Lợn con sau khi sinh, sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm, sự giảm tăng trưởng là do nhiều nguyên nhân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRẦN BÁ THANH
Tên chuyên đề:
THEO DÕI TỶ LỆ MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG TRÊN ĐÀN LỢN CON
1 - 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI
ÔNG ĐẶNG ĐÌNH DŨNG - LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRẦN BÁ THANH
Tên chuyên đề:
THEO DÕI TỶ LỆ MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG TRÊN ĐÀN LỢN CON
1 - 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI
ÔNG ĐẶNG ĐÌNH DŨNG - LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn em trong đợt thực tập cô GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan cùng các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi - thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tân tình giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn ông Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh chị
em công nhân, kĩ sư trong trại đã giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành kì thực tập tại trại vừa qua
Em xin kính chúc tất cả các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi - thú
y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc ông Đặng Đình Dũng cùng các anh chị em công nhân, kĩ sư luôn mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Bá Thanh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Khẩu phần ăn cho đàn lợn 5 Bảng 4.1 : Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái ngoại tại trại Đặng Đình Dũng 35 Bảng 4.2 : Kết quả công tác phục vụ sản xuất 38 Bảng 4.3: Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con ở một số đàn lợn 39 Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi trong năm
2016 40 Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 41 Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo tính biệt 42 Bảng 4.7: Hiệu quả điều trị bệnh lợn con phân trắng của thuốc MD NOR -
100 44
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện thực hiện chuyên đề 3
2.1.1 Điều kiện bản thân 3
2.1.2 Điều kiện của cơ sở thực tập 3
2.2 Cơ sở khoa học 6
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con theo mẹ 6
2.2.2 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con 9
2.2.3 Đặc tính của vi khuẩn E coli 15
2.2.4 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con 18
2.3 Tình hình nghiên cứ u trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 30
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
Trang 73.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 34
4.1 Kết quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng và thú y tại trại 34
4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 34
4.1.2 Công tác thú y 34
4.1.3 Công tác khác 37
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề 39
4.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở một số đàn lợn tại trại lợn Đặng Đình Dũng, Lương Sơn – Hòa Bình 39
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi trong năm 2016 40
4.2.3 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 41
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo tính biệt 42
4.2.5 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con của phác đồ điều trị MD NOR - 100 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi của nước ta đang ngày càng phát triển, không chỉ cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần ổn định đời sống người dân
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta, nhưng để chăn nuôi lợn phát triển theo hướng gắn liền với thị trường, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường thì các địa phương cần đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi
có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp
Cùng với việc phát triển chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống Đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống ở nước ta, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua Vì vậy, công tác phòng bệnh cho lợn con 1 - 21 ngày tuổi là rất quan trọng Tuy nhiên, do điều kiện thời thay đổi đột ngột (nhiệt độ, độ ẩm) kết hợp với điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng còn hạn chế nên lợn thường hay mắc các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, đặc biệt là lợn con sau khi sinh thường mắc bệnh phân trắng Khi lợn con mắc bệnh phân trắng thường dễ chết nếu điều trị khỏi thì cũng còi cọc, chậm lớn ảnh hưởng đến chất lượng giống, gây tổn thất lớn về kinh tế
Trại ông Đặng Đình Dũng ở Lương Sơn - Hòa Bình nuôi 1200 lợn nái ngoại để sản xuất lợn giống Lợn con 1 - 21 ngày tuổi của trại mắc bệnh phân trắng rất phổ biến, gây thiệt hại đáng kể cho trang trại
Trang 9Từ yêu cầu cấp thiết của trại, em tiến hành đề tài: “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng trên đàn lợn con 1 - 21 ngày tuổi và biện pháp điều trị tại trại ông Đặng Đình Dũng - Lương Sơn - Hòa Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại ông Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi tại trại ông Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình
- Xác định được hiệu lực điều trị của phác đồ MD NOR - 100
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Kết quả đề tài là thông tin khoa học về quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con và một số đặc điểm và bệnh lý lâm sàng của bệnh phân trắng lợn con
- Qua tiếp cận thực tế ta ̣i tra ̣i là điều kiê ̣n để nâng cao tay nghề, rèn luyện các kỹ năng chuyên môn
- Vận du ̣ng các kiến thức đã ho ̣c vào thực tiễn sản xuất, trau dồi thêm những kiến thức mới
- Học tập kinh nghiệm từ thực tế sản xuất
- Nắm bắt được tình hình chăn nuôi, dịch bệnh của trại
- Có thêm kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều tri ̣ bê ̣nh cho lợn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo cho người chăn nuôi
áp dụng các quy trình kỹ thuật chăm sóc, phòng và trị bệnh phân trắng ở lợn con, góp phần nâng cao năng xuất chăn nuôi lợn
- Qua điều tra tình hình bệnh phân trắng lợn con của tra ̣i và đánh giá được hiê ̣u lực của thuốc sử du ̣ng, có thể khuyến cáo phác đồ điều trị hiệu quả bệnh phân trắng lợn con
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện thực hiện chuyên đề
2.1.1 Điều kiện bản thân
- Bản thân còn trẻ, có sức khỏe tốt, đầy nhiệt huyết, sống lành mạnh, luôn
có ý thức cao trong việc tự học, nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, không ngại khó ngại khổ và rất yêu nghề
- Đã được trang bị các kiến thức cơ bản về chuyên môn để áp dụng vào thực tế sản xuất
2.1.2 Điều kiện của cơ sở thực tập
Trang trại lợn của ông Đặng Đình Dũng nằm tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 héc ta nằm riêng biệt trên một quả đồi Trong đó diện tích khu chăn nuôi và các công trình phụ cận chiếm gần 1héc ta, diện tích còn lại trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và hồ thả cá
Trại nằm cách Đường mòn Hồ Chí Minh 100 mét, đây chính là điều kiện thận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y, tiêu thụ sản phẩm cũng như chuyển giao khoa học kĩ thuật
Trại được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 3 giống lợn LANDRACE, YORSHIRE và DUROC
Nhân sự của trại gồm:
o 2 kĩ sư
o 4 tổ trưởng: 2 tổ trưởng chuồng bầu, 2 tổ trường chuồng đẻ
o Công nhân phụ trách: 16 công nhân
Trang 11Trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau
để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Khu sản xuất của trại gồm:
o 2 dãy chuồng đẻ
o 2 dãy chuồng bầu
o 2 chuồng cách ly
Trang trại nuôi 1.200 lợn nái, 24 lợn đực, 120 lợn hậu bị và khoảng
2000 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 24.000 con lợn giống
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi
Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Quá trình cho lợn ăn, uống nước được điều khiển theo hệ thống hoàn toàn tự động bằng dây chuyền được nhập từ nước ngoài do công ty hỗ trợ cung cấp Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau
Thức ăn trại sử dụng là thức ăn công nghiệp của tập đoàn Charoen Pokphand (CP) cung cấp Thức ăn sử dụng cho lợn nái mang thai là 566S và 567SF, thức ăn cho lợn con tập ăn và sau cai sữa là 550SF, thức ăn sử dụng cho lợn nái hậu bị là 562FS
Khẩu phần ăn của đàn lợn như sau:
Trang 12Bảng 2.1 Khẩu phần ăn cho đàn lợn
Đối tƣợng Giai đoạn Chế độ
ăn/ngày (kg) Loại cám
Lợn nái mang thai
Mỗi tuần phải điều chỉnh bảng cám một lần vào thứ 3 để đảm bảo hợp
lý khẩu phần ăn phù hợp với từng đối tượng, để lợn nái nuôi con tốt, không quá béo không quá gày Đối với lợn nái hậu bị thì khẩu phần ăn trong các chu
kì cũng không quá 2,0 kg để tránh hiện tượng khó đẻ do thai quá to
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại và khách thăm quan muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, công nhân phun thuốc sát trùng ngày 2 lần Xung quanh trang trại được trồng
Trang 13cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất
và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con theo mẹ
Lợn con từ sơ sinh đã có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh Theo Nguyễn Xuân Tịnh (1996)[32] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con sau khi sinh, sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm, sự giảm tăng trưởng là do nhiều nguyên nhân, nhưng cũng chủ yếu là
do lượng sữa mẹ giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con giảm Để hạn chế sự giảm tăng trưởng chúng ta cần tập ăn sớm cho lợn con và tiêm bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 2 ngày tuổi và 7 ngày tuổi
Do khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn diễn ra rất mạnh Ở lợn con 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 g protein/kg khối lượng, nhưng lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 g protein/kg khối lượng Qua đó ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch nhau khá lớn Mặt khác lợn con trong giai đoạn này chỉ tích lũy nạc là chính, vì vậy tiêu tốn ít thức ăn hơn so với lợn trưởng thành
Trang 14Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18], dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc
sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc
10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất, đặc biệt là xenluloe có nhiều trong thức ăn
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa thành thục Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005)[26] cho rằng, lợn con trước 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày, cũng do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18], vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng ở lợn con, do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi
Trang 15Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hóa của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
Đặc điểm cơ năng điều tiết nhiệt
Lợn con sơ sinh tỷ lệ nước trong cơ thể cao đến 82% chỉ 30 giây sau đẻ lượng nước đã giảm xuống 1,2 - 2% kèm theo nhiệt độ cơ thể 5 - 10° C Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt của lợn con tương đối ổn định và lên đến 39 - 39.5° C Lợn mới đẻ cần được sưởi ấm bằng quây úm, ô có đèn sưởi nhất là những ngày trời lạnh Nhiệt độ được duy trì đến lúc lợn con cai sữa (Phan Đình Thắm, 1995)[25]
Nguyên nhân của hiện tượng mất nhiệt nhanh được giải thích như sau:
- Hệ thống điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh, trung khu điều hòa thân nhiệt nằm ở vỏ não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả
2 giai đoạn trong thai và ngoài thai
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét còn hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém
Trang 16- Diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi trời lạnh
Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh kháng thể Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có trong sữa non trong vài tuần đầu cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản ứng với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường
Theo Trịnh Thị Vinh (1996)[34] trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ hàm lượng protein chiếm 18 - 19%, trong đó γ - globulin chiếm số lượng lớn (30 - 35%), γ - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng tạo miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thụ γ - glubolin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ - globulin giảm đi rất nhiều theo thời gian Phân tử γ - globulin có khả năng thấm qua thành ruột non tốt nhất trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra Do đó lợn con sau khi đẻ được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới
có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó nhũng con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.2 Nguyên nhân gây bê ̣nh phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đưa ra những nhận định khác nhau về nguyên nhân gây bệnh Song, nguyên nhân tập trung theo hai hướng chính như sau:
- Nguyên nhân nội tại
- Nguyên nhân do ngoại cảnh
Trang 17* Nguyên nhân nội tại
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997)[13], khi mới sinh cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Trong dạ dày lợn con thiếu HCl, do đó pepsinogen tiết ra không được hoạt hóa để chuyển thành pepsin Khi thiếu men pepsin mà sữa bị kết tủa dưới dạng cazein không tiêu hóa được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[6] thì một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 - 250 mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng
Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2009)[23], bệnh phân trắng lợn con đã
có từ rất lâu và ngày càng phổ biến ở các trại chăn nuôi tập trung và các nông
hộ trên lợn từ 5 - 25 ngày tuổi dễ mắc bệnh nhất
Cũng theo các tác giả này thì nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu do bản thân gia súc non (do sự phát dục của bào thai kém) Do những đặc điểm sinh lý bộ máy tiêu hóa của gia súc non như dạ dày và ruột của lợn con trong 3 tuần đầu chưa có khả năng tiết dịch vị, thức ăn trực tiếp kích thích vào niêm mạc mà tiết dịch, trong dịch vị chưa có HCl, hàm lượng và hoạt tính của men pepsin rất ít
Do hệ thống thần kinh của gia súc non chưa ổn định nên kém thích nghi với sự thay đổi của ngoại cảnh
Mặt khác, lợn con trong thời kỳ bú sữa có tốc độ phát triển về cơ thể rất nhanh đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ đạm, khoáng và vitamin Trong khi đó sữa mẹ ngày càng giảm về số lượng và chất lượng Nếu không kịp thời bổ
Trang 18sung dinh dưỡng, lợn con sẽ còi cọc, chậm lớn, dễ nhiễm bệnh, nhất là bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân ngoại cảnh
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có nhận định bệnh phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt yếu tố Qua tài liệu của nhiều tác giả có thể chia thành những nguyên nhân sau:
- Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định và hoàn thiện Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu
Lạnh và ẩm là hai yếu tố gây rối loạn hệ thống điều hòa trao đổi nhiệt của cơ thể, từ đó dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất Khi nhiệt độ quá lạnh, thân nhiệt giảm xuống làm mạch máu ngoại vi co lại, máu dồn vào các
cơ quan nội tạng Khi đó mạch máu thành ruột bị sung huyết, gây trở ngại cho việc tiêu hóa, thức ăn bị đình trệ tạo điều kiện cho vi khuẩn gây thối rữa phát triển Quá trình lên men tạo nhiều sản phẩm độc, chất độc làm hưng phấn gây tăng nhu động ruột Đồng thời tính thấm của thành mạch tăng, làm tăng tiết nước vào lòng ruột, làm cho phân nhão ra kết hợp với nhu động ruột tăng, phân được tống ra ngoài nhiều gây tiêu chảy
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,
ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của cơ thể, biến đổi
Trang 19chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, hệ bài tiết có liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Khi thay đổi về các chỉ tiêu sinh lý, sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện cho các vi khuẩn đường ruột tăng độc tính và gây bệnh
Đào Trọng Đạt và cs (1996)[6], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998)[8], cũng cho rằng các yếu tố stress như lạnh và ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75 - 85% Việc làm khô và giữ ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997)[13], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
Sử An Ninh (1993)[14] cho rằng, yếu tố lạnh và ẩm là nguyên nhân hàng đầu gây nên bệnh lợn con phân trắng
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006)[29], nếu chuồng nuôi không thoáng khí, tồn đọng nhiều phân, rác, nước tiểu thì khi nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh nhiều khí có hại như NH3, H2S làm lợn con trúng độc thần kinh nặng gây trạng thái stress - một trong những nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy
- Do đặc điểm nuôi dưỡng
Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2009)[23], một trong những nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con là do lợn mẹ trong thời gian mang thai không được nuôi dưỡng đầy đủ hoặc lợn mẹ bị bệnh
Trong giai đoạn theo mẹ, đặc biệt lợn con mới sinh, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất, sự sinh trưởng và phát triển của lợn con nhanh hay chậm phụ thuộc vào sữa mẹ tốt hay xấu Nếu chất lượng sữa mẹ kém dễ gây rối loạn tiêu hóa ở lợn con, từ đó dễ phát sinh bệnh Tình trạng rối loạn trao đổi protein có thể xuất hiện do thiếu hụt protein trong thức ăn, tỷ lệ các
Trang 20axit amin trong khẩu phần không cân đối, do hệ tiêu hóa của lợn mẹ hấp thu kém Do vậy, nếu lợn con không được chăm sóc tốt, không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cũng là nguyên nhân gây nên bệnh
Mặt khác, lợn con ở giai đoạn sơ sinh chưa phát triển hoàn chỉnh về giải phẫu, sinh lý nên quá trình tiêu hóa và hấp thu kém, điều hòa nhiệt kém,
hệ thống miễn dịch chưa hoạt động nên việc có sữa tốt cho lợn con bú rất quan trọng Sự tạo sữa của lợn mẹ ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau, giai đoạn mới sinh 1 - 2 ngày có quá trình tiết sữa đầu Sữa đầu có hàm lượng vitamin A, B, C, D cao hơn nhiều so với sữa thường; protein chiếm tới
18 - 19%, lượng γ - globulin chiếm 34 - 45%, do đó phải có quá trình tập ăn thích hợp cho lợn con Ngoài ra,trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy chất cặn bã trong đường tiêu hóa của lợn sơ sinh, làm tăng nhu động ruột
Thức ăn bị nấm mốc là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protit và các axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin, globulin huyết thanh giảm, nên cũng giảm khả năng miễn dịch, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh
Thức ăn ôi thiu, thức ăn thừa trong chuồng nuôi, thay đổi các loại thức
ăn đột ngột, cho lợn ăn quá nhiều cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy
- Do stress
Bệnh phân trắng lợn con có liên quan đến stress, hầu hết lợn con bị bệnh phân trắng có hàm lượng Cholesterol trong huyết thanh giảm thấp Sự thay đổi các yếu tố khí hậu, thời tiết, mật độ chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi, vận chuyển đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi, dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi, là nguy cơ xảy ra các bệnh, trong
đó có bệnh tiêu chảy
- Do vi khuẩn
Trang 21Vi khuẩn là một trong những nguyên nhân quan trọng được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu và ghi nhận Hầu hết các tác giả nghiên cứu về tiêu chảy của lợn đều kết luận, trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng đều có vai trò tác động của vi khuẩn
Hệ vi khuẩn có hại trong đường ruột được quan tâm nhiều nhất là trực
khuẩn E coli Đây là nguyên nhân quan trọng được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới nghiên cứu Người ta đã chứng minh được vai trò của E
coli trong bệnh lợn con phân trắng
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001)[24], ở bệnh phân trắng lợn con
tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella
và thứ yếu là Proteus, Streptococcus
Nguyễn Anh Tuấn và cs (2013)[33] nghiên cứu cho thấy, vi khuẩn E
coli và Salmonella là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, trong điều kiện
nuôi công nghiệp như nghiên cứu này, E coli có khả năng đóng vai trò “trội”
so với Salmonella
Đoàn Thị Kim Dung (2004)[2] cho biết, khi lợn bị tiêu chảy, số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong một gam phân tăng lên so với lợn
không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng số lượng vi khuẩn E coli,
Salmonella và Streptococcus tăng lên, trong khi đó các chỉ tiêu này giảm đi
đối với Staphylococcus và Bacilus subtilis
Nguyễn Thị Ngữ (2005)[17], khi nghiên cứu về E coli và Salmonella trong
phân lợn tiêu chảy và lợn không tiêu chảy đã kết luận: Ở lợn không tiêu chảy có
83,30 - 88,29% số mẫu có E coli, 61,00 - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella
Trong khi đó ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy thì có tới 93,70 - 96,40% số mẫu
phân lập có E coli và 75,00 - 78,60% số mẫu phân lập có Salmonella
Phạm Thế Sơn và cs (2008)[21], đã nghiên cứu hệ vi khuẩn đường ruột
Trang 22ở lợn khỏe và lợn tiêu chảy, tác giả cho biết: Lợn ở cả hai trạng thái đều có 6
loại vi khuẩn thường gặp là: E coli, Salmonella, Klebsiella, Staphylococcus,
Bacillus subtilis, Clostridium ferfringens
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001)[7], ở gia súc mắc hội chứng tiêu chảy số
lượng 3 loại vi khuẩn: E coli, Salmonella, Clostridium ferfringens tăng lên từ
2 - 10 lần so với số lượng của chúng ở gia súc khỏe mạnh Hơn nữa, tỷ lệ các chủng mang yếu tố gây bệnh sản sinh độc tố cũng tăng cao
Kết quả nghên cứu của Viện thú y quốc gia cho thấy: Bệnh tiêu chảy tập trung chủ yếu ở vụ đông - xuân, các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt
là lợn con, bệnh mang tính chất lây lan nhưng không mạnh, thời gian mang bệnh chưa được xác định
Evans D.G và Evan D.J (1973)[38] khi nghiên cứu về độc tố đường
ruột của Salmonella cho thấy, độc tố gồm hai thành phần là độc tố thẩm xuất
nhanh (Rapid permeability Factor, viết tắt là RPF) và độc tố thẩm xuất chậm (Delayed permeability Factor, viết tắt là DPF)
2.2.3 Đặc tính cu ̉ a vi khuẩn E coli
- Đặc điểm hình thái
E coli là một trực khuẩn hình gậy, kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong
cơ thể con vật bệnh vi khuẩn có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm
Phần lớn E coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô
- Đặc tính nuôi cấy
E coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
nhiệt độ 5 - 40° C, nhiệt độ thích hợp là 37° C, pH thích hợp 7,2 - 7,4; vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8
Trang 23E coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
+ Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển làm cho môi trường rất đục có màu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối
+ Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra
Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M
+ Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi
+ Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng
+ Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh + Môi trường EMB ( Eosin - Methylen - Blue ): Khuẩn lạc có màu đen tím + Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc
+ Môi trường thạch SS ( Salmonella - Shigella ): Khuẩn lạc màu đỏ + Môi trường Endo: Khuẩn lạc màu đỏ
- Đặc tính sinh hóa
E coli lên men sinh hơi các loại đường Fructoze, Glucoze, Galactoze,
Lactoze, Mannit, Dextroze Trừ Andonit Inozit là lên men Lên men không chắc chắn các loại đường Dulcitol, Saccharose
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: âm tính
MR, Indol: dương tính
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 37° C
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông
E coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi
trường Lysinedecacboxylase
- Cấu trúc kháng nguyên
Trang 24Cấu trúc của kháng nguyên E coli rất phức tạp, có 3 loại kháng nguyên
O, H, K
Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân: Ohne): Là kháng nguyên vách tế bào, nó có 2 đặc tính:
+ Chịu được nhiệt, ở 100° C bị phá hủy sau 2h
+ Kháng cồn và bị phá hủy bởi formon 5%
Kháng nguyên O rất độc, chỉ cần 1/20 mg là liều chí tử cho chuột nhắt sau 24h
Kháng nguyên H (kháng nguyên lông: Hauch): Là kháng nguyên có trên lông vi khuẩn Đó là một protit có cấu trúc myozin của cơ, nó có đặc điểm là kém bền vững, kém chịu nhiệt, bị cồn và các enzym tiêu hóa protein phá hủy
Kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt Kapsul hay Envelope): Gồm 3 loại L, A, B Bản chất hóa học là một loại polysaccarid bao quanh tế bào vi khuẩn Người ta xác định được 13 loại kháng nguyên K khác nhau
- Độc tố
Vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố
+ Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 56°
C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử Hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà chỉ phân lập được trong canh trùng nuôi cấy vi khuẩn Khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng (Đào Trọng Đạt và cs, 1986)[5]
+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực trùng đường ruột
E coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội
Trang 25độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết suất bằng Axittrichoxetic, Phenol dưới tác dụng của emzym
- Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực trùng đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở nhiệt
độ 60° C trong vòng 15h30 phút và bị tiêu diệt ở 100° C Trong đất và nước
E coli sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit
Phenic, formol… có thể diệt E coli trong 5 phút E coli đề kháng với sự sấy khô, các chủng vi khuẩn E coli phân lập được mẫn cảm cao với một số loại
kháng sinh: cefiofur, amikacin và kháng mạnh với tetracyclin, ampicillin (Lê Văn Dương, 2010)[4]
Theo Bùi Thị Tho và cs (1995)[28], khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và
tính kháng thuốc của E coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh phân
trắng ở nước ta đã cho biết, những thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh
phân trắng lợn con do E coli gây ra gồm chloramphenicol, furazolidon,
neomycin và tetracyclin, còn các thuốc streptomycin, sunphonamid ít có tác dụng với E coli vì tỷ lệ E coli kháng lại chúng cao từ 70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc dẫn đến vi khuẩn đã quen và kháng thuốc
2.2.4 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con
* Đường nhiễm bệnh
Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E coli phát triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Lympho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất
đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau
* Cơ chế gây bệnh
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998)[8], bệnh có liên quan đến trạng
Trang 26thái stress như thời tiết lạnh, ẩm hay nóng, ẩm đột ngột, thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng đạm, chất béo, chất khoáng và vitamin
Hệ thống dạ dày - ruột của lợn con đặc biệt mẫn cảm với stress Tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, thời gian kéo dài thì viêm loét dạ dày
là điều chắc chắn xảy ra Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh tạo nên một áp lực lớn ở ống tiêu hóa, kết quả làm tăng nhu động ruột, dẫn đến tiêu chảy
Đầu tiên tiêu chảy là một phản xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân gây bệnh ra bên ngoài Song do nguyên nhân gây bệnh không ngừng phát triển cùng với sức đề kháng của cơ thể giảm đã kích thích gây tổ thương niêm mạc, tiêu chảy kéo dài về sau tất yếu có hại cho cơ thể Lợn con tiêu chảy nhiều sẽ gây rối loạn chức năng sinh lý tiêu hóa, hấp thu, mất cân bằng
hệ vi sinh vật đường ruột Vi khuẩn có hại lên men gây thối phát triển nhanh,
đặc biệt E coli sẽ sản sinh ra yếu tố kháng khuẩn Colicin V làm hạn chế sự
phát triển của các vi khuẩn đường ruột Đồng thời, chúng còn tạo ra độc tố đường ruột gây viêm niêm mạc ruột kéo theo nhiều nước vào ruột, xuất hiện
ỉa chảy Lợn con đi ngoài nhiều lần sẽ dẫn tới tình trạng mất nước, gây rối loạn chức năng sinh lý tiêu hóa, hấp thu của ống tiêu hóa
Hồ Văn Nam và cs (1997)[13] cho biết, quá trình rối loạn càng trầm trọng hơn khi hệ vi sinh vật trong ống tiêu hóa ở trạng thái mất cân bằng Những vi khuẩn có hại phát triển mạnh, vi khuẩn lên men gây thối rữa phát triển nhanh chóng Song song với sự phát triển về số lượng vi khuẩn thì lượng độc tố tiết ra cũng tăng hơn nhiều Độc tố này vào máu quá nhiều sẽ làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải của thận
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi Có con mắc sớm hơn ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ nhưng cũng có con mắc muộn hơn khi 4 tuần tuổi
Trang 27Lợn mắc bệnh lúc đầu vẫn bú bình thường, nhưng sau đó giảm bú, khi nặng thì bỏ bú Lợn gầy tóp nhanh, lông xù đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân Khi lợn con đi
ỉa rặn nhiều lưng uốn cong, bụng thóp lại, nằm nhiều hơn đi lại Đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng chỉ sau 2 - 3 ngày sẽ trở lại bình thường
Lúc đầu lợn đi táo, phân rắn như hạt đỗ xanh, thường có màu vàng nhạt, dần chuyển sang ỉa chảy phân lỏng, vàng hay nâu rồi chảy thành dòng, dính bết vào mông, khoeo chân sau Sau đó, do sữa không kịp tiêu hóa dẫn đến con vật đi ỉa phân trắng, lỏng đôi khi lẫn máu
Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2009)[23], lợn con từ 5 - 25 ngày dễ mắc bệnh Trong 1 - 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú và chạy nhảy như thường Phân táo như hạt đậu xanh, nhạt màu Sau đó phân lỏng dần, có màu vàng hoặc trắng, có bọt lầy nhầy, mùi tanh khắm Con vật có bú hoặc bỏ bú, lông xù và dựng, da nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi và khoeo dính đầy phân Con vật bị bệnh từ 5 - 7 ngày, cơ thể quá kiệt sức dẫn đến chết, nếu gia súc qua
khỏi thì chậm lớn, còi cọc
* Bệnh tích
Theo Tạ Thị Vịnh (1996)[35], khi lợn chết, xác gầy, thân sau bê bết phân Mổ khám thấy bên trong dạ dày dãn rộng, chứa đầy sữa đông vón không tiêu Ruột non căng phồng chứa đầy hơi với những đám xuất huyết ở thành ruột Chất chứa trong ruột lẫn máu, hạch lâm ba ruột tụ huyết Các cơ quan khác như phổi, gan, thận ít biến đổi
Theo Nguyễn Chí Dũng (2013)[3], Lợn con bị bệnh có bệnh tích điển hình như ruột bị viêm, xuất huyết (95,45% ở ruột non; 100% ở ruột già) Dạ dày chứa đầy sữa không tiêu, niêm mạc phủ đầy dịch nhờn, xung huyết (68,18%) Hạch lâm ba màng treo ruột bị sưng, tụ huyết (63,63%)
Trang 28Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân của con bệnh, một nghiên cứu đã được thực hiện để xác định pH của phân, kết quả cho thấy, nếu lợn con mắc
bệnh do E coli gây ra thì dịch tiêu chảy có pH hoàn toàn kiềm, do trong dạ
dày lợn con sự phân tiết ra HCl rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm vào đó là sự đào thải các chất điện giải từ ống ruột có tính kiềm chiếm
đa số các mẫu xét nghiệm
Ngược lại bệnh do Rotavirus gây nên thì xét nghiệm phân thấy phân
mang tính axit nhiều hơn
Chẩn đoán bệnh do nhiễm E coli đường ruột dựa trên các triệu chứng
lâm sàng, các tổn thương tế bào mô, và sự hiện diện của những vi khuẩn nhuộm màu Gr (-) thường bám sát vào niêm mạc ruột
Ngoài ra còn có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích điển hình
để kết luận bệnh Bệnh phân trắng lợn con do Rotavirus gây ra đặc trưng bởi
hiện tượng nôn mửa, đi phân lỏng màu vàng hoặc vàng kem, có lẫn bọt khí và chất nhầy, mổ khám thấy phần đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn không gây xuất huyết hoặc loét ở ruột
Trang 29Lợn con có thể bị nhiễm một loại mầm bệnh nhưng có thể bị nhiễm nhiều loại mầm bệnh khác nhau Cùng một lúc nhiều nghiên cứu cho thấy
việc nhiễm E coli và Rotavirus thường xảy ra cùng một lúc, tạo điều kiện cho
sự phát triển và phân tiết ra độc tố của mầm bệnh làm vật bị bệnh trở nên trầm trọng Vì vậy khi điều trị cần có phương pháp phối hợp thuốc có khoa học để công tác điều trị bệnh đạt được hiệu quả cao
* Phòng bệnh
Việc phòng và trị bệnh phân trắng lợn con phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau:
Phòng bệnh bằng các biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý
Bệnh phân trắng lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý vì vậy việc cải thiện tình hình chăn nuôi
sẽ góp phần không nhỏ trong việc phòng bệnh
Có một trong số tác giả cho rằng việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín
ấm vào mùa đông, xuân đồng thời khô ráo, chống ẩm ướt sẽ phòng bệnh hiệu quả cao
Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống là việc cần thiết để phòng và trị bệnh nhằm hạn chế, tiêu diệt các loại mầm bệnh Việc vệ sinh phải được tiến hành thường xuyên, tuân thủ nghiêm ngặt lịch khử trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi theo định kỳ, xử lý phân rác, xác chết đúng qui định
Thiết kế chuồng đẻ cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến vị trí thải phân của lợn nái Khi rải quá nhiều phân rác trong diện tích chuồng, do đó làm tăng khả năng ô nhiễm Chuồng đẻ thường cao hơn mặt đất, nền chuồng
để hổng có lỗ cho phân rơi xuống Nuôi trong ổ đẻ như vậy lợn con ít bị tiêu chảy hơn nhung ổ đẻ có nền chuồng băng xi măng cứng
Cần thực hiện nuôi dưỡng chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, đảm bảo chế
độ ăn hợp lý cho nái mẹ trong thời kỳ mang thai và nuôi con, cho lợn con bú
Trang 30sữa đầu kịp thời và đầy đủ, cho lợn con tập ăn sớm và chú ý cân đối các thành phần dinh dưỡng, các thành phần vitamin và khoáng trong khẩu phần thức ăn
Để phòng bệnh phân trắng lợn con do E coli trước hết cần phải tập
trung vào việc làm giảm số lượng mầm bệnh có trong môi trường bằng các biện pháp vệ sinh, đảm bảo lợn con sinh ra trong môi trường sống thích hợp, không nhiễm các vi khuẩn gây bệnh Lợn mẹ cần có đủ sữa với chất lượng tốt,
có các thành phần globulin miễn dịch có chất lượng cao và đặc hiệu Lợn con
cần bú sữa đầu kịp thời
Tiêu chảy là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, để phòng chống bệnh đường tiêu hóa nói chung và bệnh phân trắng nói riêng cho lợn phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, tác động đến nhiều khâu như: môi trường chăn nuôi, đối tượng lợn con và lợn mẹ trên nguyên tắc 3 nên, 3 chống:
Nên: Nên cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, nên chăm sóc lợn
mẹ trước và sau khi sinh, nên tập ăn sớm cho lợn con
Chống: Chống ẩm, chống bẩn và chống lạnh
Lê Văn Phước (1997)[19], biện pháp phòng chống tiêu chảy trước hết
là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những yếu tố bất lợi về thời tiết khí hậu (giữ bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi ấm
áp trong mùa đông và thoáng mát trong mùa hè) để tránh rối loạn tiêu hóa, ổn định trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường
- Phòng bệnh bằng các chế phẩm sinh học và các chất hóa học trị liệu
Các nhóm vi khuẩn thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium,
Lactobacillus… Các vi khuẩn này khi đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có
vai trò cải thiện tiêu hóa thức ăn, lập lại cân bằng vi sinh vật đường ruột, ức chế và khống chế các vi khuẩn có hại
Theo Phan Địch Lân và cs (1995)[12], khi sử dụng Lactobacillus để tạo sự
cân bằng cho hệ vi sinh vật đường ruột, các chế phẩm sinh học này được dùng