Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:Chính quy Chuyên ngành:Chăn nuôi Thú y Khoa:Chăn nuôi Thú y
Khóa học:2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
TRẦN HỮU TRƯỜNG
Tên chuyên đề
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT
SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN ĐẨU, THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:Chính quy Chuyên ngành:Chăn nuôi Thú y Lớp:K45 - Chăn nuôi Thú y Khoa:Chăn nuôi Thú y Khóa học:2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Hồng Duyên
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Qua 5 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự chỉ bảo và giảng dậy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y đã truyền đạt cho em những kiến thức về
lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian học tại trường Và trong thời gian thực tập tại trang trại của bác Nguyễn Văn Đẩu (Phường Đồng Nguyên - Thị
Xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh) em đã có cơ hội áp dụng những kiến thức học ở trường vào thực tế ở trang trại, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực tế tại trang trại Cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Từ những kết quả đạt được này, em xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong thời gian qua Đặc biệt là cô Dương Thị Hồng Duyên – Giảng viên bộ môn Dược lý - VSATTP, khoa chăn nuôi Thú
Y, Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để em hoàn thành bài luận văn này
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các bác, cô, chú và anh chị trong trang trại Bắc Đẩu (phường Đồng Nguyên – thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian thực tập
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người thân yêu luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường cũng như trong quá trình thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Hữu Trường
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ tiêu đạt được của trại trong 3 năm gần đây(2015 – 2017) 5
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 21
Bảng 3.1 Một số phác đồ điều trị của bệnh thường gặp 35
Bảng 4.1 Quy mô tại trại chăn nuôi Bắc Đẩu 36
Bảng 4.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 37
Bảng 4.3 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 38
Bảng 4.4 Quy định khối lượng thức ăn với lợn nái 39
Bảng 4.5 Lịch phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn 40
Bảng 4.6 Lịch phòng bệnh bằng thuốc cho đàn lợn 41
Bảng 4.7 Kết quả điều tra tình hình mắc một số bệnh ở lợn nái, lợn con 42
Bảng 4.8 Hiệu quả điều trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con 46 Bảng 4.9 Kết quả sử dụng vaccine phòng bệnh cho lợn con và lợn nái 47
Bảng 4.10 Một số công tác phục vụ sản xuất khác 48
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP : Charoen Pokphand
Cs : Cộng sự
E coli : Escherichia coli
FSH : Folliculo Stimulin hormone
MMA : Mastitis Metritis Agalactia
(Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa) Nxb : Nhà xuất bản
PGF 2α : Prostaglandin F 2α
S choleraesuis : Shalmonella enteria choleraesuis
S typhysuis : Salmonella typhysuis
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài 6
2.2.1.Cơ sở khoa học 6
2.2.2 Một số bệnh ở lợn nái 13
2.3 Những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến đề tài 28 2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 31
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH33 3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
3.2 Nội dung nghiên cứu 33
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 33
3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 33
Trang 7v
3.3.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 34
3.3.2.4 Xác định hiệu quả của phác đồ điều trị đối với một số bệnh 34
3.3.3 Phương pháp xử lí số liệu 35
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Quy mô, cơ cấu đàn lợn của trại 36
4.2 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái 36
4.3 Kết quả phòng trị một số bệnh thường gặp 42
4.4 Kết quả phục vụ sản xuất 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8
1
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở Việt Nam Đến nay phong trào nuôi lợn thịt hướng nạc đã và đang phát triển mạnh mẽ theo hình thức trang trại ở nhiều địa phương, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi và trở thành 1 nghành chăn nuôi chính chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu chăn nuôi hiện nay
Để năng suất chăn nuôi được nâng cao người chăn nuôi đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao thì bên cạnh việc đảm bảo các tiêu chuẩn về thức ăn, chuồng trại,
kĩ thuật chăn nuôi… Thì đàn giống tốt là tạo tiền đề cho các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình Đối với lợn nái nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp cho nên tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém Mặt khác trong
quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E coli…
Xâm nhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, viêm phổi, đây là các loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn
mẹ Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợn nái, nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần năng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả của điều trị bệnh Vì vậy em đã tiến hành thực hiện
chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị một số bệnh thường gặp tại trại Nguyễn Văn Đẩu, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
Trang 92
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại trại Nguyễn Văn Đẩu, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Đưa ra một số phác đồ điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái ngoại
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh viêm tử cung ở lợn Là cơ sở khoa học cho công tác phòng và điều trị bệnh, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn nói chung
Trang 10
3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cở sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Văn Đẩu nằm trên một cánh đồng rộng, các xa khu dân cư, thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đây là một trong những trang trại có quy mô lớn Trang trại có tổng diện tích khoảng hơn 5 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ Được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 1997 với số vốn đầu tư lên tới gần 30 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi GreenFeed Việt Nam cung cấp 3 giống lợn Landrace, Yorkshire và Duroc Khu sản xuất gồm 8 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 3 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 20 lợn đực,120 lợn hậu bị Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 10.000 - 15.000 con lợn giống
Trang trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn và thời gian mang thai Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm 1 quản lí, 1 kỹ sư chính, 2 tổ trưởng và 24 công nhân phụ trách, trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Kỹ sư của trại
đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một
Trang 114
hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… Chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải
đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh
để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản gồm 3 giống bố mẹ chính 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire và Duroc, lợn con sinh được lai từ 3 giống trên Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Văn Đẩu là một trong những trang trại có quy mô lớn Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại
đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Trang 125
Bảng 2.1 Chỉ tiêu đạt đƣợc của trại trong 3 năm gần đây(2015 – 2017)
Chỉ tiêu
Số lợn Năm
2015
Năm
2016
Năm 2017 (6 tháng đầu năm)
Nái hậu bị (con)
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số heo nái hậu bị từ năm 2015 là 340 nái, tới năm 2016 tăng lên 360 nái
Tỷ lệ phối đậu thai từ 89,32% (năm 2015) tăng lên 91,25% (năm 2017) Số heo con sinh ra, sống tới lúc cai sữa tăng lên, từ năm 2015 là 28.220 con tới năm
2016 là 30.360 con Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao… Trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Văn Đẩu là một trong những trang trại sử dụng cám của công ty GreenFeed có kết quả chăn nuôi khá tốt
Trang 136
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài
2.2.1.Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [7], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:
- Buồng trứng (Ovarium): gồm một đôi (dài 1,5 - 2,5cm, khối lượng 3 -5
gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên
Buồng trứng được bọc ở ngoài bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia làm 2 phần, cả 2 phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loạt chất đệm Dưới lớp màng liên kết của buồng trứng có nhiều tế bào trứng non phát triển dần thành nang trứng nguyên thủy, sau đó phát triển thành nang trứng sơ cấp và cuối cùng phát triển thành bao noãn chín Dưới tác dụng của kích tố đặc biệt là kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng
Như vậy, buồng trứng có 2 chức năng là sản sinh ra tế bào trứng và tiết
ra hormone sinh dục có ảnh hưởng tới tính biệt, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)
- Ống dẫn trứng (Oviductus): ống dẫn trứng dài 15 - 20cm, uốn khúc
nằm ở cạnh trước dây chằng rộng Ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng trứng đến đầu tử cung và được chia làm 2 phần: Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bào trứng chín rụng, phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung
Cấu tạo ống dẫn trứng xếp từ ngoài vào trong gồm có: màng tương mạc đến từ dây chằng rộng, lớp cơ (2 lớp: cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài),lớp niêm mạc trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc và không có tuyến
Trang 147
- Tử cung (Uterus): tử cung là nơi cung cấp dinh dưỡng và phát triển của
thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái
Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non, dài 30 - 50cm, có dây chằng rộng rất dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng
tử cung Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: tương mạc được nối với dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn
- Âm đạo (Vagina): âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ
Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới
là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Cấu tạo: lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo Lớp giữa là lớp
cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết bọc ngoài Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong đó
có nhiều chất nhờn Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai
- Âm hộ (Vulva): đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau âm
đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ
thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và khí quan cương cứng gọi là
âm vật (Clitoris)
Trang 158
Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau bởi 2 mép Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong Mép trên hơi nhọn, mép dưới rộng bao quanh âm vật Mép trên và dưới được bao bởi lớp da mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông
Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:
+ Màng trinh (Hymen): ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ
+ Lỗ đái là đường thông ra của niệu đạo con cái Lỗ đái nằm ở thành dưới âm môn ngay sau dưới màng trinh hình một cái khe có van trùm lên, cánh van hướng về sau Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền đình Đôi tuyến này tiết ra dịch nhờn làm ẩm ướt cửa vào âm đạo phía trong âm hộ và có thành phần sát khuẩn
+ Âm vật (Clitoris): là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên
tính cảm giác tập trung ở đây cao
Cấu tạo âm hộ từ ngoài vào có các lớp sau: Lớp da mỏng mịn có nhiều sắc tố, lớp cơ gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, lớp niêm mạc trong cùng có nhiều tuyến tiết dịch nhờn
- Tuyến vú (Mamma): lợn là động vật đa thai có từ 6 - 8 đôi vú xếp 2
hàng từ vùng ngực đến vùn bụng bẹn Tuyến này chỉ phát triển khi con cái đến tuổi thành thục về tính và phát triển to nhất ở thời kỳ chửa, đẻ Thời kỳ con vật
đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc còn non
Vú gồm có bầu vú và núm vú
+ Bầu vú: bầu to đó là nơi sản sinh và chứa sữa Ngoài cùng có lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có 2 phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong như tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú làm nhiều thùy nhỏ trong đó có nhiều sợi đàn hồi
Trang 169
Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: Nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông
ra ở đỉnh đầu vú
Để hình thành một lít sữa phải có 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy
sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
+ Núm vú: một bầu vú có một núm vú cấu tạo bởi da, tổ chức liên kết,
cơ và ống dẫn sữa Ống dẫn sữa gồm 2 - 3 ống thông nối từ xoang sữa (bể sữa)
ra đầu núm vú Ở đầu núm vú, sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
+ Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [15] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
Theo Trương Lăng (2003) [4], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
Trang 1710
2.2.1.2 Các giai đoạn sinh sản
* Chu kỳ động dục của lợn nái
Ở lợn cái sự thành thục sinh dục xuất hiện từ lúc 6 - 7 tháng tuổi (đối với các giống lợn ngoại) 4 - 5 tháng (đối với các giống lợn nội) Chu kỳ động dục của lợn cái là khoảng thời gian giữa lần động dục trước đến lần động dục sau Chu kỳ động dục của lợn cái từ 18 - 24 ngày, trung bình 21 ngày Động dục là hiện tượng xuất hiện các triệu chứng động dục như âm hộ sưng lên, có màu đỏ, lợn cái kêu la, phá chuồng, bỏ ăn, tìm con đực, đứng yên, cong đuôi lên và âm
hộ tiết ra dịch nhầy, kèm theo quá trình rụng trứng Thời gian động dục của lợn cái từ 4 - 5 ngày (đối với lợn ngoại), 2 - 3 ngày (đối với lợn nội)
Chu kỳ động dục bao gồm các giai đoạn: giai đoạn luteal và giai đoạn follicular Ngay sau giai đoạn luteal, sự rụng trứng bắt đầu xảy ra và đặc trưng bởi sự tiết progesteron từ thể vàng (CLs) Những thể vàng bắt đầu phát triển ngay sau khi trứng rụng, mặc dầu sau 2 - 4 ngày chúng vẫn chưa đạt khả năng cực đại tiết progesteron Khi progesteron tiết nhiều thì chúng ức chế sự phát triển
của các bao noãn ở con cái Progesteron tác động lên trung khu sinh dục làm giảm thiểu sản sinh các yếu tổ giả phóng FRF và LRF Hơn nữa, progesterone hỗ trợ và cung cấp cho tử cung khả năng có chửa và gây nên sự tiết dinh dưỡng vào tử cung để nuôi dưỡng phôi giai đoạn đầu làm tổ khoảng
12 - 16 ngày sau khi phối
Sau 16 - 17 ngày vào thời kỳ cuối và kết thúc khi chức năng thể vàng bị giới hạn bởi sự có mặt với nồng độ cao của hormone Prostaglandin F2α Hormone này được tiết bởi tử cung bắt đầu khoảng 12 - 14 ngày sau khi trứng rụng ở con cái không có chửa, khi các buồng trứng tăng về khối lượng, đồng thời khi nồng độ hormone prostagladin đủ sẽ tiêu huỷ thể vàng ở khoảng ngày thứ 16 - 17 sau rụng trứng Ở lợn nái không có chửa thể vàng tiêu biến và
Trang 1811
không có chất tiết của nó là progesterone Kết quả là tăng nhanh sự tiết các yếu
tố giả phóng FRF và LRF và dẫn đến tăng tiết FSH và LH Các hormon đó kích thích các bao noãn phát triển nhanh chóng lại sau 4 - 5 ngày Sự sinh trưởng này được kết hợp với mức tiết oestrogen trong máu bởi các bao noãn
Oestrogen tăng tiết làm phát triển lớp tế bào bề mặt tử cung chuẩn bị cho việc phối tinh tiếp Giai đoạn tiết oestrogen cao nhất sẽ làm tăng cao LH và rụng trứng Kết quả khi mức oestrogen tăng cao là xuất hiện hiện tượng động dục gọi là oestrus
Biểu hiện các triệu chứng động dục ra bên ngoài và kèm theo quá trình rụng trứng của lợn nái gọi là giai đoạn động dục hoặc là chu kỳ động dục
.* Mang thai
Khi tế bào trứng được thụ tinh, hợp tử hình thành và làm tổ ở niêm mạc sừng tử cung Từ 11 đến 14 ngày hợp tử mới dính chặt niêm mạc tử cung Lúc
đó có phản ứng miễn dịch dung nạp xẩy ra trong cơ thể lợn nái Giai đoạn làm
tổ, ổn định vị trí và hình thành một số cơ quan mần móng ban đầu của cơ thể kết thúc lúc 22 ngày sau khi thụ tinh được gọi giai đoạn tiền phôi và phát triển theo 3 giai đoạn Suốt cả thời kỳ mang thai thể vàng tồn tại và phát triển, tiết ra hormone progesterone cần thiết để duy trì sự có chửa trong suốt thời gian có chửa 114 ngày Thời gian có chửa được chia thành hai thời kỳ và có thể gọi chửa kỳ kỳ 1 và chửa kỳ 2: Chửa kỳ 1 được xác định từ khi trứng được thụ tinh đến khoảng 90 ngày tuổi của bào thai, giai đoạn bào thai chưa phát triển mạnh
về khối lượng mà chủ yếu hình thành các cơ quan bộ phận trong cơ thể và hoàn thiện một số chức năng hoạt động của bào thai Chửa kỳ 2 được xác định thời gian còn lại từ 90 ngày đến 114 ngày, đây là giai đoạn bào thai phát triển nhanh
về khối lượng và kích thước, 3⁄4 trọng lượng bào thai được phát triển ở giai đoạn này Tuy nhiên, đến khoảng 112 - 114 ngày sự phát triển của bào thai hoàn thiện và bắt đầu tiết ra Cortiroids Những hormone này sẽ tác động lên
Trang 1912
màng nhau của lợn mẹ làm tiết oestrogen, hormone này sẽ kích thích tử cung tiết ra prostaglandin F2 và tuyến yên tăng tiết oxytoxin Hai hormones này sẽ phá hủy thể vàng, kết quả là nồng độ progesterone trong máu giảm nhanh, tử cung co bóp mạnh và lợn mẹ sẽ đẻ sau 20 - 30 h
* Tiết sữa
- Sản sinh sữa:
+ Trong thời kỳ chửa, các hormone prolactin tăng tiết và tác động tăng sinh tuyến vú, kết quả tuyến vú phát triển và tăng thể tích theo thời gian phát triển của bào thai Sau 3 tuần chửa bầu vú bắt đầu căng lên, các tuyến vú phát triển mạnh cho đến trước lúc đẻ 3 tuần, hormone prolactin tăng tiết cùng với sự tác động của nhau thai thông qua hormone progesterone Sữa bắt đầu được sản sinh ở trong các tuyến sữa Quá trình này được tạo ra ở các tuyến sữa quá trình sinh tổng hợp protein sữa (cezein), đường sữa (galactoza), mỡ sữa và các thành phần sinh dưỡng khác từ máu Sự hình thành sữa này được ưu tiên trong cơ thể của lợn mẹ Quá trình hình thành này tùy thuộc hoàn toàn vào lượng máu đi qua bầu vú, chính vì vậy ở những núm vú nào có hệ thống động tĩnh mạch lớn thì núm vú đó có sản lượng sữa cao
- Tiết sữa:
+ Sau khi sữa được hình thành và tích trữ ở các túi sữa, khi xuất hiện các triệu chứng sắp đẻ hormone oxytoxin được tiết ra và tác động lên tuyến sữa để thải sữa ra theo các ống đầu núm vú Sau khi đẻ lợn con tìm vú mẹ và thúc bú kích thích lợn mẹ tiết sữa, sự tiết sữa này làm ngăn cản việc tiết hormone GnRH, vì vậy ức chế sự phát triển của bao noãn Quá trình phân tiết bị tác động mạnh bởi sự mút bú của lợn con, quá hình này hình thành nên 3 pha trong quá trình bú sữa của lợn con Tuy nhiên sau thời gian này sự ức chế đó dần dần được giải phóng, mặc dầu sự phát triển đầy đủ của các bao noãn trong thời kỳ rụng trứng không giống như trong giai đoạn tiết sữa của lợn mẹ Ngay sau cai
Trang 2013
sữa và ngừng bú sữa, hoạt động của GnRH gia tăng và các bao noãn bắt đầu phát triển Điều này tương tự như giai đoạn bắt đầu của bao noãn trong chu kỳ sinh sản lợn nái Vì vậy phần lớn sự động dục và rụng trứng của lợn nái xảy ra trong khoảng từ 5 - 7 ngày sau cai sữa lợn con
- Năng suất sữa:
+ Năng suất sữa phụ thuộc nhiều yếu tố nội tại và ngoại cảnh Khi lợn nái đẻ sắp đẻ hormone oxytoxin tăng tiết để thải sữa ra ngoài, cùng với thúc bú của lợn con tuyến sữa tăng cường sản sinh sữa và phân tiết sữa Sản lượng sữa cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như số lợn con để nuôi, dinh dưỡng cho lợn mẹ, chu kỳ tiết sữa, tuổi và lứa đẻ, giống, thời tiết và khí hậu Xác định sản lượng sữa ở lợn nái theo hai phương pháp định tính và định lượng:
Phương pháp định tính: muốn biết sản lượng sữa của lợn cao hay thấp, chúng ta quan sát lợn mẹ và đàn lợn con
- Phương pháp định lượng: Cân trọng lượng của lợn con sau 21 ngày tuổi, tính toán sản lượng sữa(SLS) lợn mẹ theo công thức sau:
SLS trong một chu kỳ tiết sữa = M1+ M2
Trong đó:
M1 là sản lượng sữa của kỳ tiết sữa thứ nhất từ ngày thứ 1 đến ngày 21 M2 là sản lượng sữa của kỳ tiết sữa thứ 2, từ 21 ngày tuổi đến lúc cai sữa M2 = 4/5 M1
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], bệnh thường xảy ra vào thời gian 1
- 10 ngày sau khi đẻ
Trang 2114
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [16] viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương cơ quan sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản của lợn nái
Lợn là loài có khả năng sinh sản cao, đẻ nhiều con trên lứa, nhiều lứa trên năm, thời gian mang thai ngắn… Đây là điều kiện thuân lợi cho vi trùng xâm nhập gây bệnh cho đường sinh dục
Nguyễn Hữu Phước (1982) [10] cho biết: Lợn nái sinh sản đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh
Mặt khác theo Nguyễn Hùng Nguyệt (2004) [9], cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ, hoặc lợn nái đẻ khó do nhiều trường hợp khác nhau: thai to quá, thai ra ngược, thai không bình thường… nái
tơ phối giống sớm khi khối lượng cơ thể chưa đạt 70% khối lượng trưởng thành, nái già đẻ nhiều lứa, khi đẻ tử cung co bóp yếu hoặc viêm tử cung từ lần trước làm niêm mạc tử cung bị rách, bị biến dạng nên nhau thai không tróc hoàn toàn gây sót nhau, vi khuẩn xâm nhập và phát triển mạnh gây thối
Lợn nái ngoại nhập nội cũng dễ mắc bệnh do chưa thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam
Lê Văn Năm và cs (1997) [8] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay sử dụng thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến muxin của chất nhầy các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý, thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về kích thước bình thường và khối lượng ban đầu khoảng 3 tuần sau khi đẻ) Đây là điều kiện tốt
Trang 2215
để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo (TTNT) sai kỹ thuật (dụng cụ dẫn tinh làm tổn thương niêm mạc tử cung)
Phạm Sỹ Lăng (2006) và cs [3] đưa ra nhận định rằng: do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ dẫn tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực nhảy trực tiếp, mà niệu quản và dương vật bị viêm sẽ truyền bệnh sang lợn nái Chuồng trại và môi trường sống của lợn nái bị ô nhiễm, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau khi lợn đẻ không tốt
Bệnh còn xảy ra do sự thiếu xót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm đường sinh dục Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm đường sinh dục do xây xát Thiếu dinh dưỡng lợn nái ốm yếu sức đề kháng giảm không chống lại được vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm đường sinh dục Thiếu vitamin A sẽ gây sừng niêm mạc, sót nhau (Lê Hồng Mận, 2006) [6]
Theo Lê Văn Năm và cs (1997) [8], viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung Theo Madec F., Neva C (1995) [23], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây viêm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra…
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối đã bị viêm tử cung
Trang 2316
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chặt vào
tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy không tiết Progesterone nữa, hàm lượng Progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực cơ của cơ tử cung tăng lên, do đó gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh lợn con giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục
thường có mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế
sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con của những lợn mẹ bị viêm tử cung thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể
Trang 2417
vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
Theo Madec F., Neva C (1995) [23], ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn bị viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài
ra, viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả
* Các thể viêm tử cung
Các tác giả Bane A (1986) [18]; Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [13], đều cho rằng: các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái Theo Đặng Đình Tín (1986) [14], bệnh viêm tử cung thường được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
- Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Black (1983), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viên tử cung (trích Phùng Thị Vân, 2004 [17])
Nguyên nhân: khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn
Trang 25+ Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis Catarhalis purulenta acuta)
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết… Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
+ Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu
Trang 2619
hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
- Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2], viêm cơ tử cung thường kế phát
từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp niêm mạc tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng mà can thiệp chậm có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải,
bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám to
Ở thể viêm này, lợn nái bị bệnh biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi hôi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng, kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
- Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperali)
Theo Athur (1964), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm
cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng(dẫn theo Nguyễn Văn Thanh và cs.,2016 [13])
Trang 2720
Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ,
uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung,
có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
* Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn
Theo Madec F Neva C (1995) [23], xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây
là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Trang 28Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ
cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
STT Các chỉ tiêu
phân biệt
Viêm nội mạc Viêm cơ Viêm tương mạc
Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Trang 2922
2.2.2.2 Bệnh viêm khớp
* Nguyên nhân
Streptococcus suis là vi khuẩn gram dương, Streptococcus suis gây viêm
khớp cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi lợn Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như một phần của hội chứng “yếu khớp” kết hợp với viêm rốn
* Lây lan
Streptococcus suis có thể khu trú ở amidan của gia súc khỏe, khi gặp điều
kiện môi trường thuận lợi như: lợn trong tình trạng stress, nhiệt độ môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức đề kháng lợn…Lúc này dễ dàng phát bệnh Mầm bệnh được tiết ra từ dịch âm hộ, dịch đường hô hấp và sữa lợn mẹ Các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể heo con bằng đường rốn, vết thương ngoài dạ
- Thể cấp tính: đặc trưng bởi sốt, lông da sởn lên, suy nhược và què Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to Một hoặc vài khớp có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và sau, mắt cá chân thường sưng phồng lên Bệnh làm cho lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế
- Thể mãn tính: lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mãn tính suốt đời Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin) Các
Trang 3023
màng sưng phồng, mất màu và tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe) Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp Các bệnh tích cũng có thể thấy trong sự phát triển của các khúc xương
* Phòng bệnh
Cần vệ sinh sát trùng chuồng đẻ kỹ lưỡng Dùng thuốc sát trùng hoặc đun sôi các dụng cụ đỡ đẻ, kềm bấm răng, cắt đuôi, thiến heo đực…Nền chuồng lợn con không quá thô nhám, gồ ghề để tránh các vết trầy da cho lợn con khi chúng tranh bú mẹ Sau khi cắt cột cuống rốn cần sát trùng đầu rốn bằng cồn Iod Cần chăm sóc, bảo đảm cho các lợn con sau khi sinh được bú sữa đầu đầy đủ
2.2.2.3 Bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân
- Do vi khuẩn đường tiêu hóa nhiễm trong môi trường chăn nuôi
* Bệnh tích
- Dạ dày giãn rộng, đường bề cong lớn bị chảy máu (xuất huyết)
Trang 3124
- Dạ dày chứa đầy sữa đông vón không tiêu
* Phòng bệnh
heo con tốt Cần chú ý khâu thức ăn cho mẹ phải tốt cả về số lượng và chất lượng, không nên thay đổi thức ăn của heo mẹ trong quá trình đang cho heo con bú sữa Thực hiện tốt 3 khâu: chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn; chuồng trại thoáng mát mùa hè, ấm mùa đông Tập cho heo con ăn sớm với thức ăn
có chất lượng cao, tiêm sắt cho heo con
- Phòng bằng vắc xin cho cả mẹ và con: Tiêm cho mẹ 1 -2 tuần trước khi
đẻ Tiêm cho heo con vào ngày tuổi thứ 14
2.2.2.4 Bệnh viêm phổi
* Nguyên nhân
Bệnh viêm phổi là một bệnh truyền nhiễm đa nguyên nhân mà trước
đây chúng ta quen gọi là bệnh suyễn hoặc viêm phổi địa phương Mycoplasma
là nguyên nhân gây bệnh chính kết hợp với hệ vi khuẩn gây bệnh cộng phát
như: Pasteurella multocida, Bordetell, Chlamidi, Streptococcus, Staphylococcus và một số siêu vi khuẩn khác Mycoplasma thường cư trú tại hạch amidal hoặc
xâm nhập từ ngoài vào cơ thể dưới tác động trực tiếp của các yếu tố stress có hại và sức đề kháng của cơ thể yếu Vi khuẩn tăng cường độc lực chui vào phế quản và phế nang, ký sinh, phát triển và gây bệnh Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gian mang thai
* Triệu chứng
Các triệu chứng bệnh điển hình ở lợn con 6-10 tuần tuổi hoặc lớn hơn:
ho khan vài tiếng hoặc từng cơn vào sáng sớm hay khi vận động, ho có thể kéo dài 1-2 tháng Mặc dù lợn vẫn ăn uống bình thường nhưng rất chậm lớn, nhịp