1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)

78 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

HOÀNG VĂN LỘC

NGHIÊN CƢ́U ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH KHỐI

CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC CLURE)

THUẦN LOÀI TẠI XÃ VŨ LOAN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiê ̣p

Khóa học : 2013 - 2017

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

HOÀNG VĂN LỘC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH KHỐI

CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC CLURE)

THUẦN LOÀI TẠI XÃ VŨ LOAN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng

Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu

và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng

để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, tháng 6 năm 2017

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN Đồng ý cho bảo vệ kết quả

trước hội đồng khoa học!

TS Trần Công Quân Hoàng Văn Lộc

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng không thể thiếu đối với mỗi sinh viên Đó không chỉ là điều kiện cần thiết để mỗi sinh viên có thể hoàn thành khóa học và tốt nghiệp ra trường mà đó còn là cơ hội cho mỗi sinh viên

ôn lại và áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế, trau dồi những kiến thúc quý báu để sau khi ra trường trở thành cán bộ vừa có trình độ lý luận, kiến thức chuyên môn vững vàng, vừa có kiến thức thực tiến, tính sáng tạo trong công việc Đáp ứng nhu cầu xã hội

Được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm

Thái Nguyên: Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu

trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” Để thực hiện đề tài

này, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô giáo khoa Lâm Nghiệp,Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Công Quân, người hướng dẫn đề tài tốt nhiệp cho tôi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, Khoá trước đại học, Khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Xin cám ơn cán bộ UBND xã Vũ Loan, huyện Na Rì, Hạt Kiểm Lâm huyện Na Rì, và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong việc thu thập số liệu ngoài thực địa, để tôi thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả sự giúp đỡ quý báu trên, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn của bản thân, thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để bài của tôi được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2017

Tác giả

Hoàng Văn Lộc

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Diê ̣n tích rừng Vầu đắng của xã Vũ Loan 33

Bảng 4.2 Hiện trạng về rừng Vầu tại xã Vũ Loan 34

Bảng 4.3 Bảng tổng hợp phân bố N/D 35

Bảng 4.4 Bảng tổng hợp quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N\H) 37

Bảng 4.5 Sinh khối tươi trung bình cây cá lẻ ở Vũ Loan 38

Bảng 4.6 Đặc điểm sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ 39

Bảng 4.7 Sinh khối tươi cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng 42

Bảng 4.8 Bảng tổng hợp đặc điểm sinh khối tươi lâm phần Vầuđắng thuần loài 44

Bảng 4.9 Sinh khối khô trung bình cây cá lẻ ở Vũ Loan 46

Bảng 4.10 Sinh khối khô cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ 47

Bảng 4.11 Sinh khối khô của cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng trong lâm phần Vầu đắng 49

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 4.1 Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu Đắng theo cấp

đường kính 36

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố mật độ số cây theo cấp chiều cao 38

Hình 4.3 Biểu đồ lượng sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ 41

Hình 4.4 Biểu đồ lượng sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi 43

Hình 4.5 Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần rừng Vầu đắng tự nhiên thuần loài 45

Hình 4.6 Biểu đồ lượng sinh khối khô cây Vầu đắng 3 cấp mật độ 48

Hình 4.7 Biểu đồ lượng sinh khối khô của cây bụi và thảm tươi 50

Hình 4.8 Biểu đồ lượng sinh khối khô của vật rơi rụng 51

Hình 4.9 Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng tự nhiên thuần loài 53

Trang 7

H vn : Chiều cao vứt ngọn bình quân

HĐND : Hội đồng nhân dân

IPCC : Intergovernmental Panel on Climate - Ủy ban

Quốc Tế về Biến đổi khí hậu

LHQ : Liên hợp quốc

OTC : Ô tiêu chuẩn

SKK : Sinh khối khô

SKT : Sinh khối tươi

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 4

2.1.2 Quá trình quang hợp ở thực vật 5

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 6

2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giớ i 6

2.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước 12

2.2.3 Nghiên cứu về cây Vầu đắng 16

2.2.4 Nhận xét chung 19

2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 20

2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 20

2.4.2 Các nguồn tài nguyên 21

2.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 21

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

Trang 9

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 25

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 26

PHÂN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CƢ́U VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Hiện trạng phân bố của rừng Vầu đắng trên các dạng lập địa chủ yếu tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 33

4.1.1 Diện tích và phân bố rừng Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu 33

4.2 Đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng khu vực nghiên cứu (cấu trú c mâ ̣t đô ̣, cấu trúc số cây theo tuổi (N - A), quy luật phân bố N/D1.3, N/Hvn 34

4.2.1 Quy luật phân bố N/D 34

4.2.2 Quy luật phân bố N/H 36

4.3.2 Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng thuần loài 46

4.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững trong rừng Vầu đắng 53

4.4.1 Các giải pháp quản lý ở địa phương 53

4.4.2 Các giải pháp quản lý ở cấp cộng đồng 54

PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.3 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)

đã được ký tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992 với sự tham gia của gần 160 quốc gia trên toàn thế giới Nghị định thư Kyoto ra đời nhằm đạt được sự thỏa thuận về giảm phát thải khí nhà kính của các nước Để nhằm chống la ̣i

biến đổi khí hâ ̣u toàn cầu có h iệu quả hơn , chương trình “ Giảm phát thải

thông qua việc hạn chế mất rừng và suy thoái rừng” (REDD) và tăng cường

đa dạng sinh học (REED+

) bở i các nhà khoa ho ̣c nhâ ̣n đi ̣nh rằng mất rừng và suy thoái rừng tự nhiên đóng góp khoảng 20% lượng k hí CO2 phát thải ra khí quyển

Viê ̣t Nam là mô ̣t trong 47 quốc gia đầu tiên được Liên Hiê ̣p Quốc lựa chọn để thí điểm triển khai chương trình hợp tác của Liên hiệp quốc về giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển (UN-REDD) vớ i tổng số vốn viê ̣n trợ trong giai đoa ̣n I là 4,38 triệu USD (giai đoa ̣n 2009 - 2011) Giai đoạn II của Chương trình UN-REDD triển khai trong vòng 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015 được thực hiện theo Kế hoạch hành động Quốc gia REDD+ ở 6 tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng, Cà Mau, với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại khoảng 100 triệu USD

Một loạt các văn bản pháp lý như Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quyết định 158/QĐ-TT ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình

Trang 11

mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng

CO2 phát thải Mặc dù hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả khả năng lưu trữ các bon là đã có cơ sở ở

nước ta , nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ

cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng lưu trữ các bon của từng loại rừng

Ở Việt Nam hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon của một số dạng rừng trồng Rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng vầu , tre nứa là đối tượng có cấu trúc rất phức tạp, do vậy việc nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon cho đối tượng rừng này là rất khó khăn và cho tới nay chưa được tiến hành hoặc tiến hành nhỏ lẻ thiếu hệ thống

Rừng Vầu đắng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ nguyên sinh bị phá hoại Vầu đắng là loài tre không gai, thân ngầm dạng roi, thân tre mọc phân tán từng cây, phát triển rất tốt dưới tán thưa của rừng cây gỗ nhất là ở các khe hẻm, thung lũng Vầu đắng là loài điển hình cho nhóm mọc tản, có kích thước thân lớn của nước ta Kích thước cây trung bình: Thân cao 18m, đường kính 10cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1 cm, thân tươi nặng 28.5kg

Vầu đắng mọc tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá

Vũ Loan là một xã thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có diện tích 7.963,71

ha, địa hình khá phức tạp chủ yếu là đồi núi Với diện tích rừng tự nhiên là 7.487,61 ha chiếm 94% chủ yếu là rừng thứ sinh Hiện nay rừng vầu đắng cũng chỉ được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ về cấu trúc và giá trị môi trường chưa có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc sinh khối để làm cơ sở cho phát

Trang 12

triển và xác định giá trị đích thực của rừng vầu đắng đem lại để có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vầu đắng trong thời gian tới

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu

trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” được đặt ra là thật

sự cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Xác định được sinh khối cây cá thể và lâm phần rừng Vầu đắng tại xã

Vũ Loan, huyện, Na Rì, tỉnh Băc Kạn

Đề xuất được các giải pháp quản lý rừng nhằm nâng cao lượng các bon tích lũy trong rừng Vầu đắng tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về sinh khối của rừng Vầu đắng tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Là tài liệu học tập và những nghiên cứu tiếp theo là cơ sở cho những đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan

Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, biết vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu khoa học phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đưa ra các giải pháp quản lý bền vững, bảo vệ và phát triển rừng Vầu đắng

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành trong việc xác định cấu trúc sinh khối trong thực tiễn sản xuất rừng vầu đắng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương

có rừng Vầu đắng nói chung

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

Đó là hiệp định LHQ làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu Công ước LHQ về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội nghị thượng đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992 Để đưa công ước này vào hoạt động, tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto đã được đưa ra bàn về giới hạn khí gây hiệu ứng nhà kính, và hiện nay công ước này đang được cụ thể hoá

Nghị định thư Kyoto cho phép các nước phát triển đạt được mục tiêu/chỉ tiêu phát thải thông qua 3 cơ chế linh hoạt, gồm: Buôn bán lượng chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển với nhau; cùng tham gia thực hiện (chuyển nhượng các chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển, được kết nối với các dự án giảm phát thải cụ thể); cơ chế phát triển sạch: (CDM - Clean Development Mechanism) là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư Kyoto Một trong những nội dung của Nghị định thư Kyoto là đưa vào áp dụng các cơ chế gồm: “Cơ chế Đồng thực hiện (JI - Joint Implementation)”;

“Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism)”, và “Cơ chế thương mại phát thải (ET - Emissions trading)”(dẫn theo Phạm Xuân Hoàn (2005) [11]

Mục đích của CDM là giúp các bên không thuộc (các nước đang phát triển) đạt được sự phát triển bền vững và đóng góp vào mục tiêu của Công ước, đồng thời giúp các nước phát triển đạt được sự tuânthủ các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính Cơ chế CDM cho phép các nướcđang phát triển đạt được một phần mục tiêu giảm phát thải bắt buộc của họ thông qua các dự án

Trang 14

trồng rừng tại các nước đang phát triển, mà sẽ làm giảm lượng phát thải hoặc hấp thụ khí CO2 từ khí quyển

Đến năm 2004 đã có 16 dự án về cố định cacbon qua việc trồng mới và tái trồng rừng được thực hiện, trong đó châu Mỹ - Latinh có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004)[26]

Tại Mexico một dự án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn, dự án đã tập hợp trên 400 thành viên thuộc trên cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống nông-lâm kết hợp khác nhau Kết quả của dự án đã làm tăng lượng cacbon tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [11]

Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao cố định cacbon đang được thực hiện trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được

từ 0,4-0,6 Mt cacbon, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44 tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định được 8,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha) Tây Phi thông qua việc tăng cường khả năng cố định cacbon của tràng cỏ Savannah (FAO, 2004) [26]

Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng cố định cacbon biến động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado

ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador (FAO, 2004) [26]

2.1.2 Quá trình quang hợp ở thực vật

Quang hợp là quá trình biến đổi chất vô cơ thành chất hữu cơ cấu thực vật có diệp lục Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời Phương trình quang hợp của thực vật như sau: 6CO2 + 6H2O = C6H12O6 + 6O2 + Q Đây chính là

Trang 15

phương trình chứng minh khả năng hấp thụ khí CO2 của thực vật có chứa diệp lục

Quang hợp là quá trình mà cơ thể thực vật biến đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học dưới dạng hợp chất hữu cơ Bản chất của quá trình quang hợp là sự khử khí CO2 đến Hydratcacbon với sự tham gia của năng lượng ánh sáng mặt trời do sắc tố của thực vật hấp thu

Ý nghĩa cơ bản của quá trình quang hợp là lấy năng lượng tự do từ môi trường xung quanh rồi tích lũy nó dưới dạng các phân tử hữu cơ bền vững Vai trò có một không hai của quang hợp là làm cho CO2 (sản phẩm cuối cùng của sự phân giải các hợp chất hữu cơ) quay trở lại đi vào chu trình các chất trong tự nhiên tạo thành chất hữu cơ ban đầu Không có điều đó thì không tồn tại sự sống

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giơ ́ i

2.2.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc

Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W, Baur G (1976), Odum (1971), tiến hành Các nghiên cứu này đã đưa ra các quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành loài, dạng sống và tầng phiến của rừng Đây là những công trình nghiên cứu cơ sở rất quan trọng và hệ thống giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cấu trúc của rừng,

đặc biệt là về cấu trúc hình thái và ngoại mạo

Baur G (1976), đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó tác giả đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa [1]

Trang 16

Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng là phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973),…trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái

Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc ngoại mạo chủ yếu mô

tả rừng ở trạng thái tĩnh, trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng Nghiên cứu này đã chỉ rõ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng cũng cần tiến hành theo các giai đoạn khác nhau tùy theo sự biến đổi cấu trúc nội tại của rừng

Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả đã có

ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24

m, 24 - 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m Thực chất việc phân tầng này chỉ là phân chia rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi tầng cách nhau 6 m) Odum E P (1971) chưa thống nhất với ý kiến cho rằng có sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả

Li Yiqing (1929), đã nghiên cứu dự đoán động thái cấu trúc đường kính

loài Pinus yunnaensis trên những ô mẫu định vị và cho biết: Theo điều kiện

sinh trưởng của các cây cá thể được chia ra 4 loại như tăng trưởng đường kính

Trang 17

2 cm/năm, 1 cm/năm, đình trệ sinh trưởng và chết Hai chỉ số độ lệch đường kính bình quân và mật độ được sử dụng để mô hình hóa phân bố đường kính, tác giả cũng đã đưa ra mô hình phỏng theo phân bố đường kính của loài với đối tượng rừng tự nhiên [27].

Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/Di) là quy luật cấu trúc cơ bản và quan trọng nhất của lâm phần Đã có nhiều tác giả nghiên cứu mô tả quy luật này, có thể dẫn ra một số tác giả với các công trình nghiên cứu sau đây

Roemisch (1975) (theo Phạm Ngọc Giao), 1996) [8] đã nghiên cứu khả năng dùng hàm Gammar để mô phỏng sự biến đổi theo tuổi của phân bố đường kính cây rừng, xác lập quan hệ của tham số Beta với tuổi, đường kính trung bình, chiều cao tầng trội và đi đến khẳng định quan hệ giữa tham số Beta và chiều cao tầng trội là chặt chẽ nhất Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đó tác giả đã đề nghị mô hình xác định tham số Beta cho phân bố N/D của lâm phần sau khi tỉa thưa như sau:

2 6 5

2 4 3

2 2 1

Dm = a0 + a1.A + a2.A2; DM = a0 + a1.A+ a2.A2; N = ( 2)

1 0

A

a A

a a

e  

Giữa chiều cao và đường kính thân cây luôn có mối quan hệ chặt chẽ Đây là một trong những quy luật cấu trúc cơ bản và quan trọng Đã có nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích toán học để tìm ra các quy luật này như: Naslund, M (1929); Prodan, M (1944); Assmann, E (1936); Hohenadl, W (1936); Meyer, H.A (1952) Đã đề nghị các dạng phương trình sau:

Trang 18

H = a + b1.D + b2.D2; H = a + b1.D + b2.D2+ b3.D3

H = a + b.logD; H = a + b1.logD + b2.logD; H = k.Db

Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa chiều cao và đường kính ngang ngực, tác giả Vagui, A.B (1955) khẳng định “đường cong chiều cao thay đổi và luôn dịch chuyển lên phía trên khi tuổi tăng lên”, và Tiurin, A.V (1972) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan (1986), cũng đưa ra kết luận tương tự Prodan, M (1965); Haller, K.E (1973) cũng phát hiện ra quy luật:

“Độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên” Curis, R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao với đường kính và theo tuổi theo dạng phương trình:

LogH = D + b1

D

1 + b2

A

1 + b3

A D.

1

Ionikas (1980); Lebedinski (1972) đã sử dụng và đo tính thể tích tán lá cây sống để nghiên cứu năng suất rừng Qua nghiên cứu nhiều tác giả đã đi đến kết luận giữa đường kính tán và đường kính thân cây có mối quan hệ mật thiết như nghiên cứu của Zieger; Erich (1928), Comer, O.A.N; Tuỳ theo loài cây và các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện khác nhau nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:

DT = a + b.D1.3 Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Rollet B L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull

để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, [32]

2.2.1.2 Nghiên cứu về sinh khối

“Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc

số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng” Sinh khối là

Trang 19

một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại

Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái, trên cơ sở đó nhằm xác định, lượng hóa được khả năng hấp thụ CO2 tại các trạng thái rừng đó Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ sinh khối rừng không dễ dàng, đặc biệt là sinh khối của hệ rễ, trong đất rừng, nên việc làm sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều

nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tiễn và có sức thuyết phục cao Hệ thống lại có 3 cách tiếp cận để xác định sinh khối rừng như sau:

Tiếp cận thứ hai để xác định sinh khối rừng là đo trực tiếp quá trình sinh lý điều khiển cân bằng Carbon trong hệ sinh thái Cách này bao gồm việc

đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái rừng (lá, cành, thân, rễ), sau đó suy ra lượng CO2 tích luỹ trong toàn bộ hệ sinh thái (Woodwell và Botkin, 1970) [36]

Tiếp cận thứ ba được phát triển trong những năm gần đây với sự hỗ trợ của kỹ thuật vi khí tượng học (micrometeological techniques) Phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy đã cho phép định lượng sự thay đổi của lượng CO2 theo mặt phẳng đứng của tán rừng Căn cứ vào tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ, số liệu CO2 theo mặt phẳng đứng sẽ được sử dụng để dự đoán lượng Carbon đi vào và đi ra khỏi hệ sinh thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng ngày, từng năm Kỹ thuật này đã áp dụng thành công ở rừng thứ sinh Harward

- Massachusetts Tổng lượng Carbon tích luỹ dự đoán theo phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy là 3,7 megagram/ha/năm Tổng lượng Carbon

Trang 20

hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái vào ban đêm là 7,4 megagram/ha/năm, điều đó nói lên rằng tổng lượng Carbon đi vào hệ sinh thái là 11,1 megagram/ha/năm (Wofsy và cs, 1993) [35]

Lieth (1964) [28] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất,đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP” (1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh

mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh

Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng thế giới”, cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất Tác phẩm đã tổng hợp 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô, thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới

Theo Canell (1981)mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện tích bề mặt trái đất, nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so với tổng sinh khối thực vật trên cạn và lượng tăng trưởng sinh khối hàng năm chiếm 37% [25]

2.2.1.3 Đặc trưng về phân bố và sinh thái của tre trúc

Có nhiều nghiên cứu về phân bố và sinh thái của tre trúc Các nghiên cứu tập trung tới nhân tố khí hậu, vĩ độ, địa hình, đất đai và xác định được vùng phân bố của tre trúc trên thế giới, với trung tâm phân bố tập trung vào dải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc,

Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ Tuy nhiên không thấy đề cập có sự phân bố của chi vầu (indosasa) ở Việt Nam

Đặc trưng sinh thái của một số loài tre mọc cụm đã được một số tác giả

đề cập như ưa ấm, thích hợp nơi trồng đất dày, nhiều mùn hay một số loài khác chi phân bố ở vùng núi cao ưa khí hậu ẩm mát quanh năm

Trang 21

Đặc trưng sinh thái của loài Trúc núi đá (Drepanostachyum luodianense) đã được nghiên cứu ở mức độ các tiểu sinh cảnh: Mặt đất, mặt

đá, rãnh đá, kẽ đá, hốc đá, mức độ quần thể, quần xã nơi có loài này phân bố

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở mỗi kiểu tiểu sinh cảnh khác nhau đã

có những đặc trưng sinh thái khác nhau và ảnh hưởng tới kết cấu hình thái và sinh trưởng của loài

Kết quả nghiên cứu về quần thể loài của tác giả đã đưa ra một số đặc trưng thích ứng như: Ở rừng Trúc núi đá tự nhiên khi tỉ số ra măng nhiều thì

số măng bị thoái hóa và chết sẽ cao dẫn tới tỉ lệ mọc thành cây thấp Tác giá

đã giải thích nguyên nhân của sự thoái hóa trên chính là do không gian dinh dưỡng không đủ Trong rừng tự nhiên, tuổi quẩn thể có kết cấu tăng trưởng tăng lên nhưng theo xu thế ổn định

Liu Jiming cũng đã nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của quần xã như: thành phần loài cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi,kết cấu tầng thứ, chỉ số đa dạng sinh học và nhận định môi trường từng khu vực có ảnh hưởng

rõ rệt đến quần xã

2.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước

2.2.2.1.Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [13] thì cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi

Nghiên cứu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta, Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Nguyễn Tuấn Dũng 2005) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng thứ như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên

Trang 22

cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi thảm tươi được phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó tác giả này còn dựa vào tiêu chuẩn để phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể [29]

Trần Văn Con (1991) đã tiến hành nghiên cứu khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng khộp Tây Nguyên Tác giả đã đi đến mốt số kết luận: Hệ sinh thái rừng khộp có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học dưới dạng các mô hình lý thuyết, có thể ứng dụng các mô hình này để mô phỏng định lượng các đặc trưng cấu trúc của quần thụ rừng khộp; cấu trúc tổ thành rừng khộp có thể mô phỏng bằng hàm h = H’(1- exp(-ks)) của Stocker và Bergmann (1977), từ đó tác giả đã chia ra 16 kiểu ưu hợp thường gặp ở rừng khộp; cấu trúc N/D của rừng khộp tuân theo luật phân bố Weibull [3]

Việc mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) đã sử dụng hàm phân bố giảm phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trìnhPoisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng [22]

Trần Văn Con (1990) đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đắk Lắk; Phùng Ngọc Lan (1986) đã nghiên cứu

Trang 23

cấu trúc rừng phòng hộ ở đầu nguồn lâm trường Sông Đà ở trạng thái rừng IIA1, IIIA1 và rừng trồng làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng [13]

Nguyễn Văn Trương (1973 - 1986) đã nghiên cứu về phương pháp thống kê cây đứng, cấu trúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loài và đề xuất các mô hình cấu trúc mẫu định lượng bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng rừng Theo tác giả đây là những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại [20]

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài

2.2.2.2 Nghiên cứu về sinh khối

Ở Việt Nam, mặc dù là người đi sau trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh khối

và khả năng tích lũy carbon nhưng chúng ta đã có những thành công nhất định Với quan điểm kế thừa có chọn lọc các phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước chúng ta đã vận dụng linh hoạt những phương pháp nghiên cứu đó vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam Một số nghiên cứu điển hình gồm:

Sử dụng phương pháp “cây mẫu” của Newboul D.J (1967), Hà Văn Tuế

(1994) đã nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc Lê Hồng Phúc (1996), khi Đánh giá

sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus

keysia Royle ex Gordon) vùng Đà Lạt - Lâm Đồng đã tìm ra quy luật tăng

Trang 24

trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây, tỷ lệ sinh khối tươi/khô của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông ba lá [15]

Vũ Văn Thông (1998) đã nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá thể

và lâm phần Keo lá tràm (Acacia auriculiformis Cunn) tại tỉnh Thái Nguyên

thông qua viêc lập các bảng tra sinh khối tạm thời phục vụ cho công tác điều tra kinh doanh rừng [18]

Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/ năm, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm tương đương 15 tấn CO2/ha/năm [24]

Kết quả nghiên cứu Nguyễn Tuấn Dũng (2005), khi tiến hành nghiên cứu sinh khối lâm phần Thông mã vĩ và lâm phần Keo lá tràm trồng thuần loài tại Hà Tây đã cho thấy: Thông mã vĩ ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2 - 223,4 tấn/ha [4]

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường

Vân (2004) đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối (Biomass)

để tính toán sinh khối cho một số loại rừng [14]

Nguyễn Duy Kiên (2007), khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng trồng

Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối tươi

trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5% [12]

Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng

cố định carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần

thân, cành, lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%;

Trang 25

tổng sinh khối tươi của một ha rừng trồng mỡ dao động trong khoảng từ 53,4

- 309 tấn/ha, trong đó: 86% là sinh khối tầng cây g ỗ, 6% là sinh khối cây bụi thảm tươi và 8% là sinh khối của vật rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [16]

Võ Đại Hải và các cộng sự (2009) khi nghiên cứu về sinh khối 4 loại rừng trồng cho kết quả: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5 - 30 tuổi sinh khối từ 21,12 - 315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5 - 45 tuổi có sinh khối từ 20,79 - 174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1 - 7 tuổi có sinh khối từ 4,09 -138,13 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ 5,67

- 117,92 tấn/ha; rừng trồng Mỡ từ 6-18 tuổi có sinh khối từ 35,08 - 110,44 tấn/ha; rừng trồng Keo lá tràm từ 2 - 12 tuổi có sinh khối từ 7,29 - 113,56 tấn/ha Bên cạnh đó tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh khối với các nhân tố điều tra lâm phần: đường kính D1.3, Hvn, N/ha, tuổi lâm phần, mối quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất

và dưới mặt đất theo các cấp đất [10]

2.2.3 Nghiên cứu về cây Vầu đắng

Sau đây là một số nghiên cứu cụ thể về cây Vầu đắng:

* Phân loại:

Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) Vầu đắng có tên khoa

học là Indosasa sinica C.D Chu & C.S Chao thuộc họ Hòa Thảo Poace Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu đắng Indosasa

Vũ Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi

với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là Indosasa

angustata McClure (2001) [5]

* Đặc điểm hình thái:

Vầu đắng là loài Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong đất, đường kính

1 - 3 cm Thân khí sinh cao 17 - 20m, đường kính 10 - 12cm; cây to nhất có thể tới 20 cm; thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau

Trang 26

rụng đi; thân già màu lục xám Chiều dài lóng giữa thân 30 - 50cm, dài nhất đến 80cm, vòng thân hơi nổi lên, nhất là những lóng giữa thân trở lên; vòng

mo không có lông Cây phân cành muộn, phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt không nổi rõ Phần thân tre có cành, thường có vết lõm dọc lóng, đốt phình to, gờ nổi cao Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1 Bẹ mo sớm rụng, hình thang dài và hẹp, lúc non màu lục hồng sau khi khô màu nâu nhạt, lưng có nhiều sọc dọc, giữa các sọc có lông cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo không phát triển, thay vào đó là 4 - 6 lông mi dài 7 - 15cm, đứng thẳng; lưỡi mo nhỏ, cao 2 - 5 mm, đầu có lông mảnh; phiến mo hình lưỡi mác, màu đỏ tím nhạt, ở giữa màu lục, dài 7 - 15cm, lật ra ngòai, đáy phiến

mo hẹp so với đỉnh bẹ mo Lá 3 - 6 trên cành nhỏ; hình mác dạng dải, dài 11 - 28cm, rộng 1 - 5 cm, gân cấp hai 3 - 7 đôi; bẹ lá không lông, mép đôi khi có lông mảnh, tai lá thường không phát triển Cụm hoa mọc trên cành không lá, mỗi đốt mang 1 hoặc nhiều bông nhỏ Mỗi bông nhỏ mang 8 - 12 hoa Hoa có

3 mày cực nhỏ trong suốt, 6 nhị, đầu nhụy xẻ 3 hình lông chim.Quả dĩnh, hình trứng trái xoan, màu nâu

* Đặc tính sinh thái:

Theo Ngô Quang Đê (1994) (chỉ dẫn Vũ Tấn Phương 2006) Vầu đắng có

độ chịu bóng lớn, độ tán che trung bình của rừng vầu ổn định tới 0,8-0,9, nơi rừng thưa nhiều ánh sáng, sinh trưởng của Vầu đắng hạn chế Tác giả cũng đã đưa ra một số thông tin khác như vùng có Vầu đắng, phân bố nhiệt độ bình quân

từ 22-23,5°C, lượng mưa 1600-1700mm/năm trở lên, độ ẩm không khí trung bình 85-95%, độ cao phân bố 50m-120m so với mặt nước biển, vầu mọc trên các loại đất có đá mẹ là phiến thạch, phiến philit, phiến mica, thành phần cơ giới

trung bình nhưng đất ẩm [6]

Theo Trần Xuân Thiệp (1994) Vầu đắng ưa đất hình thành từ các loại đá phiến, phong hóa tương đối kém; thành phần cơ giới là các loại đất thịt có đá lẫn; tầng đất thường sâu 50 - 80cm, có màu vàng, pH (Kcl) từ 3,2 - 4,6; C/N 8,3 -

Trang 27

9,9; mùn tổng số (%) 0,7 - 4,4; đạm tổng số 0,08 -0,32 (theo Ngô Quang Đê, 2003) [7].

Vầu đắng có thể mọc hỗn giao hoặc thuần loài, những loài cây gỗ lớn thường mọc hỗn giao với Vầu đắng thường thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re (Laureceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae)

* Kỹ thuật gây trồng và khai thác:

Theo Ngô Quang Đê (2003) (chỉ dẫnNguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân 2004)có thể trồng Vầu đắng bằng gốc thân khí sinh có mang thân ngầm hoặc bằng một đoạn thân ngầm, trồng vào cuối đông, đầu xuân (vào trước mùa măng), khi trồng chú ý đặt cây hoặc gốc cây thẳng đứng, không được uốn cong hoặc lệch với hướng của thân ngầm; hố đào sâu 40 -50 cm, bón lót bằng phân chuồng hoai, khi trồng cần nệm chặt đất, trồng xong ủ rác để giữ

ẩm, tưới nước 2-3 lần [7]

Trang 28

Về kỹ thuật khai thác, tác giả Ngô Quang Đê nhận định: Ở những rừng vầu mới trồng, tuyệt đối không được thả trâu, bò, thường xuyên chú ý phát quang, xới đất Nơi vầu ra hoa thì cần khai thác ngay cây có hoa và những cây xung quanh Sau đó đào bới, loại bỏ thân ngầm rồi bón phân chuồng để giúp cây phát triển tốt Nếu khai thác không hợp lý sẽ làm cho rừng vầu bị thoái hoá, mật

độ tăng lên nhưng cây nhỏ dần, chỉ nên khai thác cây tuổi 5-6; chu kỳ chặt có thể 2-3 năm một lần; tỉ lệ cây ở các tổ tuổi có thể giữ lại là: 1 tuổi 20-30%, 2-3 tuổi 30-40%, 4-5 tuổi 30-40% Đối với rừng vầu đã thoái hoá (Vầu đinh), có thể cải tạo bằng cách trồng cây gỗ lá rộng theo băng hoặc theo đám trong rừng vầu, trước khi trồng cần chặt bỏ và đào gốc cây vầu theo đám, loài cây trồng có thể chọn Lim xanh, Ràng ràng, Mán đỉa…; cũng có thể chặt trắng, sau đó đào bỏ hết thân ngầm, trồng lại vầu xen cây lá rộng (Ngô Quang Đê, 2003) [7]

2.2.4 Nhận xét chung

Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái đã được nhiều tác giả đề cập trên quan điểm nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa rừng và môi trường, giữa các sinh vật rừng với nhau, khẳng định rằng các nhân tố sinh thái đều quan

hệ với nhau

Loài Vầu đắng có phân bố ở nhiều tỉnh thuộc vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc, đây là loài cây đa tác dụng và gắn với đời sống của nhiều người dân vùng cao, nhưng hiện nay chưa có những nghiên cứu sâu nào về cấu trúc lâm phần, đặc tính sinh vật học, sinh thái học của loài, từ đó làm cơ sở đánh giá tầm quan trọng của rừng Vầu đắng đối với khả năng kinh doanh cũng như hấp thu CO2

Vì vậy, những vấn đề tồn tại yêu cầu được giải quyết như sau: Về nghiên cứu cấu trúc lâm phần: Hiện nay còn thiếu nghiên cứu mang tính hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Vầu đắng làm cơ sở cho

đề xuất biện pháp kỹ thuật phù hợp

Trang 29

Bên cạnh đó, điểm qua các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan tới đề tài nghiên cứu cho thấy các công trình nghiên cứu trên thế giới được tiến hành khá đồng bộ ở nhiều lĩnh vực từ nghiên cứu cơ bản tới các nghiên cứu ứng dụng, trong số nghiên cứu sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng được nhiều tác giả quan tâm trong nhiều năm gần đây Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tập trung cho cây Vầu đắng hoặc họ tre trúc

về cấu trúc lâm phần cho các lâm phần này là còn rất ít và thiếu tính hệ thống

2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.4.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên

Xã Vũ Loan là một xã miền núi thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có diện tích tự nhiên 7.963,71 ha, gồm 15 thôn bản

Phía Đông giáp: Xã Cao Minh và xã Tân Yên

Phía Tây giáp: Xã Lạng San và xã Thượng Quan

Phía Nam giáp: Xã Cường Lợi, xã Văn Học, xã Lạng San

Phía Bắc giáp: Xã Thượng Quan và xã Cao Minh (Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn)

Vũ Loan có tuyến đường liên xã nối đến quốc lộ 3B đoạn đi qua địa

Trang 30

2.4.2 Các nguồn tài nguyên

2.4.2.1 Tài nguyên đất

Xã Vũ Loan có 7963,71 ha đất tự nhiên trong đó đất lâm nghiệp có 6616,91 ha, đất nông nghiệp có 318,85 ha chiếm 4%; đất phi nông nghiệp chiếm 1% và còn lại là diện tích đất chưa sử dụng

2.4.2.2 Tài nguyên nước

Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và suối nhiều nên nguồn nước mặt ở xã Vũ Loan khá phong phú, nguồn nước ngầm của xã cũng khá dồi dào

Thuận lợi cho tưới tiêu nông lâm nghiệp

2.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.4.3.1 Tình hình dân sinh

Xã Vũ Loan có 430 hộ gồm 3 dân tộc: Tày, Dao, Mông Trong đó có 7 thôn bản đồng bào Mông, Dao chiếm 46% Dân số chiếm tỷ lệ đông nhất là dân tộc Tày chiếm 54% Dân số 1.710 nhân khẩu thu nhập bình quân đầu người trong năm là 7 triệu người/năm Số hộ nghèo năm 2016 là: 242 hộ,cân nghèo là: 51 hộ Tổng số hộ gia đình là 412 hộ, số hộ còn trẻ em trong độ tuổi ( từ 0 - 6 tuổi) là: 155 hộ.Số hộ có trẻ em trong độ tuổi phổ cập (5 tuổi) được

Trang 31

điều tra là:42 hộ Số hộ không có trẻ trong độ tuổi phổ cập (5 tuổi) là 257 hộ Trên địa bàn xã có 15 thôn bản gồm: Thôm Eng, Nặm Slặc, Khuổi Phầy, Pác Thôm, Khuổi Tàn, Chang Ngòa, Nà Deng, Nà Chia, Thôm Khon, Khuổi Vạc, Thôm Khinh, Pò Duốc, Đăng, Khuổi Mụ, Nà Quáng

Xã Vũ Loan có khu chợ là nơi trung tâm dao thương buôn bán của người dân khá đông đúc vào mối phiên chợ

Đời sống nhân dân trong xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, buôn bán nhỏ lẻ nên mức thu nhập của người dân còn thấp và chưa

ổn định Diện tích ruộng nhỏ hẹp, phân tán nên sản xuất nông nghiệp đặc biệt

là trồng trọt gặp nhiều khó khăn Người dân vẫn chủ yếu sản xuất theo tập quán tự cung tự cấp

2.4.3.2 Tình hình văn hóa - xã hội

Văn hóa:

Trong những năm gần đây công tác văn hóa thong tin tuyên truyền của

xã Vũ Loan được quan tâm rõ rệt Xã đã tổ chức các buổi hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tinh thần cho người dân đặc biệt là bộ môn bóng chuyền người dân rất thích Tổ chức các buổi dao lưu văn nghệ mời các đoàn nghệ thuật về biểu diễn phục vụ đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân

Cùng với những nỗ lực trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội xây dựng nông thôn mới, chính quyền xã Vũ Loan cũng chú trọng tới công tác đảm bảo an ninh xã hội trên địa bàn xã, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, công tác xã hội xã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác thăm hỏi, tặng quà cho các hộ gia đình chính sách, trợ cấp cho hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, cho vay lãi suất thấp để người dân

có vốn phát triển kinh tế cải thiện đời sống

Trang 32

Về giáo dục:

Sự nghiệp giáo dục phổ thông có nhiều chuyển biến tích cực xã có 3 trường học ở cả 3 cấp: mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Cơ sở vật chất được trú trọng trường lớp được cũng cố, số giáo viên dạy giỏi và học sinh giỏi ngày càng tăng Năm học 2015 - 2016 cả 3 cấp học đã thực hiện tốt công tác dạy và học, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, công tác chuẩn bị các điều kiện cho khai giảng năm học mới được cả 3 trường tổ chức thành công, tiếp tục thực hiện và phát huy tốt công tác dạy và học, duy trì phổ cập giáo dục 3 độ tuổi Hiện nay trường tiếp tục chỉ đạo xây dựng trường xanh, sạch, đẹp, chất lượng giáo dục trung học tường bước tăng lên

định kỳ cho người nghèo và làm tốt công tác y tế trường học

Trang 33

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các lâm phần rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

Địa điểm: Xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Thời gian:Thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 06/2017

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Giơ ́ i hạn về đi ̣a điểm : Nghiên cứu được thực h iê ̣n trên đi ̣a bàn thôn

Thôm Eng , xã Vũ Loan , huyện Na Rì , tỉnh Bắc Kạn Đây là thôn có nhiều rừng Vầu đắng thuần loài

Giơ ́ i hạn về nội dung:

Nghiên cứ u đă ̣c điểm cấu trúc rừng Vầu đắng : Đề tài tâ ̣p trung nghiên cứu mô ̣t số quy luâ ̣t liên quan đến sinh trưởng của rừng Vầu đắng như : Quy luâ ̣t phân bố N/D1,3 và N/Hvn

Nghiên cứu rừng Vầu đắng thuần loài theo 3 cấp tuổi tại thời điểm điều tra với những cây có đường kính D1.3 ≥ 5cm, không nghiên cứu sinh khối của những cây Vầu đắng là măng mầm.

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra những nội dung nghiên cứu cơ bản sau:

- Đánh giá thực trạng phân bố của rừng Vầu đắng trên các dạng lập địa

chủ yếu tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng tại xã Vũ Loan, huyện

Na Rì,tỉnh Bắc Kạn (quy luật phân bố N/D1,3, N/Hvn)

Trang 34

- Nghiên cứu sinh khối rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện

Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững trong

rừngVầu đắng

3.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài

Vầu đắng là loài tre trúc mọc tản, khác với các loài cây thân gỗ trong lâm phần Vầu đắng cùng lúc tồn tại nhiều tuổi khác nhau từ tuổi non cho tới tuổi già Do thời gian tồn tại cũng như cấu tạo cơ lý của cây Vầu ở các tuổi khác nhau là có sự khác biệt Tuy nhiên, việc xác định từng tuổi cho cây Vầu đắng là khá khó khăn vì Vầu đắng không hình thành vòng năm như các loài cây thân gỗ cũng không thể sử dụng lịch sử rừng trồng để xác định tuổi cho các cá thể trong lâm phần Vì vậy, đề tài đã phân cấp cấp tuổi vầu đắng 2 năm

1 cấp tuổi và chia làm 3 cấp tuổi: Cấp tuổi 1: 1-2 tuổi; cấp tuổi 2: 3 - 4 tuổi; cấp tuổi 3: trên 4 tuổi Việc xác định cấp tuổi cho Vầu đắng được kết hợp giữa yếu tố kinh nghiệm của người dân và kiến thức chuyên môn của các chuyên gia

Do lâm phần rừng Vầu đắng tồn tại nhiều cấp tuổi khác nhau và các cây thuộc các cấp tuổi tồn tại đan xen trong lâm phần và số lượng cây ở từng cấp tuổi là khác nhau Do vậy, để tăng đô ̣ chính xác khi xác đi ̣nh sinh khối của rừng Vầu đắng, đề tài sẽ căn cứ vào quy luâ ̣t phân bố số cây theo cấp tuổi để tính toán

Việc xác định sinh khối cũng như phân định đoạn thân ngầm nào là thuộc cây khí sinh nào là điều rất khó khăn do vấn đề xác định chính xác tuổi cũng như hướng phát triển của thân ngầm là rất phức tạp Xuất phát từ thực tế

đó, đề tài sử dụng quan điểm "Cây kế cận" và "Mối quan hệ gần gũi" để tiến

hành xác định sinh khối phần thân ngầm cho cây tiêu chuẩn được chặt hạ Điều này có nghĩa là, bất cứ một cây Vầu đắng nào cũng có mối quan hệ gần gũi nhất với 1 hoặc 2 cây Vầu đắng được mọc kế cận nó trên cùng một đoạn

Trang 35

thân ngầm Do vậy, đề tài coi 1/2 của đoạn thân ngầm nối giữa 2 cây kế tiếp nhau là phần thân ngầm của cây tiêu chuẩn đang tiến hành nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Để thực hiê ̣n công trình nghiên cứu , đề tài sẽ kế thừa các số liệu , tài liê ̣u, công trình nghiên cứu về:

Kế thừa các tài liệu, kết quả nghiên cứu đã có về đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm biến đổi hình thái theo cấp tuổi, có liên quan tới loài Vầu đắng

Các tài liệu , công trình nghiên cứu có liên quan tới phương pháp xác

đi ̣nh sinh khối của rừng, đă ̣c biê ̣t là đối với các loa ̣i rừng tre trúc ở cả trên thế giới và Viê ̣t Nam

Kế thừ a các số liê ̣u , tài liệu về diện tích rừng Vầu đắng , bản đồ phân bố rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Các tài liệu, thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu,

3.4.2.2 Phương pháp lập OTC

a Phương pháp bố trí thí nghiệm

Khảo sát sơ bộ trạng thái rừng Vầu đắng tại các khu vực nghiên cứu Tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, lựa chọn ra thôn có vầu đắng tập trung nhiều nhất để điều tra Cụ thể đề tài lựa chọn ra 01 thôn có diện tích rừng Vầu đắng tập trung nhiều nhất để tiến hành lập OTC ngẫu nhiên điển hình diện tích 500m2 Tại mỗi xã lập 9 OTC tương ứng với 3 cấp mật độ:

Cấp I (mật đô ̣ thưa): Số cây dưới 3.000 cây/ha

Cấp II (mật đô ̣ trung bình): Số cây từ 3.000 đến 5.000 cây/ha

Cấp III (mật đô ̣ cao): Số cây trên 5.000 cây/ha

Trong mỗi OTC tiến hành điều tra cây Vầu đắng theo 3 cấp tuổi sau: Cấp tuổi I: Cây non (1-2 tuổi)

Cấp tuổi II: Cây bánh tẻ (3-4 tuổi)

Cấp tuổi III: Cây già (trên 4 tuổi)

Trang 36

Lập 5 ô thứ cấp (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa OTC) diện tích 25 m2

(5 x 5 m) để điều tra cây bụi thảm tươi và lập 5 ô dạng bản diện tích 1 m2

(1m x 1m) để điều tra vật rơi rụng

Tổng số ÔTC cần lập là: 9 OTC/xã x 1 xã = 9 OTC

Tổng số ô dạng bản: 9 OTCx 5 ô dạng bản/OTC = 45 ô dạng bản

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí OTC, ô thứ cấp, ô dạng bản

b Phương pháp thu thập số liệu

Trong các OTC, đo đếm toàn bộ các chỉ tiêu D1,3, Hvn của từng cây như sau:

- Xác định tổng số cây/OTC

- Xác định đường kính ở vị trí 1.3m - D1.3 (m) bằng thướ c dây để đo chu vi

- Xác định chiều cao vút ngọn - Hvn (m) bằng thướ c sào

- Xác định tuổi các cây trong OTC

* Phương pháp xác định sinh khối cây cá lẻ

Khi đo đếm chiều cao và đường kính ngang ngực của cây hoàn thiện,

việc đo đếm sinh khối tươi cây cá lẻ được thực hiện theo các bước sau:

5 m

5 m

25 m

20m

Trang 37

Phân loại và ghép nhóm đường kính theo các cấp tuổi, khoảng cách giữa các cấp kính là 1 cm Chọn ngẫu nhiên cây tiêu chuẩn Vầu đắng trong mỗi cấp tuổi có cấp kính trung bình đại diện cho các cây đo đếm trong ô tiêu chuẩn để chặt hạ Tổng số cây vầu tiêu chuẩn chặt ngả tại mỗi OTC là 3 cây

và số lượng cây vầu tiêu chuẩn để chặt hạ phải được phân bổ đều cho từng

cấp tuổi cây Lựa chọn cây tiêu chuẩn cho chặt ngả theo các nguyên tắc sau:

Số cây tiêu chuẩn chặt hạ nên đại diện về cấp tuổi và cấp kính Có 3 cấp tuổi được đề xuất cho rừng vầu, bao gồm: i) Cây non (1-2 tuổi); ii) Cây bánh tẻ (3-4 tuổi); và iii) Cây già (trên 4 tuổi)

Tổng số cây chặt hạ là: 3 cây/OTC x 9 OTC = 27 cây

Sau khi lựa chọn cây vầu tiêu chuẩn cho mỗi cấp kính và cấp tuổi, sử dụng cưa tay để cắt hạ cây đo đếm; Sau khi chặt hạ cây tiêu chuẩn, đo chính xác đường kính và chiều dài cây (chiều dài men thân), tách các bộ phận: Thân, cành nhánh và lá cây, sử dụng cân để cân ngay trọng lượng của thân, cành nhánh, lá cây và thân ngầm

Ghi chép cẩn thận tất cả thông tin về đo đếm sinh khối cây cá lẻ bằng phương

pháp chặt hạ vào phiếu điều tra hiện trường nêu tại mẫu biểu

* Lấy mẫu cho phân tích sinh khối khô

Mẫu để phân sinh khối khô nên được lấy ngay lập tức sau khi hoàn thành đo đếm trọng lượng tươi mỗi bộ phận của cây (thân, cành, lá) Tổng số mẫu để phân tích sinh khối khô là 04 mẫu cho một cây cá lẻ, bao gồm: 01 mẫu thân chính, 01 mẫu thân ngầm, 01 mẫu cho cành nhánh và 01 mẫu cho

lá Lấy mẫu nên thực hiện theo các bước như sau:

Đánh dấu vị trí lấy mẫu trên thân của thân cây vầu Vị trí để lấy mẫu là tại gốc cây (0.0 m), giữa ( ½ ); và ngọn (3/4 ) chiều dài thân và thân ngầm

Lấy mẫu: 01 mẫu thân, 01 mẫu cho cành nhánh, 01 mẫu lá và 01 mẫu thân ngầm Trọng lượng của mẫu thân và mẫu cành là từ 0,3 - 0,5 kg/mẫu và mẫu lá từ 0,3 - 0,5 kg/mẫu

Trang 38

Với mẫu thân, tại các vị trí lấy mẫu cần lấy cả một gióng Nếu cây to, thì chẻ dọc theo gióng để lấy 1/2 của gióng

Dùng bút viết trên nilon để nhãn mác cho mẫu nhằm nhận dạng mẫu tại phòng thí nghiệm Nhãn mác cần thể hiện các thông tin sau: i) Mã ô tiêu chuẩn; ii) Tên loài cây; iii) đường kính (D); iv) tên mẫu (thân, cành, lá); v) cấp tuổi

Lấy mẫu từng bộ phận đem sấy khô ở nhiệt độ 105C đến khối lượng không đổi, rồi đem cân thu được kết quả sinh khối khô tương ứng với từng phần tại Phòng thí nghiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

* Phương pháp thu thập sinh khối tầng cây bụi, cây tái sinh, thảm tươi trong 1 ô thứ cấp:

Trên các ô thứ cấp, cắt toàn bộ cây bụi, thảm tươi phía trên mặt đất, phân thành các bộ phận: Thân, cành, lá Sau đó, cân từng bộ phận ngay tại hiện trường thu được kết quả sinh khối tươi Lấy mẫu mỗi loại 0,3 kg/ô thứ cấp và đem sấy khô, rồi cân, kết quả được sinh khối khô từng bộ phận của cây bụi thảm tươi trong lâm phần Số liệu thu thập được ghi vào mẫu biểu 2.3 phụ lục 1

* Phương pháp thu thập sinh khối thảm mục:

Đối với các ô dạng bản diện tích 1m2

trong từng ÔTC, thu gom toàn bộ vật thảm mục (cành, lá, hoa, quả, ) trên 1 ô dạng bản, phân thành các bộ phận: Thân/cành; lá/hoa/quả Sau đó, cân từng bộ phận ngay tại hiện trường thu được kết quả sinh khối tươi vật thảm mục Sau đó lấy mẫu mỗi loại 0,3 kg/ODB đem sấy khô, sau đó cân thu được kết quả sinh khối khô từng bộ phận của vật thảm muc Số liệu thu thập được ghi vào mẫu biểu

3.4.2.3 Phương pháp nội nghiệp

Số liệu điều tra, đo đếm trong quá trình thực hiện đề tài được sử dụng theo phương pháp phân tích thống kê trên phần mềm Excel

Trang 39

a Phương pháp tính toán sinh khối

* Sinh khối khô các bộ phận cây cá thể (thân, cành, lá, rễ):

Pki =

i

ti ki m

P

m

(kg/cây) (2.1) Trong đó: Pki: sinh khối khô bộ phận i cây cá thể (thân, cành, lá, rễ)

mki: khối lượng mẫu khô của bộ phận i sau khi sấy ở 1050

C (kg)

Pti: sinh khối tươi bộ phận i của cây cá thể (kg)

mi: khối lượng mẫu tươi bộ phận i của cây cá thể (kg)

+ Tính sinh khối khô, tươi cây tiêu chuẩn (tính cho từng cây):

Pi-cây tc = Pi-T + Pi-C + Pi-L + Pi-R (kg) (2.2)

Trong đó: Pi-T: sinh khối tươi hoặc sinh khối khô của thân cây (kg)

Pi-C: sinh khối tươi hoặc sinh khối khô của cành cây (kg)

Pi-L: sinh khối tươi hoặc sinh khối khô của lá cây (kg)

Pi- R: sinh khối tươi hoặc sinh khối khô của rễ cây (kg)

+ Xác định sinh khối cây tiêu chuẩn trung bình cho 1 cấp tuổi:

n

n cây tc Pi ) Pi(cây tc2 )

Pi(cây tc1   (kg) (2.3)

Trong đó: Pi(cây tc): sinh khối tươi hoặc sinh khối khô của cây tiêu chuẩn thứ i trong 1 cấp tuổi (kg/cây)

b Xác định sinh khối rư ̀ ng Vầu đắng:

- Xác định sinh khối khô, tươi tầng cây cao trong OTC theo cấp tuổi:

POTC = n1xP1 + n2xP2 + n3xP3 (tấn/OTC) (2.4) Trong đó: + POTC là sinh khối tươi , khô rừ ng Vầu đắng trong OTC 1.000m2

+ n1, , n3 là mật độ cây trong từng cấp tuổi của OTC

+ P1, , P3 là sinh khối tươi , khô của cây tiêu chuẩn trung bình theo từng cấp tuổi

Ngày đăng: 24/08/2018, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baur. G (1976), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur. G
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
4. Nguyễn Tuấn Dũng (2005), Nghiên cứu sinh khối và lượng carbon tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp, Kết quả nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối và lượng carbon tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt trường Đại học Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tuấn Dũng
Năm: 2005
5. Vũ Dũng và Lê Viết Lâm (2004), Tình hình và phương hướng nghiên cứu sản xuất, chế biến, tre trúc ở Việt Nam, Hội thảo về tre trúc tại trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản Viện Khoa học lâm nghiệp T4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và phương hướng nghiên cứu sản xuất, chế biến, tre trúc ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Dũng và Lê Viết Lâm
Năm: 2004
9. Trần Ngọc Hải (2012), Nghiên cứu đặc tính sinh thái loài Vầu đắng (Indosasa anggustata Mc.Clure) làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật gây trồng và kinh doanh rừng Vầu đắng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc tính sinh thái loài Vầu đắng (Indosasa anggustata Mc.Clure) làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật gây trồng và kinh doanh rừng Vầu đắng
Tác giả: Trần Ngọc Hải
Năm: 2012
10. Hải Võ Đại Hải và cs (2009), “Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon và giá trị thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam”, Báo cáo tổng kết đề tài Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon và giá trị thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Hải Võ Đại Hải và cs
Năm: 2009
12. Nguyễn Duy Kiên (2007), Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang, Luận án thạc sĩ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Duy Kiên
Năm: 2007
14. Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (2004), “Thử nghiệm tính toán giá trị bằng tiền của rừng trồng trong cơ chế phát triển sạch”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm tính toán giá trị bằng tiền của rừng trồng trong cơ chế phát triển sạch”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân
Năm: 2004
15. Lê Hồng Phúc (1996), Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, năng suất rừng trồng Thông ba lá (Pinus keysiya Royle ex Gordon) vùng Đà Lạt, Lâm Đồng, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, năng suất rừng trồng Thông ba lá (Pinus keysiya "Royle ex Gordon") vùng Đà Lạt, Lâm Đồng
Tác giả: Lê Hồng Phúc
Năm: 1996
16. Lý Thu Quỳnh (2007), Nghiên cứu sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ, Luận án thạc sĩ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng mỡ (Manglietia conifera "Dandy") trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ
Tác giả: Lý Thu Quỳnh
Năm: 2007
18. Vũ Văn Thông (1998), Nghiên cứu sinh khối rừng Keo lá tràm phục vụ công tác kinh doanh rừng, Luận án thạc sĩ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh khối rừng Keo lá tràm phục vụ công tác kinh doanh rừng
Tác giả: Vũ Văn Thông
Năm: 1998
19. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
22. Nguyễn Hải Tuất (1986), “Phân bố khoảng cách và ứng dụng của nó”, Thông tin Khoa học kỹ thuật (4), Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bố khoảng cách và ứng dụng của nó
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất
Năm: 1986
24. Hoàng Xuân Tý (2004), Tiềm năng các dự án CDM trong Lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất (LULUCF), Hội thảo chuyên đề thực hiện cơ chế phát triển sạch (CDM) trong lĩnh vực Lâm nghiệp, Văn phòng dự án CD4 CDM - Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng các dự án CDM trong Lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất (LULUCF)
Tác giả: Hoàng Xuân Tý
Năm: 2004
26. FAO (2004), A review of carbon sequestration projects. Rome, 2004. Pines: drawings and descriptions of the genus Pinus. Leiden: Brill &Backhuys Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of carbon sequestration projects
Tác giả: FAO
Năm: 2004
28. Lieth, H. (1964), Versuch einer kartographischen Dartellung der produktivitat der pflanzendecke auf der Erde, Geographisches Taschenbuch, Wiesbaden. Max steiner Verlag. 72-80pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: produktivitat der pflanzendecke auf der Erde
Tác giả: Lieth, H
Năm: 1964
30. Rodel D. Lasco (2003), Forest carbon budgets in Southeast Asia following harvesting and land cover change, Report to Asia Pacific Regional workshop on Forest for Povety Reduction: opportunity with CDM, Environmental Services and Biodiversity, Seoul, South Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest carbon budgets in Southeast Asia following harvesting and land cover change
Tác giả: Rodel D. Lasco
Năm: 2003
32. Rollet B. L. (1971), Forest carbon budgets in Southeast Asia following harvesting and land cover change, Report to Asia Pacific Regional workshop on Forest for Povety Reduction: opportunity with CDM, Environmental Services and Biodiversity, Seoul, South Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest carbon budgets in Southeast Asia following harvesting and land cover change
Tác giả: Rollet B. L
Năm: 1971
33. Smith, W.B. and Brand, G.J. (1983), Allometric biomass equations for 98 species of herbs, shrubs, and small trees. USDA For. Serv. Res. Note NC-299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allometric biomass equations for 98 species of herbs, shrubs, and small trees
Tác giả: Smith, W.B. and Brand, G.J
Năm: 1983
35. Wofsy, Goulden ML, JW, Fan S-M, Bazzaz (1993), Next exchange of CO 2 in a mid-latitude forest, Science 260, pp 1314-1317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Next exchange of CO"2" in a mid-latitude forest
Tác giả: Wofsy, Goulden ML, JW, Fan S-M, Bazzaz
Năm: 1993
36. Woodwell, G.M., and D. B. Botkin. (1970), Metabolism of terrestrial ecosystems by gas exchange techniques: Analysisof temperateforestecosystems. Pages 73-85 in D. E. Reichle, editor Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metabolism of terrestrial ecosystems by gas exchange techniques: Analysisof temperateforestecosystems
Tác giả: Woodwell, G.M., and D. B. Botkin
Năm: 1970

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm