương đối phức tạp vì vậy-phương pháp này khó áp đụng để dự báo (Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến, 2003) [23]

Ngoài ra trên thế giới còn áp dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chỉ tiêu khả năng bén lửa của Yanmei (Trung Quốc), phương pháp hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng (Hoa Kỳ) (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về PCCCR ở Việt Nam

Cháy rừng gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm mất đi nhiều loại động thực vật quý hiếm, làm ô nhỉễm bầu khí quyển, ô nhiễm nguồn nước; cháy rùng làm môi trường bị suy thoái, tăng khả năng xảy ra thiên tai lũ lụt; cháy rừng làm mất đi tầng che phủ cho đất làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi, cằn cỗi,, Đó là chưa kể tới hàng năm các vụ cháy rừng vẫn làm thiệt hại rất nhiều về tài sản và tính mạng con người Một số vụ cháy rừng gây thiệt hại lớn như: vụ cháy rừng ở U Minh Thượng tháng 2 - 2002 làm cháy 3.212 ha rừng chàm, cháy rừng tại vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) tháng 2 - diện tích là 1.700 ha (Bộ tài liệu tập huấn công tác PCCCR) [2]

* Thực trạng PCCCR ở Việt Nam

Trang 26

Nước ta hiện nay có 13.388.075 ha rừng, trong đó có 10.304.816 ha rừng tự nhiên, 3.083.258 ha rừng trồng, (Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng) [2] các trạng thái rừng dễ cháy như:

- Rừng thông: phân bố tập ở các tĩnh Lâm Đồng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Thông là loài cây có tinh dầu, về mùa khô hạn dễ bắt lửa gây nguy cơ cháy rừng lớn

- Rừng tràm: phân bổ ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Long An, Đồng Tháp, An Giang, cần Thơ, Là loại rừng chịu 6 tháng khô, 6 tháng ngập nước

có tầng than bùn dầy từ 0,5 - 1 mét, lá có chứa tinh dầu, về mùa khô nguồn than bùn, thảm tươi cây bụi khô nỏ là nguồn vật liệu cháy lớn dễ dẫn tới cháy rừng lớn

- Rừng tre nứa: tập trung ở các tỉnh Tây Bắc, Đông Bắc, Khu V, Khu

IV cũ, Tây Nguyên, về mùa đông lá tre nứa rụng hàng loạt tạo lên nguồn vật liệu cháy lớn

- Rùng dầu lông: chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc là loài cây thường xuyên bị cháy vào mua khô ở Tây Nguyên thương bị cháy

từ tháng 11 năm trước tới tháng 5 năm sau

- Ngoài ra còn 1 số loại rừng trồng khác như: bồ đề, mỡ, bạch đàn, rừng đặc sản và hàng triệu ha đất trống đồi núi trọc, cỏ tranh lau lách đến mùa khô hanh cũng gây cháy rừng nghiêm trọng

Ở nước ta công tác dự báo cháy rừng thực hiện từ năm 1981 nhưng vẫn chưa thật đồng bộ (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7] Hiện nay nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ đầu cho công tác PCCCR đạt được những kết quả bước đầu

* Nguyên nhân cháy rừng ở Việt Nam

Nguyên nhân cháy rừng có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có một số nguyên nhân chính sau đây:

Trang 27

- Nguyên nhân khách quan: do điều kiện khí hậu hàng năm có mùa khô kéo dài, nhiều năm mùa khô tới sớm khô hạn kéo dài Vì vậy tạo nên nguồn vật liệu cháy khổng lồ, khô nỏ nên dễ xảy ra cháy và cháy lớn

- Do loại hình thực bì: thực bì có liên quan tới loại vật liệu cháy, tính chất và khối lượng vật liệu cháy do loại thực bì quyết định

- Do địa hình: địa hĩnh cũng là một nguyên nhân của cháy rừng Nó có tác dụng gián tiếp và chi phối cháy rừng, địa hình có tác dụng ngăn chặn các

hệ thống gió, hình thành các trung tâm khô hạn Độ cao của địa hình cũng tạo

ra các địa hình khô hạn kéo dài, lượng mưa ít, nắng nhiều và dao động nhiệt

- Cháy rừng do tự nhiên: nguồn gốc do núi lửa, động đất, sấm sét chảy rừng đo tự nhiên xảy rá rất ít và chỉ xuất hiện trong điều kiện hết sức thuận lợi

- Cháy rùng do nguyên nhân quản lý điều hành: việc chậm trễ, khó khăn trong triển khai các văn bản, chủ trương của nhà nước; trang thiết bị, kinh phí về PCCCR còn thiếu thốn chưa đầy đủ, chính sách đãi ngộ chưa rõ ràng, không thỏa đáng nến thiếu tính động viên, khuyến khích mọi lực lượng tham gia vào công tác PCCCR

* PCCCR ở việt Nam

Trang 28

Cháy rừng là một hiên tượng phổ biến ở nước ta cũng như các nước trên thế giới vì vậy muốn bảo vệ được rừng một cách chủ động và hiệu quả thì công tác dự báo cháy rừng cần phải chú ý và đẩy mạnh

Dự báo cháy rừng là căn cứ vào mối quan hệ đa chiều giữa thời tiết, khí hậu, thủy văn với vật liệu cháy để dự tính, dự báo khả năng xảy ra cháy

và có các biện pháp phòng ngừa đạt được hiệu quả cao nhất Các bước dự báo cháy rùng ở nước ta: xác định mùa cháy rừng; dự báo theo phương pháp tổng hợp (dự báo ngắn hạn, dài hạn, dự báo ẩm độ vật liệu cháy); thông tin cấp dự báo cháy rừng

Xác định mùa cháy rừng: được xác định bằng biểu đồ giá trị trung bình về lượng mưa tuần trong nhiều năm (10-20 năm) liên tục và sử dụng chỉ số khô hạn của GS.TS Thái Văn Trừng

Chỉ số khô hạn của GS.TS Thái Văn Trừng bao gồm ba con số đứng cạnh nhau đặc trưng cho tháng khô, số tháng khô hạn, số tháng kiệt trong năm

X= S,A,D

Trong đó:

S: số tháng khô trong năm, với lượng mưa tháng khô Ps 2t

t: nhiệt độ bình quân của tháng khô

A: số tháng hạn trong năm, với lượng mưa tháng hạn Pa t’

t’: nhiệt độ bình quân tháng hạn

D: số tháng kiệt trong năm,khối lượng mưa tháng kiệt P 5mm(Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2004), cẩm nang ngành lâm nghiệp)[1]

Dựa vào phương pháp này mùa cháy rừng ở các vùng sinh thái nước

ta được xác định như sau:

Trang 29

Bảng 2.4 Mùa cháy rừng tại các vùng sinh thái

8 Đồng Bằng Sông Cửu Long - - - - x 0 0 0 0 0 x X

(Nguồn: Tài liệu tập huấn công tác phòng cháy chữa cháy rừng)[2]

Trong đó:

Dấu (x) là tháng khô có khả năng xuất hiện cháy rừng

Dấu (-) là tháng hạn, kiệt và cực kỳ nguy hiểm về cháy rừng trong mùa cháy

Dấu (0) là tháng ít có khả năng xảy ra cháy rừng

Dự báo cháy rừng tổng hợp: bao gồm các bước lập trạm để theo dõi

vi khí hậu rừng, chủ yếu lấy các số liệu cần thiết, đồng thời so sánh với số liệu của đài khí tượng thủy văn quốc gia hoặc các tỉnh; xác định mùa cháy rừng; tính các chỉ tiêu P, chỉ số ngày khô hạn liên tục H, xác định khối

Trang 30

lượng, độ ẩm và vật liệu cháy; thông tin cấp cháy một cách rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7]

Căn cứ vào % số vụ cháy rừng từ 10 - 15 năm trong phạm vi P và H

để xác định cấp cháy như sau:

Cấp I: không có khả năng cháy (không có vụ cháy nào xảy ra)

Cấp II: ít có khả năng cháy (số vụ cháy < 15% tổng số vụ cháy) Cấp III: có khả năng cháy (số vụ cháy < 25% tổng số vụ cháy)

Cấp IV: nguy hiểm (số vụ cháy < 50% tổng số vụ cháy)

Cấp V: rất nguy hiểm (số vụ cháy >50% tổng số vụ cháy)

Hệ thống dự báo cháy rừng nước ta cần được xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới dự báo cháy rừng, đảm bảo thông tin thông suốt phục vụ công tác chỉ đạo PCCCR từ Trung ương tới địa phương, các chủ rừng, các tổ đội, đơn vị bảo vệ rừng ở cơ sở, phổ biến kết quả dự báo và thường xuyên báo cáo tình hình theo định kỳ (tuần, tháng, quý, năm) Phương châm đưa ra là phòng cháy rừng là chính, chữa cháy rừng phải khẩn trương, kịp thời, triệt

để, an toàn với phương châm bốn tại chỗ là: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ

Những biện pháp chủ yếu trong PCCCR như: tuyên truyền giáo dục, cảnh báo, nâng cáo ý thức cộng đồng, áp dụng các biện pháp lâm sinh, quy hoạch các vùng sản xuất, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ công tác PCCCR (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa, 2002) [7]

Trang 31

(Nguồn: tài liệu tập huấn công tác PCCCR)

Hình 2.3 Hệ thống tổ chức phòng cháy chữa cháy

Tổ đội quần chúng PCCCR

Chi cục Kiểm lâm

Hạt kiểm lâm

Trạm kiểm lâm

Kiểm lâm vùng

Đội KLCĐ

Trang 32

(Nguồn: tài liệu tập huấn công tác PCCCR)

Hình 2.4 Hệ thống tổ chức PCCC

UBND CẤP

HUYỆN

VĂN PHÒNG BAN CHỈ ĐẠO TW

UBND cấp

Tỉnh

Bộ nông nghiệp

và PTNT

Bộ quốc phòng

Bộ công an

Cục kiểm lâm

Bộ tổng tham mưu

Cục cảnh sát PCCC

Cơ quan kiểm lâm Bộ tư lệnh quân khu

Tiểu đoàn chữa cháy

Phối hợp tham gia chữa cháy khi cháy rừng lớn xảy ra vượt

quá tầm kiểm soát của địa phương

BAN CHỈ HUY PCCCR CẤP TỈNH

CHI CỤC KIỂM LÂM

BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH

CÔNG AN TỈNH

Đội kiêm lâm cơ động

Đại đội chữa cháy

Đơn vị PCCCR Phối hợp tham gia chữa cháy khi cháy rừng lớn xảy ra vượt quá tầm kiểm

soát của ban chỉ huy PCCCR cấp Huyện, xã

Trang 33

2.3 Tổng quan về cơ sở thực tập

2.3.1 Khái quát về hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ

Kiểm lâm, là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, có chức năng

bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và chủ tịch UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

Lực lượng kiểm lâm Việt Nam được thành lập ngày 21/5/1973 trên

cơ sơ lực lượng tuần tra bảo vệ rừng Kiểm lâm là cơ quan hành chính nhà nước, là lực lượng chuyên trách và thừa hành pháp luật trong lĩnh vực quản

lý và bảo vệ rừng phòng chống cháy rừng

Để hiểu rõ hơn về lực lượng Kiểm lâm Việt Nam nói chung, KL Thái Nguyên nói riêng Sau đây tôi xin sơ lược về quá trình hình thành của lực lượng KL Thái Nguyên:

Ngày 17/01/1974 Kiểm lâm Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) được thành lập theo Nghị định 101/CP của Chính Phủ Tổ chức bộ máy bao gồm:

03 Phòng nghiệp vụ, 01 Đội Kiểm soát lưu động, Trạm phúc kiểm lâm sản

Đa Phúc và Hạt phúc kiểm lâm sản thành phố Thái Nguyên, 10 Hạt Kiểm lâm tổ chức theo địa giới hành chính với tổng số 274 biên chế

Năm 1979, theo Nghị định số 368/CP, Chi cục Kiểm lâm Bắc Thái được sáp nhập vào Sở lâm nghiệp Thời điểm này, 2 Hạt Kiểm lâm Ngân Sơn và Chợ Rã được cắt theo 2 huyện về tỉnh Bắc Cạn Theo Quyết định số 80/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Trạm phúc kiểm lâm sản Đa Phúc đã được giải thể, Đội tuần tra lưu động được sáp nhập vào phòng Pháp chế, đồng thời Trạm Kiểm lâm Núi Cốc được thành lập để bảo vệ 6.000 ha rừng cấm Núi Cốc Năm 1988, được sự nhất trí của Bộ Lâm nghiệp, UBND tỉnh Bắc Thái đã ra Quyết định số 145/QĐ-UB về việc thành lập 02 Trạm kiểm soát lâm sản Hoá Trung và Sơn Cẩm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm, nhằm ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép trên Quốc lộc 1B và Quốc lộ 3

Trang 34

Năm 1990, UBND tỉnh có Quyết định số 111/QĐ-UB ngày 15 tháng

9 năm 1990, thành lập Hạt lâm nghiệp - Kiểm lâm trực thuộc Sở lâm nghiệp; lúc này lực lượng Kiểm lâm còn lại 02 Phòng chức năng và 3 Trạm trực thuộc với tổng biên chế 37 cán bộ, công chức Năm 1991, khi thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, Sở lâm nghiệp Bắc Thái có Quyết định đưa Trạm Kiểm lâm Núi Cốc trực thuộc Ban Chi cục Kiểm lâm còn lại 27 cán bộ, công chức

Thực hiện Nghị định 39/CP của Chính phủ, UBND tỉnh Bắc Thái đã

ra Quyết định số 109/QĐ-UB ngày 30 tháng 9 năm 1994 về việc tách Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Lâm nghiệp sang trực thuộc UBND tỉnh Bắc Thái; lúc này, biên chế của Kiểm lâm Bắc Thái là 255 người

Khi tỉnh Bắc Thái chia tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có Quyết định số 39/QĐ-UB ngày 22 tháng 01 năm 1997 về việc tổ chức lại bộ máy của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên gồm: 3 Phòng tham mưu, 01 Đội Kiểm lâm cơ động, 01 Hạt phúc kiểm lâm sản và 3 Trạm kiểm soát, 01 Hạt Kiểm lâm đặc thù (quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc), 8 Hạt Kiểm lâm địa bàn (có 01 Hạt Kiểm lâm liên huyện) Năm 2004, UBND tỉnh đã có QĐ tách Trạm Kiểm lâm thị xã Sông Công trực thuộc Hạt Kiểm lâm Phổ Yên về trực thuộc Chi cục Kiểm lâm Năm 2005, UBND tỉnh có Quyết định số 1410/QĐ-UBND sáp nhập Ban quản lý rừng phòng hộ (trực thuộc Sở nông nghiệp và PTNT) và Hạt Kiểm lâm Núi Cốc thành Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc trực thuộc Chi cục Kiểm lâm

Năm 2006, UBND tỉnh có Quyết định số 448/2006/QĐ -UBND thành lập Đội Kiểm lâm cơ đông số 2 trên cơ sở sắp xếp lại 02 Trạm kiểm soát lâm sản và QĐ số 2307/QĐ-UBND ngày 18/10/2006 V/v tổ chức lại Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng huyện Võ Nhai trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên

Thực hiện Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính

phủ về Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm Ngày 28/12/2007 UBND tỉnh

Trang 35

Thái Nguyên có Quyết định số: 3091/QĐ-UBND V/v Chuyển Chi cục Kiểm Lâm trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh về trực thuộc Sở nông nghiệp

và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên

Ngày 13/01/2010 UBND tỉnh có Quyết Định số 51/QĐ-UBND về việc thành lập BQL ATK Định Hoá trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại BQL ATK Định Hoá và Hạt Kiểm lâm Định Hoá

Theo Quyết đinh số 1318/QĐ-UBND ngày 17/06/2008 V/v Tổ chức lại bộ máy của Chi cục Kiểm lâm và Quyết Định số 51/QĐ-UBND ngày 13/01/2010 Bộ máy của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên gồm: 04 phòng nghiệp vụ; 01 đội Kiểm lâm cơ động - Phòng cháy chữa cháy rừng;

08 Hạt Kiểm lâm địa bàn của 08 Huyện, Thành phố, Thi xã; 03 Ban quản

lý rừng; 02 Hạt Kiểm lâm đặc thù (Hạt Kiểm lâm Hồ Núi Cốc và Hạt Kiểm lâm rừng ATK Định Hoá)

Đến Thời điểm hiện tại Bộ máy chi cục chính thức có 05 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức XDLL, phòng tổng hợp hành chính, phòng thanh tra pháp chế, phòng bảo tồn thiên nhiên, phòng quản lý bảo vệ rừng

Để bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh bảo

vệ rừng và ngày 21/5/1973, Hội đồng chính phủ đã ban hành Nghị định 101/CP quy định Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Lực lượng kiểm lâm Nhân dân, cũng từ đó lực lượng kiểm lâm hình thành và phát triển

Ngày Kiểm Lâm Việt Nam là 21/5/1973, sau khoảng 1 năm ngày 25/3/1974 Hạt kiểm lâm Đồng Hỷ được thành lập gồm 17 cán bộ, trong đó

có 2 cán bộ trung cấp còn lại là sơ cấp Đến nay gồm 33 cán bộ

+ Ban lãnh đạo Hạt (1 Hạt trưởng, 4 Hạt phó)

Trang 36

Với nhiệm vụ là một tổ chức trong bộ máy quản lý nhà nước tham mưu cho chính quyền địa phương, đồng thời là lực lương chuyên trách, nòng cốt trong tổ chức thực hiện và thi hành pháp luật trong công tác quản

lý bảo vệ rừng, từ đó lực lượng kiểm lâm là nòng cốt trong công việc thực hiện Luật Bảo vệ và PTR trên địa bàn

2.3.2 Khái quát về địa bàn hoạt động của Hạt kiểm lâm huyện Đồng Hỷ

2.3.2.1 Khái quát về huyện Đồng Hỷ

- Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Huyện Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, có tọa độ từ 14,58 vĩ độ Bắc đến 14,62 vĩ độ Bắc; 23,58 kinh độ Đông đến 24,18 kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình, phía Đông giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương Với tổng số diện tích

tự nhiên 45.777,2 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp: 24.118,02 ha chiếm 52,7% tổng diện tích tự nhiên (Đất rừng phòng hộ là 5.773,8 ha; Đất rừng sản xuất là 18.3444,22 ha) Diện tích có rừng 23.015,9 ha, độ che phủ 47,5% Rừng trồng chủ yếu là Keo,Bạch Đàn có lớp thực bì, cành khô,lá rụng nhiều, mùa khô lá rụng nhiều chở thành vật liệu cháy, rất dễ gây cháy rừng

* Địa hình

Đồng Hỷ là huyện miền núi, với địa hình thoải dần theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, phía Bắc và phía Tây Bắc có nhiều dãy núi cao, sườn dốc thuộc các xã Văn Lăng, Tân Long, Quang Sơn, Cây Thị, Văn Han, Hợp Tiến Phía Nam và Phía Đông Nam địa hình đồi bát úp xen lẫn

* Khí hậu thủy văn

Đồng Hỷ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm một năm có 2 mùa rõ rệt

- Mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến hết tháng 10

Trang 37

- Mùa khô hanh, ít mưa từ tháng 10 đến hết tháng 4 năm sau

+ Chế độ gió: Thịnh hành là gió Đông Nam về mùa hè và gió Đông Bắc về mùa đông, mùa cháy vào tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau

Do điều kiện về mặt địa hình, nên không khí thời tiết cũng khác nhau, giữa vùng núi cao và vùng đồi, núi thấp, tạo nên các vùng tiểu khí hậu khác nhau Giữa vùng đồi núi cao và vùng đồi, núi thấp, vùng phía Nam và thị trấn có lượng mưa cao hơn, nóng hơn nhiệt độ trung bình năm

là 23,50C; lượng mưa trung bình là 19,19 mm

+ Về sông, suối, thủy lợi

- Trên địa bàn huyện có sông Cầu chảy từ Bắc Kạn dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua các xã Văn Lăng, Hòa Bình, Hóa Thượng, Linh Sơn, Huống Thượng phục vụ cho chữa cháy rừng Ngoài ra có suối Sa Lung chảy qua các xã Quang Sơn, Tân Long, Hòa Bình, riêng Quang Sơn

có đập Sa Lung tạo thành nguồn nước dồi dào cho nông nghiệp cũng như công tác phòng cháy chữa cháy rừng

- Suối Linh Nham, chảy qua các xã Văn Hán, Khe Mo, Hóa Trung cung cấp nước chữa cháy cho 4 xã

- Suối Cây Thị chảy qua các xã Tân lợi, Hợp Tiến, Cây Thị, ngoài ra còn có Hồ Cây Thị, Hồ Kim Cương (xã Cây Thị), hồ Cặp Kè (xã Hợp Tiễn) cung cấp nước chữa cháy rừng cho các xã này

- Với hệ thống sông, suối và các công trình thủy lợi trên toàn huyện đảm bảo tưới tiêu cho diện tích đất nông nghiệp và phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng

* Hiện trạng rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp 24.118,02 ha diện tích có rừng là 32.015,9 ha phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc

Trang 38

Bảng 2.5 Thống kê diện tích rừng dễ cháy

(Kèm theo phương án số 85/PA-UBND ngày/15/2016 của UBND huyện

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ)

- Rừng trồng và đất để trồng rừng tập trung chủ yếu ở Khe Mo, Văn Hán, Nam Hòa, Tân Lợi, một phần xã Văn Lăng, Cây Thị, Hợp Tiến… Thảm thực bì dưới tán rừng thường là cây cỏ, guột, những cây bụi nhỏ, về mùa hanh khô rễ bị bắt lửa Loài cây thường trồng như Keo, Bạch Đàn, một phần là do tán lá thưa, độ che phủ không cao nên dễ bị cháy,cộng vào đó là việc chăm sóc rừng và bảo vệ rừng hàng năm của các chủ rừng chưa được triệt để và đúng quy trình, nguồn vật liệu cháy chưa kiểm soát được Do vậy hàng năm thường sảy ra các vụ cháy rừng trồng ở các khu vực này

Ngoài ra các vùng đất trống, lau lách, cây bụi và rừng non mới trồng cũng rất dễ bị cháy trên diện tích rộng

Trang 39

- Rừng tự nhiên: Tập trung chủ yếu ở các xã Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Cây Thị, Hợp Tiến và phía Bắc xã Văn Hán giáp huyện Võ Nhai, là loại rừng thường xanh quanh năm Loại rừng này có điều kiện đất đai và tiểu khí hậu được cải thiện hơn Tuy vậy, hàng năm về mùa khô hanh rừng cũng dễ bị cháy do ý thức của người dân không được nâng cao trong các hoạt động canh tác, khai thác, săn bắn trong rừng

- Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội

* Dân số, lao động

Đồng hỷ có 18 xã, thị trấn gôm có 257 thôn, xóm, bản, theo tài liệu điều tra 2014, thì Đồng Hỷ có 121.905 người trong đó có 02 xã đặc biệt khó khăn là xã Văn Lăng và Tân Long, có nguồn lao động dồi dào với 56.651 người, sống chủ yếu bằng nghề nông, là chè và lâm nghiệp Trong những năm vừa qua do chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho năng suất cao Nên đời sống nhân dân đã từng bước được nâng cao

Do sống ở miền núi, nguồn củi đun còn dồi dào Vì vậy, cành khô, lá rụng do khai thác rừng để lại, người dân không tận dụng làm củi đun, không thu dọn Vì vậy, mùa khô tạo thành nguồn cháy rất lớn

TT Sông Cầu, Quang Sơn

Hệ thống đường liên tỉnh dài 27,3km từ trung tâm huyện đi tỉnh Bắc Giang qua các xã, thị trấn như: Khe Mo, Linh Sơn, Nam Hòa, TT Trại Cau, Tân Lợi, Hợp Tiến

Ngoài ra có 390km đường liên xã, liên huyện đã được dải nhựa, hoặc dải cấp phối, trong đó bê tông hóa 180km, trên 80% số thôn, xóm có ô tô vào đến xóm

Trang 40

Tuy nhiên, do đồi núi có độ dốc lớn, hầu hết các diện tích có rừng lại

xa dân cư, không có đường dân cư, không có đường ô tô vào đến chân lô, đặc biệt rừng tự nhiên và rừng núi đá Vì vậy, khi cháy rừng xảy ra, khả năng dùng xe cứu hỏa đẻ chữa cháy rất hạn chế

Bảng 2.6 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo ba loại rừng

(Huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên tính đến 31/12/2015)

Loại đất, loại rừng Mã Đầu năm Thay

đổi Cuối năm

Phân theo chức năng

Ngoài 3 loại rừng Tổng Đặc

dụng

Phòng

hộ Sản xuất TỔNG DIỆN TÍCH 0,000 24.393,77 231,75 24.625,52 24.091,32 5.773,80 18.317,52 231,75

(Nguồn:Hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ)

*Địa bàn hoạt động của hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ

Ngày đăng: 27/08/2018, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm