Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm .... Ảnh hưởng số lần xử lý h
Trang 1
HOÀNG ANH DŨNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH
SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NẢY MẦM VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CON SƠN ĐẬU CĂN TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI PHIA ĐÉN, XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2
HOÀNG ANH DŨNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH
SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NẢY MẦM VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CON SƠN ĐẬU CĂN TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI PHIA ĐÉN, XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Lớp : TT- N03- K45
Khoa : Nông học
Khóa học : 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Lan Anh
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất đối với sinh viên Để
từ đó sinh viên hệ thống hóa lại kiến thức đã học, kiểm nghiệm lại chúng trong thực tế, nâng cao kiến thức nhằm phục vụ chuyên môn sau này
Để hoàn thành đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn đề tài, các thầy cô giáo giảng dạy, được sự giúp đỡ của các cơ quan, các cá nhân và nhân dân địa bàn nơi thực hiện đề tài Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
TS Bùi Lan Anh người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em
trong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài
Các thầy, cô giáo và cán bộ trong Khoa Nông học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh đề tài tốt nghiệp
Trung tâm nghiên cứu Cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc, Đại học nông lâm Thái Nguyên
Lãnh đạo và cán bộ UBND xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Anh Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.2 Mục đích và mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.3 Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học 3
1.2.4 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 5
2.1.3 Nguồn gốc phân bố 5
2.2 Giá trị sử dụng cây sơn đậu căn 6
2.3 Một số đặc điểm sinh học của cây Sơn đậu căn 6
2.3.1 Đặc điểm thực vật học 6
2.3.2 Yêu cầu sinh thái cây Sơn đậu căn 7
2.4 Hình thức nhân giống cây Sơn đậu căn 7
2.5 Kỹ thuật trồng trọt 7
2.5.1 Kỹ thuật làm đất 7
2.5.2 Thời vụ mật độ trồng 8
2.5.3 Phân bón và kỹ thuật bón phân 8
2.5.4 Kỹ thuật trồng 8
2.5.5 Phòng trừ sâu bệnh 8
2.5.6 Thu hoạch Sơn Đậu Căn 10
Trang 52.6 Những nghiên cứu về nhân giống bằng hạt trên thế giới và ở Việt Nam 10
2.7 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn đậu căn ở trên thế giới và ở Việt Nam 11
2.7.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng Sơn đậu căn ở Việt Nam 11
2.7.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở trên thế giới 15
2.7.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở Việt Nam 16
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.2.1 Thí nghiệm 1 18
3.3.2 Thí nghiệm 2: 19
3.3.3 Nghiên cứu thành phần sâu, tần suất xuất hiện sâu, bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 20
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 21
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Cao Bằng 22
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 23
4.2.1 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của Sơn dậu căn 23
4.2.2 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn dậu căn 24
4.2.3 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trường đến số cành lá trên cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 25
Trang 64.2.4 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao
cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 27
4.3 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 30
4.3.1 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của cây Sơn đậu căn 30
4.3.2 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của cây Sơn dậu căn 34
4.3.3 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng (ARROW-R) đến số cành/cây Sơn dậu căn 38
4.3.4 Ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trường AROOW-R đến chiều cao cây 41
4.4 Tình hình sâu, bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 44
4.4.1 Thành phần các loài sâu, bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 44
4.4.2 Tỷ lệ cây bị sâu, bệnh gây hại trong giai đoạn vườn ươm 45
4.4.3 Mật độ sâu hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Cao Bằng 22
Bảng 4.2 Ảnh hưởng chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm 23
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm 24
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chất kích thích đến số cành/cây Sơn đậu căn 25
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây 28
Bảng 4.6 Số lần xử lý chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm 31
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của số lần xử lý chất kích thích đến thời gian nẩy mầm 35
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích AROOW-R đến số cành lá/cây 39
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của số lần xử lý chất kích thích đến chiều cao cây 41
Bảng 4.10 Thành phần các loại sâu, bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 44
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau
nẩy mầm 1 tháng) 26 Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau
nẩy mầm 2 tháng) 26 Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau
nẩy mầm 3 tháng) 27 Biểu đồ 4.4 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến chiều cao cây (sau
nẩy mầm 1 tháng) 29 Biểu đồ 4.5 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến chiều cao cây (sau
nẩy mầm 2 tháng) 29 Biểu đồ 4.6 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến chiều cao cây (sau
nẩy mầm 3 tháng) 30 Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (sau xử lý 1 lần
trước khi gieo) 31 Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (sau xử lý 3 lần) 32 Biểu đồ 4.9 Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (sau xử lý 5 lần) 33 Biểu đồ 4.10 Ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống đến tỷ lệ nẩy mầm
của hạt giống Sơn đậu căn 34 Biểu đồ 4.11 Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (xử lý 1
lần) 35 Biểu đồ 4.12 Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (xử lý 3
lần) 36 Biểu đồ 4.13 Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (xử lý 5
lần) 37 Biểu đồ 4.14 Ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống đến thời gian nẩy
mầm của hạt giống Sơn đậu căn 38
Trang 9Biểu đồ 4.15 Số cành/cây sau nẩy mầm 1 tháng (ở các công thức xử lý
1 lần, 2 lần và 3 lần) 39 Biểu đồ 4.16 Số cành/cây sau nẩy mầm 2 tháng (ở các công thức xử lý
1 lần, 2 lần và 3 lần) 40 Biểu đồ 4.17 Số cành/cây sau nẩy mầm 3 tháng (ở các công thức xử lý
1 lần, 2 lần và 3 lần) 40 Biểu đồ 4.18 Chiều cao cây sau nẩy mầm 1 tháng (ở các công thức xử
lý 1 lần, 2 lần và 3 lần) 42 Biểu đồ 4.19 Chiều cao cây sau nẩy mầm 2 tháng (ở các công thức xử
lý 1 lần, 2 lần và 3 lần) 43 Biểu đồ 4.20 Chiều cao cây sau nẩy mầm 3 tháng (ở các công thức xử
lý 1 lần, 2 lần và 3 lần) 43 Biểu đồ 4.21 Tỷ lệ cây Sơn đậu căn bị sâu, bệnh hại trong giai
đoạn vườn ươm 45 Biểu đồ 4.22 Mật độ sâu hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm 46
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Cây thuốc, dược liệu dân gian nhiều người biết đến về các giá trị của chúng thiết th ực cho cộng đồng trong việc chữa bệnh ngoài ra nó còn có giá trị bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học
Việt Nam là nước nhiệt đới có nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng
Có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Sơn đậu căn Cây Sơn đậu căn chủ yếu được trồng ở vùng núi cao và duy trì rải rác ở một số vùng và các trung tâm, trạm trại của Viện Dược liệu Sơn đậu căn là loại cây quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu căn có tên trong sách đỏ Việt Nam
Ở Việt Nam, Sơn đậu căn có ở: Hạ Lạng, Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng; Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ tỉnh Hà Giang; các đảo thuộc Vịnh Hạ Long tỉnh Quảng Ninh; Nho Quan tỉnh Ninh Bình; Sơn Trà tỉnh Đà Nẵng
Sơn đậu căn (Sophora tonkinensis Gapnep) là cây dược liệu được dùng
để làm thuốc có giá trị về nhiều mặt, cây có những công dụng chữa nhiều bệnh như thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng giảm đau, thông tiện Ngoài ra còn trị ung thư phổi, bệnh bạch huyết, chữa chứng ác tính, ung thư bàng quang, viêm họng, viêm amidal,… Về phương diện nào đó, cũng như cây xanh, nó có ý nghĩa rất lớn,chi phối các yếu tố khí hậu, tạo môi trường trong lành, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Để phục vụ cho việc tạo cảnh quan môi trường và việc cung cấp dược liệu quý trong y học thì công tác tạo ra giống là hết sức quan trọng Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu giống cây trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, tạo giống, khảo nghiệm giống cây trồng cho nhiều loài cây đã đạt một số kết quả bước đầu nhất định Nhân giống
Trang 11bằng gieo hạt là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây như cây rừng, cây ăn quả, cây dược liệu Là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lượng cây giống đồng đều
Cây Sơn đậu căn là loài cây sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên Cây có ý nghĩa rất lớn trong môi trường và trong y học vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Sơn đậu căn bằng phương pháp nào
để cây ra rễ phát triển tốt là điều cần thiết
Nhân giống bằng gieo hạt có ưu điểm nhanh tạo ra cây con, cây tạo ra đồng loạt, cùng kích cỡ, độ tuổi nhân giống nhanh, đơn giản, cây thích nghi tốt, bộ rễ khỏe
Ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như giá thể, điều kiện ngoại cảnh, chất kích thích…, nhưng sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thời gian bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn
đề cần được nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển cây Sơn đậu
căn cùng công tác nghiên cứu em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy mầm và sinh trưởng của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm tại Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”
1.2 Mục đích và mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các chất kích thích sinh đến khả năng nảy mẩm và sinh trưởng cây của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng và số lần dùng chất kích thích để xử lí đến thời gian nảy mầm và tỉ lệ nảy mầm của hạt giống cây Sơn đậu căn
Trang 12- Đánh giá được ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
1.2.3 Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học
Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành, giúp sinh viên làm quen với điều kiện thực tế, rèn luyện kĩ năng thực hành, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo để chọn lọc và xây dựng quy trình kĩ thuật, góp phần bổ sung thêm tài
liệu khoa học cho quá trình nghiên cứu về cây Sơn đậu căn ở nước ta
1.2.4 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân giống loài cây Sơn đậu căn bằng gieo hạt trên địa bàn Phia Đén nói riêng và Cao Bằng nói chung cùng với một số nơi tương tự
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.1 Cơ sở khoa học về cây Sơn đậu căn
Cây sơn đậu căn tên khoa học là Pophora subprosrlata Chu etT Chen
Sơn đậu căn thuộc loại cây bụi họ đậu, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất,
rễ cây có vị đắng, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm
đau Chủ trị trong các trường hợp phát nóng, ho đau cổ họng, hoàng đản cấp Sơn đậu căn nói riêng là một trong những cây có những nhu cầu nhất định về
môi trường và dinh dưỡng, do có tính đa dạng về điều kiện sinh thái khí hậu của các mùa trong năm làm cho cây ngừng sinh trưởng phát triển trong một thời gian nhất định, Việc trồng cây Sơn đậu căn phải phù hợp với điều kiện
khí hậu thời tiết, đất đai giống và các kỹ thuật trồng trọt
2.1.1.2 Cơ sở nhân giống bằng gieo hạt
- Nhân giống hữu tính là nhân giống bằng cách gieo hạt Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm và được áp dụng phổ biến vì dễ thực hiện và số lượng cây con nhiều để trồng không tốn công sức và thời gian
thường xuyên như tưới nước làm giàn che để tránh thời tiêt thất thường
Trang 142.1.1.3 Cơ sở khoa học về chất kích thích sinh trưởng
- Những hóa chất có khả năng điều khiển được sinh trưởng và phát dục của cây trồng được gọi là chất kích thích sinh trưởng hay chất điều hòa sinh trưởng
- Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến sự ra rễ của hạt được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu Như chúng ta đã biết, trong cây trồng luôn tiềm ẩn các chất kích thích giúp cây trồng có thể sinh trưởng và kích thích khả năng sinh trưởng song nếu chúng ta muốn tăng hàm lượng các chất kích thích thì có thể nhúng ngập vết cắt hạt giống Do vậy bằng con đường tổng hợp con người đã sản xuất ra rất nhiều chất có tính chất sinh lý có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của hạt giống Trong các thập kỷ 30 và 40 các nhà khoa học đã lần lượt tổng hợp ra: Auxin, IAA, IBA, NAA
- Chất điều hòa sinh trưởng NAA là chất điều tiết sinh trưởng thực vật có tác dụng rộng, kích thích sinh trưởng của cây, tăng chiều cao, tăng sinh khối
và tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy sự phân bào và hình thành rễ nhánh, rễ
lá của cành giâm, cành chiết, dùng để tăng tốc độ giâm trồng
Theo Skottsberg (1920) [11]; Rodriguez et Al (1983) [8] Sơn đậu căn mọc
tự nhiên ở vùng núi cao và một số đảo
Theo Gana (1870) [9]; Palmer (1870) [10]; Pinnart (1877) [10], Sơn Đậu mọc tự nhiên bên trong và sườn của núi lửa Rano Kao
Sơn đậu căn là loài quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu căn có tên trong sách đỏ Việt Nam, mức độ đe dọa bậc T(bị đe dọa)
Trang 15Cây Sơn đậu căn là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm ,thường mọc trong các núi đá vôi và trên sườn dốc các đồi, Sơn đậu căn mọc hoang dại đã được tìm thấy ở phía Tây Nam Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc ở nước ta
Phân bố ở Việt Nam: Hà Giang (Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ), Cao Bằng, Đà Nẵng (Sơn Trà), Ninh Bình (Nho Quan), Quảng Ninh (các đảo thuộc Vịnh Hạ Long),Lâm Đồng, Đồng Nai…[13]
Phân bố ở Trung Quốc: Quảng Đông, Quý Châu, Giang Tây (từ Tây Nam sang Tây Bắc) và một số nước vùng Đông Nam Á (Ấn Độ, Thái Lan và Inđônêxia) [7]
2.2 Giá trị sử dụng cây sơn đậu căn
Sơn đậu căn dùng rễ cây, nên chọn loại rễ to bằng ngón tay màu hơi nâu
ở trong màu trắng
Vị thuốc Sơn đậu căn được thu hoạch vào mùa thu
Theo Trung Y: Lấy rễ khô ngâm nước 4 – 5 ngày, rửa sạch, bỏ hết tạp chất, rễ nhỏ cắt khúc, rễ to chẻ đôi, ủ độ 4 – 5 ngày cho mềm, thái lát mỏng 1 – 2 ly phơi khô Rễ to, nhỏ trộn lẫn với nhau mà dùng
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm 4 – 5 ngày, thái lát mỏng
1 – 2 ly Còn có thể ngậm vào miệng hoặc mài ra uống
Sơn đậu căn có tác dụng: Trị viêm amidan, viêm họng, sốt cao, nuốt đau, trị viêm amidan cấp tính, trị viêm họng đau họng,
2.3 Một số đặc điểm sinh học của cây Sơn đậu căn
Trang 16lá, ngắn hơn lá; cuống 4 - 6 mm, lá bắc 4 - 5 mm; đài hình chuông, không cân
ở gốc, có lông, với 5 thuỳ tam giác, tràng hoa cao 1,5 - 2 cm, nhẵn, màu vàng cánh cờ hẹp, gấp lại; các cánh bên và cánh thìa có tai; nhị 2 bó, bầu 5 - 6 mm
có 2 noãn Quả hình trái xoan đen, bóng khi khô, dài 1,2 - 1,8 cm, rộng 0,8 –
1 cm; hạt to, cứng Hoa quả tháng 2 - 4
2.3.2 Yêu cầu sinh thái cây Sơn đậu căn
Cây sơn đậu căn là cây ưa sáng, chịu được hạn nhưng không chịu được ngập úng, thường mọc ở núi đá vôi hay sườn đồi khô cằn dưới 1000 m Sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới
2.4 Hình thức nhân giống cây Sơn đậu căn
Đoạn hom từ cây mẹ có thời gian sinh trưởng từ 2 năm trở đi, khỏe mạnh
và không sâu bệnh
Đối với cành giâm có 3 phương pháp sử lý chính là nhúng nhanh gốc cành giâm trong dung dịch chât kích thích ra rễ có nồng độ cao trong 35 giây rồi cho vào giá thể, phương pháp ngâm lâu gốc cành trong dung dịch loãng 12 - 24h Đối với cành hom mỗi đoạn cắt 20 cm mang 2 - 3 mắt, Xử lí giâm cành bằng chất kích thích ra rễ NNA ở nồng độ 150 mg/l cho hiệu quả tái sinh phục hồi tối nhất Sau khi giâm cần tưới nước đủ ẩm , dùng lưới đen che ánh sáng không tốt
2.5 Kỹ thuật trồng trọt
2.5.1 Kỹ thuật làm đất
Sơn đậu căn là cây thuốc nhiều năm, bộ phận thu làm thuốc là bộ rễ
Do vậy nên chọn đất có tầng đất trồng dày, thoát nước tốt,vùng trồng đủ ánh sáng Khi làm đất cần cày lật đất, làm nhỏ đất, san phẳng đất, nhặt cỏ dại, bón phân lót, lên luống rộng 70 cm, cao 20 - 25 cm, chiều dài tùy thuộc vào từng ruộng
Trang 172.5.2 Thời vụ mật độ trồng
Thời vụ trồng cây Sơn Đậu tốt nhất là từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm Khoảng cách trồng 40x50 cm
Mật độ trồng 50000 cây/ha
2.5.3 Phân bón và kỹ thuật bón phân
Phân bón lót cho 1 ha: Phân chuồng 10 - 12 tấn/ha Phân chuồng phải được ủ hoai mục, có thể sử dụng phân xanh bổ xung để làm tơi xốp đất Rắc đều phân lên trên luống trước khi vun đất lên luống, dùng cuốc lên luống lấp kín phân
Phân bón vô cơ: Năm thứ nhất dùng 80 kg đạm Urê/ha hòa nước tưới vào từng hốc cho giai đoạn cây trong vườn ươm Từ năm thứ 2 trở đi thì mỗi năm bón 2 lần vòa tháng 2 - 4 tháng 8 - 9, sử dụng phân tổng hợp bón vào gốc cây, mỗi lần bón khoảng 250 kg NPK
2.5.4 Kỹ thuật trồng
Sơn đậu căn trải qua giai đoạn vườn ươm 6 tháng đến 1 năm sẽ được chuyển ra trồng Cây con được trồng theo từng hốc, đặt thẳng cây con vào chính giữa hốc, lấp đất đều xung quanh, nén đất xung quanh gốc cho chặt cây
để không bị lay gốc, đồng thời lấp đất cho bằng mặt luống để tranh cây không
bị đọng nước sau mưa, tưới
Trang 18- Bệnh Sclerotium rolfsii gây hại cả thân và bộ rễ của cây, khiến cho tại vết bệnh của bộ phận bị hại chuyển sang màu nâu, sau đó sẽ bị thối Bệnh phát sinh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm đều cao Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng Carbendazim pha loãng với nước 800 lần rồi tưới vào gốc hoặc phun dưới dạng sương mù
- Sâu bore hại quả: sâu này hại vào thời kỳ hoa quả Cách phòng trừ tương tự như đối với sâu bore hại thân cành
Nhện đỏ: đặc điểm là chúng gây hại gần như cả năm, chúng tập chung chủ yếu ở phía sau mặt lá và gây hại bằng cách chích hút Hậu quả là làm cho mặt trên của lá xuất hiện các đốm trắng (chuyển từ màu xanh lục sang màu trắng) do vậy ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình quang hợp của cây
Dùng thuốc LAMA 50EC pha với nước để phun, nên phun cả mặt dưới
lá để đạt hiệu quả tối đa
- Côn trùng cánh cứng: Bệnh này cũng xuất hiện cả năm, chúng tập chung gây hại vào các bộ phận còn non của cây như lá non…bằng cách chích hút, khiến cho lá non bị quăn lại Dùng thuốc Panda 95SP hoặc Sevin 85WP pha với nước để phun qua lá
Trang 192.5.6 Thu hoạch Sơn Đậu Căn
Sơn đậu căn sau 3 năm trồng có thể thu hoạch được, nhưng tốt nhất là thu hoạch khi cây đã trồng được ngoài 4 năm Bộ phận thu hoạch là rễ cây, thu vào tháng 8 - 9 (mùa thu), dùng dụng cụ cắt các bộ phận trên mặt đất Đào lấy rễ, rửa sạch đất cát trên rễ, sau đó đem phơi khô hoặc sấy khô Năng suất
có thể đạt 25 - 30 tấn tươi/ha
2.6 Những nghiên cứu về nhân giống bằng hạt trên thế giới và ở Việt Nam
Nghiên cứu về nhân giống về gieo hạt ở Việt Nam
- Năm1988 Bộ Lâm Nghiệp (cũ) đã ban hành quyết định: quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống
- Nghiên cứu của Hoàng Công Đãng (2000) thực hiện với loại Bần chua
ở giai đoạn vườn ươm
- Từ năm 1980- 1985, Nguyễn Minh Đường và nhiều tác giả khác cũng
có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng ở Miền Đông Nam Bộ
- Những nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng, Nguyễn Tuấn Bình (2002)
Nghiên cứu về nhân giống bằng gieo hạt trên thế giới
-Từ thế kỷ XVII-XIX đã có những ý tưởng về nghiên cứu giống cây lâm nghiệp và sản xuất giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng Đầu thế kỉ
XX các nước ở Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Đan Mạch là những nước có nền Lâm nghiệp phát triển mạnh cũng đã xuất hiện những nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống cho các loại Thông, Dương Và Dồi, Dẻ -Năm 1925 ở Placevile thuộc bang California đã thành lập trạm chọn giống cây rừng Edly
-Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng
đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới trong đó có cuốn" Chọn giống
Trang 20cây rừng đại cương" 1952 của Syrach Lasen được đánh giá là công trình giá trị nhất lúc đó.[1]
-Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Ekta và Singh (2000) đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sựu nẩy mầm và quá trình sinh trưởng của cây con
-Gallardo và đồng nghiệp đã bắt đầu phân tích quá trình nẩy mầm của hạt giống cây Arabidopsis bằng cách sử dụng Ecotype landsberg erecta(2000)
-Nghiên cứu về ảnh hưởng của presowing phương pháp điều trị hạt giống naaaye mầm của 10 loài cây lâm nghiệp được thực hiện nhằm tăng tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống
2.7 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn đậu căn ở trên thế giới và
ở Việt Nam
2.7.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng Sơn đậu căn ở Việt Nam
Sơn đậu căn là rễ cây sơn đậu, hay còn gọi là cây Quảng đậu, Khổ đậu, Hòe Bắc Bộ Sơn đậu căn có nhị Vào mùa thu, người ta thu hoạch rễ, rửa sạch, phơi sấy khô Trước khi dùng, đem cắt đoạn 3 – 5 cm, sao vàng Về mặt hóa học, rễ sơn đậu chứa alcaloid, flavonoid…; matrin, oxymatrin, anagynin, methylcytisin Ngoài ra còn có pterocarpin, sophoranon,… Có vị đắng, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau Trị phát nóng, ho đau cổ họng, trị hoàng đản cấp tính, sát trùng
Cách bào chế: Theo Đỗ Tất Lợi (2004), Sơn đậu căn dùng để trị phát nóng, ho đau cổ họng,trị hoàng đản cấp tính, sát trùng.Ngày dùng 6 - 12g dạng thuốc sắc hay bột [2]
- Dùng Sơn đậu căn trị viêm amidan mạn tính:
Sơn đậu căn 15g, Kim liên hoa 5g, Sinh cam thảo 10g Sắc uống, ngày 1 thang, 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ.Uống liền 3 – 4 tuần [17]
Trang 21- Trị viêm amidan, viêm họng sưng thũng, sốt cao, nuốt đau: Sơn đậu căn, Kim ngân hoa, mỗi vị 12 g; Hoàng liên 4 g, Hoàng bá 8 g Có thể thay Hoàng liên bằng Hoàng bá 12 g Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ Uống liền 1 – 2 tuần [17]
- Trị viêm họng cấp, đau họng: Sơn đậu căn 3g; Nhân sâm, Xạ can, mỗi
vị 10 g; Cát cánh 7 g, Cam thảo 2 g Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ Uống liền 1 - 2 tuần [17]
-Trị sưng lợi răng: Sơn đậu căn, Bạch cương tằm, Chi tử, mỗi vị 12 g; Bạc hà, Kinh giới, mỗi vị 6 g; Huyền sâm, Cát cánh, Cam thảo dây, mỗi vị 8
g Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ Uống liền 1 - 2 tuần Có thể dùng Sơn đậu căn dưới dạng thuốc bột: Sơn đậu căn 60 g, Cam thảo 10g Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống 3 – 6 g, ngày 2 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ Uống liền nhiều ngày [17]
- Dùng Sơn đậu căn trị viêm amidan cấp tính:
Sơn đậu căn, Ngưu bàng tử, Xạ can, Kinh giới, mỗi vị 9 g; Kim ngân hoa
12 g; Phòng phong, Cam thảo, mỗi vị 6 g Sắc uống, ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ Uống liền 1 – 2 tuần Hoặc: Sơn đậu căn 12 g, Sinh cam thảo 4 g, sắc uống, ngày một thang Hoặc: Sơn đậu căn, Kinh giới, Bạc
hà, Cát cánh, mỗi vị 8 g, sắc uống ngày một thang Hoặc phối hợp Sơn đậu căn với Hạ khô thảo, Huyền sâm, Bối mẫu, mỗi vị 8 g dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ [17]
Ngoài ra, Sơn đậu căn còn được dùng ngoài để trị mụn ngứa, côn trùng, rắn, rết cắn: Sơn đậu căn tán bột mịn, thêm nước đun sôi để nguội thành hồ nhão, bôi vào vết thương Hoặc Sơn đậu căn 12 g, hàn the 4 g, băng phiến 0,8
g Tất cả tán bột mịn, thêm nước sôi để nguội tạo bột nhão, bôi vào vết thương [15]
Trang 22- Với các vị thuốc bổ xung cùng với Sơn đậu căn là bạn có thể tìm được một phương pháp điều trị viêm amidan rất hiệu quả mà còn an toàn
Sơn đậu căn vị đắng tính hàn, có công dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng giảm đau, thông tiện Trị ung thư phổi, bệnh bạch huyết, chữa chứng
ác tính, ung thư bàng quang, viêm họng, viêm amidal, đau răng, phổi nóng
ho hen hoàng đản, thấp nhiệt, ung nhọt sang lở, đại tiện bế Liều dùng 6 -
- Trị ung thư hầu họng: Sơn đậu căn 15 g, Cam thiềm bì 15 g, Bắc
sa sâm 15 g, Đương quy 15 g, Đại thanh diệp 15 g, Mẫu lệ 30 g, Hải tảo
30 g, Bạch anh 30 g, Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g Sắc uống mỗi ngày một thang [14]
- Trị u bướu xương: Sơn đậu căn 30 g, Hải tảo 15 g, Quang từ cô 12 g, Cúc hoa 10 g, Tam lăng 10 g, Tạo giác thích 10 g, Nga truật 6 g, Mã tiền chế
6 g Các vị tán bột, uống tùy lượng [14]
- Trị u lựu lâm ba ác tính: Sơn đậu căn 30 g, Thổ phục linh 30 g, Liên kiều 30 g, Phòng phong 30g, Bản lam căn 30 g, Nguyên sâm 30 g, Hòa châm thảo 30 g, Địa miên thảo 30 g, Ngưu bàng căn 15 g, Hoa phấn 15 g Sắc uống mỗi ngày một thang [14]
Vị thuốc Sơn đậu căn tán bột mịn, trộn với nước đun sôi để nguội tạo thành hồ nhão, bôi vào vết thương [20]
Trang 23- Bài thuốc chữa thủy đậu: Thủy đậu mọc dày, sắc tím tối, màu nước đục, xung quanh nốt thủy đậu màu đỏ sẫm, trẻ sốt cao, khát nước, bứt rứt, mặt đỏ, môi hồng, niêm mạc miệng có những nốt phỏng, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ Phép chữa là thanh nhiệt giải độc ở khí phận, lương huyết ở danh phận Dùng bài: Kim ngân 12 g, Liên kiều 8 g, Sinh địa 12 g, Xích thược 8 g, Bồ công anh 16 g, chi tử (sao) 8 g Sắc uống ngày một thang Nếu họng đau gia xạ can 4 g, Sơn đậu căn 8 g Nếu phiền táo gia Hoàng liên 8 g; táo bón gia Đại hoàng 4 g; khát nước, miệng khô gia thiên hoa phấn, Sa sâm, Mạch môn mỗi vị 8 – 12 g [16]
-Trị bệnh gan: [19]
Bài thuốc này sử dụng 12 vị thuốc chính là: Kim tiền thảo, Phục linh bì, Trạch lam, Sơn dược, Xích thược, Sa tiền, Miết giáp, Đam sân, Trạch tả, Sơn đậu căn, Bạch thược, Hoàng kì
Các vị thuốc này sau khi hái về phải rửa thật sạch rồi đem phơi khô, thái mỏng, riêng miết giáp phải nướng chín vàng, trạch tả sau khi phơi khô đem tẩm muối rồi sao vàng lên Ngoài ra, bài thuốc còn dùng thêm 20 vị thuốc gia giảm theo thể trạng, tình trạng bệnh của từng người Với bệnh viêm gan mãn
và sơ gan thì đem sắc uống ngày một thang
- Trị bệnh ngáy ngủ: [18]
Cát cánh 12 g, xạ can 16 g, huyền sâm 16 g, thăng ma 4 g, cam thảo 8
g, mạch môn 12 g, đẳng sâm 12 g, hoàng kỳ 12 g, đan sâm 12 g, táo 3 quả, sơn đậu căn 10 g
Cách dùng: Đổ 5 bát nước, sắc thành 3 bát, chia thành 3 lần uống trong một ngày
* Các sản phẩm có thành phần Sơn đậu Căn đã và được lưu hành trên thị trường Việt Nam:
US Pharma USA phối hợp nghiên cứu và sản xuất [3]
Trang 24Công dụng: Sản phẩm dành cho bệnh nhân ung thư, tăng cường sức khỏe
và thể lực trước, trong và sau quá trình hóa trị, xạ trị, phẫu thuật; người ốm yếu, chức năng gan suy giảm, suy nhược cơ thể cần bồi bổ sức khỏe, tăng sức
đề kháng và phòng ngừa ung thư
- Viên ngừa mụn Hoa Linh của công ty cổ phần VNG [5]
Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, tiêu viêm, tán ứ, trừ nhiệt độc tích
tự trên da, tái lập can bằng sinh lý ở da Hỗ trợ điều trị tận gốc mụn trứng cá, chống mụn trứng cá mọc thêm, ngừa mụn tái phát ( bao gồm: mụn trứng cá thông thường; trứng cá bọc; trứng cá đỏ; mụn mủ; mụn cám)
- Kem đặc trị mụn đầu đen, công ty TNHH Charme [6]
Thành phần: Ngưu hoàng, Cam thảo, Đại hoàng, Sơn đậu căn, tinh chất Chanh, Nghệ đen, Thỏ ty tử, tinh dầu Quế
Công dụng: Đặc trị mụn đầu đen, mụn cám, mụn gạo, mụn do tress, trị thâm, da nhờn, lỗ chân lông to, sẹo rỗ do mụn trứng cá
- TRILAX MS100 là một sản phẩm của LAVOTON: [4]
Với thành phần 100% từ các loại dược thảo quý thiên nhiên: sơn đậu căn, thổ phục linh, thảo hà xa, xích thược, ngân hoa, hạ khô thảo Đây là một sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên và an toàn, không gây ra tác dụng phụ.công dụng thẩm thấu qua lớp “vỏ kén” của vi nấm hắc lào giúp ức chế hoạt động của vi nấm
2.7.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở trên thế giới
Theo kinh nghiệm truyền thống và y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, rễ Sơn đậu căn được sử dụng để giảm sốt, giải độc, chữa viêm họng, viêm lợi, viêm loét dạ dày và nhuận tràng
Theo y học hiện đại, trong rễ Sơn đậu căn có nhiều các alkaloid như: matrine, oxymatrine, sophocapine… có tác dụng chống ung thư và ức chế sự
Trang 25phát triển của khối u, điều trị các bệnh viêm gan siêu vi trùng, rối loạn nhịp tim, viêm da
Ở Trung Quốc, Sơn đậu căn là một trong những cây thuốc quan trọng đã được nghiên cứu rất kỹ về thành phần hóa học của rễ cây Sơn đậu căn bao gồm: flavonoid; polysaccharides, saponin và các alkaloid
Theo Niu Kuizhi (1996) , Sơn đậu căn ít có tác dụng phụ Khi sử dụng ở liều lượng quá nhiều, nó có thể làm phát sinh một số triệu chứng về tiêu hóa như: buồn nôn, nôn, táo bón, đôi khi, chóng mặt, rụng tóc, và phát ban Các tác dụng phụ liên quan đến liều lượng: Khi liều sử dụng là dưới 30 g mỗi ngày, không có phản ứng bất lợi xuất hiện
Theo Hson-Mou Chang (1986) , liều dùng của các alkaloid của rễ cây Sơn đậu căn chiết xuất đối với người là 300 – 600 mg/ngày (tức ở mức 2% alkaloid, điều này tương ứng với 15 – 30 g rễ/ngày) Tuy nhiên trong điều trị chứng loạn nhịp tim liều dùng có thể cao hơn, 1.000 – 1.500 mg/lần và ngày dùng 3 lần Đối với một số bệnh nhân bị bệnh hen suyễn, chỉ dùng 100 mg/ngày và dùng 3 lần/ngày đã thấy xuất hiện hiện tượng chóng mặt, buồn nôn Nhưng những triệu chứng này cũng nhanh chóng qua đi mà không cần phải giảm liều hay ngừng điều trị
2.7.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở Việt Nam
Trang 26bào bị kích thích quá mức, ví dụ trong động kinh, hen phế quản, các dạng ung thư, các bệnh tự miễn, tắc nghẽn phổi mạn tính, khí thũng phế nang, suy giảm thính lực, nhức nửa đầu, khó ngủ, loạn trương lực cơ v.v…
* Công dụng và liều dùng:
Theo Đỗ Tất Lợi (2004) , Sơn đậu căn được dùng để trị phát nóng, ho đau cổ họng, trị hoàng đản cấp tính, sát trùng Ngày dùng 6 – 12 g dạng thuốc sắc hay thuốc bột
Trang 27Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1 Đối tượng
Hạt giống Sơn đậu căn
3.1.1.2 Vật liệu
Chế phẩm: AROOW - R, NAA 1,5%, Com card
Dụng cụ: Túi bầu, thước, chậu nhựa, dao, bình phun…
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần xử lý các chất kích thích sinh trưởng khác nhau đến khả năng của hạt nẩy mầm, và sinh trưởng của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thí nghiệm 1
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và sinh trưởng của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
Trang 28Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 4 công thức, mỗi công thức có 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn CT1: Đ/c (không xử lý)
- Thời gian tiến hành: Hạt gieo 15/1/2017
Thời gian nảy mầm (ngày): Được tính từ ngày gieo cho đến khi mầm cây nẩy lên khỏi mặt đất
Trang 29Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 3 công thức với 03 lần nhắc lại
Công thức 1 (CT1): Xử lý 1 lần (xử lý hạt giống 1 lần trước khi gieo) Công thức 2 (CT2): Xử lý 3 lần (xử lý hạt giống 1 lần trước khi gieo và tưới dung dịch chất kích thích sinh trưởng 2 lần (sau gieo 3 ngày, 6 ngày) Công thức 3 (CT3): Xử lý 5 lần (xử lý hạt giống 1 lần trước khi gieo và tưới dung dịch chất kích thích sinh trưởng 4 lần (sau gieo 3 ngày, 6 ngày, 10 ngày và 15 ngày)
- Thời gian tiến hành: Hạt gieo 15/1/2017
- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi (như mục 3.3.1)
3.3.3 Nghiên cứu thành phần sâu, tần suất xuất hiện sâu, bệnh hại cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
* Phương pháp lấy mẫu theo dõi : Được tiến hành theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng" (QCVN 01-38 : 2010/BNNPTNT)
Thí nghiệm trong giai đoạn vườm ươm,mỗi ô thí nghiệm(mỗi lần nhắc lại ) chỉ có 30 cây cho nên không tiến hành lấy điểm theo dõi mà theo dõi cả
30 cây/ô
*Chỉ tiêu theo dõi :
- Đối với sâu xám,sâu khoang và sâu róm :
Trang 30∑ Số sâu từng loại điều tra
-Đối với thối rễ
Trang 31Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Cao Bằng
Cao Bẳng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta, do vậy có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương Bắc Tuy nhiên nhiệt độ của Cao Bằng chưa bao giờ xuống thấp quá 0°C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không
có băng tuyết (trừ một số vùng núi cao có băng đá xuất hiện vào mùa đông)
Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu tỉnh Cao Bằng
(Nguồn: World Climate Guide)
Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32°C
và thấp trung bình từ 23 - 25°C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40°C Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8°C và trung bình cao từ 15 - 28°C, đỉnh
Trang 32điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6
- 8°C, độ ẩm thấp, trời hanh khô Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu
Lượng mưa cũng có sự thay đổi đáng kể qua các tháng: Thấp nhất là tháng 12 (lượng mưa trung bình là 20 mm) và tháng 1 (lượng mưa trung bình
là 22 mm) Lượng mưa trung bình cao nhất là các tháng 6 (đạt 229 mm), tháng 7 (đạt 224 mm) và tháng 8 (đạt 249 mm)
Bên cạnh đó thì trung bình số giờ nắng giữa các tháng cũng có sự chênh lệch Số giờ nắng của tháng 1 và tháng 2 thấp nhất lần lượt có 62 giờ và 56 giờ Trong khi số giờ nắng cao đỉnh điểm từ 180 – 186 giờ vào các tháng 5, tháng 7 và tháng 8 đều là 186 giờ, tháng 9 là 180 giờ
Như vậy, với điều kiện thời tiết của Cao bằng rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây Sơn đậu căn
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
4.2.1 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của Sơn dậu căn
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn, kết quả thu được ở bảng 4.2
Trang 33Tỷ lệ nẩy mầm của các công thức thí nghiệm cao hơn so với đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 99% (bảng 4.2.)
Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm dao động từ 92,00 – 96,00% Trong đó, tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở công thức xử lý bằng AROOW – R là cao nhất (đạt 96,00%) và cao hơn
tỷ lệ nẩy mầm ở công thức xử lý bằng NAA 1,5% công thức xử lý bằng Comcard (đạt 92,00%) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99% (bảng 4.2.)
Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở các công thức xử lý bằng NAA 1,5% và công thức xử lý bằng Comcard (đạt 92,00%) không có sự sai khác (bảng 4.2.)
Như vây, chất kích thích sinh trưởng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn
4.2.2 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn dậu căn
Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn kết quả thu được ở bảng 4.3
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến thời gian nẩy mầm
Đơn vị tính: ngày
(sau gieo … ngày)
Trang 34Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý hạt giống) đều ngắn hơn so với công thức đối chứng (không xử lý) chắc chắn ở mức độ 99% (bảng 4.3.)
Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm dao động từ 20,10 – 25,67 ngày Trong đó, thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở công thức xử lý bằng AROOW-R và ở công thức xử lý NAA 1,5% là ngắn nhất (đạt 20,10c – 21,33c ngày) và ngắn hơn thời gian nẩy mầm của Sơn đậu căn ở công thức xử lý bằng Comcard (đạt 25,67b ngày) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99% (bảng 4.3.)
Thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn ở các công thức xử lý bằng AROOW-R và ở công thức xử lý NAA 1,5% (c) không có sự sai khác trong so sánh Duncan (bảng 4.3.)
Như vậy, các chất xử lý hạt giống khác nhau ảnh hưởng đến thời gian nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn
4.2.3 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trường đến số cành lá trên cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến số cành/cây sau nẩy mầm 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng, kết quả thu được ở bảng 4.3
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chất kích thích đến số cành/cây Sơn đậu căn
Trang 35Số cành/cây của cây Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) đều nhiều hơn so với đối chứng (không xử lý) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99% (bảng 4.4.)
Biểu đồ 4.1 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau nẩy
mầm 1 tháng)
Sau nẩy mầm một tháng, số cành/cây Sơn đậu căn dao động từ 2,67 – 2,77 cành/cây và số cành/cây ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) không có sự sai khác (a) trong so sánh Duncan (bảng 4.4 và biểu đồ 4.1.)
Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau nẩy
mầm 2 tháng)
Trang 36Sau nẩy mầm 2 tháng, số cành/cây Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) dao động từ 5,57 – 5,77 cành/cây và số cành/cây ở các công thức thí nghiệm không có sự sai khác (a) trong so sánh Duncan (bảng 4.4 và biểu đồ 4.2.)
Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến số cành/cây (sau nẩy
mầm 3 tháng)
Sau nẩy mầm 3 tháng, số cành/cây Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) dao động từ 7,93 – 8,27 cành/cây và số cành/cây ở các công thức thí nghiệm không có sự sai khác (a)
trong so sánh Duncan (bảng 4.4 và biểu đồ 4.3.)
Như vậy, chất kích thích sinh trưởng khác nhau không ảnh hưởng đến số cành/cây Sơn đậu căn sau nẩy mầm 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng trong giai đoạn vườn ươm
4.2.4 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây Sơn đậu căn sau nẩy mầm 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng, kết quả thu được ở bảng 4.4
Trang 37Bảng 4.5 Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chiều cao cây
Sau nẩy mầm một tháng, chiều cao cây Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) dao động từ 4,10 – 4,16 cm
và chiều cao cây ở các công thức thí nghiệm không có sự sai khác (a) trong so sánh Duncan (bảng 4.5 và biểu đồ 4.4.)
Trang 38Biểu đồ 4.4 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến chiều cao cây (sau
Trang 39Sau nẩy mầm ba tháng, chiều cao cây Sơn đậu căn ở các công thức thí nghiệm (xử lý bằng thuốc kích thích sinh trưởng) dao động từ 10,03 – 10,29
cm và chiều cao cây ở các công thức thí nghiệm không có sự sai khác (a)
trong so sánh Duncan (bảng 4.5 và biểu đồ 4.6.)
Biểu đồ 4.6 Ảnh hưởng của chất xử lý hạt giống đến chiều cao cây (sau
nẩy mầm 3 tháng)
Như vậy, chất kích thích sinh trưởng khác nhau không ảnh hưởng đến chiều cao cây Sơn đậu căn sau nẩy mầm 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng trong giai đoạn vườn ươm
4.3 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt và khả năng sinh trưởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm
4.3.1 Ảnh hưởng số lần xử lý hạt giống bằng chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm của cây Sơn đậu căn
Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần xử lý hạt giống Sơn đậu căn bằng
chất kích thích sinh trưởng đến tỷ lệ nẩy mầm, kết quả thu được ở bảng 4.6
Trang 40tỷ lệ nẩy mầm ở công thức xử lý bằng NAA 1,5% (đạt 92,0%) & công thức
xử lý bằng Comcard (đạt 92,0%) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99% (bảng
4.6 và biểu đồ 4.7.)
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống Sơn đậu căn (sau xử lý 1 lần
trước khi gieo)