1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Theo dõi khả năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa nuôi tại trại nguyễn thị nga huyện thanh liêm tỉnh hà nam

62 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 820,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- PHẠM THỊ THÙY DUNG “THEO DÕI KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN CAI SỮA NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN THỊ NGA HUYỆN THANH LIÊM T

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHẠM THỊ THÙY DUNG

“THEO DÕI KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON

TỪ SƠ SINH ĐẾN CAI SỮA NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN THỊ NGA

HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHẠM THỊ THÙY DUNG

“THEO DÕI KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON

TỪ SƠ SINH ĐẾN CAI SỮA NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN THỊ NGA

HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoá học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Minh Châu

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường, thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Sau thời gian tiến hành theo dõi nay em

đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú Y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa, các công nhân viên ở Trại lợn Nguyễn Thị Nga huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Lê Minh Châu đã tận tình quan tâm, giúp đỡ chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp và hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong chương trình đào tạo của các trường đại học Trong thời gian thực tập người sinh viên được tiếp cận với thực tế sản xuất, rèn luyện tay nghề củng cố và nâng cao kiến thức chuyên môn, nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học Đồng thời, thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian để người sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết về xã hội khi ra trường chở thành người cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn có năng lực công tác Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học trước khi ra trường

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã về thực tập tại trại Nguyễn Thị Nga Thời gian từ 18/05/2016 đến 18/11/2016 Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ nhiệt tình của bà Nga chủ trại và toàn bộ công nhân trong trại cùng với sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành tốt nhiệm vụ

và thu được một số kết quả nghiên cứu nhất định, với chuyên đề: “Theo dõi khả

năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa nuôi tại trại Nguyễn Thị Nga huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam”

Do thời gian có hạn và mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự giúp đỡ, góp ý chỉ bảo của thầy cô giáo, bạn bè để khóa luận của em được hoàn

thiện hơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Phạm Thị Thùy Dung

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy mô đàn lợn 3 năm 6

Bảng 2.2: Bảng thành phần dinh dưỡng trong thức ăn Prystarter 15

Bảng 2.3: Nhu cầu nước uống cho lợn 22

Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng vacxin trong trại 36

Bảng 4.2: Khối lượng của lợn qua các giai đoạn (kg/con) 41

Bảng 4.3: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn (gam/con/ngày) 42

Bảng 4.4: Sinh trưởng tương đối của lợn (%) 44

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh đến tỷ lệ sống của lợn con 45

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của giới tính đến tỷ lệ sống của lợn con 47

Bảng 4.7: Tình hình cảm nhiễm bệnh của lợn con 48

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Sinh trưởng tích lũy của lợn 42 Hình 2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn 43

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI MỞ ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất của trang trại 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước 7

2.2.1 Cơ sở khoa học 7

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

3.1 Đối tượng 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 28

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.3 Phương pháp xử lý số liê ̣u 30

Trang 9

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Công tác chăn nuôi và thú y tại cơ sở thực tập 31

4.1.1 Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng 31

4.1.2 Công tác thú y 33

4.1.3 Các công tác khác 40

4.1.4 Kết luận 40

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 41

4.2.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn 41

4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn 42

4.2.3 Sinh trưởng tương đối của lợn 44

4.2.4 Tỷ lệ sống của lợn theo khối lượng sơ sinh và tính biệt 45

4.2.5 Tình hình cảm nhiễm bệnh của lợn con 48

Phần 5 KẾT LUẬN ĐỂ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nước ta vốn là một nước nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một ngành nghề rất quan trọng và thu hút được nhiều lao động Chăn nuôi cung cấp một nguồn thực phẩm tươi ngon có giá trị dinh dưỡng cao, như thịt, trứng, sữa cho con người, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm da, lông, sừng, tiết…, cho công nghiệp chế biến Chính vì thế tại các địa phương ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ,

tự túc truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hiện đại

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn của nước ta phát triển rất mạnh

cả về số lượng về chất lượng Nhu cầu giống lợn có chất lượng cao của xã hội ngày càng tăng nhanh chóng Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn tập trung và các hộ gia đình đã chú ý phát triển chăn nuôi lợn nái để tăng số lượng con giống, đáp ứng nhu cầu của chăn nuôi lợn thịt Tuy nhiên, việc sản xuất lợn con giống còn gặp nhiều khó khăn do chưa chú trọng đến giai đoạn lợn con theo mẹ

Chăn nuôi lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa đang là vấn đề đáng lưu tâm

và có ý nghĩa kinh tế đối với người chăn nuôi lợn nái sinh sản Hiện nay, hầu hết những trại chăn nuôi và những hộ chăn nuôi đều có những biện pháp nuôi dưỡng riêng song tỷ lệ hao hụt ở những giai đoạn này còn khá cao Để đạt được năng suất tốt trong chăn nuôi lợn chúng ta cần chú trọng đến giai đoạn sơ sinh

và cai sữa của lợn con Nó có ảnh hưởng rất lớn của phương pháp nuôi dưỡng trong thời gian lợn mẹ mang thai, quyết định đến khối lượng lợn sơ sinh và khối lượng lợn cai sữa Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, nhằm đẩy mạnh việc sản xuất lợn giống đạt chất lượng cao và số lượng lớn em đã tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Theo dõi khả năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa nuôi tại Trại Nguyễn Thị Nga huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam”

Trang 11

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trại Nguyễn Thị Nga huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam

- Đánh giá ảnh hưởng của giống lợn đến sự sinh trưởng của lợn con theo mẹ

- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi và giúp đỡ địa phương

có những định hướng và kế hoạch trong phát triển chăn nuôi lợn

1.2.2 Yêu cầu

- Tìm hiểu đúng, đầy đủ về khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ của trang trại

- Số liệu đưa ra dưới dạng sơ đồ và bảng biểu

- Thực hành công tác thú y và công tác chăn nuôi tại cơ sở

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thanh Liêm là một huyện có nền chăn nuôi khá phát triển, nền chăn nuôi ở đây được thực hiện tập chung ngành chăn nuôi ngày phát triển, điển hình là trại lợn nhà bà Nguyễn Thị Nga (hay còn gọi là công ty TNHH Thanh Tân) xã Thanh Tân – Thanh Liêm – Hà Nam

 Vị trí địa lý: Trại của bà Nga là một thành viên của công ty cổ phần CP Việt Nam, Nằm trên địa bàn xã Thanh Tân huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam Trại chăn nuôi được xây dựng cách xa khu dân cư, cách quốc lộ 1A khoảng 7km, nằm sâu bên trong quốc lộ Trại lợn cách xa khu dân cư, luôn đảm bảo độ thông thoáng, không ảnh hưởng đến môi trường, trong trại có hệ thống ao hồ nuôi trồng thủy sản, lượng nước được cung cấp chủ yếu được thông qua lượng nước mưa tự nhiên

 Điều kiện khí hậu: Khí hậu ở đây là khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt

Nhiệt độ trung bình năm 230C, số giờ nắng trung bình khoảng 1300 –

1500 giờ/năm Hai mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh hành: mùa hạ gió Nam Tây Nam và Đông Nam, mùa đông gió Bắc Đông

và Đông Bắc

Độ ẩm không khí trung bình năm 85%

Nhiệt độ chênh lệch giữa mùa hè và mùa đông là 10 – 150C

Địa hình: trại nằm trên địa bàn của khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình bằng phẳng với tổng diện tích của trại là 7 ha được quy hoạch như sau:

 Khu làm việc: 1 ha

Trang 13

 Khu chuồng trại: 4 ha

2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại:

Công ty có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực

tế, có ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình và giàu năng lực Đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề và đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp

Trại gồm có một quản lý, 1 thủ kho, 2 kỹ sư và 28 công nhân được đào tạo

cơ bản

Cơ sở vật chất kỹ thuật :

Hệ thống chuồng trại: Khu sản xuất được xây dựng trên khu đất bằng phẳng, dễ tháo nước được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình Xung quanh trang trại có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng

 Khu chuồng dành cho chăn nuôi lợn có tổng diện tích 4 ha Chuồng trại được xây dựng theo mô hình chuồng kín, phù hợp theo hướng chăn nuôi công nghiệp Hệ thống chuồng lồng, sàn bê tông cho lợn nái chờ phối và lợn nái chửa Chuồng lồng, nền sàn nhựa cho lợn nái đẻ, lợn con và lợn sau cai sữa cùng hệ thống nước uống tự động Hệ thống làm mát và bảng điều khiển nhiệt độ trong

Trang 14

chuồng nuôi giúp cho cán bộ công nhân viên có thể điều chỉnh được nhiệt độ trong chuồng phù hợp cho đàn nái mát về mùa hè, ấm về mùa đông Hệ thống chuồng trại đảm bảo độ thoáng mát, có tường rào bao quanh để ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu vực chăn nuôi Ở đầu khu chăn nuôi có hệ thống sát trùng, hệ thống thoát phân và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa đến từng ô chuồng đảm bảo việc cung cấp nước uống tự động của lợn, nước tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày

 Thiết kế xây dựng: trên diện tích đất 7 ha, trại được xây dựng rất khoa học và hiện đại Trước cổng ra vào trại có nước sát trùng, có vòi phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại Cách cổng chính của trại 50m là khu nhà đón khách, phòng ăn của tập thể trại, phía đối diện là nhà điều hành Tất cả các phòng ở của

kỹ sư và công nhân trại được xây dựng riêng biệt, khá khang trang và tiện nghi Trước khu chuồng nuôi lợn của trại là dãy nhà sát trùng gồm 5 phòng sát trùng tự động: 2 phòng sát trùng nam, 2 phòng sát trùng nữ và 1 phòng sát trùng dành cho kỹ sư Tất cả mọi người khi vào khu vực chuồng đều phải đi qua phòng sát trùng tự động Đi khoảng 100m là nhà ăn, nghỉ trưa của công nhân và

kỹ sư, tiếp đó là kho thuốc và kho cám

Khu chuồng nuôi lợn của trại gồm có 10 khu chuồng: 2 chuồng bầu, 3 chuồng đẻ, 4 chuồng cách ly và 1 chuồng đực

 Hệ thống chuồng bầu có chuồng bầu là bầu 1 và bầu 2, mỗi chuồng bầu gồm 6 dãy, trong đó bầu 2 nuôi lợn đã được phối, còn bầu 1 nuôi các lợn chờ lên giống, lợn đang phối, lợn mới phối xong đang ở giai đoạn đầu và một số lợn đực giống Cuối góc phải dãy đầu khu bầu 1 là khu lợn có vấn đề và lợn loại thải Tất cả sàn chuồng bầu 1 và bầu 2 đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng, giúp công việc vệ sinh khử trùng được dễ dàng Bên cạnh chuồng bầu 1 là phòng tinh, phòng tinh được trang bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết như: kính hiển vi, tủ lạnh, mấy ép túi tinh, nhiệt kế…Cạnh phòng tinh là chuồng đực gồm có đực giống và khu lấy tinh

Trang 15

 Hệ thống chuồng đẻ: gồm có 3 chuồng là chuồng đẻ 1, chuồng đẻ 2, chồng đẻ 3, mỗi chuồng chia làm 2 ngăn, mỗi ngăn có diện tích là 450 m2 Các chuồng đẻ cách nhau 3,5 m, trong mỗi ngăn có 2 dãy, mỗi dãy 31 ô, các ô được đánh thứ tự từ 1 đến 62 để dễ dàng chăm sóc và quản lý Sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông, sàn lợn con làm bằng nhựa cứng Phần chuồng cho lợn con khá rộng, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung sắt và đan bao tải cám

đã được ngâm qua sát trùng, mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, bên ngoài là một máng tập ăn cho lợn con Mỗi ngăn chuồng đẻ được trang bị một máy bơm, mỗi ngăn chuồng còn được trang bị 2 giàn mát riêng, 4 quạt thông gió và một hệ thống đo nhiệt độ, độ ẩm trong chuồng

 Chuồng cách ly: gồm có 4 chuồng, mỗi chuồng có diện tích là 300 , mỗi chuồng được trang bị 1 máng ăn tự động, 2 giàn mát và 3 quạt thông gió Sàn chuồng được làm bằng bê tông, đây là nơi nuôi nhốt lợn hậu bị được chuyển

từ trại lợn hậu bị về chuẩn bị thay thế những lợn nái loại thoải

Nguồn nước sử dụng chăn nuôi được lọc qua bể lọc và dẫn trực tiếp vào từng ô chuồng bằng vòi nước tự động Bên cạnh đó, hệ thống sưởi ấm lợn, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị đầy đủ Nguồn nước thải được thải bằng ống ngầm và đổ vào hệ thống biogas đảm bảo vệ sinh Trước cửa

ra vào của mỗi chuồng đều có một khay nước sát trùng, phải nhúng ủng vào đó trước khi bước vào chuồng

 Quy mô đàn lợn 3 năm trở lại đây:

Bảng 2.1: Quy mô đàn lợn 3 năm Năm

Trang 16

Bảng 2.1 cho thấy rõ quy mô đàn lợn trong 3 năm trở lại đây có sự biến động theo từng giai đoạn

Các công trình khác:

 Ngay cạnh khu sản xuất, trại xây dựng một phòng kỹ thuật và một nhà kho Phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ thú y như: Panh, dao mổ, bơm tiêm, kìm bấm tai…

 Nhà kho được xây dựng gần khu sản xuất, là nơi chứa thức ăn và các loại thuốc thú y cần thiết

 Nhà điều hành gồm có một phòng hành chính, học tập cho cán bộ công nhân, một số phòng ngủ cho cán bộ

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước

vú (Phan Xuân Hảo và cs, 2001) [12]

Yorkshire cho sản phẩm thịt tốt, mông vai nở Ở tuổi trưởng thành, lợn đực

từ 280 – 320 kg, ở con cái 220 – 250 kg Lợn Yorkshire có mức tăng trưởng 750 –

800 g/ngày, khả năng tiêu tốn thức ăn từ 2,8 – 3,1 kg/kg tăng khối lượng, phối giống lần đầu lúc 8 – 9 tháng tuổi, trung bình mỗi lứa để 11 – 12 con

 Giống lợn Landrace

Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch nó được tạo thành từ sự lai tạo giữa giống lợn Yorkshire với giống địa phương của Đan Mạch Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba vào năm 1970 Lợn Landrace có tầm vóc lớn, ngoại hình có dạng hình nêm, lông màu trắng, mình dài, đầu và cổ ngắn, tai nhỏ, thẳng, bốn

Trang 17

chân hơi yếu, lưng vồng lên, mặt lưng phẳng, mông phát triển mạnh, có từ 12 -

và Landrace

2.2.1.2 Khả năng sinh trưởng của lợn con

 Một số đặc điểm của lợn con liên quan đến sự sinh trưởng

Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh và không đồng đều qua các giai đoạn Nhanh nhất là ở 21 ngày tuổi đầu, sau đó tốc độ có phần giảm xuống do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemogobin trong máu lợn con giảm (Cù Xuân Dần và Phan Địch Lân, 1996) [9]

Trong quá trình sinh trưởng của con vật, xương phát triển đầu tiên rồi đến

cơ và cuối cùng là mỡ Từ sơ sinh đến trưởng thành thì lợn tăng trọng nhanh, sau đó trưởng thành thì tăng khối lượng rất chậm rồi ngừng hẳn Khi con vật lớn lên khối lượng kích thước các cơ quan, các bộ phận của chúng không tăng lên một cách đều đặn, trái lại tăng với các mức độ khác nhau Và quy luật sinh trưởng phát triển của gia súc nói chung, cũng như của lợn nói riêng, đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: Quy luật sinh trưởng không đồng đều, quy luật phát triển theo giai đoạn và chu kỳ Cường độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi, tốc độ tăng khối lượng cũng vậy, các cơ quan bộ phận khác nhau trong cơ

Trang 18

thể cũng sinh trưởng phát triển khác nhau Ví dụ: Cơ thể lợn còn non tốc độ sinh trưởng của các cơ bắp phát triển mạnh hơn do đó cần tác động thức ăn sao cho lợn phát triển đạt khối lượng nhanh, tăng tỉ lệ nạc ở giai đoạn đầu

Trong quá trình sinh trưởng ở tuần thứ ba, tốc độ sinh trưởng của lợn con bắt đầu chậm lại bởi vì sản lượng sữa mẹ bắt đầu thấp dần, lượng khoáng (chủ yếu là chất sắt) ở sữa mẹ và dự trữ ở lợn con đã hết, không đủ cung cấp cho nhu cầu (Cù Xuân Dần và cs, 1996) [9] Vì thế, để đảm bảo các tốc độ sinh trưởng của lợn con chúng ta phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đồng thời phải

có biện pháp tích cực giúp cho lợn con vượt qua thời kỳ khủng hoảng này

2.2.1.3 Sinh lý tiêu hoá của lợn con

 Đặc điểm của cơ quan tiêu hoá

Lợn con sơ sinh sống nhờ sữa của lợn mẹ, chức năng cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện nhưng phát triển rất nhanh về kích thước và dung tích

Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh (lúc sơ sinh dung tích dạ dày khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Và dung tích ruột già của lợn con cũng tăng lên so với lúc sơ sinh, 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần, và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)

Khả năng tiêu hoá thức ăn của lợn con rất kém, nguyên nhân là do một số men tiêu hoá thức ăn (men pepsin; men amilaza và maltaza; men tripsin; men catepsin; men lactaza; men saccaraza) chưa có hoạt tính mạnh, nhất là giai đoạn

3 đến 4 tuần tuổi đầu (Cù Xuân Dần và cs, 1996) [9]

 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết nhiệt ở lợn con là chưa hoàn chỉnh, và thân nhiệt chưa được ổn định Để có khả năng điều tiết tốt nhiệt tốt cần có 3 yếu tố: Thần kinh,

mỡ và nước

Với lợn con sự điều tiết thân nhiệt ít chịu ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh ban đầu

Trang 19

Và nhiệt độ trên các bộ phận cơ thể của lợn cũng khác nhau, phần bụng có nhiệt độ cao hơn so với phần thân, chân, và phần tai

Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém, do đó nó rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm gia súc non

bị bệnh Ở gia súc non từ 15 - 20 ngày tuổi thân nhiệt mới dần ổn định (Trần Thị Dân, 2003) [8]

Cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn chưa hoàn chỉnh, lớp mỡ dưới da ít nên lợn con rất dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết khí hậu trong đó nhiệt độ và ẩm độ

là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe của lợn Do đó chúng ta cần

có biện pháp nuôi dưỡng thích hợp và phòng bệnh cho lợn con Khi nhiệt độ môi trường tăng lên ở mức 22 – 250

C thì mức tiết dịch tiêu hóa, hàm lượng enzym giảm, sự vận động của ống dạ dày, ruột bị ức chế, khả năng tiêu hóa và

sự đồng hóa thức ăn ở ống tiêu hóa giảm (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985) [6] Không khí càng nóng lợn càng khó toả nhiệt, trao đổi chất kém nên kém ăn, giảm độ ngon miệng, sự mất tính thèm ăn không phải xuất hiện từ từ mà khi nhiệt độ khoảng 300C thì lợn không thể điều tiết được quá trình tiêu hóa nữa và khi nhiệt độ gần 350C thì lợn con thể hiện các biến đổi sinh lý (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985) [6]

Ở nhiệt độ 330

C khả năng sử dụng thức ăn hàng ngày của lợn bị giảm, mặt khác một số tác giả thí nghiệm và cho thấy trọng lượng lợn càng tăng mà nhiệt

độ tăng cao thì khả năng sử dụng thức ăn và sự hấp thụ càng giảm

Ẩm độ: không có số liệu để xác định ẩm độ tối ưu cho lợn con cai sữa, tuy nhiên nếu lợn con thường xuyên tiếp xúc với ẩm độ cao sẽ dễ bị tiêu chảy (Trần Thanh Xuân, 1994) [26], và có các trường hợp xảy ra sau đây:

Nhiệt độ cao, ẩm độ cao không bốc hơi nước được làm cho quá trình điều hòa thân nhiệt của gia súc sẽ gặp khó khăn hơn Nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp sẽ làm tăng sự mất nhiệt cơ thể lợn do nhiệt độ môi trường giảm cùng với ẩm độ thấp làm cho tế bào da dễ bị khô nứt nẻ, nó là điều kiện thuận lợi cho sự xâm

Trang 20

nhập của vi khuẩn Nhiệt độ cao, ẩm độ thấp nước sẽ bốc hơi nhanh làm cho cơ thể dễ bị mất nước ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể

Tóm lại, ở lợn con có khả năng điều tiết thân nhiệt còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra Tuổi của lợn con càng ít thân nhiệt của lợn con hạ xuống càng nhiều khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp Sau 3 tuần tuổi thì cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn mới tương đối hoàn chỉnh, thân nhiệt của lợn con được hoàn chỉnh hơn (39 – 39,50C)

 Đặc điểm về khả năng miễn dịch ở lợn con

Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [24], lợn con từ khi mới sinh

ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu Cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa mẹ Trong sữa đầu của lợn mẹ có tỷ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein Trong đó lượng g - globulin chiếm số lượng rất lớn (34 - 45%) cho nên nó có vai trò miễn dịch ở lợn con

Theo Trần Văn Phùng (2005) [20], chất g - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu g - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử g - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử g - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt trong 24h đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của enzym trypsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng

Theo Võ Văn Ninh (2001) [17], nếu lợn nái được chủng ngừa kỹ, nuôi dưỡng trong lúc mang thai và tiết sữa đúng kỹ thuật, biện pháp chăm sóc tốt, thì đàn lợn con sẽ tăng trọng nhanh, ít bệnh tật Nếu nái có bệnh như viêm vú, viêm

tử cung, sốt, bỏ ăn, viêm khớp thì đàn lợn con thường bị ảnh hưởng xấu, gầy

Trang 21

còm, tăng trọng kém, dễ bị tiêu chảy, tỷ lệ chết cao

Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời kỳ này cũng có quá trình tổng hợp kháng thể Trước đây, người ta cho rằng, mãi tới

2 tuần tuổi hoặc muộn hơn mới có quá trình tổng hợp kháng thể ở lợn con Song một nghiên cứu tại Bruno (Tiệp Khắc) gần đây cho thấy, chỉ ngay ngày thứ hai sau khi đẻ một số cơ quan trong cơ thể lợn con đã bắt đầu sản sinh kháng thể Nhưng khả năng này còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh tốt hơn khi lợn con được một tháng tuổi (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007) [22]

Sự thành thục về miễn dịch học của lợn con xuất hiện sau một tháng tuổi Đến thời gian này, khả năng thấm qua màn ruột các hợp chất đại phân tử hầu như bị ngừng hoàn toàn Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu

ở dạ dày, ruột non Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45 % gluxid, 50 % protein, 20 - 25 % đường Cả dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85 % đường, 87 % protein Ruột già chỉ còn không quá 10 - 15 % (Trương Lăng, 2003) [15]

Thành ruột của lợn con trong 36 giờ đầu tiên có khả năng ngấm thấu được các globulin miễn dịch, kể cả các protein khác và hấp thu nguyên dạng ban đầu Hơn nữa ở lợn con chất ức chế trypsin (antitrypsin) của sữa đầu và niêm mạc ruột của lợn tiết ra giúp cho globulin không bị phân giải Lợn con tự tạo được kháng thể khi đạt từ 21 ngày tuổi trở lên (Võ Ái Quấc, 1991) [21]

Khả năng miễn dịch của lợn con ở 3 tuần tuổi đầu hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được từ sữa lợn mẹ Trong sữa của lợn mẹ có chứa hàm lượng g - globulin cao Thành phần sữa đầu biến đổi rất nhanh, protein 18-19% giảm còn 7% trong vòng 24 giờ, tỷ lệ g - globulin trong sữa đầu cũng giảm từ 50% xuống còn 27%

Sự thành thục về khả năng miễn dịch của lợn con có được sau một tháng tuổi Do đó lợn con bú sữa đầu là rất quan trọng để tăng sức đề kháng cho lợn

Trang 22

con Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sau 24 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp được kháng thể, vì vậy những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao

 Sự phát triển của hệ thống enzym tiêu hoá

Người ta xác định rằng: trong 8 tuần đầu tiên đã có sự thay đổi về hệ thống enzym tiêu hóa ở lợn con Về phương diện định tính, người ta thấy phản ứng enzym nhưng không thấy rõ hiệu lực enzym về phương diện định lượng

Enzym tiêu hóa protid:

Độ pH thích hợp cho hoạt động pepsin và phạm vi hoạt động của nó từ dưới 2 – 4, độ acid dịch vị của lợn con nhỏ hơn lợn lớn Vì vậy, khả năng hoạt động của pepsinogen kém, khả năng diệt khuẩn củng kém Acid HCl xuất hiện

25 – 30 ngày tuổi và tính chất diệt khuẩn rõ nhất ở lợn 40 – 50 ngày tuổi (Trần

Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1972) [5]

Hoạt động phân giải của dạ dày tăng lên chậm trong 2 tuần tuổi đầu sau

đó tăng nhanh Khi lợn 4 – 6 tuần tuổi protid của sữa được tiêu hóa chủ yếu do trypsin, còn tác dụng của pepsin rất ít

Enzym tiêu hóa glucid:

Các enzym tiêu hóa tinh bột và đường biến đổi theo tuổi trong thời kỳ bú sữa Ở lợn con amilase nước bọt hoạt động kém, đạt cao nhất khi 2 - 21 ngày tuổi và sau đó giảm đi 50% Hoạt tính amilase lúc đầu hoạt động kém sau đó tăng mạnh từ tuần tuổi thứ 3 đến tuần tuổi thứ 5 Đó là một thích ứng sinh lý đối với lợn con ở chế độ ăn mới mà người ta xem đó là một thuận lợi để cho lợn con cai sữa (Trần Cừ và cs, 1985) [6]

Riêng lactase thì đặc biệt hơn, có hoạt động ở lợn con sơ sinh mặc dù hoạt động của nó có thể tăng lên trong 1 - 2 tuần tuổi và nó sẽ giảm đi nhanh chóng đến 4 – 5 tuần tuổi thì thấp Mặc dù lactase trên đơn vị trọng lượng giảm dần theo tuổi nhưng do toàn bộ lượng ruột tăng lên tống hoạt động của lactase tương đối ổn định

Trang 23

Saccharase có rất ít ở dịch ruột khi lợn mới đẻ, sau 2 tuần tuổi lợn mới bắt đầu tăng và sau đó tăng nhanh chóng cùng lứa tuổi

Enzym tiêu hóa lipid:

Ở lợn quá ít tuổi mật rất ít và tăng chậm trong 21 ngày tuổi đầu tiên, khi thể trọng gần 7 kg thì lượng mật tăng lên Sự tăng lên này hầu như không có quan hệ trực tiếp đối với sự tăng lên của thể trọng Lipid nếu được nhũ hóa thành những hạt có đường kính < 0,5µ thì chúng có thể hấp thu qua nhung mao ruột Hoạt tính của lipase từ khi mới đẻ cho đến hết tháng thứ nhất rất cao, sau

đó giảm dần theo tuổi một cách rõ rệt (Trần Cừ và cs, 1985) [6]

 Tuổi cai sữa

Tuổi cai sữa càng sớm thì lợn con càng nhạy cảm với sự thay đổi, cai sữa ở 60 ngày tuổi mỗi ngày ăn được 344g, cai sữa 45 ngày tuổi mỗi ngày ăn 571g, cai sữa 35 ngày tuổi mỗi ngày ăn được 604g thức ăn tinh

 Khối lƣợng cai sữa

Lợn con cai sữa 28 ngày tuổi trọng lượng đạt ít nhất là 6,8kg Lợn càng đạt trọng lượng cao lúc cai sữa thì càng có được hệ thống tiêu hóa và miễn dịch phát triển hơn, càng có khả năng đề kháng với stress và khả năng tăng trọng tốt hơn trong thời kì sau cai sữa, (Võ Ái Quấc, 1991) [21]

2.2.1.4 Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn con

 Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

Sau khi lợn con đẻ ra cần cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt Trong sữa đầu hàm lượng dinh dưỡng rất cao, vật chất khô gấp 1,5 lần so với sữa thường, protein gấp 2 lần, vitamin A gấp 5 – 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và

Fe gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa có nhiều g - globulin và MgSO4 MgSO4 Và

cố định đầu vú cho lợn con để ưư tiên các con nhỏ được bú các vú trước ngực Ngay từ đầu, nếu có định đầu vú đều đặn thì chỉ sau 3- 4 lần lợn con sẽ quen và

sẽ tự bú ở vú đã quy định cho nó

Trang 24

 Tập cho lợn con ăn sớm

Lợn con sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng cao và đòi hỏi nhu cầu sữa càng nhiều nhưng khả năng tiết sữa của lợn mẹ ngày càng giảm dần Lợn con rơi vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, cần bổ sung nguồn dinh dưỡng từ thức ăn bên ngoài Do đó, việc tập cho lợn con ăn sớm là rất cần thiết

Nếu tập ăn đều đặn thì đến 20 ngày tuổi lợn con đã biết ăn tốt, nhan chóng cai được sữa Nếu không tập ăn sớm thì lợn con được cai sữa muộn làm ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng

 Bổ sung các chất dinh dƣỡng cho lợn con

Để đảm bảo cho lợn sinh trưởng và phát triển bình thường cho lợn con cần

bổ sung năng lượng, phải đầy đủ thành phần, dinh dưỡng tốt, dễ tiêu hoá, không ảnh hưởng đến sản xuất và sự sống, sự tăng trọng và phát triển

Trong 1kg thức ăn của lợn con cần có 3200 – 3300 Kcal ME Theo như lời khuyến cáo của hãng thức ăn Proconco thì loại cám Prystarter phù hợp với lợn

từ tập ăn đến 60 ngày tuổi, như bảng 2.2

Bảng 2.2: Bảng thành phần dinh dƣỡng trong thức ăn Prystarter

Trang 25

Trong chăn nuôi lợn phụ thuộc phần lớn vào thức ăn chiếm 70% giá thành của sản phẩm Thức ăn là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất và sự sống của gia súc, sự tăng trọng về phát triển của gia súc Vì vậy, chúng ta cần nắm vững nhu cầu dinh dưỡng ở lợn như sau:

Nhu cầu năng lƣợng:

Lợn sơ sinh đòi hỏi được cung cấp năng lượng lập tức ngay sau khi sinh vì giảm glucose huyết và đói là nguyên nhân chủ yếu gây chết ở lợn sơ sinh (Trần Thị Dân, 2003) [8]

Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [24], để có cơ sở bổ sung năng lượng cho lợn con cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa

mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức bổ sung cho lợn con

Nhu cầu protein:

Protein (Pr): Protein rất quan trọng trong khẩu phần thức ăn Là thành phần không thể thay thế được, cần thiết cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể Con vật càng non trao đổi chất càng mạnh, khả năng tích lũy protein càng lớn Khi gia súc trưởng thành khả năng tích lũy protein giảm dần, đồng thời hàm lượng protein trong cơ thể giảm đi

Như vậy, gia súc còn non cho ăn đầy đủ protein thì chúng càng lớn và rút ngắn được thời gian sinh trưởng Khi gia súc trưởng thành không nên cho ăn nhiều protein gây lãng phí

Protein là cơ sở của sự sống, protein là chất cấu tạo nên các loại mô bào trong cơ thể, đồng thời cũng là cấu tạo của những chất đều hòa sự sống như hormon, enzym trong cơ thể (Võ Văn Ninh, 2007) [18]

Theo Trương Lăng (2003) [15], protein là nguyên liệu cấu tạo tế bào Cơ chứa đến 30 - 35 % protein Protein do thức ăn đưa vào Phải tính protein tiêu hóa của từng loại thức ăn trên đơn vị thức ăn tiêu chuẩn hàng ngày Lợn nái

có thai cần 80 - 90g protein tiêu hóa / ĐVTA Lợn nái nuôi con 100 - 110g, lợn con tập ăn từ 120 - 130g protein tiêu hóa / ĐVTA Trong protein có nhiều acid

Trang 26

amin Có 2 loại acid amin: loại thay thế và loại không thay thế được Loại không thay thế được, cơ thể heo không tổng hợp được phải lấy từ thức ăn vào là: lysine, tryptophan, threonine, phenylalanine, methionine, leucine, isoleucine, arginine, histidine, valine Thiếu một trong những acid amin này là protein giá trị không hoàn toàn Thiếu tryptophan lợn con ngừng sinh trưởng, thể trọng giảm, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, nhất là thiếu lysine Lysine là acid amin giới hạn số một của lợn, giúp tổng hợp thịt nạc

Phải cân bằng để tạo ra “protein lý tưởng” với hàm lượng tối đa lysine và các acid amin khác để tăng năng suất gia súc

Nhu cầu glucid:

Glucid (G): Cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể

Nhu cầu năng lượng thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của con vật, thay đổi theo hướng sản xuất cũng như nhiệt độ chuồng nuôi Ví dụ ở nhiệt độ 200

C thì lượng mô mỡ tăng lên là 0,224 kg Còn ở nhiệt độ 120

C thì lượng mô mỡ tăng lên là 0,192 kg (Võ Trọng Hốt và cs, 2000) [13]

Glucid là những chất chủ yếu đảm bảo năng lượng cho lợn và tham gia vào cấu trúc các mô của cơ thể Những chất như đường, tinh bột, xơ v.v… là những chất đảm bảo 70 - 80% nhu cầu năng lượng của lợn So với các lứa tuổi khác, lợn con có cường độ trao đổi chất và năng lượng cao Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, nguồn năng lượng mất từ mẹ đột ngột, làm thân nhiệt lợn con giảm xuống đột ngột Khi mới sinh thân nhiệt lợn con đạt 38,9 - 39,10C, 30 phút sau giảm xuống 36,7 - 37,10C Vì vậy, trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau, thân nhiệt lợn con sẽ được ổn định Qua nhiều tài liệu cho thấy, nhu cầu về năng lượng của lợn con gồm có nhu cầu về duy trì và nhu cầu sinh trưởng, phát triển Để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của lợn con, người ta thường dùng cám gạo, bột mì, cao lương, những sản phẩm này có giá trị năng lượng cao (2742, 3147, 3035 kcal/kg), lại vừa có hàm lượng protein cao (80, 106, 66 gam) Trong khẩu phần của lợn có thể dùng đến 50 - 60% loại thức

ăn này (Đào Trọng Đạt và cs, 1999) [11]

Trang 27

Nhu cầu vitamin:

Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [24], ở giai đoạn này lợn con nhận vitamin chủ yếu từ lợn mẹ, sữa mẹ hầu như đã đáp ứng đủ nhu cầu của lợn con

Theo Trương Lăng (2003) [16], cơ thể lợn con cần vitamin cho sự phát triển và phòng ngừa bệnh tật, như: vitamin A, vitamin B1, B12, vitamin C… tác dụng và hậu quả khi lợn con thiếu các vitamin như sau: vitamin A: Trong bào thai, thiếu vitamin A lợn con có thể bị mù Hàng ngày lợn con cần 2 - 300 đơn

vị vitamin A cho 1 kg thể trọng Nếu dùng caroten thì cần 55 - 60 mg (tính trên

1 kg vật chất khô của khẩu phần) Lợn con dưới 10 ngày tuổi, không có khả năng chuyển hóa caroten thành vitamin A Lợn con 20 ngày tuổi mới chuyển hóa được 25 - 30 % Trong sữa đầu, vitamin A gấp 6 lần so với sữa thường, nên nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu để nâng hàm lượng vitamin A trong cơ thể; Vitamin nhóm B gồm: B1, B2, B5,B6, B12, colin, biotin: B1 tham gia quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử cacboxit của axit piruvic Thiếu B1 lợn con bị phù, viêm dây thần kinh, suy tim; B2 tham gia oxy hóa hoàn nguyên, oxy hóa đường, acid amin, axit lactic; tham gia sự hô hấp của mô bào, vận chuyển hydro, tham gia quá trình tạo hemoglobin, vào sự hình thành axit clohydric của dịch vị và muối mật Thiếu B2 viêm da, rụng lông, ỉa chảy, nôn mửa, kém sinh trưởng Lợn con cần 0,8 - 1,2 mg cho 1 kg vật chất khô Vitamin D: vitamin D tham gia trao đổi Ca - P Thiếu vitamin D gây thiếu khoáng, còi xương Hàng ngày cần 12- 15 UI cho 1 kg thể trọng Cho lợn con vận động dưới ánh nắng mặt trời để cơ thể tổng hợp được vitamin D; vitamin E: tham gia quá trình trao đổi protein và chuyển axit amin, axit nuclêic Lợn nái thiếu vitamin E thì cơ bắp, cơ tim của thai phát triển kém, thoái hóa tim gan

Nhu cầu khoáng:

* Khoáng chất: Ngoài chức năng cấu tạo mô còn tham gia nhiều quá trình chuyển hóa của mô cơ Nếu khẩu phần ăn thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh sản ngừng trệ, sức sản xuất sút kém

Trang 28

Chất khoảng quan tâm nhất vẫn là canxi (Ca) và photpho (P), ngoài ra còn

có kali (K), natri (Na), magiê (Mg)…Các khoáng chất này giữ vai trò chính trong việc phát triển và duy trì bộ xương và thực hiện chức năng sinh lý khác: Khả năng sinh trưởng, khả năng thu nhận thức ăn…

Trong khẩu phần của lợn con cần đảm bảo 0,9% Ca, 0,7% P, và Ca/P là 1,2-1,8 Lợn con rất hay thiếu sắt, hậu quả là bị bệnh thiếu máu, ỉa chảy, ỉa phân trắng, chậm lớn, ta thường dùng dextran - Fe tiêm vào ngày thứ 3 sau khi lợn đẻ Nhu cầu dinh dưỡng trong khẩu phần của lợn cần một số khoáng bao gồm:

Ca, Cl, Cu, I, Fe, Mg, P, K, Se, Na, S, Zn Ngoài ra, lợn còn cần một số khoáng

vi lượng khác như: Br, F, Bo, Sn,…Ngày nay, đa số lợn được nuôi nhốt, không được chăn thả và cung cấp thêm rau xanh, môi trường chăn nuôi này làm tăng nhu cầu bổ sung khoáng chất Nhu cầu về khoáng trong khẩu phần bị ảnh hưởng bởi giá trị sinh học của chất khoáng trong nguyên liệu dùng làm thức ăn

Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007) [24], thì đây là giai đoạn lợn con phát triển rất mạnh cả hệ cơ và hệ xương, cho nên nhu cầu chất khoáng cũng rất cao ở giai đoạn này

Theo Cunha (1980) [29], nhu cầu Ca/P của lợn có trọng lượng 5-10 kg là 0,8%/0,6% khẩu phần; 10-20 kg là 0,65%/0,50% khẩu phần

Khoáng đa lượng Ca và P là hai nguyên tố có vai trò rất quan trọng trong hình thành xương Nếu không cung cấp sẽ có nguy cơ dẫn đến hiện tượng còi xương Mức cung cấp trong khẩu phần đối với canxi là 0,8 % so với vật chất khô khẩu phần, còn đối với photpho là 0,6 % so với vật chất khô khẩu phần Nguồn bổ sung chủ yếu sử dụng bột xương (bổ sung cả canxi và photpho), vôi bột hay bột đá (bổ sung canxi) (Trương Lăng, 2003) [16]

Natri (Na) và Clo (Cl): Na cùng với Cl điều hòa sự thẩm thấu của tế bào, cân bằng acid – base trong máu và thể dịch Hàm lượng muối NaCl trong thức ăn biến đổi từ 0,3 – 1% tùy theo lứa tuổi và tùy giống lợn nuôi Lợn con cần ít muối hơn lợn lớn, lợn nái tiết sữa cần nhiều muối lợn nái chửa, lợn giống nội thích ăn mặn

Trang 29

hơn lợn giống ngoại nhập Thiếu Na và Cl trong khẩu phần làm giảm tính thèm

ăn, con vật sút cân, gầy yếu và giảm sức sản xuất (cho sữa), nhưng hiếm khi xảy

ra Tuy nhiên khẩu phần thừa Na, Cl thì lại gây độc, lợn bị tiêu chảy nặng, da lông xơ xác, chậm lớn (Võ Văn Ninh, 2001) [17]

Magie (Mg): Mg là cũng là một yếu tố trong nhiều hệ enzym và là một yếu

tố cấu thành của xương, nó cũng giữ vai trò quan trọng trong sự dẫn truyền thần kinh Khi thiếu Mg, con vật bị kích động mạnh, co cơ, miễn cưỡng khi đứng, yếu cổ chân, mất cân bằng và co giật cho đến chết Thừa Mg, lợn bị tiêu chảy Đối với lợn thức ăn thường cung cấp đủ cho nhu cầu

Kali (K): K là chất khoáng có nhiều, đứng hàng thứ 3 trong cơ thể của lợn, chỉ sau Ca và P và là khoáng chất có nhiều nhất trong trong tế bào cơ K tham gia cân bằng chất điện phân và hoạt động cơ thần kinh Nó cũng là cation đơn hóa trị để cân bằng anion bên trong tế bào và là một phần của cơ chế sinh lý bơm Na – K Các triệu chứng thiếu K bao gồm chán ăn, xù lông, gầy yếu, không hoạt động, nhịp tim giảm (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005) [2] Khoáng vi lượng sắt (Fe) và đồng (Cu) là hai nguyên tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa Cho nên cần phải cung cấp trong khẩu phần lợn con Hai yếu

tố này chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu cho lợn con Lượng sắt bổ sung vào khẩu phần ở mức 80 ppm (phần triệu) Sắt được bổ sung ở dạng FeSO2 (FeSO4, 7 H20) Tuy nhiên, hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt thường xảy ra rất sớm, bởi vậy để khắc phục hiện tượng cần phải thực hiện bổ sung sắt bằng cách

sử dụng dextran sắt tiêm cho lợn con Thông thường 1 ml dextran Fe chứa từ

100 đến 150 mg Fe Tiến hành tiêm lần thứ nhất vào ngày thứ 3 sau khi đẻ và có thể tiêm lần thứ 2 vào ngày thứ 13 Phương pháp này rất đơn giản và mang lại hiệu quả cao Phương pháp bổ sung sắt khác: Tạo ra dung dịch bao gồm: 500g FeSO4 + 75g CuSO4 + 3 lít nước Hàng ngày bôi dung dịch này vào vú mẹ Hoặc đất sét sạch vào máng tập ăn cho lợn con và thay hàng ngày, cũng có thể

bổ sung được sắt cho lợn con Đồng (Cu) chỉ cần một lượng rất nhỏ bổ sung vào

Trang 30

khẩu phần cho lợn con với mức từ 6 – 8 ppm Song đối với lợn con bú sữa lượng đồng có thể bổ sung vào khẩu phần với lượng từ 125 đến 250 ppm đem lại tốc

độ sinh trưởng cao hơn Dạng bổ sung: CuSO4, 5H20, CuO, CuCO3 (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007) [24]

Mangan (Mn): Chức năng của Mn như thành phần của một số enzym tham dự trong quá trình trao đổi chất của tinh bột, chất béo và protein Mn cần cho việc tổng hợp chondroitin sulfate, một thành phần của mucopolysaccharide trong chất hữu cơ của xương Cho ăn kéo dài khẩu phần chỉ có 0,5ppm Mn dẫn đến phát triển xương không bình thường, tích mỡ tăng, chu kỳ động dục không bình thường hoặc mất hẳn, thai bị hấp thụ, heo sinh ra yếu, nhỏ, sữa giảm (Trần

Cừ và cs, 1972) [5]

Kẽm (Zn): Là một thành phần của nhiều enzym chứa kim loại như: Synthetase và transferase ADN và ARN, các enzym tiêu hóa và được liên kết với hormon insulin Vì vậy, chất này đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất của protein, lipid và carbohydrate Lợn đực giống thường cần nhiều Zn hơn lợn nái và lợn thịt, nái mang thai, nái nuôi con cần nhiều Zn hơn nái khô Các triệu chứng thiếu Zn bao gồm: sừng hóa da, giảm tốc độ và hiệu quả tăng trưởng, mất tính hèm ăn, rối loạn về xương… Ngược lại, khẩu phần có từ 2000 – 4000ppm

có thể gây ngộ độc, triệu trứng ngộ độc Zn là viêm khớp, viêm dạ dày…

Nhu cầu lipid:

Lipid (L): Là nguồn dự trữ năng lượng, tích lũy ở dưới da của cơ thể Là thành phần tạo lên các mô của cơ thể có vai trò bảo vệ giữ ấm cho cơ thể Lượng lipid thường được tích lũy nhiều nhất ở bụng, mông, vai Giai đoạn tích lũy này tăng lên theo quá trình sinh trưởng phát triển của con vật

Lipid có vai trò hòa tan các chất vitamin A, D nếu thiếu lipit sẽ dẫn đến bị thiếu vitamin Nếu thừa Lipid thì con vật sẽ quá béo

Ở lợn, năng lượng do lipid cung cấp chỉ chiếm 10-15% Phần lớn được dự trữ dưới da, quanh nội tạng, lipid được hấp thu ở ruột non Lợn con tiêu hóa

Trang 31

lipid cao hơn lợn lớn, vì lipid của lợn con bú sữa chủ yếu ở dạng nhủ hóa Lipid nhiều, lợn ỉa chảy Nếu glucid và lipid không cân bằng xảy ra các thể ceton trong quá trình oxy hóa Bình thường ceton trong máu đạt 1 - 2 mg%, nhưng khi dùng mỡ làm nguồn năng lượng chủ yếu thì ceton tăng lên 200 - 300 mg% gây hiện tượng ceton huyết, đến ceton niệu Cơ thể lợn bị toan huyết, lợn con chết trong trạng thái hôn mê, vì vậy trừ sữa mẹ ra, thức ăn cần hàm lượng mỡ thấp (Trương Lăng, 2003) [16]

Bảng 2.3 Nhu cầu nước uống cho lợn

Khối lượng lợn Lượng nước uống (lít/con/ngày)

Mùa đông Mùa hè

đủ nước uống cho lợn

Ngày đăng: 24/08/2018, 12:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w