TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Hệ đào tạo: chính quy Chuyên ngành/Ngành: chăn nuôi thú y Lớp: CNTY45n01 Khoa: chăn nuôi thú y Khóa học: 2013-2017 Giảng viên hướng dẫn: Ths Phạm Thị Trang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo: chính quy
Chuyên ngành/Ngành: chăn nuôi thú y
Lớp: CNTY45n01
Khoa: chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013-2017
Giảng viên hướng dẫn: Ths Phạm Thị Trang
Thái Nguyên, ngày tháng năm
TRƯƠNG CÔNG CƯỜNG
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG LỢN NÁI VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI ÔNG NGUYỄN NGỌC HÙNG PHƯỜNG LƯƠNG SƠN, THÀNH PHỐ
SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2TRƯƠNG CÔNG CƯỜNG
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG LỢN NÁI VÀ PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI ÔNG NGUYỄN NGỌC HÙNG PHƯỜNG LƯƠNG SƠN, THÀNH PHỐ
SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Trang 3Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Thu Quyên, bộ môn
cơ sở, Khoa Chăn nuôi Thú y – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập và báo cáo tốt nghiệp
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình ông Nguyễn Ngọc Hùng, chủ trang trại cùng tập thể công nhân trong trại đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa luận của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trương Công Cường
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi tại trại 35
Bảng 4.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 36
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 37
Bảng 4.4 Kết quả đỡ đẻ và can thiệp khi lợn nái đẻ khó 39
Bảng 4.5 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 41
Bảng 4.6: Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại 43
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ trong thời gian thực tập tại trại 44
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Thụ tinh nhân tạo cho lơn nái 50
Hình 2: Chườm nước ấm hỗ trợ điều trị lơn nái viêm vú 50
Hình 3: Công nhân thực hiện kỹ thuật mổ hecni cho lợn con 50
Hình 4: Lợn nái viêm tử cung 50
Hình 5: Tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con 50
Hình 6: Hỗ trợ điều trị lợn đẻ khó 50
Trang 6VACR: vườn- ao- chuồng - rừng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 8
2.2.1 Hoạt động sinh dục ở lợn nái 8
2.2.2: Biểu hiện động dục của lợn nái 9
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 10
2.2.4 Biện pháp phòng trị bệnh sinh sản ở lợn nái 14
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản trong quá trình thực tập 17
2.2.6 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 24
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32
3.1 Đối tượng 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung thực hiện 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32
Trang 83.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện 32
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 34
4.1.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 34
4.1.2 Quy trình nuôi dưỡng lợn nái chửa và lợn nái nuôi con 34
4.1.3 Quy trình chăm sóc lợn nái chửa và lợn nái nuôi con 35
4.1.4 Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại 36
4.1.5 Kết quả thực hiện các khâu trong quy trình đỡ đẻ cho lợn 37
4.1.6 Kết quả đỡ đẻ và can thiệp khi lợn nái khó đẻ trong thời gian thực tập 39 4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 41
4.2.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 41
4.2.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái và lợn con 42
4.2.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 48
II.TÀI LIỆU INTERNET 49
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, với mục đích hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa, đồng thời đáp ứng nhu cầu xuất khẩu thịt lợn, mô hình chăn nuôi lợn theo hướng tập trung quy mô trang trại đang được áp dụng trên cả nước Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như: Giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Đặc biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở cơ quan sinh dục như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy thai truyền nhiễm Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy mà việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị một số bệnh sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại trại ông Nguyễn Ngọc Hùng phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên’’
Trang 10- Nắm vững được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại trại
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại ông Nguyễn Ngọc Hùng phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái mang thai
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái mang thai
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý Thành phố Sông Công có vị trí khá thuận lợi, nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội, trong vùng công nghiệp xung quanh thủ đô Hà Nội với bán kính 60
km, cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài
40 km, cách hồ Núi Cốc 17 km, có các tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đường Quốc lộ 3 và đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua phía Đông thành phố;
là thành phố công nghiệp nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, là đô thị bản lề trung chuyển giao lưu hàng hóa giữa tỉnh Thái Nguyên với các đô thị xung quanh
và nhất là vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Địa giới hành chính thành phố Sông Công:
- Phía Đông, Tây, Nam giáp huyện Phổ Yên
- Phía Bắc giáp thành phố Thái Nguyên
2.1.1.2 Địa hình địa thể
Thành phố Sông Công được dòng sông Công chia làm 2 khu vực phía Đông
và phía Tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính:
- Khu vực phía Đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có
độ cao trung bình từ 25 - 30 m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải Đan, Phố Cò, Bách Quang
- Khu vực phía Tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao 80 -
100 m; một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía Tây thành phố trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn
Điều kiện khí hậu
Thành phố Sông Công nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220
C; nhiệt độ cao nhất vào các tháng 7, tháng 8, trung bình
Trang 12khoảng 380C; thấp nhất là tháng 1, trung bình khoảng từ 150C - 160C Thời tiết trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thường có gió Đông Nam thổi về, mang theo hơi nước từ biển Đông vào, gây ra những trận mưa lớn Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc tràn xuống, nhiệt độ hạ thấp, tiết trời giá rét
2.1.1.2 Tình hình kinh tế xã hội và sản xuất nông nghiệp
Tình hình dân cư
Thành phố Sông Công trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, bao gồm 7 phường: Bách Quang, Cải Đan, Lương Châu, Lương Sơn, Mỏ Chè, Phố Cò, Thắng Lợi và 4 xã: Bá Xuyên, Bình Sơn, Tân Quang, Vinh Sơn
Phường Lương Sơn có diện tích là 15,6156 km2, có 25 xóm và tổ dân phố, dân số trung bình là 12.654 người, mật độ dân số là 810 Người/Km2
Dân số thị xã Sông Công (năm 2015) có 66.054 người, thuộc 10 thành phần dân tộc anh em Đông nhất là dân tộc Kinh (chiếm trên 96%), tiếp đến là dân tộc Sán Dìu (1,4 %), Tày (gần 1%), Nùng (trên 0,5 %), Mờng (gần 0,1 %), Hoa (gần 0,1 %), v.v Dân ở thành thị có 33.725 người, ở nông thôn là 32.329 người
Tình hình phát triển kinh tế của địa phương
Do lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực, yếu tố lịch sử văn hóa truyền thống, thành phố Sông Công được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng trung du miền núi Bắc Bộ Trong những năm qua, thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước Mặc dù phương thức chăn nuôi trên địa bàn huyện chủ yếu vẫn là nhỏ, lẻ theo quy mô nông
hộ Nhưng trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu hình thành một số gia trại, trang trại, các cơ sở chăn nuôi tập trung với quy mô trung bình đến quy mô lớn
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân thành phố, đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, kết quả: Kinh tế tiếp tục giữ
Trang 13được ổn định; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư nâng cấp, đô thị được chỉnh trang; lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; quốc phòng an ninh được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2016 cụ thể như sau:
- Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn bao gồm các chi nhánh (theo giá so sánh 2010) ước đạt 5.703 tỷ đồng, bằng 100,9 % so với kế hoạch thành phố, tăng 11,78 % so với cùng kỳ năm 2015 Trong đó: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (không bao gồm các chi nhánh) ước đạt 4.474 tỷ đồng, bằng 104,5 % so với
kế hoạch năm, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2015
- Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương ước đạt 2.180 tỷ đồng, bằng 103,8
% so với kế hoạch tỉnh giao, tăng 13,36 % so với cùng kỳ năm 2015
- Giá trị sản xuất ngành Nông - lâm nghiệp - thủy sản ước đạt 640 tỷ đồng, bằng 110,6 % so với kế hoạch, tăng 8,1 % so với cùng kỳ năm 2015
- Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 103,6 triệu USD (theo giá thực tế), bằng 81,5% so với kế hoạch năm, tăng 2,5 % so với cùng kỳ năm 2015
- Tổng giá trị hàng hóa bán lẻ trên địa bàn năm 2016 ước đạt 565 tỷ đồng (theo giá thực tế), bằng 100,1 % so với kế hoạch năm và tăng 9,81 % so với cùng kỳ năm 2015
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 25.037 tấn, bằng 107,4 % kế hoạch tăng 9,9 % so với cùng kỳ
- Tổng thu ngân sách ước đạt 250,582 tỷ đồng, bằng 183,8% kế hoạch tỉnh giao, bằng 146,5% kế hoạch thành phố, tăng 7 % so với cùng kỳ
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 44 triệu đồng/người/năm, tăng 10 % so
với cùng kỳ năm 2015
2.1.1.3 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại ông Nguyễn Ngọc Hùng
Trang trại sản xuất lợn của ông Nguyễn Ngọc Hùng được thành lập năm
2009 nằm trên địa phận phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên do ông Nguyễn Ngọc Hùng làm chủ trại Hiện nay trại là khách hàng của công ty CP Greenfeed, hoạt động dựa trên nguyên tắc hỗ trợ nhau Trại sử dụng sản
Trang 14phẩm của công ty, công ty hỗ trợ về giá thức ăn chăn nuôi, đồng thời gửi kĩ thuật tư vấn cho trại giúp đỡ trại về kĩ thuật và xây dựng quy trình làm việc trong trại
Trại gồm 01 chuồng bầu, 01 chuồng đẻ, 01 chuồng cai sữa, 02 chuồng thịt đơn, 01 chuồng thịt kép có thể nuôi khoảng 1000 lợn thịt thương phẩm
Cơ cấu của trang trại được bố trí như sau:
01 chủ trại
01 quản lý trại kiêm kĩ sư và 7 công nhân
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau tổ
trưởng chuồng bầu, kỹ thuật chuồng đẻ, nhà bếp mọi người đều có tinh thần trách nhiệm cao và tay nghề chắc thúc đẩy sự phát triển của trại
- Trang trại là một trong những cơ sở sản xuất lợn thịt thương phẩm lớn trong khu vực tỉnh Thái Nguyên Trại có nhiệm vụ chính là sản xuất lợn thịt thương phẩm cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh Ngoài ra còn có một số nhiệm vụ sau:
+ Trại chăn nuôi đàn lợn bố mẹ cung cấp con giống cho trang trại và những
cơ sở có nhu cầu, với chất lượng đảm bảo
+ Chuyển giao khoa học kỹ thuật, cung cấp phân bón, thuốc thú y, tinh dịch, thức ăn chăn nuôi cho người dân trong và ngoài xã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân lao động trong vùng
+ Trại là nơi tạo điều kiện thực tế rất tốt giúp cho sinh viên của các
Trường Nông nghiệp có cơ sở thực tập lao động thực tế, rèn luyện kỹ năng, nâng cao tay nghề
Với những chức năng và nhiệm vụ trên, thì trong những năm vừa qua công tác chăn nuôi của trang trại phát triển rất tốt đem lại thu nhập cao cho gia đình và anh chị em công nhân
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Trang 15Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất 2,45- 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/ đàn, số con cai sữa là 9,86 con/ đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty CP Greenfeed
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các chuồng để nuôi thịt
Trong trại có 5 con lợn đực giống, các lợn đực giống này được nuôi để nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Lợn nái được phối 3 lần và được luôn chuyển giống cũng như con đực
Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công
ty cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại
2.1.2.2 Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty CP Greenfeed Việt Nam
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa
hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, thu gom cống rãnh, đường đi trong trang trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách thăm quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng và thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả các lợn ở đây đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo
Trang 16được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên hiệu quả điều trị đạt từ 80 - 90 % thời gian điều trị được rút ngắn, vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Hoạt động sinh dục ở lợn nái
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15] Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ
Chu kỳ động dục lợn nái trung bình là 21 ngày (18 - 24 ngày) Một chu kỳ tính của lợn nái thường chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn trước động dục: Thường kéo dài 1 - 2 ngày và được tính từ khi thể vàng của động dục trước khi tiêu biến đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón nhận trứng rụng và thụ tinh
Giai đoạn động dục: kéo dài từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3, gồm có 3 thời kì nhỏ là hưng phấn chịu đực và hết chịu đực Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3 - 4 ngày, lợn ngoại và lợn lai thường kéo dài 4-5 ngày
Giai đoạn sau động dục (giai đoạn yên tĩnh): là giai đoạn kéo dài từ ngày thứ 3-4 tiếp theo của giai đoạn động dục, lúc này đấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn cái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn Giai đoạn yên tĩnh thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (khoảng 14 - 15 ngày kể từ lúc trứng rụng) Đây là giai đoạn dài nhất của cả chu kỳ sinh dục, con vật không có biểu hiện về tính dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
Trang 172.2.2: Biểu hiện động dục của lợn nái
Phát hiện lợn cái động dục là yếu tố quan trọng nhất trong công tác phối giống, nhất là khi sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo Để phát hiện lợn cái động dục cần kiểm tra ít nhất một ngày 2 lần vào lúc 6 giờ sáng và 6 giờ chiều là những thời điểm con cái có biểu hiện động dục rõ nhất
Khi kiểm tra cần kết hợp giữa việc xem xét trạng thái con cái khi dẫn con đực đi ngang qua với việc quan sát âm hộ con cái (độ sưng, màu, dịch tiết…) Để xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái, có nhiều phương pháp nhưng tốt nhất vẫn là cưỡi lên lưng con vật để xem thử phản xạ mê ì
Thời gian động dục của lợn cái nội từ 3 - 4 ngày, của lợn cái loại từ 4 - 5 ngày, của lợn cái hậu bị ngoại có thể dài hơn từ 5 - 7 ngày
Biểu hiện động dục của lợn cái tùy thuộc vào giống, tuổi và cá thể Toàn bộ thời gian động dục của lợn cái có thể chia làm 3 giai đoạn:
* Giai đoạn trước chịu đực (bắt đầu): Đặc điểm chung của lợn cái khi bắt đầu động dục là thay đổi tính nết, kêu rít, bỏ ăn hoặc kém ăn, phá chuồng, dũi đất, cơ thể bồn chồn, tai đuôi ve vẩy, thích gần lợn đực, nếu nhốt nhiều con thì thích nhảy lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi sưng mọng, có nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho con đực nhảy
Giai đoạn chịu đực (phối giống): Còn gọi là thời kì mê đực, khi sờ tay lên mông lợn cái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng võng xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyển mầu sẫm hoặc mầu mận chín, chảy dịch nhờn Khi lợn đực lại gần thì đứng im cho phối Thời gian này kéo dài khoảng
2 ngày (lợn nội thường ngắn hơn 28 - 30 giờ) Nếu được phối giống ở giai đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao
Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc) Lợn cái trở lại trạng thái bình thường, ăn uống như cũ, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ, thâm, đuôi cụp không cho con đực phối
* Quá trình mang thai và đẻ: Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3
ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến
Trang 18đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterol trong 10 ngày đầu
có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục; 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterol giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15] cho biết: Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 - 116 ngày), chia làm 2 thời kỳ:
- Thời kỳ chửa kỳ 1: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
- Thời kỳ chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ
* Sự tiết sữa của lợn nái:
Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh, thể dịch
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào đầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú
mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng hypothalamus, từ đó tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích tố này kích thích lợn nái tiết sữa
Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các tuyến vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau Những vú ở phần ngực tiết nhiều sữa hơn những vú ở phần sau Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ khi đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có
tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
Trang 19- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15] thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để
có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức
ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú
mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn
ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc
ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột
mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần
vệ snh lợn nái sạch sẽ, lợn nái đượclau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn
Trang 20mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sach sẽ cho lợn nái,chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó
là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con ( để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi ) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bịn xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm : 1,2 m x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 – 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quá trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15] thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15 %, Ca từ 0,9 – 1,0 %, phospho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trưc tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy
ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
Trang 21+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1- 2- 3kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày + Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn /nái /ngày
= 2 kg +( số con x 0,35 kg/con )
+ Số bữa ăn trên ngày : 2 ( sáng và chiều )
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm o,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh ( nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30 % + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sach sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 20 0C, độ ẩm
70 – 75%
Trang 222.2.4 Biện pháp phòng trị bệnh sinh sản ở lợn nái
2.2.4.1 Phòng bệnh
„„Phòng bệnh hơn chữa bệnh‟‟‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng b ệnh tốt thì có thể haṇ chế ho ặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vât ̣ chủ Do vây ̣, việc phòng b ệnh cũng như tr ị, bệnh phải kết hơp ̣ nhiều biên ̣ pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :
Chăn nuôi đảm bảo đúng quy trình kỹ thu ật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ t ạo ra những gia súc khoẻ m ạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngư ợc lại Ô chuồng l ợn nái phải đư ợc vê ̣sinh tiêu đ ộc trước khi vào đẻ Nhiêt ̣ đô ̣trong chuồng phải đảm bảo 27 – 300C đối với lợn sơ sinh và 28 – 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo , không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng tr ại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân
Từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng
và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần
Trang 23trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin : Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [5] vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử ( vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen ) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Trang 24- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, (2012) [5] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :
+ Hộ lý : cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt ( thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân , nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó.Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh : chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng ( huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh
có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây :
Trang 25- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị
và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
Tác dụng: Thuốc sát trùng có tác dụng diệt khuẩn Gram (-), Gram (+), diệt các chất hữu cơ bề mặt, kể cả các tế bào chết bề mặt
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản trong quá trình thực tập
* Bệnh đẻ khó
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [20] khi gia súc sinh đẻ thì thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân, điều kiện dẫn đến, nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Đẻ khó gây
ra nhiều tổn thất kinh tế trong chăn nuôi Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục dẫn đến hiện tượng vô sinh mà có thể làm cho cả mẹ lẫn con chết Vì vậy, việc can thiệp các trường hợp đẻ khó là điều vô cùng cần thiết Để quyết định phương pháp can thiệp thích hợp, trước hết cần phải tiến hành chẩn đoán kịp thời và chính xác
- Nguyên nhân: Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ hậu
bị đến chửa, đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu, xương chậu hẹp Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (oxytocin và prostagladin F2α) quá thấp
Trang 26trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]
- Triệu chứng: Lợn nái dặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn
co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồi nhưng vẫn khó
đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]
- Chẩn đoán: Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn
đẻ, nếu 1 - 2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt, uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường
- Biện pháp can thiệp:
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [15] Trong trường hợp lợn đẻ lâu, tức là thời gian đẻ kéo dài, nên cho lợn mẹ uống nước ấm có pha muối, đồng thời dùng tay hỗ trợ động tác đẻ cho lợn Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trước cho vào bú mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ
Trong trường hợp can thiệp bằng biện pháp trên không có kết quả thì ta có thể tiêm oxytoxin cho lợn nái, với liều 4 ml/lần Một điều hết sức lưu ý không tiêm oxytoxin khi tử cung chưa mở và trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần và kèm theo co chân không đẻ được, nhiều khả năng lợn con nằm ngang bịt kín đường đẩy ra Trong trường hợp như vậy phải can thiệp bằng cách cho tay vào trong để xoay lợn con lại tư thế “thuận ngôi” và cẩn thận, nhẹ nhàng lôi ra ngoài, có như vậy quá trình đẻ mới tiếp tục được Trước khi tiến hành phải dùng khăn và xà phòng để rửa sạch bộ phận sinh dục ngoài và phải dùng găng tay đã được bôi trơn
Có thể tiêm một trong các kháng sinh sau để chống viêm nhiễm:
Ampicillin: 10 mg/kgTT tiêm bắp ngày 2 lần
Ampi-Kaan: 15 mg/kg TT/ngày
Gentamicin 4%: 1 ml/6-8 kg TT
Lincomycin 10%: 1 ml/10 kg TT
Trang 27Tiêm các thuốc bổ, thuốc trợ sức để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể: vitamin Bcomplex, multivit-forte, vitamin B1
* Bệnh viêm tử cung (Metritis)
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống nội ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh, song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu động thực vật ở mỗi vùng khác nhau Khi gia súc sinh, đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập
và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005) [20]
- Nguyên nhân
Bệnh viêm tử cung ở lợn thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn nái sau khi phối giống, rất ít khi xảy ra ở những lợn nái hậu bị Bệnh do những nguyên nhân chính sau:
Trong quá trình chửa, lợn nái chửa ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn nghệ), Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Pavrovirus và một số bệnh nhiễm khuẩn khác Làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc khó đẻ, hay sảy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp của người đỡ đẻ không đúng
kỹ thuật thú y, nhau thai bị sót là nguyên nhân dẫn đến viêm dạ con (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2007) [18], có thể khẳng định rằng việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ có thể rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ
là nguyên nhân chính gây ra viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình trang trại hiện nay
- Triệu chứng
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 -
7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng
Trang 28và trong, không có màu đen và mùi hôi thối Trong trường hợp có viêm thì sản sinh dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu (Nguyễn Thanh Sơn, 2006) [16].Triệu chứng lâm sàng và điển hình của lợn nái bị viêm tử cung là sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung chảy ra…
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2006) [8] bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu, âm môn sưng tấy
đỏ, dịch chảy ra từ âm đạo có màu trắng đục đôi khi có màu máu lờ đờ
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng tấy đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy màu trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không tiết ra liên tục mà theo từng đợt kéo dài vài ngày đến một tuần Lợn thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi thụ thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo lan sang thai làm chết thai
Nguyễn Xuân Bình (1996) [1] cho biết: Sau khi đẻ 1 - 10 ngày nái ăn ít sốt cao 40 - 410C thường sốt ở buổi chiều 15 - 17 giờ, ở âm hộ chảy nước đục trắng mùi hôi tanh, (sốt theo quy luật lên xuống) sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều sốt cao 40 - 410C
- Các thể viêm tử cung:
+ Viêm nội mạc tử cung: Đó là quá trình viêm xảy ra ở trong lớp niêm mạc
tử cung Đây là thể viêm nhẹ nhất trong các thể viêm tử cung
+ Viêm cơ tử cung: Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp cơ tử cung, có nghĩa là quá trình viêm đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đi vào phá hủy tầng giữa Đây là thể viêm tương đối nặng
+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng, là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [18]
- Chẩn đoán: Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài
ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [11]
Trang 29Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong, (1986) [13] khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm nhận thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng
- Tiêm thuốc điều trị:
Penicillin bột / lọ: dùng 200.000 UI/ kg TT dùng liên tục 3 - 4 ngày (lợn bệnh cấp tính), 6 - 8 ngày (lợn bệnh mãn tính)
Kanamycin (Streptomycin) bột/lọ: 15 - 20 mg/kg TT dùng phối hợp với Penicillin theo thời gian trên
- Dùng các loại thuốc nâng cao thể trạng: Vitamin B1, vitamin C, Cafein
- Hộ lý: Giữ sạch sẽ chuồng trại và bãi chăn thả trong quá trình điều trị Dùng PGF2α hoặc các dẫn xuất của nó tiêm dưới da 2 ml (25 mg/ tiêm một lần), lugol 200 ml (Neomycin 12 mg/ kg TT) thụt tử cung, Ampicillin 3 - 5g tiêm bắp hoặc tĩnh mạch tai, ngày một lần Liệu trình điều trị 3 - 5 ngày
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, (2004) [11] dùng Oxytocin 20 -
40 UI/nái/ngày để dạ con co bóp, tống thai, các chất ứ bẩn, dịch viêm ra ngoài Thụt rửa âm đạo, tử cung bằng Han-Iodine 5% Dùng kháng sinh liên tục trong 3 - 5 ngày:
Trang 30Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [19] thì bệnh thường xảy ra khi lợn nái được nuôi dưỡng quá mức hoặc khi đẻ vú quá căng, bệnh dễ phát sinh khi ngăn chuồng
đẻ không được sát trùng Tác nhân gây bệnh thường là E coli, Aerobacter
serogenes, thường là nhiễm do thiếu vệ sinh khi đẻ
Do lợn mẹ bị tổn thương bộ phận sinh dục như âm hộ, âm đạo, tử cung, vú
và bầu vú tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây viêm nhiễm tại chỗ và vào máu gây nhiễm trùng huyết và viêm vú Lợn mẹ tiết nhiều sữa (do ăn quá nhiều chất đạm) nhưng lợn con không bú hết làm cho sữa bị ứ đọng tạo
ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, lợn mẹ đẻ ít con nên có nhiều vú bị thừa hoặc lợn mẹ chỉ cho con bú một bên Những vú không được lợn con bú sẽ bị
căng sữa dẫn đến viêm vú (http:// www.pkh.vcn.org) [24]
Ngoài những nguyên nhân trên thì Trương Lăng và Xuân Giao, (2002) [10] còn bổ sung thêm nguyên nhân gây bệnh, đó là do lợn con mới đẻ có răng nanh không bấm nên bú làm sây sát vú mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập Chuồng lạnh quá, nóng quá, thức ăn khó tiêu hóa cũng làm ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
- Cơ chế sinh bệnh: Trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường, khu vực
chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập qua ống dẫn sữa ở đầu vú hoặc theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ thể để gây bệnh Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết làm sữa ứ đọng trong bầu vú là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển (http:// www.opac.hc.edu.vn) [23]