1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái ông bà dòng CP40 và sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa tại trại ông đặng viết thuần, xóm non chanh xã tân thành huyện phú bình tỉnh thái

69 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- PHẠM HOÀI NAM Tên chuyên đề: “KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ÔNG BÀ DÒNG CP40 VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN KHI CAI SỮA TẠI TRẠI ÔNG ĐẶNG VIẾT THUẦN,

Trang 1

-

PHẠM HOÀI NAM

Tên chuyên đề:

“KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ÔNG BÀ DÒNG CP40

VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN KHI CAI SỮA TẠI TRẠI ÔNG ĐẶNG VIẾT THUẦN, XÓM NON CHANH, XÃ

TÂN THÀNH, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

-

PHẠM HOÀI NAM

Tên chuyên đề:

“KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ÔNG BÀ DÒNG CP40

VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN KHI CAI SỮA TẠI TRẠI ÔNG ĐẶNG VIẾT THUẦN, XÓM NON CHANH, XÃ

TÂN THÀNH, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Trương Hữu Dũng

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại chăn nuôi lợn gia công của công ty Cổ Phần Charoen Pokphand Việt Nam Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo

TS Trương Hữu Dũng đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực

hiện thành công khóa luận này

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại của gia đình ông Đặng Viết Thuần về sự hợp tác giúp

đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Phạm Hoài Nam

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương

châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Giai

đoạn thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, củng cố tay nghề Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực làm việc đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành

nghiên cứu chuyên đề:

Trong thời gian thực tập tại trang trại, được sự giúp đỡ tận tình của

kỹ sư trại, anh, chị công nhân trong trại, cùng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Lịch dùng vắc xin của trại 37

Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40

Bảng 4.3 Sinh lý động dục của lợn cái hậu bị ông bà dòng CP40 41

Bảng 4.4 Khả năng sinh sản của lợn nái hậu bị ông bà dòng CP40 43

Bảng 4.5 Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà dòng CP40 45

Bảng 4.6 Sinh trưởng tích lũy của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 47

Bảng 4.7 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến cai sữa 49

Bảng 4.8 Sinh trưởng tương đối của lợn con qua các giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 50

Bảng 4.9 Độ đồng đều của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 52

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Hình ảnh đực dòng thuần L01 22

Hình 2.2 Dòng nái thuần Y21 23

Hình 2.3 Dòng nái ông bà CP40 24

Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 47

Hình 4.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) 49

Hình 4.3 Biều đồ sinh trưởng tương đối qua các thời kỳ từ sơ sinh đến cai sữa 51

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỤC LỤC vi

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 4

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 5

2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 10

2.2.3 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn sơ sinh đến cai sữa 15

2.2.4 Đặc điểm về lợn nái ông bà dòng CP40 22

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng tiến hành 27

Trang 9

3.1.2 Địa điểm và thời gian 27

3.2 Nội dung tiến hành 27

3.3.1 Công tác phục vụ sản xuất 27

3.3.2 Chuyên đề tiến hành 27

3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28

3.3.1 Phương thức theo dõi gián tiếp 28

3.3.2 Phương pháp theo dõi trực tiếp 28

3.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 28

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 32

4.1.1 Công tác chăn nuôi 32

4.1.2 Công tác thú y 32

4.1.3 Công tác khác 32

4.1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33

4.2 Kết quả chuyên đề 41

4.2.1 Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái ông bà dòng CP40 41

4.2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 46

PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

I.Tài liệu Tiếng Việt 55

II Tài liệu tiếng Anh 57

Trang 10

có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 80% dân cư sống dựa vào nông nghiệp

Nước ta là một nước nông nghiệp Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến

Những năm gần đây, các trung tâm giống và các công ty liên doanh

đã có nhiều nỗ lực trong việc nhập khẩu các giống lợn ngoại có năng suất cao

để cải thiện đàn lợn hiện có ở nước ta Rất nhiều trại chăn nuôi lợn kiểu công nghiệp đã được hình thành, tạo nên các vùng chăn nuôi Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý, chuồng trại đã được áp dụng thành công

Trong ngành chăn nuôi lợn, lợn nái có vai trò rất quan trọng, nhất là nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc Sự kết nối giữa lợn nái tốt, cho ra đàn lợn con có sức sinh trưởng nhanh là mục đích cũng như hướng đi của ngành chăn nuôi nói chung và các công ty liên doanh nói riêng

Một trong các các công ty chăn nuôi thực hiện được theo phương châm

đó có Công ty Cổ phần chăn nuôi Charoen Pokphand Việt Nam nói chung và

Trang 11

trại của ông Đặng Viết Thuần thuộc công ty CP nói riêng Với đội ngũ cán bộ

kỹ thuật có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, trại đang ngày càng phát triển và đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Là một kỹ sư tương lai, tôi rất muốn mình cũng làm được điều đó Chính

vì vậy việc nghiên cứu chăn nuôi lợn ở trại chăn nuôi của công ty là một điều rất cần thiết đối với tôi Để có thể giúp các nông hộ cũng như các trang trại có ý muốn nuôi lợn nái ngoại lai quy mô nhỏ đến quy mô lớn hơn, cũng như cho ra đàn lợn con có sức sinh trưởng tốt có những kiến thức cần thiết về kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý, chúng tôi tiến hành thực hiên chuyên

đề:“Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái ông bà dòng CP40 và sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa tại trại ông Đặng Viết Thuần, xóm Non Chanh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái, sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ

sơ sinh đến khi cai sữa của lợn nái ông bà dòng CP40 tại trại ông Đặng Viết Thuần, xóm Non Chanh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần làm tài liệu nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ông bà dòng CP40 nuôi tại trang trại và khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến khi cai sữa

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đưa ra khuyến cáo cho người chăn nuôi trong việc chọn dòng lợn thương phẩm để nuôi và tạo ra các sản phẩm thịt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và xuất khẩu

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Trại lợn có khoảng 2 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái và 1800 lợn thịt bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 58 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 590 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc… Bên lợn thịt gồm 3 chuồng, mỗi chuồng có 2 dãy mỗi dãy chuồng có 7 ô, kích thước chuồng 49m × 15m, mỗi ô kích thước 7m x 7m, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, kho thuốc…

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Trang 13

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu

2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc

và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

- 01 chủ trại

- 01 quản lý trại

- 03 quản lý kỹ thuật

- 01 kế toán

- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

- 32 công nhân và 3 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp,tổ chuồng thịt Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái dòng CP40 của trại trong 3 năm (2014-2016)

STT Loại lợn

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%) Số lượng

(con)

Tỷ lệ (%) Số lượng

Tỷ lệ (%)

3 Nái cơ bản 1010 83,48 1040 85,95 1000 80

Trang 14

Trong 3 năm qua, cơ cấu đàn lợn của trại có sự giảm đi về số lượng Cụ thể là:

Năm 2014, 2015 tổng số đàn nái là 1210, năm 2016 giảm xuống còn

1200 nái Trong đó năm 2014, 2015 thì nái hậu bị và nái kiểm định có xu hướng giảm, nái cơ bản tăng lên Cụ thể là năm 2014, số nái hậu bị là 100, nái kiểm định 100 và nái cơ bản là 1010 đến năm 2015 nái hậu bị và nái kiểm định giảm lần lượt là 80, 90 nái và nái cơ bản tăng là 1040 Nguyên nhân là: Một số nái cơ bản đã hết giai đoạn kiểm định và chuyển sang lên làm nái cơ bản Nái hậu bị có số lượng giảm xuống do nái cơ bản có số lượng loại thải ít

Số lượng nái hậu bị giảm xuống, dẫn đến số lượng nái kiểm định giảm xuống Năm 2016, số lượng nái giảm xuống còn 1200 con Trong đó nái hậu bị và nái kiểm định tăng đều là 100 con, trong khi nái cơ bản giảm xuống còn 1000 con trên tổng số 1200 nái Nguyên nhân là do số con loại thải do giảm sức sản xuất hay chết của nái bản, dẫn đến số lượng nái hậu bị phải tăng lên kéo theo nái kiểm định cũng sẽ tăng Như vậy: Nhìn vào cơ cấu đàn lợn nái qua 3 năm cho thấy tuy có biến động về số lượng, nhưng vẫn có cơ cấu đàn hợp lý, bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của trại

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Thành thục về tính: thành thục về tính của lợn là tuổi mà con vật bắt

đầu có các phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Khi đó, các cơ quan sinh dục bên trong cũng như bên ngoài phát triển tương đối hoàn chỉnh như tuyến

vú, tử cung, âm đạo, trứng bắt đầu chín, rụng và có khả năng thụ thai Biểu hiện rõ nhất của sự thành thục về tính là con cái xuất hiện lần động dục đầu tiên (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1998) [1] Mặc dù, ở lần động dục đầu tiên này lợn cái

có trứng rụng và có khả năng thụ thai, nhưng người ta thường bỏ qua lần động

Trang 15

dục đầu tiên này không phối giống và cho gia súc sinh sản ngay Bởi vì, lần động dục này chỉ có ý nghĩa nhận biết con nái bắt đầu có khả năng sinh sản Nếu như phối giống ở lần động dục đầu tiên sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì bộ máy sinh dục của lợn lúc này mới tương đối hoàn chỉnh, mặt khác số lượng trứng rụng ở lần động dục đầu tiên này cũng ít, về mặt thể vóc cũng chưa đạt được sự thành thục

* Thành thục về thể vóc: Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát

triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên

Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Đối với gia súc cái, nếu phối giống sớm khi

cơ thể chưa trưởng thành về thể vóc sẽ ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển cho bào thai bị ảnh hưởng Kết quả: Mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống Hơn nữa, do xoang chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [16]

2.2.1.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng

Trang 16

Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt

là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục

về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [1]

* Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày)

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Các biến đổi tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh

* Động dục (kéo dài 2 - 3 ngày)

Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻ xong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không

có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp

* Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày)

Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó

ăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết Progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

Trang 17

* Giai đoạn nghỉ ngơi

Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo

Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giải phóng và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới

2.2.1.3 Quá trình phát triển bào thai

Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc

và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ

và trên con Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15], quá trình phát triển của bào thai ở lợn được chia làm ba giai đoạn:

* Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)

Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới

Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Sau 7- 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa

có tác dụng bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất

Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn

Trang 18

Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu

là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh ) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (ôi thiu, lên men, mốc ) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh

* Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam

* Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)

Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng ta chia thành hai thời kỳ

- Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày

- Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày

Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:

- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày

- Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú

ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thấy hợp

lý Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì

Trang 19

vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích

từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng

113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khỏe của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khỏe nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con

2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Để nâng cao được năng suất sinh sản của lợn nái thì người chăn nuôi cần quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản và cần biết được mỗi yếu tố có mức độ ảnh hưởng như thế nào Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu và cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố di truyền, dinh dưỡng, khí hậu,

kỹ thuật chăm sóc lợn nái, lợn con ở các giai đoạn khác nhau… trong đó ảnh hưởng quyết định đến năng suất sinh sản của lợn nái là yếu tố di truyền và các yếu tố dinh dưỡng

2.2.2.1 Giống

Giống lợn là yếu tố ảnh hưởng tới sức sản xuất của lợn nái Giống với đặc tính sản xuất của nó gắn liền với năng suất Giống khác nhau, cho năng suất khác nhau Các giống địa phương có khả năng thích nghi tốt với môi trường, mắn đẻ nhưng sức sản xuất thịt lại kém Đối với các giống lợn ngoại thì khả năng sản xuất và sự thích nghi lại phụ thuộc vào từng giống Các

Trang 20

giống đa dụng như Landrace (L), Yorkshire (Y) có khả năng sinh sản và sản xuất thịt khá Các giống chuyên dụng như Pietrain (P) khả năng sinh sản trung bình nhưng lại có khả năng sản xuất thịt cao

2.2.2.2 Ảnh hưởng của con đực và phương pháp phối giống

Con đực có ảnh hưởng rất rõ đến năng suất sinh sản của lợn nái Đực giống quá già hay có những biểu hiện bệnh lý sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai làm giảm số con trong một lứa đẻ Có thể làm tăng tỷ lệ thụ thai bằng cách cho phối kép sử dụng hơn một đực giống Phương pháp thụ tinh nhân tạo làm giảm tỷ lệ thụ thai hơn so với phương pháp phối trực tiếp vì chưa phát hiện được chính xác thời điểm rụng trứng

Các con lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn 11,3 ngày, tỷ lệ thụ thai cao hơn 2 - 4%, số trứng rụng nhiều hơn 0,5 trứng, số con đẻ ra/ổ nhiều hơn 0,6 - 0,7 con, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 0,8 con so với giống thuần (Vũ Đình Tôn và cs, 2010) [19]

2.2.2.3 Tuổi và khối lượng lợn nái khi phối giống lứa đầu tiên

Để phối giống lứa đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục cả về hai phương diện là thành thục về tính và thành thục về thể vóc

Thành thục về tính (thành thục sinh dục) tức là lợn nái hậu bị phải có biểu hiện về động dục và rụng trứng Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc quản lý của cơ sở

Các giống lợn nội có tuổi thành thục về tính sớm hơn các giống lợn ngoại nhập và lợn lai Theo Phùng Thị Vân và cs, (2001) [21] lợn Landrace thành thục về tính dục là 213,1 ngày và lợn Yorkshire là 219,4 ngày

Lợn nái hậu bị động dục lần đầu không nên cho phối ngay mà nên cho phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Vì ở lần động dục đầu các cơ quan sinh sản phát triển chưa được hoàn chỉnh, nếu cho phối giống sẽ cho tỷ

lệ thụ thai thấp, mà nếu có thụ thai thì số con/lứa cũng thấp

Trang 21

Sự thành thục về thể vóc là sự sinh trưởng, phát triển đầy đủ các cơ quan, bộ phận của cơ thể Khi lợn nái hậu bị đạt 70% so với khối lượng nái trưởng thành thì phối giống Tuy nhiên lợn nái hậu bị quá béo sẽ làm hạn chế rụng trứng, do đó làm giảm số con/lứa Đối với lợn nái ngoại chỉ phối khi trọng lượng cơ thể đạt trên 120 kg

Giữ vững năng suất bằng cách kéo dài thành tích sinh sản của các lứa

đẻ từ thứ 6 trở đi cho đến lứa thứ 10 sẽ có lợi hơn nhiều là loại thải chúng đi

để thay thế bằng đàn nái hậu bị khác

2.2.2.5 Kỹ thuật phối giống

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng tới số lượng con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực Tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực Cho phối quá sớm hoặc quá muộn thì tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ thấp

Đối với đàn lợn lai, sinh con thương phẩm thì có thể cho phối kép, tức là cho phối hai lần với hai đực giống khác nhau Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp cách nhau 10 - 12 giờ và phối kép hai lần cách nhau là 5 - 10 phút

2.2.2.6 Số trứng rụng

Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục, là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra trong một lứa Theo tác giả Burger J.P, (1952) và Baker L.N, (1958) (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2005) [17] cho rằng: Các giống lợn màu trắng có

Trang 22

số trứng rụng nhiều hơn các giống lợn màu đen Nếu tuổi lợn nái hậu bị tăng lên 10 ngày thì số trứng rụng tăng thêm 0,67 trứng Nghiên cứu trên lợn Đại Bạch Hungari (1974)

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs, (2005) [17] thì trung bình mỗi lợn nái

có số trứng rụng từ 15 - 20 trứng trong một chu kỳ động dục và tăng lên đáng

kể trong 4 lứa đầu và đạt mức ổn định ở lứa thứ 6

2.2.2.7 Thức ăn và dinh dưỡng

Chế độ ăn không hợp lý, khẩu phần ăn không đảm bảo dinh dưỡng, mức dinh dưỡng không đủ thì giảm khả năng tăng khối lượng, kéo dài ngày đạt khối lượng phối giống lần đầu, dẫn đến kéo dài tuổi đẻ lứa đầu, tỷ lệ thụ thai kém, đẻ kém Trường hợp ăn quá mức so với nhu cầu (đặc biệt giai đoạn

từ 80 - 120 kg) sẽ làm cho lợn hậu bị quá béo, khó động dục hoặc động dục bất thường, tỷ lệ thụ thai kém…

Phùng Thị Vân và cs, (2001) [21] cho biết, nếu quá thừa protein có thể làm tỷ lệ thụ thai giảm, vì mức protein quá cao làm cho gan, thận phải tích lũy đạm quá nhiều, hậu quả gây mất cân bằng hormone, làm cản trở việc chuyển hóa các hormone sinh dục, giảm tỷ lệ thụ thai, tăng tỷ lệ chết thai Ngược lại, quá thiếu protein có thể ức chế chức năng nội tiết của thùy trước tuyến yên, lượng hormone FSH và LH không đầy đủ làm cho gia súc cũng không động dục

Những lợn nái sau khi cai sữa con mà thể trạng quá gầy, yếu thường không động dục kéo dài hoặc vô sinh hoàn toàn

Theo Hughes và cs, (1980) (do Nguyễn Văn Thiện và Cs, 2005 dịch) [17] kết quả nghiên cứu về chế độ ăn tăng và thời gian kéo dài chế độ ăn tăng trước khi phối giống lần đầu ở lợn nái hậu bị là: Thời gian ăn tăng khoảng 10 ngày trước khi phối giống, số trứng rụng nhiều hơn là 1,60 trứng, từ 12 - 14 ngày, số trứng rụng tăng là 3,10 trứng Tác giả khuyến cáo, đối với lợn nái hậu bị giai đoạn từ trước động dục lần đầu cho đến khi phối giống (phối giống

Trang 23

ở chu kỳ động dục lần 2) tăng lượng thức ăn lên 3,0 kg/con/ngày bằng thức ăn của lợ hoặc lợn nái nuôi con

Kinh nghiệm thực tiễn chăn nuôi Hoa Kỳ cho thấy, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn nái hậu bị cần chú ý đến phương thức nuôi dưỡng Cho ăn chế độ ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 - 90 kg, sau

đó ăn hạn chế 2,00 kg thức ăn/con/ngày (khẩu phần có 14% protein)

2.2.2.8 Tỷ lệ thụ tinh

Tác giả Heideler và Cs, (1981) (do Nguyễn Văn Thiện và Cs, 2005 dịch) [17] cho thấy: Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc chủ yếu vào thời điểm phối giống, trong điều kiện bình thường, tỷ lệ thụ tinh đạt 90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của trứng đã được thụ tinh Thụ tinh nhân tạo sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai

từ 10 - 20% so với phối giống trực tiếp, nguyên nhân chủ yếu do kỹ thuật thụ tinh chưa thực hiện đúng thời điểm trứng rụng

2.2.2.9 Số con cai sữa/ổ

Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm, đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Theo kết quả nghiên cứu của Thomas, (1973) ( theo Nguyễn Văn Thiện và cs, 2005 dịch) [17]: Số lợn con

đẻ ra trung bình/ổ của đàn lợn nước là 11,0 con/ổ, trong đó số con còn sống là 10,4 con, số con còn sống đến cai sữa là 8,6 con/ổ, tỷ lệ nuôi sống đạt 86,7% Số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, số lứa đẻ trong năm, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa

2.2.2.10 Ghép đôi giao phối

Nếu ghép đực và cái đồng huyết thì con đẻ ra yếu và bị quái thai Nếu ghép con đực và con cái tuổi chênh lệch nhau quá nhiều cũng ảnh hưởng xấu đến khả năng thụ thai

Trang 24

2.2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con giai đoạn sơ sinh đến cai sữa

* Khái niệm về sinh trưởng

Sinh trưởng được định nghĩa một cách đơn giản là sự tăng trưởng về kích thước tế bào (Hypertrophy), số lượng tế bào (Hyperplasia) và dịch thể tế bào

Trong chăn nuôi động vật, sự sinh trưởng thường được xác định bằng

sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể qua những giai đoạn nhất định Cũng theo Nguyễn Quang Linh (2005) [13] thì Midedorpho A F (1987) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc Ông cho rằng ở gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi

Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành

Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc gia cầm Sinh trưởng được coi là quá trình thay đổi cấu tạo chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành

* Đặc điểm sinh trưởng

Theo Nguyễn Các, (1996) [4], lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa (tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lý đặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc

Trang 25

nuôi dưỡng tốt Nếu khi chăn nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của lợn con sẽ không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, lợn không khỏe và chất lượng con giống kém

Trong giai đoạn này, lợn con có những đặc điểm sinh lý đặc trưng

mà chúng ta cần quan tâm để có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp cho chúng

- Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh:

Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng tăng dần theo tuổi

Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, khối lượng của lợn con tăng từ 10 đến 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên nhanh chóng Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187 g % nhưng đến ngày thứ 20 giảm xuống còn 40,58 g % sau đó tăng dần đến 60 ngày tuổi thì đạt bằng lúc mới đẻ ra Một đặc điểm quan trọng nhất của lợn con theo mẹ là: Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra tới ngày thứ 15 Tại thời điểm này sản lượng sữa cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ 20 và sau đó giảm dần cho tới ngày thứ 60 là ở mức thấp nhất Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong khi đó sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm đi rõ rệt, dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu 1như không có thức ăn

Trang 26

Ngoài ra, hệ vi sinh vật trong đường ruột của lợn con (Microflora) cũng là hệ

thống ngăn ngừa các nhân tố gây bệnh xâm nhập vào đường ruột

Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn con: lợn con trong 3 tuần tuổi đầu chỉ có khả năng tiêu hóa cazein, các đường, lipid của sữa, còn các chất khác từ các thức ăn nhân tạo thì chưa có Khả năng tiêu hóa của lợn con rất hạn chế Dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có axít HCl ở dạng tự do, vì lượng axít này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Ngoài sự thiếu HCl tự do còn có sự giảm axít trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl tự do trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉa chảy ở lợn con Khi có khả năng hoạt động của các men trong dịch tụy, mà điều quyết định là HCI tự

do hoạt hóa men pepsinogen để tiêu hóa protid Để nuôi lợn con thành công trong giai đoạn này là cần thiết phải cho lợn con ăn những thức ăn dễ tiêu hóa

và chia thành nhiều bữa trong ngày (Hoàng Toàn Thắng, 2006) [16]

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện

về chức năng Trong thời gian bú sữa trọng lượng bộ máy tiêu hóa lợn con tăng lên từ 5-10 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40-50 lần, chiều dài ruột già tăng lên 40-50 lần Tuyến tụy ở

30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, trọng lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6-8 gam và chứa được 35-50 gam sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và 60 ngày tuổi đã nặng 150 gam và chứa được 700-1.000 gam sữa (Nguyễn Các, 1996) [4]

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [16] thì tuyến tụy được phân tiết tăng lên như sau 20-30 ngày tiết 50-350ml, 40 ngày tiết 460ml, sau 3 tháng tuổi tiết > 3,5 lít, 7 tháng tuổi tiết 10 lít Lợn có tỷ lệ nạc cao, trong thân thịt

có lượng enzym tiêu hóa protein cao hơn lợn có tỷ lệ nạc thấp Thí nghiệm

Trang 27

trên 2 nhóm lợn trắng và đen thì thấy lợn đen có các lipaza và amilaza cao hơn ở lợn trắng, trái lại lợn trắng có men tripxin cao hơn ở lợn đen Trong dịch tụy của lợn lớn có tới 15 men để tiêu hóa các chất, song ở lợn con chỉ có

2 men là kimozin và lipaza và sau một tuần tuổi lợn con có thêm một số men như tripsin và amilase, hoạt tính của các men cũng tăng dần theo tuổi, từ 1- 28 ngày men Tripsin tăng gấp 20 lần, Amilasa gấp 30 lần, các men như Kimotipxin, Protease, Amilase, Elastase, Carboxipolypeptidase cũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô ở trong dịch tụy cũng tăng dần lên theo tuổi của lợn con Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkun tiết ra chứa đầy đủ các men tiêu hóa nhưng ở lợn con chưa có men lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức

ăn nhân tạo Dịch mật của lợn con trong các tuần tuổi đầu còn hạn chế, khả năng nhũ tương hóa mỡ của lợn con chưa có

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [16], pH trong dạ dày lợn con thay đổi theo tuổi Ông cũng cho biết khả năng tiêu hóa Protein của lợn con tùy thuộc vào lượng axít tự do ở trong dạ dày và sau 3 tuần tuổi thì lợn con mới có khả năng này Tuyến tụy bắt đầu hoạt động trong thời kỳ bào thai và bào thai càng lớn hoạt động tuyến tụy càng tăng lên, dịch tụy cũng được phân tiết tăng lên theo tuổi

Qua nghiên cứu chúng ta thấy khả năng tiêu hóa của lợn con ngày càng tăng rõ rệt

- Khả năng điều hòa thân nhiệt kém:

Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi trường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó gọi là trao đổi nhiệt giữa cơ thể lợn con với môi trường

Lợn con lúc mới sinh có khả năng điều hòa thân nhiệt kém Thí nghiệm

Trang 28

của Newland (1969) (Trích từ Trần Văn Phùng, 2006) [15] đã chứng minh mối quan hệ giữa tuổi và thân nhiệt của lợn con Khi tiến hành nuôi lợn con ở các nhiệt độ khác nhau (11o

C, 18 oC và 28 oC), thì ở nhiệt độ 28oC lợn con có khả năng sinh trưởng nhanh nhất và ở nhiệt độ 110C lợn con có khả năng sinh trưởng chậm nhất Nhiệt độ cao hay thấp đều ảnh hưởng tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con (Võ Trọng Hốt và cs, 2000) [12]

Nhiệt độ bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tỏa nhiệt và tốc độ sinh trưởng của lợn con Nhiệt độ được coi như là một chỉ tiêu ảnh hưởng lớn đến đặc điểm, chức năng của cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ thấp lợn con mất nhiều nhiệt và có thể dẫn tới chết Vậy, trong tuần lễ đầu thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Nếu

ở hai ngày đầu sau khi sinh, nhiệt độ từ 5-6 oC, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con có thể ổn định để đáp ứng với môi trường bình thường bên ngoài Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất

là bệnh ỉa phân trắng

Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 38 oC, sau 10 ngày tăng lên 39,5 oC đến 39,7 oC và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con (Vũ Trọng Hốt và cs, 2000) [12]

Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70 % Các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy rằng khả năng chịu đựng và sự thích nghi của lợn con đối với môi trường bên ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con bị hạn chế và có thể dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Trong chăn nuôi, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu tố nói trên đối với lợn con, nhằm

Trang 29

nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như điều hòa nhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp với lợn con

2.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn sơ sinh đến cai sữa

* Ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền

Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,21, hệ số di truyền này thấp hơn

so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo (từ 25 - 95 kg)

Hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình Tuy nhiên, tiêu tốn thức ăn có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc và nó thường là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình cải tiến giống lợn Tác giả Kovalenko và cs, (1990) [26] công bố con lai (DLW) D có mức tiêu tốn thức

ăn là 3,55 kg/kg tăng KL, trong khi con lai LW chỉ tiêu này đạt 2,5 kg/kg tăng

KL Tính trạng này được quan tâm chọn lọc và có xu hướng ngày càng giảm

* Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các yếu tố di truyền, các yêu tố môi trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng sinh trưởng của lợn

+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng:

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân

tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70 - 80% giá thành sản phẩm, do

đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng KL càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối

Trang 30

tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn

Mối quan hệ giữa năng lượng và Protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Thức ăn và giá trị dinh dưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của con vật

Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế

có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do

+ Ảnh hưởng của tính biệt:

Lợn cái, lợn đực hay lợn đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thành của cơ thể khác nhau Lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực thiến Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn (Campell và cs, 1985 [24])

+ Ảnh hưởng của chuồng trại:

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất

và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thi khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

Nghiên cứu của Brumm và cs, (1996) [23] cho thấy, diện tích chuồng nuôi 0,56m2/con thì lợn ăn ít hơn và tăng khối lượng cũng chậm hơn so với lợn được nuôi với diện tích 0,78 m2/con, năng suất của lợn đực thiến đạt tối

đa khi nuôi ở diện tích 0,84 - 1m2 Nielsen và cs (1995) [27] cho biết lợn nuôi

Trang 31

đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng

Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là điều kiện chuồng nuôi, khẩu phần ăn không được đảm bảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm phòng, điều trị, thay đổi khẩu phần ăn

2.2.4 Đặc điểm về lợn nái ông bà dòng CP40

Nái ông bà dòng CP40 là con lai 2 máu, được tạo ta từ dòng thuần L01 cho phối với Y21

Trang 32

- Da, lông màu trắng hoặc trắng ngà

Hình 2.2 Dòng nái thuần Y21

Trang 33

Hình 2.3 Dòng nái ông bà CP40

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây ở nước ta cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các giống lợn thuần như Landrace, Yorshire, Duroc và các tổ hợp lai F1 LY và F1 YL Theo nghiên cứu của một số tác giả thì về khả năng tăng khối lượng trung bình của toàn kì vỗ béo ở tổ hợp lai F1LY và F1YL cao hơn ở các giống lợn thuần

Độ dày mỡ lưng đo được ở ba giống thuần Landrace, Yorshire, Duroc

và hai tổ hợp lai F1 đều thấp, dao động từ 9,37 mm đến 11,0 mm (đối với các giống lợn nhập về từ Mỹ) Còn đối với các giống lợn nhập về từ Bỉ và Nhật là 15,1 (Landrace); 14,6 (Yorshire); 13,6 (F1LY) và 14,7(F1YL)

Tiêu tốn thức ăn cho một kilogam tăng khối lượng là một chỉ tiêu quan trọng, nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Chỉ tiêu này có su hướnh giảm dần từ các giống thuần đến tổ hợp lai hai giống Giá trị tuyệt đối

về tiêu tốn thức ăn của lợn Yorkshire cao hơn so với lợn Landrace, Duroc,

Trang 34

F1YL và F1LY Lợn F1có mức tiêu tốn thức ăn tương ứng 2,16 ở F1LY và 2,17 ở F1YL, đạt tương đương nhau và thấp hơn so với hai giống thuần Landrace và Yorshire (Lê Đình Phùng và cs, (2009) [14]) Thành phần thịt xẻ của lợn Duroc là 72,4 %, của lợn Landrace 73,81 %, lợn Yorshire 74,30 %, lợn F1YL 73,90 % và của lợn F1LY 74,90 % Tỷ lệ nạc/thịt xẻ của lợn Duroc 59,4 %, lợn Landrace 62,1 %, lợn Yorkshire 62,49 %, lợn lai F1YL 62,75 %

và lợn lai F1LY 62,9 %

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ngành chăn nuôi ở các nước trên thế giới đã có từ lâu đời với các nghiên cứu của các nhà khoa học tạo ra con lai đáp ứng các nhu cầu của con người Các sản phẩm làm từ thịt rất được ưa chuộng, đặc biệt là sản phẩm làm

từ thịt lợn Các giống lợn nổi tiếng khắp thế giới, được các nước ưa chuộng và lai tạo rất nhiều giống khác nhau ở mỗi nước phải kể đến giống L, Y, D, Pi, Hampshire… tạo ra con lai 2, 3, 4, 5… máu với khả năng sinh sản khác nhau, cho các sản phẩm khác nhau và vẫn còn tiếp tục nghiên cứu để dần dần hoàn thiện, đáp ứng cao hơn nhu cầu của con người

Theo kết quả nghiên cứu một số tác giả trong và ngoài nước thì khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai ở Mỹ cho thấy, đối với giống thuần Landrace, Yorkshire, Duroc và Hampshire thì không có ưu thế lai ở đời con, nhưng tỷ lệ thụ thai ở Duroc và Hampshire cao, đạt tương đương nhau là 85%, trong khi đó Yorkshire, Landrace đạt thấp hơn tương ứng 72% và 69%, dày mỡ lưng đạt cao nhất ở Landrace là 1,25 cm và thấp nhất Hampshire 1,00

cm, tiêu tốn thức ăn đạt cao nhất ở lợn Landrace là 3,40 kg và thấp hơn ở giống Yorkshire và Duroc tương ứng là 3,33 kg và 3,35 kg, thấp nhất ở giống Hampshire 3,30 kg

Đối với tổ hợp lai 2 giống như (L x Y) và (D x Y) cho ưu thế lai ở đời con là 100 %, với tỷ lệ thụ thai tương đương nhau là 72 %, độ dày mỡ lưng

Ngày đăng: 24/08/2018, 12:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm