1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn công ty cổ phần bình minh mỹ đức hà nội khóa luận tốt nghiệp

65 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN VĂN TUYỂN Tên đề tài: “TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SAU CAI SỮA ĐẾN 4 THÁNG TUỔI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN BÌN

Trang 1

TRẦN VĂN TUYỂN

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SAU CAI SỮA ĐẾN 4 THÁNG TUỔI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN

BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI’’

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

TRẦN VĂN TUYỂN

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SAU CAI SỮA ĐẾN 4 THÁNG TUỔI VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY CỔ PHẦN

BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Lớp : 45CNTY-N02

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập tại trường và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trại lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội đến nay em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới thầy

giáo PGS.TS Từ Trung Kiên, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong

suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trại chăn nuôi lợn Bình Minh cùng toàn thể anh, chị công nhân viên đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại trại

Một lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong nhà trường, các bạn bè đồng nghiệp cùng gia đình lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc sức khỏe cùng mọi điều may mắn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Trần Văn Tuyển

Trang 4

MỞ ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành", "Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học và trường Đại học Nông Lâm nói riêng

Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học đồng thời giúp sinh viên làm quen với môi trường sản xuất từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương hướng tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được

sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em tiến

hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn công ty cổ phần Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội”

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em kính mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn chỉnh hơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Trần Văn Tuyển

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm thử nghiệm thuốc điều trị 33

Bảng 4.1 Lịch sát trùng của trại lợn thịt 36

Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vaccine cho lợn thịt của trại 37

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40

Bảng 4.4 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo dãy chuồng 41

Bảng 4.5 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy lợn theo tháng theo dõi 42

Bảng 4.6 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi lợn 43

Bảng 4.7 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo tính biệt 44

Bảng 4.8 Các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy 45

Bảng 4.9 Kết quả mổ khám bệnh tích 46

Bảng 4.10 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy lợn theo 2 phác đồ 47

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs: Cộng sự C.P: Charoen Pockphand ĐVT: Đơn vị tính

KL: Khối lượng LMLM: Lở mồm long móng LPS: Liposome

Nxb: Nhà xuất bản TT: Thể trọng TĂ: Thức ăn

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

MỞ ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 3

2.1.1.1.Quá trình thành lập 3

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 3

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại 4

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6

2.1.2.1 Thuận lợi 6

2.1.2.2 Khó khăn 6

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 6

2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa 6

2.2.2 Khái niệm hội chứng tiêu chảy 7

2.2.3 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy 7

2.2.3.1 Do vi sinh vật 8

2.2.3.2 Do ký sinh trùng 11

Trang 8

2.2.3.3 Do nấm mốc 11

2.2.3.4 Nguyên nhân khác 12

2.2.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 16

2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích hội chứng tiêu chảy ở lợn 18

2.2.5.1 Triệu chứng lâm sàng 18

2.2.5.2 Bệnh tích 19

2.2.6 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy 19

2.2.7 Biện pháp phòng và trị bệnh tiêu chảy cho lợn 20

2.2.7.1 Biện pháp phòng bệnh 20

2.2.7.2 Điều trị bệnh 23

2.2.8 Một số loại thuốc kháng sinh và bổ trợ sử dụng điều trị hội chứng tiêu chảy 26 2.2.8.1 Thuốc kháng sinh 26

2.2.8.2 Thuốc bổ trợ 27

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32

3.1 Đối tượng 32

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32

3.3 Nội dung tiến hành 32

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp tiến hành 32

3.4.1 Chỉ tiêu theo dõi 32

3.4.2 Phương pháp tiến hành 33

3.4.2.1 Phương pháp điều tra 33

3.4.2.2 Phương pháp thử nghiệm hiệu lực của thuốc kháng sinh 33

3.4.2.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 33

3.4.2.4 Xác định bệnh tích thông qua kết quả mổ khám 34

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 34

Trang 9

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 35

4.1.1 Công tác chăn nuôi 35

4.1.2 Công tác thú y 36

4.1.2.1 Vệ sinh thú y 36

4.1.2.2 Công tác phòng bệnh 37

4.1.2.3 Công tác điều trị bệnh 37

4.1.3 Công tác khác 39

4.2 Kết quả theo dõi 41

4.2.1 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn theo dãy chuồng 41

4.2.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo tháng theo dõi 42

4.2.3 Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo lứa tuổi 43 4.2.4 Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn theo tính biệt 44

4.2.5 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc hội chứng tiêu chảy 45

4.2.6 Kết quả mổ khám bệnh tích lợn chết do mắc hội chứng tiêu chảy 46

4.2.7 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của một số phác đồ điều trị 47

Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.3 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

I Tài liệu tiếng Việt 50

II Tài liệu nước ngoài 54

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nước ta là một nước nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến

Định hướng phát triển chăn nuôi lợn đến năm 2020: là phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện

về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng

Hàng loạt vấn đề về quản lý, kỹ thuật chăn nuôi lợn ở nước ta đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết nhằm đưa ngành chăn nuôi

ở nước ta tiến kịp trình độ trong khu vực và thế giới Ngoài các yếu tố như: giống, nuôi dưỡng, chăm sóc thì khâu công tác thú ý là rất quan trọng, quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng

Nước ta là một nước thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều nên rất thích hợp cho dịch bệnh phát triển mạnh và lây lan nhanh, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt, các giống lợn ngoại chưa thích nghi được với điều kiện khí hậu Một trong các bệnh thường xảy ra khá phổ biến ở lợn có “Hội chứng tiêu chảy”, bệnh làm cho lợn còi cọc, chậm lớn, tăng chi phí chăn nuôi… ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất đó, chúng tôi đã tiến hành thực

hiện đề tài với nội dung: “Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn từ sau cai sữa đến 4 tháng tuổi và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn công ty cổ phần Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội”

1.2 Mục đích của nghiên cứu

- Đánh giá tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn tại trại và xác định các yếu tố ảnh hưởng

- Xác định được tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn nuôi tại cơ sở

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Các kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng

và trị hội chứng tiêu chảy cho lợn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề xuất phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy hiệu quả cao giảm thiệt hại cho người chăn nuôi

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh

2.1.1.1.Quá trình thành lập

Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi C.P Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pockphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi C.P Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn hậu bị bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thước 7m × 7m/ô, 1 ô khích thức 3m × 7m/ô Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,2m × 1,8m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,0m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách

ly, 1 chuồng đực giống Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ

Trang 13

lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc cho lợn uống phòng khi lợn ốm Nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

Chủ trại: 1 người

Quản lý trại: 1 người

Quản lý kỹ thuật: 3 người

Kế toán: 1 người

Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại: 1 người

Công nhân: 7 người và sinh viên thực tập: 20 người

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất lợn con giống, nuôi lợn thịt

và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Thức ăn cho lợn nái và lợn thịt là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi C.P Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

Trang 14

* Công tác thú y

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi C.P Việt Nam

Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn

Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không

gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

Trang 15

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn giai đoạn sau cai sữa

Sau cai sữa, thức ăn của lợn con chuyển chủ yếu sang ăn thức ăn hỗn hợp do đó mà hệ tiêu hóa của lợn cũng có sự thay đổi để thích ứng với điều này

Lợn là loài ăn tạp, bất cứ loại thực phẩm nào dù sống hay chín đều có thể ăn được Lợn nặng 90 - 100kg có dung tích dạ dày 5 - 6 lít và có chiều dài ruột non dài gấp 14 lần thân của nó, vì thế lợn tiêu hoá và đồng hoá thức ăn

Trang 16

tốt Tuy nhiên, lợn con có bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, nhưng tốc độ sinh trưởng cao, do đó ta cần có chế độ ăn uống thích hợp cho chúng

Lúc bú sữa, lợn con tiết ra dịch vị khoảng 31% (vào ban ngày) và 69% (ban đêm), do đó chúng thường bú nhiều vào ban đêm Lợn trưởng thành thì ngược lại, vào ban ngày dịch vị của nó tiết ra 62%, lúc đêm chỉ còn 38%

Đối với lợn chăn nuôi trang trại quy mô công nghiệp, lợn con sau 21 ngày tuổi bắt đầu chuyển sang nuôi thịt thương phẩm Lợn từ 21 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi hệ tiêu hóa còn chưa hoàn thiện đầy đủ rất dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa Để hạn chế lợn mắc bệnh trong giai đoạn này cần phải có chuồng úm và chăm sóc lợn với chế độ dinh dưỡng đặc biệt để hạn chế các bệnh trong đó có bệnh về tiêu hóa

2.2.2 Khái niệm hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là hội chứng bệnh lý đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi

ỉa nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa (tăng cường co bóp và tiết dịch), hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là một bệnh đặc thù (Archie, 2000) [1]

2.2.3 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy

Trong lịch sử nghiên cứu hội chứng tiêu chảy, đã có rất nhiều tác giả dày công nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy, kết quả cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp Tuy nhiên, hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều yếu tố Song dù bất kì yếu tố nào gây ra thì hậu quả của nó là viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là nhiễm trùng Hội chứng tiêu chảy thường do một số nguyên nhân sau đây:

Trang 17

ở trạng thái cân bằng Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột Dưới tác động của yếu tố gây bệnh sự cân bằng hệ vi sinh vật bị phá vỡ gây ra loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy

Nhiều tác giả cũng nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi các vi khuẩn ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển thành số lượng lớn gây bệnh

Nguyễn Như Pho (2003) [22] cho biết: khả năng gây bệnh của vi khuẩn với các lứa tuổi lợn là khác nhau Ở lợn sau cai sữa hoặc đầu giai

đoạn nuôi thịt nhiễm Salmonella spp cao hơn; giai đoạn sơ sinh - cai sữa thường do E coli; 6 - 12 tuần tuổi thường do xoắn khuẩn Treponema

hyodysenteriae, còn vi khuẩn Cl perfrigens thường gây bệnh cho lợn con

theo mẹ trong 1 tuần đầu đến sau cai sữa

Theo Trần Thị Hạnh và cs (2004) [7], khi nguồn nước uống cho lợn bị

ô nhiễm do chất thải sẽ làm chất lượng và tính chất nguồn nước thay đổi, kèm theo lượng oxy hòa tan suy giảm Quá trình oxy hóa chất hữu cơ, vô cơ bị trở ngại Nước bị ô nhiễm chất hữu cơ và vô cơ là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển trong đó có vi sinh vật gây hội chứng tiêu chảy

Trang 18

Trương Quang (2005) [24] cho rằng: một tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài vi sinh vật nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây lên loạn khuẩn Loạn khuẩn là nguyên nhân chủ yếu gây lên bệnh đường tiêu hóa, chủ yếu là gây tiêu chảy

Bình thường vi khuẩn E coli cư trú ở cuối ruột non và ở ruột già,

nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các tế bào Trong máu nhờ cấu trúc kháng nguyên O và khả năng gây dung huyết, vi khuẩn chống lại các yếu tố phòng

vệ không đặc hiệu và thực bào Vi khuẩn này tiếp tục phát triển và nhân lên gây cho con vật rơi vào tình trạng bệnh lý

Hồ Đình Soái, Đinh Thị Bích Lân (2005) [26], khi tìm hiểu nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy ở lợn đã nhận xét 100% mẫu phân lợn tiêu

chảy phân lập được E coli Lượng vi khuẩn E coli có trong phân lợn tiêu

chảy cao gấp 2,37 lần (1 - 45 ngày tuổi); gấp 2,31 lần (45 - 60 ngày tuổi)

so với lợn bình thường

Vi khuẩn E.coli có sẵn trong đường tiêu hóa của lợn, khi sức đề kháng

của con vật giảm sút do chăm sóc, nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi và các bệnh kế phát thì vi khuẩn sẽ phát triển nhanh, gây lên rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột gây ra tiêu chảy

Nguyễn Thị Ngữ (2005) [20], khi nghiên cứu về E coli và Salmonella

trong phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy cho biết: ở lợn không tiêu

chảy có 83,30 - 88,29% số mẫu có mặt E coli; 61,00 - 70,50% số mẫu có mặt

Salmonella Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,70 -

96,40% số mẫu phân lập có E coli, và 75,00 - 78,60% số mẫu phân lập có

Salmonella

Lê Thị Hoài (2008) [11], kết quả phân lập vi khuẩn E coli và Cl

perfringens từ phân lợn khoẻ và lợn tiêu chảy cho thấy: vi khuẩn E coli phân

Trang 19

lập được từ 100% ở lợn tiêu chảy và 96,90% ở lợn bình thường, còn tỷ lệ

phân lập được vi khuẩn Cl perfringens trong phân lợn tiêu chảy là 76,40%;

trong phân lợn bình thường là 12,50%

* Do virus

Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng virus cũng là nguyên nhân gây

tiêu chảy ở lợn như: Rotavirus, TGE, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có

vai trò nhất định gây hội chứng tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính

Trước tiên là virus TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội chứng tiêu chảy ở lợn TGE gây bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn con

2 đến 3 ngày tuổi hay mắc nhất và thường có tỷ lệ chết cao Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng

Rotavirus thường gây tiêu chảy cho lợn, bò và người Lợn con từ 1 đến

6 tuần tuổi hay mắc với các biểu hiện lâm sàng như kém ăn hay bỏ ăn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, gầy sút nhanh chóng do mất nước, nằm bẹp một chỗ Giai đoạn cuối, con bệnh biểu hiện thiếu máu, truỵ tim mạch và chết trong vòng 2 đến 3 ngày Lợn hậu bị thường mắc bệnh ở thể nhẹ, tỷ lệ chết ít hơn nhưng để lại những biến chứng

Nguyễn Như Pho (2003) [22] cũng đã cho rằng: Rotavirus và Coronavirus

gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Trang 20

2.2.3.2 Do ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động

cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác

động gây ra hội chứng tiêu chảy như sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…

Thân Thị Dung (2006) [4] chỉ ra rằng: Tỷ lệ mắc ký sinh trùng ở lợn bị tiêu chảy cao hơn rõ rệt so với lợn bình thường Tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 35,54%; giun đũa 31,82%; giun lươn 41,32%; giun tóc 23,14%; sán lá ruột 18,18%

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [15], khi tiến hành xét nghiệm

624 mẫu phân lợn ở một số địa phương tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có trứng giun lươn trong phân của lợn bình thường và lợn tiêu chảy, tuy nhiên lợn tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm cao hơn Trong 348 lợn tiêu chảy có 193 lợn nhiễm giun lươn chiếm 55,46%; trong 326 lợn bình thường có 128 lợn nhiễm chiếm 39,26%

Theo Trương Thị Thu Trang (2010) [33], thì tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa tăng dần theo tuổi và cao nhất ở 2 - 6 tháng tuổi sau đó giảm giần Lợn nuôi ở điều kiện vệ sinh thú y tốt cường độ nhiễm giun đũa thấp (24,49%), tăng lên ở lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y trung bình (32,13%) và cao nhất ở điều kiện vệ sinh thú y kém (55,89%)

Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [15] cho biết: giun đũa, giun lươn, giun tóc là nguyên nhân gây tiêu chảy cho lợn, đặc biệt là ở lợn con

2.2.3.3 Do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm

mốc Một số loài như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium có khả năng

Trang 21

sản sinh nhiều độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1, M2)

Theo Đậu Ngọc Hào (2006) [9], thì thức ăn cho lợn quá trình chế biến

và bảo quản không tốt rất dễ nhiễm một số loài nấm mốc như Aspergillus,

Penicillin phân bố trong tự nhiên, chúng có khả năng xâm nhập và phát triển

mạnh trong thức ăn và sản sinh nhiều độc tố gây hại cho lợn và là nguyên nhân của nhiều bệnh: gây ung thư gan, hủy hoại gan, độc cho thận, sinh dục

và thần kinh Lợn khi nhiễm độc tố nấm mốc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng

da, ỉa chảy, ỉa chảy ra máu

2.2.3.4 Nguyên nhân khác

* Do thời tiết khí hậu

Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại… đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ

Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định, hệ thống tiêu hoá, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy, lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [6], thì các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn yếu

Nhiều công trình nghiên cứu còn cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh, ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi

về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản

Trang 22

ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế, sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh

* Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh

+ Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc là nguyên nhân gây ra tiêu chảy

Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất hiện nay Hàm lượng Aflatoxin trong các mẫu thức ăn chăn nuôi ở các tỉnh

phía Bắc biến động từ 10 đến 2800 g/1kg thức ăn Có đến 10% các loại thức

ăn hiện dùng là không an toàn cho gia súc, gia cầm Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc với biểu hiện nhiễm độc đường tiêu hóa và gây tiêu chảy dữ dội

+ Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protit và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh

Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hoà thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh

Trang 23

Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hoá trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hoá

+ Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy

+ Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều

là nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn

* Do stress

Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh trong đó có tiêu chảy

Theo Nguyễn Văn Tó (2006) [31], nếu chuồng nuôi kém thoáng khí,

ẩm, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu khi nhiệt độ trong chuồng nuôi lên cao sẽ sản sinh nhiều khí có hại NH3, H2S làm con vật bị trúng độc thần kinh nặng, con vật bị stress - một nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy

* Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại

Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng, do vậy chuồng trại

có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh của gia súc và ngược lại

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú

Trang 24

ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn

Theo Nguyễn Văn Tó (2006) [31], nếu chuồng nuôi khô ráo thoáng khí, sạch sẽ sẽ làm giảm lượng khí độc trong chuồng nuôi đồng thời hơi nước thừa được thoát ra ngoài làm cho độ ẩm trong chuồng nuôi vừa phải, góp phần làm giảm tỷ lệ lợn mắc bệnh Cũng theo các tác giả, trong cùng điều kiện chăn nuôi, thời gian nào độ ẩm cao ở chuồng mà nền không thoát nước, xây dựng ở chỗ đất trũng thì bệnh lợn con phân trắng phát triển mạnh

Phạm Sỹ Tiệp, Nguyễn Đăng Vang (2006) [32] cho biết: chuồng công nghiệp (có sàn cao hơn mặt đất 40 - 70 cm) đã góp phần cải thiện đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng các khí độc giảm 14,50 - 16,0%; ẩm độ giảm 2,50%; nhiệt độ mùa nóng giảm 1,80C; tốc độ gió tăng 62,22%; tổng số vi khuẩn/m3 không khí giảm 1,8 triệu so với ở kiểu chuồng K64, là các yếu tố làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn

* Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn

Độ ẩm trong chuồng nuôi 75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 - 25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 - 15% từ không khí bên ngoài chuồng đưa vào

Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 - 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi

>90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc Nhiều thí nghiệm cho thấy, lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hoá thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh trong đó có hội chứng tiêu chảy

Trang 25

Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Về mùa nóng, nếu

độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm con vật nóng thêm Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm

độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt

độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt Con vật bị stress nhiệt dẫn đến ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là 80 - 85%

2.2.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy

Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,

cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung

đó là sự mất nước, rối loạn cân bằng axit-baze

 Mất nước do tiêu chảy

Trong cơ thể nước chiếm 50 – 70% trọng lượng cơ thể, được phân bố ở

2 khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào

Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài qua nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở Quá trình hấp thu và cân bằng nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định

Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do thức

ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác khi bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức ruột

bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác

Trang 26

Chính vì vậy, trong điều trị viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức độ mất nước và các biện pháp chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu

 Tình trạng mất nước và chất điện giải

Có thể phân loại mất nước thành 3 thể sau:

- Mất nước nhược trương

- Mất dịch và natri nặng

- Mất nước nặng và giảm natri trong máu

Mất nước đẳng trương: nước và các chất điện giải mất một lượng tương đương Trong trường hợp này, thể tích nước ở khu vực ngoại bào bị giảm nhưng độ đậm điện giải không thay đổi Khu vực nội bào và thăng bằng về điện giải về H+

+ K+ từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào

+ Na+ và H+ từ khu vực ngoại bào vào khu vực nội bào

Mất nước nhược trương: nước mất ít hơn muối Trong trường hợp này thể tích khu vực ngoại bào bị giảm, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ áp lực thẩm thấu hạ) vào khu vực nội bào, cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý

 Rối loạn cân bằng axit-baze

Phản ứng của máu thường ổn định bởi trong máu có các hệ đệm cùng với các hoạt động của các cơ quan điều hòa phản ứng của máu như phổi, thận

Trang 27

Hệ đệm được hình thành hoàn toàn ngay trong những tháng đầu ngay khi gia súc sinh ra Nó gồm những đôi đệm trong huyết tương và hồng cầu

Axit hữu cơ gồm: Axit lactic, axit pyruvic và những yếu tố khác

Trong các đôi đệm trên thì đôi đệm quan trọng nhất là đôi đệm hồng cầu Đây là hệ đệm lớn nhất nên sự trung hòa axit trong máu chủ yếu là NaHCO3 quyết định Cũng vì vậy, người ta đo hàm lượng muối bicacbonat chứa trong 100ml máu để biểu thị lượng kiềm dự trữ

Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan - kiềm dựa vào đánh giá

sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat-axit cacbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về chức năng nên việc đo hệ bicacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình Henderson-Haselbatch:

+ Ph = pK + log

+ Ph của acid cacbonnic là 0,1

+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của cacbobioxit (CO2) trong các dịch thể

Như đã thấy thông qua phương trình Henderson-Haselbatch, nếu lượng axit vào máu nhiều, các đôi đệm không trung hòa hết, lượng dự trữ kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm, trường hợp này gọi là trúng độc toan Như khi kiềm vào máu nhiều, hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-, lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm

2.2.5 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích hội chứng tiêu chảy ở lợn

2.2.5.1 Triệu chứng lâm sàng

Không có sự gia tăng thân nhiệt, phân có thể sệt, loãng màu vàng hoặc trắng, mùi tanh khắm Tùy theo mức độ tiêu chảy mà lợn bệnh gầy ít hay nhiều do mất nước, mất chất điện giải, lợn tiêu chảy vài ngày có thể khỏi không cần điều trị, đôi khi chết sau 3 - 5 ngày nếu không được điều trị, lợn

Trang 28

tiêu chảy nhiều lần trở nên gầy, lông dài và thô, mắt trũng, da đóng nhiều vảy trắng sau này sinh trưởng rất kém Ngoài ra, còn một số triệu chứng: Hạ huyết

ở lợn con dưới 7 ngày tuổi, lợn bỏ bú, sốt cao, bong da Lợn chết dễ dàng, có thể viêm phúc mạc làm bụng căng to, thành bụng xanh và nổi rõ mạch máu

2.2.5.2 Bệnh tích

Bệnh tích được phát hiện thấy chủ yếu ở xoang bụng Hạch màng treo ruột sưng to Ruột non bị viêm cata, dạ dày sưng phủ một lớp nhầy Gan bị thoái hoá màu đất sét, sưng, túi mật căng và bị dài ra do chứa đầy mật Lách không sưng, mềm, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết Chất chứa trong ruột lỏng, màu vàng Xác lợn chết gầy, bụng hóp, những lợn chết qua đêm phần bụng thường có màu đen do quá trình hoại tử gây ra

2.2.6 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra như: tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đều

có ảnh hưởng tới hội chứng tiêu chảy Ở lợn, hội chứng tiêu chảy có thể xảy

ra ở mọi lứa tuổi

Kim Lan và cs (2006) [15], cho rằng khi tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn:

- Giai đoạn sơ sinh (1 - 4 ngày tuổi)

- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 - 21 ngày tuổi)

- Giai đoan lợn sau cai sữa (> 21 ngày tuổi)

Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [16] cho rằng: bệnh chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ trong năm, các loại thức ăn, nền chuồng và tình trạng

vệ sinh thú y

Trang 29

Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,90%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi

Về mùa vụ, hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất là tháng 5 - 8 Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 - 14,75%) so với 2 mùa còn lại (9,18 - 9,68%)

Điều kiện chuồng trại vệ sinh cũng có ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn Lợn nuôi trên nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%; tăng lên ở chuồng có nền láng xi măng (12,64%) và cao nhất ở chuồng nền đất (20,37%)

Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn các tác nhân này thường làm tăng

Nên cho lợn bú sữa đầu, nên chăm sóc lợn mẹ trước khi sinh, nên tập

ăn sớm cho lợn con

Chống ẩm, chống bẩn và chống lạnh

* Phòng tiêu chảy bằng các biện pháp kỹ thuật

Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tốt và ngược lại

Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn, nếu chuồng nuôi đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo sẽ làm giảm tỷ lệ bệnh đường tiêu hoá

Trang 30

Trần Thị Hạnh và cs (2011) [7] cho biết: để hạn chế sự tồn tại của

tác nhân gây bệnh như rotavirus và vi khuẩn E coli là vệ sinh, tiêu độc sát

trùng chuồng trại định kỳ, tắm rửa nái trước khi sinh, cho heo con bú sữa đầu và ủ ấm heo con theo mẹ trong tuần đầu sau khi sinh là điều cần thiết

để bảo vệ sức khỏe cho đàn heo con tránh được bệnh tiêu chảy

Theo Dương Quốc Huy (2012) [12], thì chuồng chăn nuôi vệ sinh kém có tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy là 32,48 cao hơn so với chuồng trại vệ sinh tốt 16,09%

* Phòng bệnh bằng vaccine

Phòng bệnh bằng vaccine là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vaccine là chế phẩm sinh học, được bào chế từ các vi sinh vật gây bệnh, trong đó mầm bệnh đã bị giết chết hay giảm độc không còn khả năng gây bệnh, khi đưa vào cơ thể có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể Vaccine phòng tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vaccine này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ bệnh

Trần Văn Hào (2012) [10], khi bổ sung kháng thể E coli trên lợn con

theo mẹ có tác dụng trong việc làm giảm tỷ lệ tiêu chảy xuống còn 1,17% làm tăng 8,01% trọng lượng lợn con cai sữa, tăng tỷ lệ nuôi sống từ 93,44% lên đến 96,26%

Do E coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc bào chế vaccine E coli gặp những khó khăn nhất định và việc chế một loại vaccine

E coli để phòng bệnh cho lợn ở nhiều địa phương thường đem lại hiệu quả

phòng bệnh không cao Vì vậy có thể sử dụng phương pháp chế tạo vaccine

phòng bệnh E coli cho hiệu quả cao bằng cách lấy vi khuẩn E coli có trong

Trang 31

chất chứa đường ruột của lợn bị tiêu chảy cấy vào sữa và cho lợn mẹ ăn canh trùng đó trước khi đẻ 1 tháng cho kết quả phòng tiêu chảy ở lợn con sơ sinh tốt, phương pháp này hiện nay vẫn được dùng tại Mỹ Ở nước ta, các cơ sở chăn nuôi, các cán bộ thú y đã thực hiện biện pháp vaccine chuồng cũng cho hiệu quả tốt trong phòng bệnh

Một số vaccine phòng E coli như: vaccine Porcoli, vaccine Porcine

Pili, vaccine E coli phù đầu, vaccine Neocolipor

Bên cạnh các loại vaccine E coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vaccine Salmonella Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều loại vaccine phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn Mỹ sản xuất vaccine đa giá thành phần gồm E coli, Pasteurella mutocida, Salmonella

choleraesuis Ở Đức chế vaccine Salmonella typimurium chủng ĐT104

Hungari chế vaccine vi khuẩn Salmonella có bổ trợ glucoza

* Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học

Trong đường ruột của động vật có rất nhiều loại vi sinh vật sinh sống chúng tạo thành hệ vi sinh vật đường ruột Khi hệ vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng thì các chủng vi sinh vật có lợi như vi khuẩn lactic,

Bacillus subtilis phát triển mạnh, các vi khuẩn này có tác dụng tốt trong quá

trình tiêu hoá của vật chủ Ngược lại, nếu trạng thái cân bằng bị phá vỡ thì các

vi sinh vật có hại sẽ phát triển gây rối loạn tiêu hoá và ỉa chảy

Có thể thấy, nhân tố nào gây nên sự mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột đều là nguyên nhân dấn tới gia súc bị tiêu chảy Để kìm chế loạn khuẩn người ta sử dụng kháng sinh bổ sung trong quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, ngoài tác dụng kìm chế những vi khuẩn có hại cũng làm cho vi khuẩn có lợi trong đường ruột giảm đi Khi dùng thường xuyên kháng sinh sẽ làm cho vi khuẩn trong đường ruột sinh kháng thuốc, tồn dư trong sản phẩm thịt ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do vậy sử dụng chế phẩm sinh học để phòng

Trang 32

bệnh nhằm bổ sung những vi sinh vật có lợi giúp ổn định hệ vi sinh vật đường tiêu hóa là điều cần thiết

Các chủng vi sinh vật hữu ích được sử dụng để sản xuất chế phẩm sinh học phải đạt được yêu cầu: Có khả năng thích ứng tốt trong môi trường đường tiêu hóa, có khả năng đối kháng với các vi sinh vật được coi là có hại trong đường tiêu hóa để duy trì tính ổn định của hệ vi sinh vật trong đường ruột và có khả năng tạo các chất cần thiết như axit amin, vitamin trong môi trường nuôi cấy cũng như trong cơ thể, không sản sinh độc tố, dễ dàng bào chế và sử dụng

Một số chủng vi sinh vật hiện nay đã và đang được sử dụng để sản xuất

chế phẩm Probiotic là: Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis, Bacillus

licheniformis, Bacillus polymysa, Saccharomyces, Streptococcus… Trong

những năm gần đây các chủng vi khuẩn lactic được nhiều nhà nghiên cứu

quan tâm, trong đó Lactobacillus acidophilus được chú ý nhiều nhất bởi nó có

thể sống, phát triển tốt trong môi trường đường ruột đồng thời còn có khả năng tổng hợp một số vitamin cần thiết cho cơ thể và có khả năng đề kháng với hơn 40 loại kháng sinh do vậy có thể kết hợp với kháng sinh để điều trị tiêu chảy

Sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng bệnh tiêu chảy sẽ tạo sự bảo

hộ tốt với hệ sinh thái đường ruột Chế phẩm sinh học tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có ích hoạt động, giữ cho hệ vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng ngăn ngừa sự rối loạn tiêu hóa, một mắt xích quan trọng gây hội chứng tiêu chảy

2.2.7.2 Điều trị bệnh

Để điều trị hội chứng tiêu chảy có hiệu quả cần phải điều trị sớm, kịp thời, thực hiện biện pháp điều trị tổng hợp như kết hợp điều trị nguyên nhân, điều trị triệu chứng, bổ sung nước và các chất điện giải cho gia súc, đồng thời

Ngày đăng: 24/08/2018, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm