Tôi xin chân cảm ơn Kỹ sư Phạm Mạnh Thông, Giám đốc Trung tâm thủy sản tỉnh Tuyên Quang, phòng Kỹ thuật – Kinh doanh, Trại cá Hoàng Khai và các cán bộ, công nhân viên chức lao động Trung
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ KIM HUYÊN
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ LĂNG CHẤM
(HEMIBAGRUS GUTTATUS LACÉPEDE, 1803) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH SẢN NHÂN TẠO TẠI TRUNG TÂM
THỦY SẢN TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ KIM HUYÊN
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ LĂNG CHẤM
(HEMIBAGRUS GUTTATUS LACÉPEDE, 1803) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH SẢN NHÂN TẠO TẠI TRUNG TÂM
GIỐNG THỦY SẢN TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản Lớp : K45 - NTTS
Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 – 2017 Giáo viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đạo đạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm "Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tế Thực tập tốt nghiệp
là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo sinh viên của Nhà trường Đây là khoảng thời gian sinh viên được tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học trong Nhà trường
Để có bài khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Hà Văn Doanh, giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y
là những người đã dạy bảo và hướng dẫn em tận tình trong suốt 4 năm học tập
và rèn luyện tại trường
Tôi xin chân cảm ơn Kỹ sư Phạm Mạnh Thông, Giám đốc Trung tâm thủy sản tỉnh Tuyên Quang, phòng Kỹ thuật – Kinh doanh, Trại cá Hoàng Khai và các cán bộ, công nhân viên chức lao động Trung tâm Thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn, đặc biệt là kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên quá trình thực tập tốt nghiệp hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy,
cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 07 tháng 06 năm 2017
Sinh viên thực tập
Lê Thị Kim Huyên
Trang 4DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Hình 2.1 Cá Lăng chấm H guttatus 12
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ 33
Bảng 4.2: Chế độ chăm sóc và quản lý ao nuôi vỗ cá bố mẹ 34
Bảng 4.3: Sức sinh sản tương đối của cá lăng chấm 36
Bảng 4.4: Theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản cá Lăng chấm 37
Bảng 4.5 Các yếu tố môi trường trong bể cá hương 15 ngày tuổi 39
Bảng 4.6 Tốc độ tăng trưởng và khẩu phần ăn của cá hương 15 ngày tuổi 40
Bảng 4.7: Tốc độ tăng trưởng của cá hương 30 ngày tuổi 42
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LRH-a Luteotropin Releasing Hormoed Analog
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG, HÌNH ii
MỤC LỤC i
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Tuyên Quang 3
2.1.2 Khái quát về Trung tâm Thủy sản 7
2.2 Cơ sở khoa học 11
2.2.1 Đặc điểm sinh học 11
2.2.2 Nghiên cứu về sản xuất giống 15
2.2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18
2.3.2 Tình hình ngiên cứu trong nước 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
Trang 73.2.1 Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.3.1 Quy trình kĩ thuật sản xuất giống cá lăng chấm 21
3.3.2 Quản lý và chăm sóc cá bố mẹ: 23
3.3.3 Chuẩn bị vật tư, trang thiết bị phục cho đẻ: 24
3.3.4 Sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm: 25
3.3.5 Ương nuôi cá giống 28
3.3.6 Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị bệnh 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 32
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả chăm sóc, quản lý cá Lăng chấm bố mẹ 33
4.1.1 Quản lý và chăm sóc cá bố mẹ 33
4.1.2 Chế độ chăm sóc và quản lý cá bố mẹ 34
4.2 Sinh sản nhân tạo các lăng chấm 35
4.3 Kết quả ương nuôi cá bột lên cá hương 15 ngày tuổi 39
4.4 Ương nuôi từ cá hương 15 ngày tuổi lên cá hương 30 ngày tuổi 41
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus Lacépede, 1803) là loài cá bản
địa quý hiếm có giá trị kinh tế cao của nước ta được xếp vào hàng ngũ quý (cá Bỗng, Chiên, Lăng chấm, Rầm xanh, Anh vũ) đang có nguy cơ tuyệt chủng bậc V, cần phải bảo vệ gấp (Sách đỏ Bộ Khoa học – Công nghệ và môi
trường , 1992) [12] Thịt cá thơm, ngon, được coi là một trong những loài cá
ngon nhất của hệ thống sông Lô - Gâm và sông Hồng với giá bán trung bình
từ 500.000 - 600.000đ/kg (tùy từng cỡ cá) Trước đây cá Lăng chấm có ở hầu hết các sông suối thuộc trung và thượng lưu hệ thống sông Lô – Gâm và sông Hồng Tuy nhiên điều kiện sinh thái các thủy vực này đang có nhiều biến đổi hết sức phức tạp như việc xây dựng các đập thủy điện, xây cầu, kè sông và các hoạt động khai thác khoáng sản đã làm cản trở đường di cư và làm mất các bãi đẻ tự nhiên của cá; ngoài ra việc khai thác quá mức bằng các phương tiện mang tính hủy diệt đã làm cho sản lượng cá Lăng chấm bị giảm sút nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng (Nguyễn Dương Dũng và cs, 2001)[3]
Nơi cư trú của cá bị thu hẹp do xây dựng các hồ chứa thủy điện; nhiều sông suối bị lũ lớn, điều kiện sinh thái nơi sinh sống và bãi cá đẻ bị thay đổi nên việc tái tạo quần đàn bị hạn chế Áp lực từ việc tăng dân số đã làm cho nhu cầu tiêu dùng thịt cá Lăng chấm ngày càng tăng Trước đây sản lượng cá Lăng chấm hàng năm ở sông Hồng từ 26 - 30 tấn, hồ thủy điện Hoà Bình 8 - 9 tấn, sông Lô - Gâm 9 - 10 tấn, sông Thao 5 - 6 tấn, hồ thủy điện Thác Bà 4 - 5 tấn; nhưng hiện nay sản lược chỉ còn 2,2% so với những năm
1960 - 1970 (Phạm Báu và cs, 2000)[1]
Trang 9Cá Lăng chấm giống ngày càng trở nên khan hiếm nên có giá rất cao,
do các ngư dân sử dụng ngư cụ đánh bắt, khai thác, sử dụng lưới có kích thước mắt nhỏ bắt cỡ cá giống từ 10 – 12 cm/con để bán lại cho các hộ nuôi
cá lồng, nuôi ao dẫn đến tình trạng cá giống ngoài tự nhiên hiếm, cá thương phẩm không đủ cung cấp cho thị trường Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá lăng chấm trong điều kiện nuôi là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo tồn loài cá này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng
Để tìm hiểu về quá trình sinh sản nhân tạo cá lăng chấm tại Trung
tâm Thủy sản Tuyên Quang tôi đã tiến hành ngiên cứu đề tài: “Thục hiện quy
trình sản xuất giống cá lăng chấm (Hemibagrus guttatus Lacépede, 1803) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo tại Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn
- sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm tại trung tâm Thủy sản Tuyên Quang
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá quy trình sản xuất giống cá Lăng chấm bằng phương pháp sinh sản nhân tạo
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21030’ đến 22040’ Bắc và
104053’ đến 105040’ Đông Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc Phía Đông giáp các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc; phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang
Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thương mại lớn của cả nước, Tuyên Quang chưa có đường sắt và đường hàng không,
vì vậy việc thông thương sang các tỉnh khác và ra nước ngoài nhờ vào hệ thống đường bộ quốc lộ 2 và quốc lộ 37
Tuyên Quang nằm xa khu trung tâm, giao thông không thuận lợi, kinh
tế nhìn chung phát triển chậm, kết cấu hạ tầng cơ sở còn thấp kém nên gặp nhiều khó khăn
* Khí hậu thủy văn
Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh – khô hanh; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 – 24°C, lượng mưa trung bình từ 1.500–1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%
Nhìn chung, tỉnh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là đối với nông nghiệp Với mùa đông lạnh, đây là vùng có khả năng sản xuất được cả các sản phẩm nông nghiệp của cận nhiệt đới và ôn đới Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như
Trang 11sương muối, mưa đá, lốc bão đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp
Khí hậu của Tuyên Quang có thể chia làm hai tiểu vùng :
- Tiểu vùng phía Bắc gồm huyện Na Hang và phần Bắc của các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá Đặc trưng của tiểu vùng này là có mùa đông tương đối dài (khoảng 5 -6 tháng), thường xuất hiện sương muối vào mùa đông và gió, lốc xoáy vào mùa hạ
- Tiểu vùng phía Nam bao gồm phần còn lại của tỉnh với một số đặc trưng như mùa đông ngắn (khoảng 4 tháng, lượng mưa tương triển về đầu trang đối cao, trên 1800mm, các tháng đầu mùa hạ thường xuất hiện dông và mưa đá
* Về giao thông
Trong những năm gần đây, ngành giao thông vận tải của tỉnh đã được chú trọng phát triển Các loại hình giao thông vận tải ở Tuyên Quang chủ yếu là đường ô tô và một phần là đường sông
Hiện nay cả tỉnh có khoảng 340,6 km đường quốc lộ; 392,6km đường tỉnh; 579,8 đường huyện; 141,71 km đường đô thị; kết cấu mặt đường bao gồm các loại đường cấp phối, đường nhựa và bê tông Tuyên Quang có các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang Trong đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lược của cả nước đi qua địa phận tỉnh như đường Hồ Chí Minh Tuyến đường sông Việt Trì - Tuyên Quang - Hạ lưu thuỷ điện Tuyên Quang Hệ thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tư và mở rộng giao thương
để phát triển
Trang 12* Thuỷ văn
a) Mạng lưới sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi ở Tuyên Quang tương đối dày với mật độ 0.9km/km2 và phân bố tương đối đồng đều Các dòng sông lớn chảy trên địa bàn của tỉnh có một số phụ lưu Do chảy trên địa hình đồi núi nên lòng sông dốc, nước chảy xiết và có khả năng tập trung nước nhanh vào mùa lũ Cũng chịu ảnh hưởng của địa hình mà dòng chảy có hướng Bắc Nam (sông Gâm) hoặc Tây Bắc - Đông Nam (sông Lô)
Thuỷ chế chia làm hai mùa rõ rệt, phù hợp với hai mùa của khí hâu Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lượng nước trong năm và thường gây ra ngập lụt ở một số vùng
Ba sông lớn chảy qua Tuyên Quang là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy
- Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 457 km), chảy theo hướng Tây bắc - Đông nam vào nước ta (227 km), qua Hà Giang xuống Tuyên Quang và hợp lưu với sông Hồng tại Việt Trì Đoạn chảy qua Tuyên Quang dài
145 km Đây là đường thuỷ duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang ở phía Bắc và với Hà Nội cũng như một số tỉnh ở trung du và đồng bằng bắc bộ ở phía Nam Nhìn chung, thuỷ chế ít điều hoà và có sự chênh lệch lớn giữa các mùa trong năm, giữa năm này với năm khác (lưu lượng lớn nhất 11.700 m3/s; nhỏ nhất 128 m3
/s)
Sông Lô có khả năng vận tải lớn trên đoạn từ thành phố Tuyên Quang
về xuôi Các phương tiện vận tải có thể đi lại dễ dàng vào mùa mưa (trọng tải trên 100 tấn) và cả mùa khô (trọng tải khoảng 50 tấn) Đoạn từ thành phố trở lên, việc vận tải gặp nhiều khó khăn do lòng sông dốc, có nhiều thác ghềnh
- Sông Gâm cũng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc (dài 280km), chảy vào nứơc ta (217 km) qua Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang gần như
Trang 13theo hướng bắc nam và đổ vào sông Lô (cách thị xã Tuyên Quang 10 km ở xã
Tứ Quận huyện Yên Sơn) Đoạn chảy qua tỉnh dài khoảng 110km
Giá trị vận tải của sông Gâm tương đối hạn chế Đây là tuyến đường thuỷ nối các huyện Na Hang, Chiêm Hoá với thành phố Tuyên Quang Các phương tiện vận tải vào mùa khô dưói 10 tấn và dưới 50 tấn vào mùa mưa mới đi lại được trên đoạn từ Chiêm Hoá trở xuống
- Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dương theo hướng Bắc - Nam rồi chảy vào sông Lô trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chiều dài của sông là 170 km, đoạn chảy qua tỉnh Tuyên Quang dài 81 km Lưu lượng dòng chảy không lớn, sông hẹp, nông, ít có khả năng vận tải đường thuỷ
Ngoài 3 sông chính, ở Tuyên Quang còn có các sông nhỏ (sông Năng ở Na Hang) và hàng trăm ngòi lạch (ngòi Bắc Nhụng, ngòi Cổ Linh, ngòi Chinh, ngòi
Là, ngòi Quảng…) cùng nhiều suối nhỏ len lách giữa vùng đồi vúi trùng điệp đã bồi đắp nên những soi bẫi, cánh đồng giữa núi, thuận tiện cho việc gieo trồng Mạng lưới sông ngòi của Tuyên Quang có vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống; vừa là đường giao thông thuỷ, vừa là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, cho nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phục vụ đời sống của nhân dân Ngoài ra sông Lô và sông Gâm có tiềm năng về thuỷ điện ở các huỵên Na Hang, Chiêm Hoá, Sơn Dương đã xuất hiện một số công trình thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt, góp phần nâng cao đời sống văn hoá cho nhân dân các dân tộc
Tuy nhiên, sông ngòi dốc, lắm thác ghềnh cùng với chế độ khí hậu
có hai mùa dẫn đến ngập lụt nghiêm trọng trong mùa mưa, đặc biệt tại khu vực thị xã và các vùng đồng bằng, thung lũng ven sông thuộc các huyện Yên Sơn, Sơn Dương
Trang 14b) Bên cạnh nguồn nước mạch phong phú, Tuyên Quang còn có nguồn nước dưới đất, nước khoáng Đáng chú ý hơn cả là các nguồn nước khoáng
Mỹ Lâm và Bình Ca
Nguồn nước khoáng ở Mỹ Lâm (huyện Yên Sơn) tương đối nổi tiếng và đang được khai thác Nhiệt độ nước khoảng 40oC, chất lượng tốt với công dụng chủ yếu là điều hoà chức năng tiêu hoá, chữa các bệnh khớp, xương, viêm đại tràng, phụ khoa…
Hiện nay tại Mỹ Lâm đã xây dựng trại điều dưỡng và khu nhà nghỉ, đồng thời đang sử dụng nguồn nước khóang để chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ của nhân dân
2.1.2 Khái quát về Trung tâm Thủy sản
a) Khái quát chung
Trung tâm Thủy sản là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tuyên Quang, được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính;
có chức năng nghiên cứu, thực nghiệm và ứng dụng các công nghệ về giống thuỷ sản; lưu giữ giống thủy sản đặc hữu ở địa phương, nhân các loại giống thuần cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống; tham gia đào tạo kỹ thuật và chuyển giao công nghệ về giống thuỷ sản; sản xuất, dịch vụ con giống thuỷ
sản theo nhu cầu của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh
Hiện Trung tâm đang quản lý và sử dụng 130 ao, hồ, đập (27,386 ha mặt nước), trong đó: Sử dụng nuôi cá bố mẹ là 17 ao (3,38 ha); Sử dụng ương nuôi cá giống là 103 ao (18,96 ha); Sử dụng làm ao chứa nước, ao nước thải,
ao cách ly, nuôi thương phẩm là 10 ao (5,35 ha) Ngoài ra còn có hệ thống nhà xưởng, bể cho cá đẻ, bể ấp trứng các loài cá truyền thống đã được hoàn thiện như: 01 bể cho cá đẻ có thể tích 30 m3
nước, 04 bể ấp trứng có thể tích 3
m3 nước và 02 dàn khay ấp trứng cá rô phi, 02 bình Weiss ấp trứng cá chép có
Trang 15thể tích 100 lít/bình và mới đầu tư 01 khu sinh sản nhân tạo các loài cá quý hiếm như cá Lăng, cá Rầm xanh, Anh vũ từ các chương trình dự án khoa học Đàn cá bố mẹ truyền thống đưa vào nuôi vỗ phục vụ sản xuất năm 2016 là 7.737 con (4,141 tấn) Hàng năm sản xuất và cung ứng từ 140 - 145 triệu con
cá bột, 23 - 24 triệu con cá giống các loại
b) Cơ cấu tổ chức
Hiện Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang có 01 giám đốc, 02 phòng chuyên môn, nghiệp vụ: phòng Hành chính - Kế hoạch - Tổng hợp (01 trưởng phòng kiêm kế toán; 01 văn thư, thủ quỹ, tạp vụ; 01 lái xe); phòng Kỹ thuật - Kinh doanh (01 trưởng phòng, 01 cán bộ kỹ thuật); Bộ phận sản xuất gồm: Trại cá
Na Hang (đang xây dựng); Trại cá Sơn Dương (01 trại trưởng, 01 lao động); Trại cá Hàm Yên (01 cán bộ phụ trách); Trại cá Hoàng Khai (01 trại trưởng, 17 lao động); Trại cá thành phố Tuyên Quang (01 cán bộ phụ trách, 06 lao động) Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất với tổng tài sản hơn 41 tỷ đồng bao gồm nhà làm việc, ao hồ, kênh mương và thiết bị chuyên ngành, diện tích nuôi trồng thủy sản là 27,386ha
c) Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm
+ Chức năng
Đảm bảo sản xuất, cung cấp con giống thủy sản nước ngọt chất lượng cao và kỹ thuật nuôi cho các nông hộ, trang trại nuôi cá, cung cấp con giống cho bà con nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh
+ Nhiệm vụ
- Tiến hành các chương trình nghiên cứu, thí nghiệm nâng cao chất lượng di truyền các loài thủy sản nước ngọt để tạo ra các sản phẩm giống mới
có đặc tính ưu việt trong nuôi thủy sản
- Nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ lưu giữ gen, công nghệ sản xuất giống và công nghệ nuôi các đối tượng thủy sản nước ngọt Tổ chức
Trang 16quản lý lưu giữ đàn giống gốc đảm bảo chất lượng tốt, bao gồm các giống địa phương, các giống mới gia hóa hoặc các giống nhập nội đã gia hóa hiệu quả
- Chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ, tham gia đào tạo cán bộ
kỹ thuật và cán bộ khuyến ngư cho nhu cầu các tỉnh miền núi Đông Bắc
- Trao đổi thông tin khoa học công nghệ, kinh tế và quản lý trong lĩnh vực giống thủy sản
- Tận dụng cở sở vật chất của Trung tâm để phát triển sản xuất có thêm nguồn thu, đảm bảo trả lương cho lao động hợp đồng và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của trung tâm
- Quản lý và sử dụng đúng mục đích có hiệu quả cơ sở vật chất, nguồn vốn và lao động của trung tâm theo đúng quy định của pháp luật
d) Hoạt động của Trung tâm
- Dự án “Xây dựng mô hình trình diễn công nghệ và cung cấp giống cá
Chiên (Bagarius rutilus Ng&kottelat, 2000) một số tỉnh miền núi phía Bắc”,
tại Tuyên Quang
- Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất giống cá Lăng chấm bằng phương pháp sinh sản nhân tạo’’
- Cung cấp con giống cho các hộ thực hiện “Dự án ương nuôi cá giống
và nuôi cá thương phẩm trong ao hồ nhỏ năm 2015 tại xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” theo Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 17- Hàng năm phối hợp với Vụ Bảo tồn và Phát triển nguồn lợi thủy sản, UBND huyện Na Hang và các đơn vị có liên quan tổ chức "Lễ thả cá giống - Tái tạo nguồn lợi thủy sản" tại hồ thủy điện Tuyên Quang
- Xây dựng mô hình nuôi cá Tầm trong lồng trên hồ thủy điện Na Hang với quy mô 100m3/03 hộ thực hiện
- Thực hiện Đề tài “Nghiên cứu xác định một số bệnh ở cá Chiên
(Bagarius yarrelli) nuôi trong lồng trên sông, hồ thủy điện và đề xuất các
giải pháp phòng trị bệnh”;
- Phối kết hợp với Chi cục Thủy sản Tuyên Quang tổ chức lớp tập huấn
về kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản
- Tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh thủy sản
56 con (22,4kg) cá bố mẹ, thu đƣợc 6.500 con cá bột (kích cỡ 1,6-1,8cm/con); Đối với cá Chiên đã cho sinh sản 04 đợt, với tổng số đàn cá bố mẹ 15 con (48,7kg), thu đƣợc từ 10-15 vạn trứng/đợt Đến đợt thứ tƣ thu đƣợc 240 con
Trang 18Chép 4,6 triệu con; cá Rô phi đơn tính 3,5 triệu con; cá Mè 3,6 triệu con; cá Trôi 6,2 triệu con) Ngoài ra còn sản xuất, dịch vụ được 2,55 triệu con cá Rô phi 21 ngày tuổi, đạt 68,9% so với kế hoạch
Đối với sản xuất cá bột: Hàng năm sản xuất và cung ứng cá bột và cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi 65 triệu con, trong đó: Cá rô phi 5 triệu con; cá chép lai V1 20 triệu con; cá trắm cỏ 15 triệu con; cá trôi 20 triệu con; cá mè 5 triệu con Ngoài ra còn sản xuất và dịch vụ các loài cá quý hiếm bản địa như cá Bỗng, Chiên, Lăng, Rầm xanh, Anh vũ khoảng 2,5 vạn con
Đối với sản xuất cá hương: Hàng năm sản xuất và dịch vụ cá hương 1.807 vạn con, trong đó: Cá rô phi đơn tính 209 vạn con; cá chép lai V1 403 vạn con;
cá trắm cỏ 716 vạn con; cá trôi 298 vạn con; cá mè 179 vạn con Ngoài ra còn sản xuất và dịch vụ các loài cá có giá trị kinh tế khác 6,96 vạn con
Đối với sản xuất cá giống: Hàng năm sản xuất và dịch vụ cá giống 659 vạn con, trong đó: Cá rô phi đơn tính 73 vạn con; cá chép lai V1 101 vạn con;
cá trắm cỏ 305 vạn con; cá trôi 105 vạn con; cá mè 76 vạn con Ngoài ra còn sản xuất và dịch vụ các loài cá có giá trị kinh tế khác 2,78 vạn con
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh học
Cá Lăng chấm được các nhà phân loại đặt cho nhiều cái tên khác nhau Theo Chu Xinluo và cs 1989, 1990 [14] cá Lăng chấm được xếp vào giống Hemibagrus
Ở nước ta, cá Lăng chấm đã được các tác giả Mai Đình Yên (1983)[10], Nguyễn văn Hảo (1993)[4] nghiên cứu về hình thái, phân loại, phân bố Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy cá Lăng chấm thuộc bộ cá Nheo
Siluriformes, họ cá Lăng Bagridae, giống Hemibagrus và loài H guttatus (Lacépède, 1803), cá Lăng chấm còn có các tên giống loài khác như Mystus
elongatus (Gunther, 1865), Macrones elongatus, Mystus guttatus Tên thường
Trang 19gọi theo tên địa phương vùng có phân bố của cá Lăng là cá Lăng (khi trưởng
thành) và cá Quất (khi còn nhỏ) Họ cá Lăng Bagridae ở Việt nam có 7 giống gồm 18 loài trong đó giống Hemibagrus có ba loài (Nguyễn Văn Hảo, 1993)[4]Trong các loài thuộc họ Bagridae thì cá Lăng chấm H guttatus là
loài có kích thước lớn nhất, phân bố rộng rãi ở thượng lưu và trung lưu các sông suối lớn ở miền Bắc nước ta
- Vị trí phân loại
Bộ cá nheo: Siluriformes
Họ cá Lăng: Bagridae
Giống cá Lăng: Hemibagrus
Loài cá Lăng: H guttatus (Lacépède, 1803)
Tên thường gọi: Cá Lăng chấm, cá Quất (từ địa phương)
Các chỉ tiêu đếm: D II, 7; A 3, 7-10; P I, 8-12; V 1, 5; C 1 + 9 + 9 + 1, bóng hơi 2 ngăn, số lược mang 18-22, số đốt sống toàn thân 54-56 (1 đốt sống đầu, 18-19 đốt sống thân, 33-34 đốt sống cuống đuôi, 1 đốt sống đuôi), (Mai Đình Yên, 2000)[11]
Hình 2.1 Cá Lăng chấm H guttatus
Là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng Chả cá Lã Vọng ở Hà Nội trở nên nổi tiếng cũng nhờ làm từ loài cá này Ở vùng Phú Thọ cá lăng hiện diện ở hầu hết các nhà hàng cá sông, nhiều nhà hàng chỉ bán độc nhất các món ăn chế biến từ cá lăng [19]
Phân bố
Trang 20Trên thế giới cá Lăng chấm sống ở sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân Nam Trung Quốc) là loài đặc hữu của vùng Hoa Nam
Cá Lăng chấm còn có các tên giống loài khác như Mystus elongatus (Gunther, 1865), Macrones elongatus, Mystus guttatus Tên thường gọi theo
tên địa phương vùng có phân bố của cá Lăng là cá Lăng (khi trưởng thành) và
cá Quất (khi còn nhỏ) Họ cá Lăng Bagridae ở Việt nam có 7 giống gồm 18
loài trong đó giống Hemibagrus có ba loài (Nguyễn Văn Hảo, 1993)[4] Trong các loài thuộc họ Bagridae thì cá Lăng chấm H guttatus là loài có kích
thước lớn nhất
Ở Việt Nam chúng chỉ có mặt ở một vài con sông ở miền núi và chỉ có ở những đoạn nhiều ghềnh thác, dòng chảy mạnh, chúng có rất nhiều ở sông
Đà, sông Lô vùng Phú Thọ
Cá cỡ lớn, thân trần dài, phần trước dẹp bằng, sau dẹp bên Đầu rộng, bẹt
và tương đối dài Mõm rộng, phía trước hơi bằng Mắt ở phía trên và nửa trước của đầu Khoảng cách 2 mắt rộng bằng Lỗ mũi trước và sau xa nhau
Có 4 đôi râu Râu hàm dài nhất tới mút sau vây bụng Miệng to, kề dưới, hình cung nông Hai hàm có răng dạng lông nhung xếp thành dải Răng trên xương vòm xếp thành dải hình cung nông, giữa nhỏ và 2 bên to hơn Vây lưng cao, tia gai vây lưng dài, phía sau có răng cưa Hậu môn gần vây bụng hơn vây hậu môn Vây đuôi phân thuỳ sâu Đường bên hoàn toàn, bằng thẳng Bóng hơi 2 ngăn Lưng xám đen, bụng trắng nhạt, bên thân có nhiều chấm đen to nhỏ Vây lưng, vây mỡ và vây đuôi màu hơi đen Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn màu nhạt
Tập tính sống của cá lăng chấm
Cá Lăng chấm có mặt ở một vài con sông ở miền núi và chỉ có ở những đoạn nhiều ghềnh thác, dòng chảy mạnh, chúng có ở sông Đà, sông Lô vùng Phú Thọ
Trang 21Cá Lăng chấm có kích thước lớn, tối đa tới 40kg/con, thường gặp cỡ 1 - 4kg Cá lăng chấm ở sông Hồng sau 1 năm dài 22 - 25cm, sau 2 năm chiều dài tăng gấp đôi Những năm sau cá tăng trưởng chiều dài giảm nhưng tăng về khối lượng nhanh Cá có tuổi lớn nhất tới 13 - 15 năm
Cá lăng là loài cá dữ điển hình Cá nhỏ có phổ thức ăn khá rộng gồm: ấu trùng, côn trùng, giun ít tơ, rễ cây Cá lớn ăn chủ yếu là cá con, tôm cua
Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Lăng chấm có cấu tạo bộ máy tiêu hoá của loài cá dữ điển hình: miệng rộng, răng hàm sắc, nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân là 89,35% Phân tích 25 mẫu vật thức ăn trong ruột cá, cho thấy chỉ số no đầy là 1,18 Thức ăn chủ yếu bao gồm: cá, tôm, côn trùng, giun, cua chiếm 28-60% về thành phần, 15,8-36% về khối lượng (Phạm Báu và cs, 2000)[1]
Đặc điểm sinh trưởng
Xác định tuổi của cá Lăng chấm bằng cắt lát tia vây ngực, đốt sống thân, vòn tuổi của cá thể hiện tương đối dõ Vòng năm là những vòng trong, đồng tâm nằm giữa vùng mờ đục vfa vùng mờ sáng Vòng phụ là những vòng không hoàn chỉnh, sắp xếp không theo quy luật Thời gian hình thành vòng tuổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, (Mai Đình Yên, 1966)[9]
Cá Lăng chấm thuộc loại cá sinh trưởng tương đối nhanh Trong bốn năm đầu, cá tăng nhanh về chiều dài đạt 13-17 cm/năm, sau đó giảm dần, ở tuổi 9+
-12+ còn 4-7 cm/năm
Về khối lượng, cá tăng chậm trong những năm đầu, năm thứ nhất 30-60 g/năm, năm thứ 2 tăng trưởng từ 190-240 g/năm Tăng nhanh từ năm thứ 5 đạt 1.000-1.400 g/năm (Phạm Báu, 2000)[1]
Đặc điểm sinh sản
+ Tuổi thành thục:
Trang 22- 100% cá cái tuổi 1+, 2+ chưa phát dục; 25% cá cái tuổi 3+ bắt gặp có noãn sào ở giai đoạn IV, V, VI - II Cỡ cá cái nhỏ nhất có khả năng thành thục
có chiều dài 61 cm, khối lượng 1,6 kg
- 100% cá đực 0+, 1+, 2+, 3+ chưa phát dục; 20% cá đực tuổi 4+ bắt gặp trong mùa sinh sản có tinh sào ở giai đoạn IV Cỡ cá đực nhỏ nhất thành thục
đã bắt được có chiều dài 72 cm, khối lượng 2,7 kg (Phạm Báu, 2000)[1] + Mùa sinh sản:
Mùa sinh sản của cá Lăng chấm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Hệ số thành thục của cá tăng dần từ tháng 4 đạt cực đại vào tháng 6 sau đó giảm dần
và thấp nhất vào tháng 9 (Phạm Báu, 2000)[1]
+ Sức sinh sản:
Nhìn chung, cá Lăng chấm có sức sinh sản thấp, hệ số thành thục trung bình 7,48, sức sinh sản tuyệt đối tăng theo tuổi cá từ 3-11 tuổi đạt 6.342-54.575 hạt trứng, sức sinh sản tương đối trung bình đạt 3.750 hạt trứng/kg (Phạm Báu, 2000)[1]
đẻ muộn hơn, vào tháng 7, 8 (Phạm Báu, 2000)[1]
2.2.2 Nghiên cứu về sản xuất giống
Trong 2 năm (1997 - 1998) Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiến hành một số thử nghiệm sinh sản nhân tạo đối với cá Lăng chấm bố mẹ thành thục trong điều kiện tự nhiên tại sông Lô, Gâm thuộc địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tại lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình thuộc tỉnh Hoà Bình Cá bố
Trang 23mẹ thành thục được thu thập, chọn lọc từ các hộ thu mua cá trên lòng hồ hoặc trên sông sau đó nhốt trong các lồng bằng gỗ hoặc bằng nhựa Thử nghiệm sử dụng một số loại kích dục tố LRHa, HCG, não thuỳ cá, Domperidon tiêm kích thích cá bố mẹ sinh sản; thụ tinh cho trứng và ấp nở bằng phương pháp nhân tạo Các thử nghiệm trên đã thu được kết quả tỷ lệ rụng trứng khá cao, tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất thấp thậm chí trứng ấp không nở Tổng số
cá bột thu được của các đợt thí nghiệm là 30 con (Phạm Báu và cs, 2000)[1] Năm 2000-2001, Đề án Lưu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản đã đưa vào hoạt động thuần hoá cá Lăng chấm trong điều kiện ao nuôi Đề án đã thu thập được 25 cá Lăng chấm bố mẹ và hậu bị có khối lượng 1,0-4,0 kg tại hồ Hoà Bình thả nuôi trong ao nước tĩnh có diện tích 500m2, độ sâu 0,7m - 0,8m Kết quả thuần hóa trong điều kiện nhân tạo cho thấy cá Lăng chấm có khả năng sinh trưởng và thành thục khá tốt, tương đương trong điều kiện tự nhiên Đã thử nghiệm một số loại kích dục tố như LRHa, HCG, não thuỳ cá, Domperidon tiêm kích thích cá bố mẹ sinh sản nhân tạo và đã có 5 cá cái rụng trứng nhưng tỷ lệ thụ tinh rất thấp Thử nghiệm ấp trứng trong chậu có sục khí
và trong khay ấp rô phi có dòng nước chảy liên tục, phôi phát triển đến 56 giờ nhưng sau đó phôi đã chết (Nguyễn Đức Tuân, 2005)[7]
Trong 3 năm (từ 2002-2004), Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống cá Lăng chấm trong điều kiện nuôi” Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Lăng chấm thích nghi tương đối tốt với môi trường nuôi ao, sinh truởng nhanh, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 58-142 g/tháng Trong năm 2004, với việc áp dụng kỹ thuật nuôi vỗ
cá bố mẹ bằng thức ăn tươi sống và bơm nước tạo dòng chảy, phun mưa nhân tạo trong ao đã thu được những kết quả khả quan Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục
và tỷ lệ cá đẻ đạt trên 90%, tỷ lệ thụ tinh trung bình đạt 76%, tỷ lệ nở trung bình là 58% Thí nghiệm ương cá bột thu được tỷ lệ sống trên 70%, ương cá
Trang 24hương thành cá giống đạt trên 80% Đề tài đã sản xuất được trên 12 vạn cá giống cỡ 4-6cm (Nguyễn Đức Tuân và cs, 2004)[6]
* Khả năng thích ứng của cá lăng chấm
- Nhiệt độ là yếu tố quyết định đến sự hoạt động, khả năng ăn mồi, tốc
độ sinh trưởng và thời gian sinh sản của cá lăng chấm
- Nhiệt độ thích hợp cho cá lăng chấm là từ đầu tháng 5 đến tháng 9 thời tiết nóng ấm
- Về mùa đông ở các tỉnh miền Bắc, cá lăng chấm ăn rất ít gần như không ăn
- Ngưỡng nhiệt thích hợp cho cá lăng chấm phát triển tốt là từ 24-30°C
- Tác động của pH đến đời sống cá lăng chấm có tính chất giãn tiếp, pH ảnh hưởng đến quá trình cân bằng hóa học và sinh học trong nước như sự cần bằng NH3, H2S trong ao nuôi Cá lăng chấm thích sống ở môi trường nước sạch, pH từ 7-8
2.2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay, đòi hỏi mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi quốc gia không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, phát huy lợi thế để tăng sức cạnh tranh trên thị trường Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông, vì vậy cần phải xác định nông nghiệp là một thế mạnh cần được phát triển trong điều kiện hiện nay Trong đó có ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang mang lại lợi ích kinh
tế lớn và là mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu có giá trị cao Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản tạo ra công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong những năm trở lại đây, nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam đã có những bước chuyển đáng kể, tạo ra thêm những ngành mới cho cơ cấu nền
Trang 25nông nghiệp nước ta, thúc đẩy kinh tế, không những xóa đói giảm nghèo cho người nông dân mà nhiều người từ nông dân phát triển kinh tế trở thành triệu phú, tỷ phú, góp phần không nhỏ vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân Song nghề nuôi trồng thủy sản cho đến nay chỉ phát triển ở một số tỉnh phía Bắc và phía Nam như: Hải Dương, Bình Dương, Vĩnh Long
Cá lăng chấm là1 loài cá có giá trị kinh tế (Giá bán từ 500.000 - 600.000đ/kg) tùy từng khối lượng mà giá bán cao hoặc thấp, thịt thơm ngon Thức ăn cho cá lăng chấm chủ yếu sử dụng thức ăn chủ yếu cá tạp có sẵn tại địa phương Nếu phát triển nghề nuôi cá lăng chấm bền vững đây sẽ là đối tượng giúp người nông dân xóa đói giảm nghèo [20]
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới cá Lăng chấm sống ở sông Tây Dương, sông Nguyên (Vân Nam Trung Quốc) là loài đặc hữu của vùng Hoa Nam Cá Lăng chấm thuộc
Bộ cá Nheo Siluriformes, Họ cá Lăng Bagridae, Giống cá Lăng Mystus (cá
Lăng chấm được xếp vào giống Mystus) Từ năm 1997 đến năm 2000, Trại cá giống đặc sản Long Phát, huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông đã cho sinh sản thành công cá Lăng chấm ở quy mô thử nghiệm bước đầu, tác giả Hứa Chấn Bình cho rằng kỹ thuật cho cá Lăng chấm sinh sản là rất khó, yêu cầu thao tác kỹ thuật rất cao, khâu quan trọng nhất là khâu nuôi vỗ thành thục (Hứa Chấn Bình, 2011)[2]
Tác giả Dương Gia Kiên thuộc Viện nghiên cứu Thuỷ sản tỉnh Quảng Tây đã công bố tài liệu về kết quả thí nghiệm ương cá bột cá Lăng chấm tại các mật độ và bằng các loại thức ăn khác nhau trong năm 2002 Theo tài liệu này, tỷ lệ sống qua các đợt ương đạt trung bình 60,2%, đợt có tỷ lệ cao nhất đạt 88,6% Mật độ ương cá từ cỡ 1,2-1,5 cm thành cỡ 3-5 cm theo khuyến cáo của tác giả tốt nhất 178 con/m2
Trang 26
Hiện nay, cá Lăng chấm được nuôi phổ biến tại tỉnh Quảng Đông, sản phẩm chủ yếu cung cấp cho thị trường Hồng Kông, Ma Cao, Nhật Bản (Hứa Chấn Bình, 2011)[2]
Cá Lăng chấm là một trong 4 loài cá đặc sản có kích thước lớn trên song Tây (Tây Giang) và có ở sông Bắc Giang, là các sông nhánh thượng lưu của sông Chu (Chu Giang) thuộc tỉnh Quảng Đông Người Quảng Đông thường gọi là cá Lăng Tây Giang hay cá Lăng râu trắng nguồn lợi tự nhiên của cá Lăng trên thị trường Quảng Đông, Hồng Kông và Macao ngày càng tăng Từ năm 1997 đến năm 2000, trại cá giống đặc sản Long Phát ở Thuận Đức tỉnh Quảng Đông đã cho đẻ thành công cá LĂng trong 4 năm liền ở quy mô sản xuất thử nghiệm bước đầu (Ngũ Văn Hiến, 1963)[8]
2.3.2 Tình hình ngiên cứu trong nước
Ở nước ta, cá Lăng chấm đã được các tác giả Mai Đình Yên (1983) [10], Nguyễn văn Hảo (1993)[4] nghiên cứu về hình thái, phân loại, phân bố Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy cá Lăng chấm thuộc bộ cá Nheo
Siluriformes, họ cá Lăng Bagridae, giống Hemibagrus và loài H guttatus
(Lacépède, 1803), cá Lăng chấm còn có các tên giống loài khác như Mystus
elongatus (Gunther, 1865), Macrones elongatus, Mystus guttatus Tên thường
gọi theo tên địa phương vùng có phân bố của cá Lăng là cá Lăng (khi trưởng
thành) và cá Quất (khi còn nhỏ) Họ cá Lăng Bagridae ở Việt nam có 7 giống gồm 18 loài trong đó giống Hemibagrus có ba loài (Nguyễn Văn Hảo, 1993[4] Trong các loài thuộc họ Bagridae thì cá Lăng chấm H guttatus là
loài có kích thước lớn nhất, phân bố rộng rãi ở thượng lưu và trung lưu các sông suối lớn ở miền Bắc nước ta [17]
Kết quả nghiên cứu của đề tài “Điều tra nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã quí hiếm có nguy cơ tuyệt
chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ Semilabeo notabilis (Peters, 1880); cá
Trang 27Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima,1926); cá Lăng Hemibagrus guttatus, (Lacépède 1803); cá Chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1841).”
Ở Việt Nam chúng chỉ có mặt ở một vài con sông ở miền núi và chỉ có ở những đoạn nhiều ghềnh thác, dòng chảy mạnh, chúng có rất nhiều ở sông
Đà, sông Lô vùng Phú Thọ [18]
Trong thời gian từ đầu năm 2002 đến nay, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản 1 đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo
Cá Lăng Chấm trong điều kiện nuôi” đã thu được kết quả khả quan Năm
2003 Viện đã sản xuất được 7800 cá bột, 5000 cá giống Năm 2004, sản xuất được 20 vạn cá bột, yển 12 vạn cá hương và cá Lăng chấm giống Các chỉ tiêu khoa học kỹ thuật về sản xuất giống như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống khi ương nuôi cá bột, cá hương cá giống đạt tương đối cao Một số khâu
kỹ thuật sẽ được khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa các chỉ tiêu sinh sản nhưng nhìn chung đã làm chủ được kỹ thuật sinh sản đối với đối tượng này,
có thể chủ động cung cấp giống cũng như chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống tới các địa phương Thử nghiệm ban đầu về nuôi cá Lăng chấm thương phẩm cho thấy cá có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện ao nuôi Cá
có thể ăn được các thức ăn chế biến dạng viên chìm và tăng trưởng nhanh khi thức ăn có tỷ lệ protein cao Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật nuôi thương phẩm cá Lăng chấm trong thời gian sắp tới (Nguyễn Đức Tuân, 2004)[6]
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus)
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quy trình sản xuất giống cá lăng chấm tại Trung tâm giống Thủy sản tỉnh Tuyên Quang
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Trung tâm Thủy sản Tuyên Quang, trại cá Hoàng Khai, Yên Sơn, Tuyên Quang
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ ngày 18 tháng 05 năm 2016 đến ngày 18 tháng 11 năm 2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Thực hiện quy trình kĩ thuật sản xuất giống cá lăng chấm
- Theo dõi sinh trưởng, phát triển của cá lăng chấm bố mẹ, cá bột, cá hương, trong quá trình thực hiện đề tài
- Theo dõi biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi cá lăng chấm
bố mẹ và trong cá bể ương cá lăng giống: nhiệt độ, pH, DO, độ trong
3.3.1 Quy trình kĩ thuật sản xuất giống cá lăng chấm
* Điều kiện về nguồn nước và chất nước:
Có nguồn nước cấp bảo đảm đủ nước nuôi quanh năm, có thể chủ động tháo nước và thay nước khi cần Nguồn nước cấp sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc thuốc trừ sâu, pH từ 6,5 - 8, hàm lượng oxy cao 4mg/l trở lên
*Yêu cầu về kỹ thuật xây dựng ao nuôi
Trang 29- Cải tạo ao nuôi
+ Tháo cạn ao, bắt hết cá tạp, cá dữ, vệ sinh ao sạch sẽ, sau đó khử trùng
ao bằng vôi bột (CaO) với liều lượng từ 8 - 10 kg /100m2, phơi ao 5 ngày sau
đó lấy nước vào ao Nước cấp vào ao đã được lọc kỹ để ngăn chặn địch hại,
*Điều kiện nuôi vỗ cá lăng chấm bố mẹ
- Cá lăng bố mẹ có độ tuổi 3+ trở lên, không bị dị tật dị hình, khỏe mạnh
- Nguồn nước ao sạch sẽ, có dàn phun mưa nhân tạo, các yếu tố môi trường ổn định pH từ 6,5 – 7,5, hàm lượng oxy hòa tan cao trên 4mg/l, duy trì nhiệt độ nước ao trong khoảng từ 28 – 32oC, độ trong nước ao từ 30 –
40 cm, mực nước trong ao duy trì trong khoảng 1,2 đến 1,6m, bùn đáy ao
từ 20- 25 cm và bằng phẳng
- Định kỳ xử lý môi trường ao nuôi bằng vôi bột 15 ngày/lần với liều lượng 2kg/100m3 nước ao (Việc tẩy vôi chỉ được thực hiện sau khi xử lý TCCA 90 tối thiểu là 5 - 7 ngày)