1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng, phát triển rau cải bắp vụ đông xuân muộn 2016 – 2017 tại huyện quản bạ tỉnh hà giang

72 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc miền núi trong việc phòng trừ

Trang 1

-

HỨA VĂN CHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU THẢO MỘC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN RAU CẢI BẮP

VỤ ĐÔNG XUÂN MUỘN 2016 – 2017 TẠI HUYỆN QUẢN BẠ

Khoá học : 2013 - 2017

Thái Nguyên, 2017

Trang 2

-

HỨA VĂN CHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU THẢO MỘC ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN RAU CẢI BẮP

VỤ ĐÔNG XUÂN MUỘN 2016 – 2017 TẠI HUYỆN QUẢN BẠ

Thái Nguyên, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các thông tin trong luận văn đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc trích dẫn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Sinh viên

Hứa Văn Chung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng Đào tạo, các cán bộ & giáo viên Khoa Nông học thuộc trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Bùi Lan Anh – người giáo viên tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian định hướng và chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy Ban nhân dân, gia đình cô Trâm huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực hiện đề tài

Xin gửi tấm lòng tri ân tới Gia đình của tôi Những người thân yêu trong Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao, là những người truyền nhiệt huyết, luôn dành cho tôi sự quan tâm, sự trợ giúp trên mọi phương diện để tôi yên tâm học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Hứa Văn Chung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây rau 5

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau 5

2.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau 6

2.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 8

2.3.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới 8

2.3.2 Tình hình sản xuất rau ở châu Á và Việt Nam 11

2.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam 17

2.5.1 Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) (Còn gọi sâu nhảy dù, sâu kén mỏng) 17

2.5.2 Rệp hại rau (Brevicoryne brassicae L.) 18

2.5.3 Sâu xanh bướm trắng hại rau (Pieris rapae Linnaeus) 18

2.5.4 Bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta vitata Fabr) 19

2.5.5 Sâu khoang (Sâu keo) Spodoptera litura Fabicius 20

Trang 6

2.6 Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ tổng quan tài liệu 21

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu 24

3.1.3 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Nội dung 25

3.2.1.Điều tra tình hình sản xuất và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau tại Hà Giang 25

3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017 25

3.2.2 Nghiên cứu hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017 25

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau cải bắp 26

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 27

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Tình hình sản xuất rau và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu trên rau tại Hà Giang29 4.2 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp 33

4.2.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc đến thời gian sinh trưởng của rau cải bắp 33

4.3 Nghiên cứu hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại cải bắp vụ đông xuân muộn năm 2016 - 2017 tại Quản Bạ tỉnh Hà Giang 38

4.3.1 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu xanh bướm trắng 38

Trang 7

4.3.2 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu tơ 39

4.3.3 Hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu khoang 41

4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất rau cải bắp vụ đông xuân muộn 2016 - 2017 tại Quản Bạ tỉnh Hà Giang 42

4.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc đến khối lượng trung bình bắp 43

4.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc đến tỷ lệ cuốn bắp44 4.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất bắp cải 44

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 9 Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2010 10 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm 11 Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2014 12 Bảng 4.1 Diện tích rau của tỉnh Hà Giang năm 2016 29 Bảng 4.2 Diện tích rau các loại của tỉnh Hà Giang năm 2016 31 Bảng 4.3 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rau tại Hà Giang 32 Bảng 4.4: Ảnh hưởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc đến thời gian sinh trưởng của rau cải bắp 34 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc đến khả năng ra lá và đường kính tán bắp cải 36 Bảng 4.6 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Thí nghiệm ngoài đồng ruộng) 38 Bảng 4.7 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Thí nghiệm ngoài đồng ruộng) 40 Bảng 4.8 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang 41 Bảng 4.9 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất bắp cải 43

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu thảo mộc

đến sinh trưởng của rau cải bắp 25

Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định hiệu lực trừ sâu hại rau cải bắp 26

Hình 4.1 Thời gian từ trồng đến trải lá của rau cải bắp vụ Đông xuân muộn năm 2016 - 2017 tại Quảng Bạ tỉnh Hà Giang 34

Hình 4.2 Thời gian từ trồng đến cuốn của rau cải bắp vụ Đông xuân muộn năm 2016 - 2017 tại Quảng Bạ tỉnh Hà Giang 35

Hình 4.3 Thời gian từ trồng đến thu hoạch của cải bắp vụ Đông xuân muộn năm 2016 - 2017 tại Quản Bạ tỉnh Hà Giang 36

Hình 4.4 Số lá/cây cải bắp trong vụ Đông xuân muộn năm 2016 - 2017 tại Quản Bạ tỉnh Hà Giang 37

Hình 4.5 Đường kính tán cây cải bắp 38

Hình 4.6 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng sau phun 5 ngày 39

Hình 4.7 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ sau phun 5 ngày 40

Hình 4.8 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang sau phun 5 ngày 42

Hình 4.9 Khối lượng trung bình bắp cải 43

Hình 4.10 Tỷ lệ cuốn bắp 44

Hình 4.11 Năng suất thực thu của bắp cải 45

Trang 10

United Nations) -Tổ chức lương thực thế giới

Statistical Database) - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (Tổ chức Nông lương thế giới của Liên Hợp Quốc)

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau họ hoa thập tự (họ cải - Brassicas), có vai trò quan trọng đối với đời

sống hàng ngày của nhân dân ta Họ này có thành phần khá phong phú như: rau cải xanh, cải bắp, su hào, giữ vai trò quan trọng trong vụ Đông Xuân So với năng suất rau của nhiều nước trên thế giới, năng suất rau ở nước ta còn thấp, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sâu bệnh hại Theo thống kê chưa đầy

đủ, hàng năm sâu hại làm giảm năng suất rau 15 – 20% Trong các loài sâu hại

cải, sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) là một trong những đối tượng

gây hại nguy hiểm vì sâu không chỉ chích hút nhựa cây, gây tổn thương cho cây,

mà sâu còn là môi giới (vật chủ trung gian) truyền 17 loại bệnh virus cho cây

như: Cauliflower Mosaic Virus (CaMV), Turnip Mosaic Virus (TuMV), Blue white yellows Virus (BWYR), [34], [36], [37] Đây là một loại bệnh cực kỳ

nguy hiểm nhất đối với cây trồng nói chung và rau họ hoa thập tự nói riêng, vì khi cây bị bệnh không có biện pháp nào để trừ, lúc đó cách duy nhất là nhổ bỏ cây bị bệnh và vệ sinh ngay vùng đó để bệnh khỏi lan truyền sang diện rộng Cho nên, để phòng ngừa bệnh virus hại rau họ hoa thập tự, việc quan trọng là phải diệt trừ môi giới truyền bệnh virus đó là sâu

Ở những nước phát triển như: Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Pháp, Nhật,

để phòng trừ sâu hại cải, có nhiều biện pháp như: Sử dụng thiên địch như: Bọ rùa

chữ nhân Coclinella repanda, bọ rùa 4 vạch, Chilomenes quadriplahiata, bọ rùa 6 vạch Chilomenes sexmaemlatu, bọ rùa 2 đốm đỏ Coelophora liplagiata, bọ rùa 8 vạch Synharmonia octomaculuta và ấu trùng ruồi Sirphus sp, bọ mắt vàng Chrysopa carnae; các chế phẩm sinh học (chế phẩm có nguồn gốc từ virus, vi

khuẩn, nấm); thuốc trừ sâu thảo mộc, Đặc biệt không sử dụng thuốc hóa học phun cho rau vì nó là cây trồng có chu kỳ sinh trưởng ngắn [37], [38], [39]

Ở Việt Nam, người nông dân ở miền xuôi, các quận, huyện gần khu đô thị

không áp dụng biện pháp phòng trừ sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus

Trang 12

persicae) hại rau họ hoa thập tự như trên, theo họ thuốc hóa học vừa rẻ tiền hơn

so với các chế phẩm sinh học và thiên địch, lại vừa có hiệu quả cao và nhanh

Còn đối với nông dân là các dân tộc vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện kinh tế khó khăn, đường xá, giao thông đi lại vất vả, cho nên cuộc sống của họ chủ yếu là tự cung tự cấp Song, chính cuộc sống đó đã gắn bó họ với tự nhiên, họ có những kinh nghiệm, những hiểu biết rất tốt về môi trường xung quanh, họ biết khai thác và sử dụng thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển

ổn định cuộc sống của mình như: Dùng các loài thực vật (củ ấu tàu, quả bồ kết, lá vông, gừng, lá rận trâu, ) để chữa bệnh cho người và gia súc; dùng quả thàn mát, bồ hòn, mã tiền, sừng dê, thiên thông, để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại cây trồng Với biện pháp đơn giản, dễ làm này, họ hoàn toàn chủ động trong việc bảo vệ cây trồng trước các loài dịch hại; đồng thời an toàn đối với con người và không gây ô nhiễm môi trường

Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc miền núi trong việc phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu hại cải nói riêng,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc

trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng, phát triển rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn

2016 – 2017 tại huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang“ từ đó phát huy tích cực kiến thức

bản địa và có sự kết hợp với những kiến thức khoa học sẽ góp phần quan trọng trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thực vật trong việc quản lý dịch hại cây trồng; đồng thời an toàn với con người và không gây ô nhiễm môi trường

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Trang 13

- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của rau cải bắp vụ Đông Xuân muôn năm 2016-2017

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được hiệu quả trừ sâu của 03 loại thuốc trừ sâu thảo mộc và của 01 dung dịch ngâm hỗn hợp thực vật, góp phần làm sáng tỏ hơn về mối quan hệ đối kháng giữa những loài thực vật với một số dịch hại cây trồng;

- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học mới về hiệu lực của một số thuốc trừ sâu thảo mộc và của hỗn hợp dung dịch ngâm thực vật (tỏi, ớt, gừng) trong phòng trừ những loài sâu phổ biến hại rau họ hoa thập tự (sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, sâu tơ, bọ nhảy, rệp muội) Từ đó, làm cơ sở cho việc nghiên cứu xác định các hoạt chất, cơ chế tác động của các hoạt chất đó lên dịch hại cây trồng

- Kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện được quy trình sản xuất rau cải bắp vừa đạt được năng suất, vừa an toàn với người sử dụng Kết quả này góp phần thay đổi thói quen của người nông dân trong việc sử dụng hóa chất BVTV có nguồn gốc hóa học

để sản xuất nông nghiệp nói nói chung và rau cải bắp nói riêng; đồng thời góp phần giảm thiểu việc sử dụng và nhập khẩu hóa chất bảo vệ thực vật để phát triển nông nghiệp theo hướng an toàn bền vững

- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các lĩnh vực: Trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ, cây rau, bảo vệ thực vật, côn trùng, sinh thái nông nghiệp và lĩnh vực hóa học các hợp chất tự nhiên

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đã hoàn thiện quy trình sản xuất rau cải bắp bằng việc sử dụng một số loại thuốc trừ sâu thảo mộc và của dung dịch ngâm hỗn hợp thực vật Từ đó, ứng dụng kết quả này trong sản xuất rau an toàn tại tỉnh Hà Giang và các vùng lân cận, góp phần giảm thiểu việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, cải tạo tạo sinh cảnh và môi trường sống; đồng thời nâng cao ý thức của mọi người người (đặc biệt là người nông dân) về nền nông nghiệp sinh thái bền vững

Trang 14

Phần 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Rau họ hoa thập tự Brassicae (Cruistacae) là loài cây trồng phổ biến ở nhiều

nước trên thế giới, nó không chỉ là nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người mà còn là dược phẩm quý trong y học Thời kỳ Hypocates đã sử dụng món rau bắp cải luộc với muối để chữa bệnh tiêu chảy Cổ sử La Mã và Hy Lạp đã dùng rau cải để chữa bệnh đau đầu, bệnh goute, chữa vết bầm, vết thương, nhiễm trùng da, mụn nước, nước ăn chân, chữa sưng, bệnh trĩ và tiêu độc Binh sĩ Roman đã dùng lá bắp cải để chữa trị vết thương bằng cách giã nhỏ lá bắp cải rồi đắp vào vết thương, thay 1-3 lần/ngày

Ngày nay, ở các nước phát triển đã dùng bắp cải để chữa bệnh đau cơ, đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, chữa bệnh viêm khớp bằng cách hơ nóng lá bắp cải rồi chườm lên chỗ bị đau; chữa bệnh viêm loét vì trong bắp cải có vitamin U Ngoài ra, trong rau họ cải rất giàu thành phần beta carotene, canxi, tốt cho xương, răng và chữa bệnh còi xương ở trẻ nhỏ Vitamin C và vitamin A trong rau cải có tác dụng giải độc tố ra khỏi cơ thể, ngăn ngừa cảm cúm, tăng cường khả năng trao đổi chất và tăng sức đề kháng, chữa cảm lạnh Đặc biệt, trong rau cải có các chất có tác dụng giảm nguy cơ đau tim, giảm nguy cơ ung thư phổi của người hút thuốc lá 50-70% và phòng chống các bệnh ung thư khác như: carotenoid, sulforaphane, isothiocyanates, indole 3 carbinol, glucosinolates indolyl, dihiolthines,…Nhiều tác giả đã khẳng định được, rau họ hoa thập tự có tác dụng ngăn ngừa 40-70% ung thư Chính vì vậy, diện tích và chủng loại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam ngày càng tăng lên mạnh mẽ Theo FAOSAT (2012), năm 2006, diện tích rau họ hoa thập tự ở Việt Nam là 39.9000 ha; đến năm 2007 đạt 42.435 ha, tăng 6,35% so với năm 2006 và đến năm 2010 diện tích rau họ hoa thập tự đạt 44.800ha, tăng 4,48% so với năm

2009 (đạt 42.881 ha) và cao hơn diện tích trung bình 5 năm (2006 – 2010 đạt 42.526,6 ha) 2.270,4 ha Chính sự gia tăng về diện tích, cùng với việc thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng và quy hoạch vùng sản xuất rau chuyên canh làm cho tình hình sâu hại diễn biến phức tạp hơn, xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh

Trang 15

hại mới Để phòng trừ dịch hại, người nông dân ở miền xuôi, các quận huyện gần khu đô thị sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có độ độc cao, thời gian cách ly dài Các thuốc hóa học này không chỉ gây độc đối với người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, để lại dư lượng thuốc BVTV, làm giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cân bằng sinh thái Còn đối với người nông dân là các dân tộc vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện kinh tế khó khăn, đường xá giao thông đi lại vất vả, cuộc sống của họ chủ yếu là tự cung, tự cấp thì họ có những kinh nghiệm, những hiểu biết rất tốt về môi trường xung quanh, họ biết khai thác và

sử dụng thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển và ổn định cuộc sống của mình như: Dùng các loài thực vật (củ ấu tàu, quả bồ kết, lá vông, gừng, lá rận trâu,…) để chữa bệnh cho người và gia súc; dùng hạt thàn mát, quả bồ hòn, mã tiền, sừng dê, thiên thông,… để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại cây trồng Với biện pháp đơn giản, dễ làm này họ hoàn toàn chủ động trong bảo vệ cây trồng trước các loài dịch hại; đồng thời an toàn đối với con người và không gây ô nhiễm môi trường

Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và một số thuốc trừ sâu thảo mộc trong việc phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu hại rau cải bắp nói riêng, chúng

tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số thuốc trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp tại Hà Giang”

2.2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây rau

2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau

Chỉ một câu nói truyền miệng: “Cơm không rau như đau không thuốc”,

chúng ta đã thấy được vai trò quan trọng của rau đối với sự tồn tại, cân bằng, duy trì

và phát triển cuộc sống của con người Ngày nay, khi các ngành khoa học hiện đại phát triển, con người càng khẳng định được, rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con người, vì rau là nguồn cung cấp các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự duy trì, phát triển và bảo vệ cơ thể Các loại vitamin (A, B, C, E, ) trong rau có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, chống ôxy hóa, giảm huyết áp, giảm cholesterol trong máu, phòng chống bệnh tim mạch

và đột quỵ, hạn chế sự phát triển của một số tế bào ung thư; đồng thời, có tác dụng làm đẹp cơ thể và kéo dài tuổi xuân [33] Các muối khoáng (kali, canxi, magiê,…)

Trang 16

trong rau có tính kiềm, những chất này cần thiết để trung hòa các sản phẩm axít do thức ăn hoặc do quá trình chuyển hóa tạo thành để chống thiếu máu, tăng thêm sức dẻo dai và khả năng chống đỡ với bệnh tật tiểu [3], [9], [17] Ngoài ra, rau còn cung cấp cho con người một lượng lớn chất xơ, làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón, ngăn ngừa ung thư đường tiêu hóa, làm giảm ung thư trực tràng,

đái tháo đường [29], [30], [40]

Qua đó ta thấy, rau quả có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe con người Ở Việt Nam, rau là nguồn thức ăn dồi dào, phòng phú, chúng ta nên biết cách chọn, sử dụng các loại rau quả một cách hợp lý để nâng cao sức khỏe, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ

2.2.2 Giá trị kinh tế của cây rau

Ngoài giá trị dinh dưỡng rất cao rau xanh còn là một cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế khá lớn cho người nông dân

Kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến rau hoa quả là một trong 10 nhóm mặt hàng đứng đầu cả nước, trong đó có 85 – 90% là sản phẩm chế biến [15]

Theo số liệu chính thức của tổng cục hải quan kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng 6/2009 đạt 46,02 triệu USD tăng 30% sơ với tháng trước và tăng đến 73,8% so với tháng 6/2008 Tính chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường đạt 209,61 nghìn USD, tăng 13,69% so với cùng kỳ năm 2008 [19]

Trong 8 tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt

424 triệu USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 83% so với cùng kỳ năm 2010

Dự kiến, năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 500 triệu USD, tăng 10% so với năm 2010 và tăng 12% so với năm 2009 [21]

Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu của gần 60 quốc gia trên thế giới về các sản phẩm rau hoa quả của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong 8 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu sang các nước tăng 9,0 – 74,0% so với 8 tháng đầu năm 2010 Các sản phẩm rau quả xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm chế biến, xuất khẩu tươi rất ít, chiếm tỷ trọng 2,5% Trong đó, chủ yếu là xuất khẩu

Trang 17

Thanh Long tươi đến các nước trong khu vực; còn các mặt hàng rau củ quả khác ở Việt Nam mặc dù còn dư thừa rất nhiều, nhưng chưa đủ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn cung cấp cho các nhà máy chế biến để xuất khẩu và cho xuất khẩu vì: chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm (dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng kim loại nặng, …), chất lượng bao bì,… của các sản phẩm chưa đảm bảo Cho nên, đa số các nhà máy chế biến đều thiếu nguyên liệu, hầu hết các vùng nguyên liệu mới chỉ cung cấp được 60% sản phẩm cho các dây chuyền chế biến hoạt động Dự báo đến cuối năm 2011, xuất khẩu rau quả tiếp tục tăng mạnh [21] Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, chế biến xuất khẩu và nội tiêu ngày càng tăng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kinh Tần đã phê duyệt quyết định số 52/2007/QĐ-BNN ngày 06/6/2007 về định hướng quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn

2020 Trong đó, diện tích trồng rau năm 2010 phấn đấu đạt 700 nghìn ha (trong đó rau an toàn và rau công nghệ cao khoảng 100 ngàn ha), sản lượng 14 triệu tấn [20] Ngoài ra, rau là nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm như:

- Công nghiệp đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau…)

- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây…)

- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt…)

- Công nghiệp chế biến thuốc, dược liệu (tỏi, hành, rau, gia vị…)

- Làm hương liệu (hạt, mùi, ớt…)

Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như ngành chăn nuôi (rau là nguồn thức ăn cho ngành chăn nuôi)

Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với lợi thể là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm Do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Mặt khác, rau

có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đa dạng hóa sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế [12] Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn Theo Cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiều

Trang 18

hơn 1 – 1,5 lần trong 5 – 6 tháng, chỉ trong 20 – 30 ngày năng suất rau muống đạt tới 10 tấn/ha [14]

Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội, thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lương thực [11]

Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sống của người nông dân trong những năm gần đây, góp phần xóa đói giảm nghèo, điển hình:

Xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông, trước đây người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn Vài năm gần đây, nhiều người nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậu các loại năng suất 3,5 tấn/sào mang lại thu nhập cao hơn trồng lúa 6 – 7 lần [4]

Người dân xóm 7 xã Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đã thành công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thu nhập từ 20 – 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ

Như vậy, so với các cây trồng khác, cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập vượt trội so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này đã được thực tiễn chứng minh và công nhận

2.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân [1] Năm 1961 -

1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13,555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thụ rau bình quân là 70 kg/người/năm [7]

Trang 19

Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng 1.1:

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm

Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

- Về năng suất: Trong giai đoạn 2005 – 2009, năng suất rau không tăng mà giảm từ 141.467–139.697 ha Trong đó, năng suất rau năm 2008 cao nhất, đạt 143.767 kg/ha, tăng 2300 kg/ha so với năm 2005; sau đó năng suất rau tăng dần ở những năm tiếp theo và năng suất rau cao nhất năm 2014 (đạt 144.035 kg/ha)

Về sản lượng: Trong vòng 8 năm (2005 – 2012), sản lượng rau cao nhất ở năm

2012 (đạt 274.321.455 tấn) Tuy năm này không phải là năm có diện tích và năng suất rau cao nhất, nhưng cũng không phải là thấp so với các năm khác trong giai đoạn này, cụ thể: Năm 2012, diện tích rau lớn nhất, đạt 19.142.314 ha; nhưng năng suất năm này tương đối cao, đạt 143.316 kg/ha

+ Năm 2014 là năm có năng suất rau lớn nhất trong vòng 10 năm qua (đạt

144.035 kg/ha); diện tích rau năm này cũng đạt mức cao nhất (đạt 20.118.345 ha)

dẫn đến sản lượng rau năm 2014 đạt 289.788.862 tấn, sản lượng cao nhất trong 10 năm trở lại đây [31]

Trang 20

Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, kết quả thu được ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2010

Khu vực Diện tích

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản lượng (tấn)

Qua bảng 1.2 cho thấy: Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất, đạt 14.643.686

ha, chiếm 79,87% diện tích rau của thế giới; diện tích trồng rau của châu Úc ít nhất, chỉ đạt 7.381 ha, chiếm 0,2% diện tích rau của thế giới [31]

- Về năng suất: Châu Úc là châu lục có năng suất rau cao nhất thế giới (đạt 298.074 kg/ha) và cao hơn năng suất bình quân của thế giới 19,18% Đứng thứ hai là châu Âu, có năng suất lớn hơn năng suất bình quân thế giới là 7,6%; tiếp theo là châu Á, có năng suất lớn hơn năng suất bình quân thế giới là 4,89% và thấp nhất là châu Phi, có năng suất bình quân 67.744 kg/ha, thấp hơn năng suât bình quân thế giới 49,4% [31]

- Về sản lượng: Châu Á có sản lượng rau cao nhất, đạt 224.516.339 tấn, chiếm

85,96% so với tổng sản lượng rau toàn thế giới; tiếp đến là sản lượng rau của châu Phi, đạt 17.049.846 tấn, chiếm 6,77% tổng sản lượng rau toàn thế giới và sản lượng rau của châu Úc là thấp nhất, đạt 220.003 tấn, chiếm 0,21% tổng sản lượng rau toàn thế giới [31]

Như vậy, từ kết quả nghiên cứu đánh giá của bảng 1.1 và 1.2 ta thấy: Diện tích trồng rau trên thế giới trong những năm qua vẫn tăng, tuy nhiên năng suất và sản lượng rau không ổn định: Diện tích trồng rau lớn nhất và nhì thế giới tập trung chủ yếu ở châu Á (chiếm 79,87% % tổng diện tích rau thế giới) và châu Phi (chiếm 13,39% tổng diện tích rau thế giới) Đây là 2 châu lục trong những năm qua bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, của thiên tai (hạn hán, lũ lụt và sâu bệnh hại,…) cho nên năng suất, sản lượng rau ở hai khu vực này bị giảm mạnh mẽ, tuy nhiên đến

Trang 21

năm 2012 trở lại đây tình hình sản xuất rau trên thế giới nói chung và tại châu Á, châu Phi nói riêng đã ổn định và tăng trở lại [31]

2.3.2 Tình hình sản xuất rau ở châu Á và Việt Nam

Nghiên cứu tình hình sản xuất rau ở châu Á qua các năm kết quả thu được ở bảng 1.3

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm

Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

Năng suất rau của châu Á cao nhất vào năm 2007 (đạt 155.467 kg/ha), nhưng diện tích rau năm đó lại ít (đạt 13.640.985 ha), ít hơn so với năm 2015 là 2.529.595 ha Cây rau phân bố không đều giữa các nước trong khu vực, qua nghiên cứu tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2012, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 1.4

Qua bảng 1.4 ta thấy: Trung Quốc là nước có diện tích (đạt 9.712.518 ha, chiếm 64,1% tổng diện tích rau châu Á) và sản lượng (đạt 160.916.846 tấn, chiếm 69,36% tổng sản lượng rau châu Á) lớn nhất châu Á [31]

Trang 22

Hàn Quốc là nước có năng suất rau lớn nhất (đạt 458.333 kg/ha) cao hơn năng suất trung bình của châu Á là 331.543 kg/ha Maldives là nước có diện tích (đạt 1.300 ha, chiếm 0.00858% diện tích rau châu Á) và sản lượng rau (đạt 2.500 tấn, chiếm 0.001077% sản lượng rau châu Á) thấp nhất châu Á [31]

Brunei là nước có năng suất rau đạt 8.158 kg/ha, thấp hơn năng suất trung bình của châu Á 146.933 kg/ha và là nước có năng suất thấp nhất châu Á [31]

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2014

Khu vực Diện tích (ha) Năng suất

Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư Cuối thế kỷ IXX, nhân dân đã biết trồng rất nhiều loai rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ,

cà rốt, hành tây,… Thế kỷ XX ở nước ta đã hình thành và phát triển các vùng chuyên canh Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam

Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời Ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình Theo sổ sách ghi chép thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ X Thế kỷ thứ XVIII, Lê Quý Đôn đã tổng kết

Trang 23

các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng, cải bẹ và cải đông dư Cuối thế kỷ IXX, nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây,… Đến thế kỷ XX ở nước ta hình thành và phát triển các vùng chuyên canh Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam [7]

Theo Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, (2000): cho đến nay chúng ta có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực Trong số này có hơn 80% là rau ăn lá [12]

Theo kết quả đánh giá của FAO ở bảng 1.4 ta thấy: Việt Nam là nước có diện tích rau (705.619 ha, chiếm 4,49% tổng diện tích rau châu Á và có diện tích rau lớn thứ 3 trong khu vực (sau Trung Quốc và Ấn Độ) Năng suất rau trung bình của Việt Nam đạt 161.219 kg/ha, cao hơn năng suất trung bình của châu Á (155.091 kg/ha) là 6.128 kg/ha

và đứng thứ 3 trong khu vực (sau Hàn Quốc, Trung Quốc ) [31]

Sản lượng rau của Việt Nam đạt 11.375.934 tấn, đứng thứ 3 của chấu Á (sau Trung Quốc và Ấn Độ) Diện tích rau của Việt Nam đứng hàng thứ 3 và năng suất đứng thứ 3 của châu Á, nhưng tổng sản lượng rau vượt lên hàng thứ 3 là do: Năng suất rau trung bình của Việt Nam là 161.219 kg/ha Cho nên, sản lượng rau của Việt Nam cao hơn các nước khác, chỉ thấp hơn sản lượng rau của Trung Quốc và Ấn Độ [31]

Năng suất rau của Hàn Quốc (đạt 458.333 kg/ha) cao hơn năng suất rau của Việt Nam (đạt 161.219 kg/ha); nhưng diện tích rau của Hàn Quốc (đạt 72.000 ha), ít hơn diện tích rau của Việt Nam 633.619 ha Cho nên sản lượng rau của Hàn Quốc thấp hơn sản lượng rau của Việt Nam [31]

2.4 Tình hình nghiên cứu, sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ dịch hại cây trồng trên thế giới và Việt Nam

Ngay từ khi mới hình thành, loài người đã biết sử dụng cây cỏ vào mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Thủa sơ khai, con người sử dụng thực vật chỉ đơn giản là phục vụ nhu cầu sinh học đó là cái ăn và chỗ ở Dần dần theo sự phát triển, con người bắt đầu khai thác, sử dụng thực vật vào cả các mục đích khác nhau như: chữa bệnh chăm sóc sức khỏe cho người và vật nuôi; sử dụng những cây

Trang 24

hoang dại có tính độc để săn bắn, ruốc cá; dùng cây, cỏ để trừ chấy rận, sâu, sâu hại cây trồng; sản xuất thành các dạng đồ uống, đồ mặc, đồ trang trí, và theo thời gian, con người càng hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau; giữa các loài thực vật với các sinh vật khác (côn trùng, các vi sinh vật gây hại cây trồng,…) và mối quan hệ giữa con người với cây cỏ

Từ 300 năm trước công nguyên, khi học giả Theophrastus nhận thấy, cây đậu Chikpea gây ức chế cây trồng thông qua việc tiết vào đất một chất nào đó Nhiều năm sau Pliny II và các nhà khoa học Culpeper, Young và De candole (thế kỷ I sau công nguyên) cũng đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên đó chỉ là những nhận xét trực quan chứ không phải là những thí nghiệm so sánh [31], [31]

Vào đầu thế kỷ XIX, nhà phân loại thực vật nổi tiếng De Candole (1832) đã gây được sự chú ý, khi ông quan sát thấy các chất tiết ra từ rễ của một số loại cây đã gây ra hiện tượng “đất ốm” và điều này có thể khắc phục được nếu có chế độ luân canh thích hợp Sự quan sát của ông mới chỉ dựa trên các thí nghiệm đơn giản Vì thế, giả thiết của ông đã bị nhiều học giả bác bỏ

Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề này lại được quan tâm và xới xáo lên bởi các nghiên cứu của Schreiner & các cộng sự ở Mỹ [44], [45], [46] và Pickering cùng các cộng sự ở Anh [47]

Từ năm 1960 đến nay, những nghiên cứu về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp và những nghiên cứu này đã được tiến hành trong phòng thí nghiệm, nhà kính, đồng ruộng và từ đó người ta đã bắt đầu biết khai thác các hợp chất độc thiên nhiên để diệt trừ sâu hại, bảo vệ mùa màng Trong đó, ba hợp chất nicotine, rotenone và pyrethrin là 3 loại thuốc trừ sâu điển hình và phổ biến nhất thế giới từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 Hàng năm, có hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn tấn nguyên liệu được khai thác Đồng thời với 3 loại thuốc chủ yếu trên, nhiều loài cây độc khác cũng được chú ý nghiên cứu và khai thác Đặc biệt, từ khi thuốc hóa học đã bộc lộ những mặt tiêu cực của nó, người ta đã chú ý tới thuốc thảo mộc và các loại thuốc sinh học khác Nhiều nước đã liên tiếp công bố các loài cây độc có khả năng trừ sâu hại ở nước mình Điển hình là công trình đồ sộ của Grainge et al (1984) đã giới thiệu hàng ngàn cây độc có khả năng trừ sâu, bệnh hại cây trồng và cơ chế tác động của nó Từ năm 1970 trở lại đây, thế giới chú ý nhiều tới cây neem – một loài xoan Ấn Độ có khả năng trừ sâu lý tưởng và đã có

Trang 25

nhiều hội nghị Quốc Tế tổng kết, trao đổi, giới thiệu và xu hướng sử dụng cây neem làm thuốc trừ sâu thảo mộc [30]

Những hiểu biết về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng được tích lũy nhiều hơn và cơ chế tác động của những loài thực vật đó đã dần dần được làm sáng tỏ Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng những loài thực vật đó để trừ cỏ, trừ sâu và bệnh hại cây trồng

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kỹ thuật phân tích như: nguyên tử đánh dấu sắc ký, quang phổ, thì việc nghiên cứu xác định, chọn lựa những loài cây trồng có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng ngày càng được quan tâm thực hiện một cách có hiệu quả Những nghiên cứu này đã và đang tạo tiền đề cho việc phân lập, chiết xuất và sản xuất các thuốc thảo mộc để phòng trừ dịch hại cây trồng nhằm góp phần vào việc ứng dụng bảo vệ cây trồng theo hướng bền vững để đáp ứng nông sản thực phẩm an toàn cho cuộc sống chung của con người

Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, với sự thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấp phía Nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía Bắc Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều dạng địa hình khác nhau tạo điều kiện cho sự đa dạng sinh vật và phong phú về tài nguyên

Việt Nam với 54 dân tộc cùng chung sống, nhưng do tập quán, truyền thống

và điều kiện tự nhiên khác nhau nên ở mỗi vùng cư trú, mỗi dân tộc, cộng đồng dân

cư đã đúc kết và tích luỹ cho riêng mình những kinh nghiệm quý báu về sử dụng thực vật để phục vụ các nhu cầu của cuộc sống Cho tới nay, hầu hết các kinh nghiệm chỉ được lưu truyền và ứng dụng trong nội bộ mỗi cộng đồng Hiện nay, các nhà nghiên cứu trên thế giới thừa nhận rằng tri thức và kinh nghiệm sử dụng thực vật của các dân tộc là tài nguyên phi vật thể quý giá của mỗi quốc gia Nhiều tri thức, kinh nghiệm có thể ứng dụng để sản xuất các sản phẩm mới góp phần phát triển kinh tế xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thực vật Trong các kiến thức, kinh nghiệm sử dụng cây cỏ phục vụ cuộc sống, việc khai thác và sử dụng những loài thực vật trong phòng trừ dịch hại cây trồng là một hướng đi đúng đắn hiện nay vì biện pháp này vừa đơn giản, dễ làm, thời an toàn đối với con người

và không gây ô nhiễm môi trường; đồng thời người nông dân có thể hoàn toàn chủ động trong việc bảo vệ cây trồng trước các loài dịch hại

Trang 26

Ở Việt Nam, ngay từ năm 1960 Lê Trường và cs đã đề cập đến hiệu lực trừ sâu của một số cây độc chính ở dạng đơn giản, nhưng ngay sau đó thuốc trừ sâu hóa học tràn vào, thuốc thảo mộc bị quên dần Cho đến năm 1980, thuốc thảo mộc lại được đề cập đến Trong các loài thực vật được nghiên cứu, cây ruốc cá được nghiên cứu đầy đủ nhất Lúc đó, cây ruốc cá được dùng nhiều để trừ cá dữ ở những vùng nuôi tôm cá Tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chế biến bảo quản sản phẩm vì sản phẩm rotenone mất hiệu lực nhanh

Sau đó nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của thuốc thảo mộc như: thí nghiệm thăm dò tính độc của cây đối với sâu hại của Đào Văn Tiến (1994) [18]; Nguyễn Duy Trang (1990, 1992, 1994a, 1995,1994b ) [23], [24], [25], [26], [27]

Từ năm 2004 – 2006, TS Phan Phước Hiền - Trường Đại học Nông Lâm TPHCM đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu chiết xuất và sử dụng các hoạt chất thứ cấp từ một số cây cỏ Việt Nam phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và y

dược” Đề tài đã khảo sát thu thập, nghiên cứu đặc điểm sinh hoá của cây Dewis trifoliata, Hibercus sabda Đồng thời ngâm chiết, chưng cất, cô đặc, tinh sạch một

số hợp chất hữu cơ phục vụ cho sản xuất các chế phẩm sinh học trong y dược

Cũng tương tự như vậy TS Nguyễn Hữu Hồng, Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng một số loài thực vật vào việc phòng trừ cỏ dại cho lúa nước ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam” Kết quả đề tài đã thu thập đánh giá được vai trò và khả năng trừ

cỏ dại cho lúa nước của 7 loài cây (cây cứt lợn, cây đơn kim, cây guột, cây cỏ lào, cây đậu ma, cây keo dậu và cây xoan)

Từ năm 2010 – 2014, TS Bùi Lan Anh, Trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, đã nghiên cứu sử dụng dung dịch ngâm thân lá cà chua; dung dịch ngâm quả ớt chỉ thiên, dung dịch ngâm quả cà độc dược, dung dịch ngâm củ tỏi, dung dịch ngâm hạt thàn mát, dung dịch ngâm quả bồ hòn và dung dịch ngâm hỗn hợp ớt + tỏi để phòng trừ sâu hại rau cải bắp Kết quả cho thấy, các dung dịch ngâm thực vật đều có hiệu quả trừ sâu cao (đạt trên 50 – 90%) Trong đó dung dịch ngâm quả bồ hòn có hiệu quả phòng trừ cao nhất (đạt 88,61 – 100% đối với từng loài sâu hại)

Tuy có một số ít đề tài đã và đang nghiên cứu lựa chọn một số thuốc trừ sâu thảo mộc, một số loài thực vật để phòng trừ dịch hại cây trồng nhưng với số lượng

Trang 27

được nghiên cứu là rất khiêm tốn so với tiềm năng số lượng loài thực vật có thể nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam

2.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam

Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm sâu hại rau đã làm giảm năng suất 10 -15% Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng, trên rau họ hoa thập tự có 13 loài sâu hại su hào, 12 loài hại trên cải bắp và 28 loài hại trên cải xanh Hiện nay những loài sâu phổ biến và gây hại nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự là: rệp, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy…

2.5.1 Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) (Còn gọi sâu nhảy dù, sâu kén mỏng)

Họ ngài rau Plutellidae, Bộ cánh vảy Lepido ptera

* Đặc điểm hình thái

Ngài thân dài 6 - 7 mm sải cánh 12 - 15mm màu xám đen, cánh trước màu nâu Từ chân cánh đến góc sau có một dải màu trắng ở con đực và vàng ở con cái, dải này hình nhấp nhô nên có cảm giác chia làm 3 đoạn khi đậu cánh xếp xiên hình mái nhà, cuối cánh hơi cao lên, mép ngoài có lông dài

- Trứng hình bầu dục màu vàng xanh nhạt đường kính 0.3 - 0.5mm

- Sâu con màu xanh nhạt, đẫy sức 9 - 10mm, mỗi đốt đều có lông nhỏ, phía trước mép ngoài của phần góc chân bụng có một u lôn hình tròn, trên đó có 3 lông nhỏ Trên mảnh cứng lưng ngực trước có những chấm xếp hình chữ U Nhuộm màu vàng nhạt dài 5 - 6 mm mắt rất rõ, kén mỏng hình thoi nên sâu tơ còn được gọi là kén mỏng

* Phân bố kí chủ

Phát sinh, phát triển trên tất cả các vùng trồng rau trong và ngoài nước

- Sâu phá hoại rau trong họ thập tự gây hại nặng cho bắp cải, su hào, súp lơ

* Tập quán sinh sống

- Trưởng thành ngày ẩn đêm hoạt động, sau vũ hóa giao phối ngày và sau 1 - 2 ngày đẻ trứng, trứng đẻ rải rác hoặc thành cụm, mỗi ổ 10 - 50 quả, mỗi con đẻ 10 - 400 quả Trứng đẻ mặt dưới lá, ngài có thể qua đông dưới 0oC, thời gian 2 - 3 tháng

- Sâu non mới nở đục lỗ ăn biểu bì dưới và thịt lá, chừa lại biểu bì trên tạo thành hai đốm trong mờ, từ cuối T2 gặm thủng lá thành nhiều lỗ thủng lỗ chỗ, sâu

bị động tơ rơi xuống (bị hại nặng còn gân lá)

Trang 28

- Sâu thường tập hợp ở mặt dưới lá, đẫy sức nhả tơ kết kén ngay trên lá để hóa nhộng trong kén mỏng

* Quy luật phát sinh phát triển gây hại

- Sâu có khẳ năng chịu được to 10 - 140oC Thích hợp nhất là 20o - 30oC,

ẩm độ 80 - 90%

- Phát sinh gây hại trong tất cả các vụ rau đông xuân từ T9 - T4 năm sau, cao điểm tháng 1, 2, 3

2.5.2 Rệp hại rau (Brevicoryne brassicae L.)

Họ rệp muội Aphididae, Bộ cánh đều Homoptera

Ngoài ra còn có 2 loài rệp khác: Rệp đào Myzus persicae Sulzer

Rệp rau cải Rhopalosiphum pseudobrasicae Davis

* Hình thái

Mỗi loài rệp có màu khác nhau, màu hồng đào, xanh phớt hồng, xanh xám

Có hai loại hình có cánh và không cánh chiều dài cơ thể 1,4 - 2,2mm

- Rệp có 2 dạng có cánh và không có cánh Khi điều kiện sống không thích hợp,

rệp hình thành dạng có cánh để bay đi tìm nguồn thức ăn mới

2.5.3 Sâu xanh bướm trắng hại rau (Pieris rapae Linnaeus)

Họ bướm phấn Pieridae, Bộ cánh vảy Lepidoptea

Trang 29

- Nhộng hai bên sườn có những chấm đen, đường giữa lưng nổi lên hình xương sống, ngực cao tạo thành góc nổi lên hai bên phần bụng tạo thành 2 nếp gồ Nhộng dài 18 - 20cm

* Phân bố và ký chủ

Sâu phân bố ở tất cả các vùng trồng rau trong và ngoài nước Sâu phá 35 giống cây thuộc 9 họ, trong đó hại nặng cho thập tự, họ bách hợp Trên họ thập tự sâu hại chủ yếu trên su hào, bắp cải, súp lơ

* Tập quán sinh sống

Bướm hoạt động ban ngày, trứng đẻ rải rác trên các lá bánh tẻ và lá già, mỗi con đẻ 10 - 500 trứng

Sâu non nở ra ăn khuyết lá chỉ chừa lại gân Khi hại sâu tạo vết thương cơ

giới để bệnh Xanthomonas campestris Dowoon phát sinh gây hại Sâu có 5 tuổi,

khi đẫy sức hóa nhộng trên lá, trên thân

Nhiệt độ thích hợp để sâu phát sinh gây hại là 16 - 20oC, nhiệt độ <10oC hoặc >30oC sâu có thể chết

Hàng năm sâu có 3-4 vòng đời/năm ở nơi lạnh và 7-8 vòng đời ở nơi nóng

* Triệu chứng và mức độ gây hại

Sâu ở tuổi 1, 2, 3 gặm lá ăn chất xanh để lại màng trắng

Tuổi lớn ăn khuyết lá để lại gân lá Đối với bắp, cải sâu có thể đục vào bắp

lá bao ngoài tạo lỗ thủng lớn có hình dạng và kích thước khác nhau

2.5.4 Bọ nhảy sọc vỏ lạc (Phyllotreta vitata Fabr)

Họ cánh kim Chrysometidae, Bộ cánh cứng Coleoprera

* Hình thái

Trưởng thành có kích thước cơ thể dài 1,8 - 2,4 mm, hình bầu dục, toàn thân đen bóng Trên hàng cánh trước có 8 hàng chấm lõm dọc cánh và 2 vân sọc hình củ lạc màu trắng Đốt đùi chân sau to khỏe giúp sâu nhảy xa Con cái lớn hơn con đực

Sâu non đẫy sức dài 4mm, hình ống tròn, mầu vàng nhạt Sâu non có 3 đôi chân nhỏ rất phát triển Các đốt đều có các u lồi, trên u có lông

Nhộng hình bầu dục khoảng 2mm, mầu vàng nhạt, mầm cánh và mầm chân sau rất dài Đốt cuối cùng có 2 gai lồi

Trang 30

Trứng hình bầu dục dài 3mm, màu vàng sữa

* Phân bố, ký chủ

Là loài thuộc họ cánh kim, hại trên cây họ thập tự ở nước ta và các nước trên thế giới

* Triệu chứng và mức độ gây hại

Trưởng thành bọ nhảy ăn lá tạo thành những lỗ nhỏ li ti, mật độ cao có thể

ăn hết gân lá làm lá rau sơ xác

Sâu non ăn hại rễ và củ tạo đường ngoằn ngoèo làm cây bị héo và rễ bị mắc bệnh thối gốc thối củ

Mật độ cao sâu gây hại nghiêm trọng, đặc biệt khi cây cong bé

* Tập quán sinh sống, quy luật phát sinh gây hại

Bọ trưởng thành nhảy xa, bay khỏe, thường hoạt động mạnh vào sáng sớm, chiều mát Buổi trưa ẩn ở mặt lá gần gốc trời nắng to ít hoạt động

Bọ trưởng thành đẻ trứng dưới đất cách rễ chính 3cm, có khi đẻ ngay trên thân sát mặt đất Bọ đẻ khoảng 25 - 200 trứng Thời gian sống của bọ trưởng thành rất dài có thể tới 1 năm Từ vũ hóa đến đẻ trứng từ 15 - 79 ngày và đẻ trứng khoảng 30 - 45 ngày

Quy luật phát sinh của sâu phụ thuộc vào một số yếu tố ngoại cảnh

dần đến 30 - 34oC Khi nhiệt độ >34oC sâu ít hoạt động và tìm nơi mát ẩn náu

12oC, của sâu non và nhộng là 11oC

Ẩm độ từ 80% trở lên thích hợp cho sâu, dưới 80% đã ảnh hưởng rõ rệt đến

số lượng trứng và tỷ lệ sâu sống Nhiều bọ nhảy đẻ ít và tỷ lệ trứng nở ít

Do bọ trưởng thành sống lâu và đẻ trứng kéo dài nên không tạo thành lứa rõ rệt Hàng năm sâu hại nhiều vào tháng 9 đến tháng 4, hại nặng vào tháng 2, 3

2.5.5 Sâu khoang (Sâu keo) Spodoptera litura Fabicius

Họ ngài đêm Notuidae, bộ cánh vảy Lepidoprera

* Hình thái

Trang 31

Ngài thân dài 16 - 21mm, sải cánh 37 - 42 mm Cánh trước màu nâu vàng Phần giữa từ mép trước cánh tới mép sau cánh có một vân ngang rộng màu trắng trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu tối

Trứng hình bán cầu 0,5mm, trứng xếp thành ổ có mầu vàng phủ ngoài Sâu non đẫy sức dài 38 - 51 mm, có mầu nâu đen hoặc mầu nâu tối, một số

có màu lục xanh Vạch lưng và vạch phụ lưng màu vàng, trên mỗi đốt vạch phụ lưng có một vệt hình bán nguyệt, trong đó đốt 1 và đốt 8 của bụng là lớn nhất

Nhộng dài 18 - 20 cm, hình ống màu nâu tơi hoặc nâu tối

* Triệu chứng và mức độ gây hại

Sâu tập trung thành đám gặm ăn thịt lá và biểu bì, mặt dưới lá, chừa lại biểu

bì trên và gân lá, khi lớn cắn khuyết lá hoặc trụi hết lá, cắn trụi cánh hoa, đục khoét nụ, quả

* Tập quán sinh sống

Vũ hóa buổi chiều, chập tối bay ra hoạt động, hoạt động mạnh nửa đêm về trước Ngài bay khỏe mỗi lần bay vài chục m, cao tới 6 - 7 m Ngài có xu tính với ánh sáng đèn và chất có mùi chua ngọt Sau vũ hóa vài giờ ngài có thể giao phối, sau giao phối có thể đẻ trứng ngay trong đêm hoặc đêm sau Trứng đẻ thành từng

ổ, có lông phủ và nằm trên lá.Sâu non mới nở tập trung sống với nhau, nếu bị khua động bò phân tán ra hoặc nhả tơ dong mình rơi xuống Khi lớn lên(tuổi 4) sâu có phản ứng với ánh sáng, ban ngày thường ẩn trong bóng tối, trời râm mới thấy sâu

bò ra hoạt động trên cây.

2.6 Nhận xét và bài học kinh nghiệm từ tổng quan tài liệu

Cùng với việc mở rộng sản xuất, đa dạng hóa chủng loại rau màu nói chung

và rau họ hoa thập tự nói riêng thì việc sử dụng lạm dụng hóa chất BVTV trong sản

Trang 32

xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng mạnh mẽ Đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng số vụ ngộ độc & số người chết do nhiễm độc hóa chất BVTV; đồng thời gây ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái và gây hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc của sâu hại

Để giảm thiểu tác hại do thuốc hóa học gây ra, một số nhà khoa học như: Bùi Lan Anh [1], Hồ Thị Thu Giang (2002) [10], Đặng Thị Phương Lan (2012) [13], Quách Thị Ngọ (2000) [16], Nguyễn Duy Trang (1995) [28], đã nghiên cứu sử dụng thiên địch và các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự

và đạt kết quả khả quan Song kết quả nghiên cứu của các tác giả này chủ yếu tập trung ở Hà Nội & các vùng phụ cận và Thái Nguyên Còn ở Hà Giang và các tỉnh miền núi phía Bắc còn chưa được nghiên cứu

Trong các công trình nghiên cứu về việc sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu hại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam, chỉ duy nhất có công trình của Nguyễn Duy Trang (1995) [28] là nghiên cứu về việc sử dụng cây có tính độc làm thuốc trừ sâu một cách bài bản nhất và kết quả của tác giả đã đạt được:

+ Đã xác định được hiệu lực tiêu diệt sâu tơ của rễ cây Derris; hiệu lực của hạt thàn mát đối với sâu tơ, sâu xanh & sâu khoang; của cây thanh hao hoa vàng đối với sâu tơ & sâu xanh bướm trắng; của hạt na đối với sâu tơ & sâu xanh bướm trắng; của quả xoan ta đối với sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bọ nhảy & rệp Song các kết quả này mới là kết quả nghiên cứu ở trong phòng thí nghiệm mà chưa có kết quả ở ngoài ruộng sản xuất

+ Đã sản xuất thành công chế phẩm thảo mộc HCĐ từ hạt củ đậu và đã xác định được hiệu lực của chế phẩm này trong phòng trừ sâu tơ, sâu xanh bướm trắng

và bọ nhảy hại rau cải bắp ở cả trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng

Trong các công trình nghiên cứu về việc sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam, chỉ duy nhất có công trình của Bùi Lan Anh (2014) [1] là đầy đủ nhất với kết quả tác giả đã đạt được:

+ Đã xác định được 38 loài thực vật phổ biến của 1 số vùng trung du miền núi phía bắc có khả năng trừ dịch hại cây trồng với các bộ phận sử dụng, thời vụ thu hái, phân bố khác nhau nghiên cứu xác định được thành phần những loài thựcviệc

Trang 33

sử dụng dung dịch ngâm thực vật Tác giả cũng đã xác định được đặc điểm nhận biết những cây độc có khả năng trừ dịch hại cây trồng

+ Đã nghiên cứu xác định được quy trình ngâm và chất phụ gia với các nồng

độ pha dung dịch ngâm thực vật để phun phòng trừ sâu hại đạt hiệu quả cao

+ Đã xác định được các dung dịch ngâm thực vật (thân lá cà chua, quả ớt, quả cà độc dược, ớt + tỏi, củ tỏi, rễ cây Derris, hạt thàn mát, quả bồ hòn) và chế phẩm trừ sâu thảo mộc (Neem oil, Rotenone) đều có hiệu lực phòng trừ sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bọ nhảy và rệp cao Đồng thời, việc sử dụng các chế phẩm trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại vừa có tác dụng làm cho năng suất rau tăng, vừa không gây ô nhiễm môi trường, an toàn với người sử dụng & thiên địch Đặc biệt không có dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm [1]

Xuất phát từ thực tế đó, để cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học về tiềm năng những loài cây, cỏ có khả năng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự, chúng tôi đã thực hiện đề tài này

Trang 34

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

(1) Rau cải bắp (Brassica oleracea var.) trồng Đông xuân muộn;

(2) Thuốc trừ sâu thảo mộc: 01 loại thuốc thảo mộc thế hệ mới và 02 thuốc

tự pha chế Các loại thuốc này đều có hiệu quả phòng trừ sâu; đồng thời an toàn cho con người và cây trồng Thuốc có tác dụng tiếp xúc và vị độc, có phổ tác dụng rộng Thuốc thấm sâu vào cây nhanh, diệt trừ triệt để nhiều loài sâu gây hại cho cây trồng (các loài sâu miệng nhai và sâu thuộc nhóm chích hút)

+ Thuốc Anisaf SH01 (2L (các Polyphenol): Thuốc được chiết suất từ cây

Bồ kết (Fructus gleditschiae) + Thuốc thảo mộc tự chế: Nguyên liệu gồm: 1 kg ớt,

1 kg gừng, 1 kg riềng và 3 lít rượu trắng 45o

(4) Sâu hại rau cải bắp:

+ Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linne);

+ Sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius)

+ Sâu tơ (Plutella xylostella Linnacus);

3.1.2 Phương pháp pha chế thuốc trừ sâu thảo mộc và cách dùng ( liều lượng, cách phun)

* Phương pháp pha chế

- Nguyên liệu thảo mộc tự chế được giã nhỏ,sau đó ngâm với rượu trắng trong thời gian 20 ngày Dung dịch nước thuốc pha thành 2 loại dung dịch nước thuốc :„„ Ớt + Gừng + Giềng‟‟ và „„Gừng + Giềng‟‟

Trang 35

+ Thời gian phun vào buổi sáng sớm,để thuốc ngấm vào cây

+ Khi phun thuốc nên để vòi phun cách cây khoảng 3-5cm để thuốc tiếp xúc với cây được nhiều nhất, tránh phun không đều

3.1.3 Dụng cụ nghiên cứu

- Bình phun thuốc trừ sâu;

- Chậu, sô nhựa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu mộc đến sinh trưởng của rau cải

bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017

- Nghiên cứu hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 - 2017

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng

Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 04/02 đến ngày 30/04/2017 tại huyện Quảng Bạ tỉnh Hà Giang

* Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn

CT1 CT2 NL1 CT3 NL2 CT4 NL3

CT4 CT3 NL1 CT1 NL2 CT2 NL3

CT3 CT4 NL1 CT2 NL2 CT1 NL3

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu thảo mộc

đến sinh trưởng của rau cải bắp

Trang 36

* Cách lấy mẫu: Ở mỗi công thức thí nghiệm lấy ngẫu nhiên 30 cây (10

cây/1 lần nhắc lại) Lấy các cây theo 5 điểm trên đường chéo góc

* Các chỉ tiêu theo dõi: Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển (thời gian sinh

trưởng, số lá, động thái ra lá và đường kính bắp) được tiến hành theo Quy chuẩn Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống cải bắp (QCVN 01-120:2013/BNNPTNT) thuộc Thông tư Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giống cây trồng số 33/2013/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 06 năm 2013 [6]

+ Tỷ lệ số lá/cây: Đếm tổng số lá ngoài, lá trong/cây rồi tính tỷ lệ lá trong/lá

ngoài theo công thức:

Σ lá

Σ cây điều tra

+ Đường kính tán (cm): Lấy thước đo đường kính tán theo 2 chiều

Đông-Tây và Nam-Bắc, sau đó tính đường kính tán theo công thức:

Thí nghiệm xác định hiệu lực trừ sâu của các thuốc trừ sâu thảo mộc trong

phòng trừ sâu hại rau cải bắp gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại (4 CT x 3 LNL) Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh theo sơ đồ hình 2.2

Ngày đăng: 24/08/2018, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Lan Anh (2014), Nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau họ hoa thập tự tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ ngành Khoa học cây trồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau họ hoa thập tự tại Thái Nguyên
Tác giả: Bùi Lan Anh
Năm: 2014
2. Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi (1996), Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rau và trồng rau
Tác giả: Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Nguyễn Thục Anh (2010), Vai trò của Canxi trong thời kỳ mang thai, Báo sức khỏe và đời sống (ngày 21/05) – Cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Canxi trong thời kỳ mang thai
Tác giả: Nguyễn Thục Anh
Năm: 2010
5. Vũ Thị Bình, Nguyễn Thị Vòng, Đỗ Văn Nhạ (2006), Quy hoạch phát triển nông thôn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nông thôn
Tác giả: Vũ Thị Bình, Nguyễn Thị Vòng, Đỗ Văn Nhạ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
6. Bô Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn (2013), Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giống cây trồng, Số 33/2013/TT-BNN&amp;PTNT ngày 21 tháng 6 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giống cây trồng
Tác giả: Bô Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn
Năm: 2013
7. Tạ Thị Thu Cúc và Công sự (2000), Giáo trình cây rau, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây rau
Tác giả: Tạ Thị Thu Cúc và Công sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
8. Cục trồng trọt (2011), Quyết định về việc Chỉ định phòng kiểm nghiệm sản phẩm cây trồng, Quyết định số 119/QĐ-TT-QLCL, Hà nội ngày 07/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc Chỉ định phòng kiểm nghiệm sản phẩm cây trồng
Tác giả: Cục trồng trọt
Năm: 2011
9. Phùng Quang Đạo (2010), Magie là gì? Hóa học ngày nay (Chemistry for our life and our future) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Magie là gì
Tác giả: Phùng Quang Đạo
Năm: 2010
10. Hồ Thị Thu Giang (2002), Nghiên cứu thiên địch sâu hại rau họ hoa thập tự của hai loài ong Costesia plutella Kurdfunov và Diadromus collaris Gravenhorst ký sinh trên sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) ở ngoại thành Hà Nội, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thiên địch sâu hại rau họ hoa thập tự của hai loài ong Costesia plutella Kurdfunov và Diadromus collaris Gravenhorst ký sinh trên sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) ở ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Hồ Thị Thu Giang
Năm: 2002
11. Tô Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Hiền (2005), Kết quả điều tra một số hệ thống canh tác vùng ven đô Hà Nội, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 3, Tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội", Tạp chí "Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Tô Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Hiền
Năm: 2005
12. Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân (2000), Giáo trình cây rau, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây rau
Tác giả: Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
13. Đặng Thị Phương Lan (2012), Nghiên cứu ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong sản xuất rau an toàn; ảnh hưởng của chúng đến thiên địch sâu hại và chất lƣợng sản phẩm vùng Hà Nội và phụ cận, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong sản xuất rau an toàn
Tác giả: Đặng Thị Phương Lan
Năm: 2012
14. Trần Văn Lài, Lê Thị Hà (2002), Cẩm nang trồng rau, Nhà xuất bản mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang trồng rau
Tác giả: Trần Văn Lài, Lê Thị Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản mũi Cà Mau
Năm: 2002
15. Trương Đức Lực (2012), Bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau quả ở Việt Nam, Vấn đề cần làm ngay, Nghiên cứu trao đổi, Tạp chí Công nghiệp (IRV), Cơ quan thông tin lý luận của Bộ Công thương, ngày 02/05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau quả ở Việt Nam
Tác giả: Trương Đức Lực
Năm: 2012
16. Quách Thị Ngọ (2000), Nghiên cứu rệp muội (Homoptera: Aphididae) trên một số cây trồng chính ở đồng bằng Sông Hồng và biện pháp phòng trừ, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rệp muội (Homoptera: Aphididae) trên một số cây trồng chính ở đồng bằng Sông Hồng và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Quách Thị Ngọ
Năm: 2000
17. Phùng Chúc Phong (2010), Vai trò quan trọng của rau tươi trong dinh dưỡng, Viện dinh dƣỡng ngày 20/05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò quan trọng của rau tươi trong dinh dưỡng
Tác giả: Phùng Chúc Phong
Năm: 2010
18. Phòng Kinh tế thành phố Hà Giang (2015), Diện tích, năng suất và sản lượng rau của Hà Giang, tháng 12 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện tích, năng suất và sản lượng rau của Hà Giang
Tác giả: Phòng Kinh tế thành phố Hà Giang
Năm: 2015
20. Diệp Kinh Tần (2007), Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020, Quyết định số 52/2007/QĐ-BNN ngày 06/06/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn 2020
Tác giả: Diệp Kinh Tần
Năm: 2007
21. Trung tâm Thông tin CN&amp;TM (2011), Xuất khẩu rau, củ, quả của Việt Nam tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm 2011, Thị trường Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu rau, củ, quả của Việt Nam tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm 2011
Tác giả: Trung tâm Thông tin CN&amp;TM
Năm: 2011
22. Đào Văn Tiến, Nguyễn Duy Trang (1994), Tìm hiểu khả năng gây độc của dịch chiết hạt củ đậu (Pachyrrhizus erosus U.) trên chuột nhắt trắng (Swiss), Tạp chí Bảo vệ thực vật, 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khả năng gây độc của dịch chiết hạt củ đậu (Pachyrrhizus erosus U.) trên chuột nhắt trắng (Swiss)
Tác giả: Đào Văn Tiến, Nguyễn Duy Trang
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w