Chất lượng di truyền của cá Chép V1 ngày càng được củng cố thông qua đề án: “Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản nước ngọt” đã chọn lọc nghiêm ngặt trong mỗi lần tái tạo quần đà
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG ANH TUẤN
THỬ NGHIỆM QUY TRÌNH ƯƠNG NUÔI GIỐNG CÁ CHÉP V1 TRONG
LỒNG BÈ TẠI HỒ NÚI CỐC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui
Chuyên ngành/ngành : Nuôi trồng thủy sản
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG ANH TUẤN
THỬ NGHIỆM QUY TRÌNH ƯƠNG NUÔI GIỐNG CÁ CHÉP V1
TRONG LỒNG BÈ TẠI HỒ NÚI CỐC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui
Chuyên ngành/Ngành : Nuôi trồng thủy sản
Lớp : K45 – Nuôi trồng thủy sản
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Minh Châu
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo sinh viên của Nhà trường Đây là khoảng thời gian sinh viên được tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học trong Nhà trường
Để có bài khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Minh Châu Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y là những người đã dạy bảo và hướng dẫn em tận tình trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Hợp tác
xã Thủy sản Núi Cốc đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại trung tâm
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn, đặc biệt là kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên thực tập
Hoàng anh tuấn
Trang 4ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sinh trưởng của cá Chép khảo sát ở các ao nuôi cá thịt 7
Bảng 2.2 Các giai đoạn dinh dưỡng của cá chép V1 9
Bảng 4.1 Kết quả môi trường nước trong các lồng thí nghiệm 25
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng của cá ở giai đoạn bột lên hương 29
Bảng 4.3 Sinh trưởng của cá ở giai đoạn hương lên giống 29
Bảng 4.4 Hệ số chuyển đổi thức ăn (tính từ giai đoạn cá hương lên giống) 30 Bảng 4.5 Tỷ lệ sống của cá bột lên hương 30
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá hương lên giống 31
Bảng 4.7 Các khoản chi phí trong mô hình nuôi cá chép 32
Trang 5iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cá chép giống v1 4
Hình 2.2 Sơ đồ lai tạo giống cá chép V1 6
Hình 4.1 Biến động về nhiệt độ môi trường nuôi theo thời gian 26
Hình 4.2 Biến động giá trị pH nước của lồng nuôi theo tháng 27
Hình 4.3 Biến động hàm lượng oxy hòa tan của lồng nuôi theo tháng 28
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1.Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Vị trí phân loại 4
2.1.2 Nguồn gốc phân bố 5
2.1.3 Đặc điểm hình thái 6
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 7
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 7
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 9
2.17 Sức sinh sản của cá chép 9
2.1.8 Giá trị dinh dưỡng 11
2.1.9 Đặc điểm thích nghi với các yếu tố môi trường bên ngoài 11
2.1.10 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng phát triển của cá Chép 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
Trang 8vi
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
2.3 Điều kiện tự nhiên 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 21
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 21
3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 21
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường trong lồng thí nghiệm 25
4.1.1 Biến động nhiệt độ nước 25
4.1.2 Biến động giá trị pH 26
4.1.3 Biến động hàm lượng oxy hòa tan 28
4.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống cá chép 29
4.2.1 Tăng trưởng cá chép 29
4.2.2 Hệ số chuyển đổi thức ăn 30
4.2.3 Tỷ lệ sống cá chép 30
4.4 Chi phí sản xuất 32
4.4.1 Các khoản chi phí trong mô hình nuôi cá chépError! Bookmark not defined. Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Đề Nghị 33
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta đã và đang phát triển nhanh
chóng cả về số lượng, chất lượng con giống, cũng như quy mô nuôi Ngoài
việc cung cấp thực phẩm còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, nó
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Nuôi trồng thủy sản đạt được những thành
tựu như trên là nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật về công tác chọn
giống và lai tạo giống mới có năng suất chất lượng tốt
Nghiên cứu lai tạo và chọn giống cá Chép đã được nhiều nước trên thế
giới quan tâm như Liên xô (Liên Bang Nga), Trung Quốc, Hungary Ngay từ
những năm 1970-1975,Tiến sỹ Trần Mai Thiên và tập thể cán bộ Viện Nghiên
cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã lai tạo giữa cá Chép trắng Việt Nam, cá Chép
vẩy Hungary, cá Chép vàng Indonexia và chọn lọc thành công giống cá Chép
(đặt tên là: Cá Chép V1) Chất lượng di truyền của cá Chép V1 ngày càng
được củng cố thông qua đề án: “Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và giống thuỷ sản
nước ngọt” đã chọn lọc nghiêm ngặt trong mỗi lần tái tạo quần đàn cá Chép
V1 Cá Chép V1 được bộ Thuỷ sản cho phép nuôi rộng rãi trong cả nước vì cá
Chép V1 có chất lượng di truyền cao, thích ứng với nhiều hình thức nuôi
Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy tốc độ tăng trọng của cá Chép V1
gấp từ 1,5-3,0 lần so với cá Chép trắng Việt Nam trong cùng điều kiện nuôi
Cá nuôi một năm tuổi có kích cỡ trung bình 0,8-1,0 kg/cá thể Nếu nuôi thưa
có thể đạt 1,5-2kg/cá thể Khả năng chống chịu bệnh tốt hơn cá Chép
Hungary trong điều kiện nuôi ở Việt Nam Đặc biệt cá Chép V1 không chỉ là
đối tượng nuôi trong ao mà còn là đối tượng nuôi trong ruộng cũng rất hiệu
Trang 10để cá lồng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng thịt ngon, được người tiêu dùng ưa thích
Sử dụng con giống nuôi trong lồng trên hồ chứa ngoài yếu tố chất lượng giống cần quan tâm vài trò quan trọng là giống nuôi cá lồng phải lớn, mục đích ương nuôi cá lồng trong điều kiện ương ngoài lồng hiện nay chưa được thực hiện Để đánh giá xem khả năng thích nghi của nó trong điều kiện ương nuôi ngoài lồng như thế nào, tăng tính chủ động được con giống lớn cho cơ sở nuôi, giảm bệnh tật, bị stress khi đưa giống lớn về để nuôi
Trang 113
Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời để bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và nâng cao hiểu biết về kỹ thuật nuôi giống cá Chép V1 Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, khoa Chăn nuôi – Thú y và của giảng viên hướng dẫn, tôi thực hiện chuyên đề: “thử nghiệm quy trình ương nuôi giống cá chép V1 trong lồng bè tại hồ Núi Cốc”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Theo dõi một số bệnh thường gặp trong quá trình ương
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi tình hình sinh trưởng và phát triển cá chép trong quá trình ương
- Theo dõi các loại bệnh thường gặp mà cá chép mắc phải trong quá trình ương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1.Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá quy trình ương cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống trong lồng tại Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp quy trình ương cá chép từ giai đoạn cá bột lên cá giống hoàn thiện hơn, có thể áp dụng trực tiếp vào những mô hình ương cá chép để tạo ra nguồn giống chất lượng cao phục vụ cho nghề nuôi cá lồng bè
Trang 124
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Cá chép tuy có nhiều hình dạng khác nhau Theo nhiều tác giả thì trong
các giống cá chép Cyprinus có 3 loại đang phát triển mạnh và được nuôi
nhiều nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Trang 135
Cá Chép vẩy (Cyprinus carpio linne) đây là loài cá chép nuôi phổ biến
nhất ở nước ta Thân bao phủ một lớp vẩy đều đặn, tính chịu đựng rất cao (nó
có thể sống được vài ngày ở vùng Đông bắc Liên Xô khi nhiệt độ môi trường xuống 00
C)
Cá Chép Kính (Cyprinus curpeospecularis) cá chép Kính có bộ vẩy
không hoàn chỉnh, thường mỗi bên thân có ba hàng vẩy, vẩy mọc tập trung ở đường bên Vẩy to nhỏ không đều nhau, hàng giữa thường có vẩy rất to xếp không thứ tự, thân ngắn, lưng dựng cao do đó có nhiều thịt
Cá Chép Trần (Cyprinus carpionudus) có nơi gọi là cá chép da vì toàn thân
không có vẩy bao bọc hoặc chỉ có rất ít mọc lưa thưa (Duy Khoát, 2003) [6]
2.1.2 Nguồn gốc phân bố
Cá Chép phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca, và Châu Úc Cá Chép được nuôi lâu ở Trung Quốc khoảng 2000 năm và 600 năm ở Châu Âu (Mai Đình Yên, Trung Tạng,1979) [14] Hiện nay cá Chép là một trong những loài cá nuôi chính trong các ao nuôi
ở Châu Âu, Châu Á như: Liên Xô, Hungary, Đức, Pháp, Trung Quốc, Inđônêxia và là đối tượng quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi (Nguyễn Công Thắng, 1996) [9]
Ở nước ta có cá chép phân bố trong tự nhiên thông qua các tỉnh trung
bộ, ở Miền Nam không có Cá Chép địa phương mà nhập vào nuôi Cá Chép có nguồn gốc từ Bắc Bộ Cá chép sống được ở hầu hết các thuỷ vực nước ngọt như: ao, hồ, đầm, ruộng, sông, suối ở tầng giữa và tầng đáy, ở giới hạn nhiệt
độ từ 0- 400C, nhiệt độ thích hợp là khoảng nhiệt độ 20-270C, hàm lượng Oxy cực tiểu cho phép 2mg/lít, pH = 4-9 Cá sống ở nước ngọt, đôi khi cũng thấy
ở cả vùng nước lợ có nồng độ muối < 14 ‰ (Duy Khoát, 2003) [6]
Trang 146
Cá Chép V1 là tổ hợp lai của 3 loài cá chép là cá chép Trắng Việt Nam,
cá Chép vẩy Hungary và cá chép Vàng Inđonexia Và được tạo ra ở Việt Nam
do Viện thuỷ sản I và ở một số cơ quan nghiên cứu Thuỷ sản lai tại theo dòng công thức lai sau:
V x H H x V I V x V I
VH HVI VVI
♂VH x ♀VI ♂ HVI x ♀V ♂ VVI x ♀ H
V1 VHVI HVIV VVIH
Hình 2.2 Sơ đồ lai tạo giống cá chép V1
Trong đó : Cá chép Trắng Việt Nam (V)
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá chép có hình thoi điển hình, giữa thân cao nhất thon dồn về 2 phía Màu sắc của cá chép rất đa dạng, màu trắng bạc, màu vàng, màu hồng, màu
Trang 15Ở nhiều nước trên thế giới còn phát hiện ra nhiều dạng hình cá Chép khác như: Chép vây ngắn, Chép vây nhỏ, Chép không râu, Chép cola…
6 - 8
Công thức vảy: 30 35
6 - 7
D: III - IV, 20-22 A: II - III, 5-6
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của cá Chép phụ thuộc vào giống, khối lượng nuôi
thả ban đầu và nguồn thức ăn của vùng nước sống
(Sở Thủy sản Quảng Nam, 2005) [15].
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Chép là loài ăn tạp Thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy, thành phần thức ăn thay đổi theo tuổi và thời gian phát triển khi nhỏ (cá bột - cá hương)
Trang 16(2-Thức ăn ưa thích tự nhiên của cá là động vật đáy, ấu trùng, côn trùng, giáp xác… Ngoài ra ăn các loại thức ăn nhân tạo như mầm thực vật…
Giai đoạn cá bột lên hương:
Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng, sau khi nở được 3-4 ngày cá bắt đầu ăn động vật phù du cỡ nhỏ
Sau khi nở được 7-10 ngày cá dài 10-13,5mm các vây hình thành rõ ràng hàm trên bắt đầu xuất hiện răng sừng Cá đã chủ động bắt mồi thức ăn chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ Ngoài ra cá còn ăn ấu trùng muỗi cỡ nhỏ Sau khi nở được 15-25 ngày cá dài 15-25mm, toàn thân có vảy bao bọc miệng xuất hiện chồi râu Cá hoàn toàn chủ động bắt mồi Thành phần thức
ăn bắt đầu thay đổi thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ
Sau khi nở được 20-28 ngày, thân dài 19-28mm vây vảy hoàn chỉnh cá chuyển sang sống đáy, cá ăn động vật đáy là chính
Giai đoạn cá trưởng thành: Cá ăn sinh vật đáy là chủ yếu như giun nước, ấu trùng, mùn bã hữu cơ, mầm non thực vật, các loại thức ăn chế biến như cám gạo bột mỳ, bã đậu, khô dầu, các loại thức ăn công nghiệp (Nguyễn Thị Phương Thảo, 1996) [13]
Trang 179
Bảng 2.2 Các giai đoạn dinh dƣỡng của cá chép V1
Sau 3 ngày Khối noãn hoàn tiêu hóa hết, cá sử dụng các loại thức ăn bên
ngoài: động vật phù du, luân trùng, ấu trùng của Daphnia,
2.17 Sức sinh sản của cá chép
Sức sinh sản của cá Chép phụ thuộc vào tuổi và cỡ cá, phụ thuộc vào cả chế độ nuôi dưỡng Cá Chép Việt Nam và cá Chép nuôi tại Việt Nam lượng chứa trứng tăng nhanh vào lứa tuổi thứ 3 đến 5 tuổi sau đó tăng không đáng
kể (Dương Ngọc Dương, 2007) [3]
Cá Chép là loài cá bán di cư sinh sản trong điều kiện sinh thái tự nhiên, sinh sản đơn giản Buồng trứng của cá Chép phát triển đặc thù trong
Trang 1810
đó trứng có mặt đồng thời ở các giai đoạn 2, 3, 4 Do sự phát triển không đều đó dẫn đến cá Chép đẻ ngắt đợt làm nhiều lần Ở các tỉnh phía Bắc cá Chép đẻ vào hai vụ là vụ Xuân và vụ Thu, nhưng tập trung chủ yếu vào vụ Xuân (tháng 2-3 dương lịch), nhưng ở miền núi cá Chép lại đẻ vào tháng 3-
4 như ở Sơn La, Lai Châu Ở các tỉnh Nam bộ cá Chép đẻ quanh năm và đẻ mạnh vào các tháng mùa mưa (Nguyễn Duy khoát, 2003) [6]
Cá Chép thành thục trong ao, hồ, ruộng, sông suối vào mùa mưa thường ngựơc dòng nước tới bãi cỏ hoặc nơi có thực vật thuỷ sinh thượng đẳng khác để đẻ trứng Trứng cá Chép dính vào cây cỏ, cây thuỷ sinh ở dưới nước một thời gian rồi phát triển thành cá bột Cá Chép thường đẻ vào sáng sớm, lúc mặt trời còn chưa mọc có khi kéo dài đến 8-9h sáng hoặc đến trưa Điều kiện thích hợp để cho cá Chép đẻ là có nước mới, có mặt cá đực, t0
=
20-300C, có gió thổi Đó là vào khi thời tiết ấm dần lên, đồng thời có mưa, có sấm đầu mùa cá Chép thường tập trung đi đẻ (Duy khoát, 2003) [6]
Bảng 2.3 Mối quan hệ giữa kích thước, tuổi và lượng chứa trứng của loài
cá Chép Việt Nam (C carpio)
Trang 1911
2.1.8 Giá trị dinh dưỡng
Cá chép V1 có chất lượng thịt thơm ngon, dễ nuôI tăng trọng nhanh khả năng chống chịu bệnh tốt, kích cỡ lớn
Cá chép có hàm lượng protein trong thịt là rất lớn 45%, có giá trị dinh dưõng cao Thịt cá chép mang nhiều thành phần dinh dưỡng đem lại nguồn thực phẩm bổ dưỡng và hợp lý cho mọi người
2.1.9 Đặc điểm thích nghi với các yếu tố môi trường bên ngoài
* Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến quá trình phát triển phôi của cá chép:
- Yếu tố nhiệt độ: Nhiệt độ nước ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sống và phát triển phôi Quan hệ giữa nhiệt độ nước với thời gian nở của cá chép thể hiện ở bảng sau:
- Hàm lượng 02 : Hàm lượng DO cần thiết cho sự phát triển của cá chép
là > 0,5mg/l, thích hợp cho sự phát triển phôi của cá chép là > 3mg/l
- pH: pH thích hợp cho sự phát triển phôi của cá chép 6,8-7,5
- Tác động cơ học : Tác động cơ học mạnh dễ làm vỡ trứng ảnh hưởng đến tỷ lệ nở của cá chép
- Chất nước: Nước dùng để ấp trứng cá chép phải trong sạch ít địch hại, oxy phong phú thuận lợi cho sự phát triển của phôi
Cá chép thích ứng với vùng nước ấm, ngưỡng nhiệt độ cho sinh trưởng
là 20-280C Cá thường sống ở tầng đáy và tầng giữa, có khả năng chịu ngưỡng oxy thấp, bắt mồi mạnh ở ngưỡng 6-7mg/l, kém bắt mồi ở ngưỡng 2-3mg/l, bắt đầu chết khi oxy còn 0,7mg/l (Dương Ngọc Dương, 2007) [3]
2.1.10 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng phát triển của cá Chép
* Các yếu tố thuỷ lý thuỷ hoá trong môi trường nước
Đối với mỗi loài cá sống trong các điều kiện môi trường khác nhau đều
có những đặc tính sinh thái khác nhau
Trang 2012
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh vật thuỷ sinh Cá là động vật biến nhiệt do đó chúng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ nước Nhiệt độ nước là giới hạn quan trọng vì động vật thuỷ sản có biên độ chịu đựng nhiệt độ hẹp, cho nên khi có sự thay đổi về nhiệt độ thì sẽ gây hậu quả nghiêm
trọng (Bulton, 1995)[24] Cá Chép là loài có ngưỡng chịu đựng nhiệt độ khá lớn,
kết quả nghiên cứu cho thấy cá Chép có thể sống được trên 400C và chết khi nhiệt độ giảm xuống dưới 00C Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện
ở Việt Nam thì cá Chép không bị chết rét hay chết nóng bao giờ Khoảng nhiệt
độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Chép là 20-270
C (Bulton, 1995) [24]
Cũng như các loài cá nước ngọt khác cá Chép có thể chịu đựng khoảng
pH 5,5-9,0 Mặc dù thích nghi với khoảng pH rộng nhưng sự phát triển của cá
sẽ giảm đi rõ rệt bởi môi trường pH là axit hay kiềm Khi pH thay đổi làm thay đổi cân bằng hoá học trong nước, giám tiếp làm ảnh hưởng tới đời sống của cá Khoảng pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Chép là
7,0-7,5 (Bulton,1995) [24]
Trong thuỷ vực cá Chép hoạt động ở mọi tầng nước, nhanh nhẹn thích sống ở nơi nước mới và ngược dòng, ưa sống nơi thoáng đãng, nơi có hàm lượng oxy hoà tan 3-8mg/l Tuy nhiên cá vẫn sống ở ao tù bẩn, nơi có hàm lượng oxy thấp Môi trường có hàm lượng oxy thấp thì tốc độ sinh trưởng phát triển chậm (Nguyễn Công Thắng, 1996) [9]
Cá Chép có khả năng chống chịu với môi trường khắc nghiệt cao hơn các loài cá khác Tuy nhiên cá Chép vẫn ưa môi trường thoáng sạch, không bị
ô nhiễm, nước ao có màu xanh nõn chuối (độ trong từ 10-20cm) Ngoài ra còn
có một số yếu tố thuỷ lý thuỷ hoá ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cá như: hàm lượng CO2 dao động từ 3-10mg/l, hàm lượng NH4+<1mg/l, hàm
Trang 2113
lượng sắt tổng số <0,2mg/l, hàm lượng PO4
3-<0,5mg/l, hàm lượng hữu cơ
khoảng 10-20mg/l (Phạm Văn Trang và Nguyễn Trung Thành, 2005)[12]
Tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn thuỷ vực, do vậy tảo ảnh hưởng khá lớn đến đời sống của cá Tảo tạo oxy hoà tan trong nước: Trong quá trình trao đổi chất và quang hợp tạo ra một lượng oxy hoà tan trong nước Ngoài ra tảo còn là thức ăn: khi cá còn nhỏ là thức ăn trực tiếp, là thức ăn giám tiếp khi cá lớn thông qua động vật phù du và nhuyễn thể khác Tảo hấp thu các chất dinh dưỡng trong môi trường nước vì thế nó làm sạch môi trường
nước ( FAO, 1996) [25]
Tuy nhiên tảo phát triển quá mức sẽ dẫn tới hiện tượng tảo nở hoa gây
ô nhiễm môi trường nước và gây thiếu oxy hoà tan có thể gây chết cá Do vậy môi trường ao nuôi phải duy trì mật độ nuôi thích hợp
Cỏ nước trong ao có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của cá, chúng tạo ra thức ăn, tăng hàm lượng oxy hoà tan và làm sạch môi trường ao nuôi Ngoài ra chúng còn tăng nhiệt độ nước và giữ ấm cho cá vào mùa đông Tuy nhiên sự phát triển quá mức sẽ gây thiếu oxy hoà tan, hạn chế sự phát triển của tảo, nghèo chất dinh dưỡng và làm chỗ trú ngụ của địch hại như rắn nước,
chuột (Đỗ Đoàn Hiệp, 2008) [5]
Trong nuôi thương phẩm người ta thường nuôi ghép nhiều loài cá với
tỷ lệ nhất định để tận dụng nguồn thức ăn và không gian sống Tuy nhiên vẫn
có sự cạnh tranh về thức ăn và môi trường sống giữa các loài cá và trong cùng một loài, do vậy ta phải nuôi với mật độ thích hợp để thu được hiệu quả cao nhất (Trần Đình Luân, 2007) [8]
Cá nhỏ có rất nhiều động vật khác gây hại như bắp cày, bọ gạo, nòng nọc, cá dữ… Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống và hiệu quả ương nuôi Do vậy cần phải tẩy dọn ao sạch, kỹ lưỡng trước khi thả
cá Các loại ký sinh trùng, vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác cùng tồn
Trang 2214
tại trong ao khi có điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh cho cá Vì vậy cần quản lý tốt nguồn nước, con giống, thức ăn và các nguồn khác là nguyên nhân lây lan, truyền bệnh để hạn chế thiệt hại của chúng gây ra (Bùi Quang Tề, 2005[11]
Trong quá trình nuôi thì yếu tố dinh dưỡng quyết định hiệu quả, năng suất sản phẩm Lượng thức ăn và hàm lượng dinh dưỡng đầy đủ sẽ thu được hiệu quả cao, khi thức ăn thiếu và hàm lượng dinh dưỡng không hợp lý thì cá
sẽ chậm lớn và tỷ lệ sống không cao
Bản chất di truyền của cá thể tác động tới sự tăng trưởng phát triển của cá Chép Bản chất di truyền của loài có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá Với các Chép lai nuôi một năm có thể đạt trọng lượng 1-1,5kg/con Trong khi cá Chép nội Việt Nam đạt 0,35-0,5kg/con (Trần Đình Luân, 2007 ) [8]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm đối tượng thuỷ sản được gia hoá và
sử dụng nuôi trồng thuỷ sản ở cả ba môi trường: nước ngọt, nước lợ, nước mặn Trong nhóm đối tượng nuôi nước ngọt, nhóm cá Chép đặc biệt là cá Chép Trung Quốc và Ấn Độ được nuôi phổ biến ở hầu khắp các Châu lục Nhóm này có sản lượng lớn nhất và có tốc độ phát triển nhanh nhất so với các đối tượng nuôi nước ngọt khác Năm 1991 sản lượng nhóm này chỉ đạt 5.636.389 tấn với giá trị 7223 tỷ USD, nhưng đến năm 2000 sản lượng tăng lên 15.451.646 tấn với giá trị 14.778 tỷ USD gấp 2,8 lần và đến cuối năm
2002 con số đó tăng lên là 16.692.147 tấn với giá trị 14.754 tỷ USD
Ở Châu Âu cá Chép (Cyprinus carpiolis) được nuôi phổ biến ở các trại
cá nước ấm Từ những năm 1970 các nhà di truyền và chọn giống người Hungary đã tạo ra nhiều dòng và các con lai phục vụ cho nuôi cá nước ấm Cá Chép được nuôi theo phương thức thâm canh, có dùng thức ăn và nuôi trong
Trang 2315
ao nuôi có mức độ thâm canh khác nhau Các tiêu chí được cân nhắc chính trong chọn giống là: tính ổn định của dòng cá, khả năng sinh trưởng và khả năng chống chịu bệnh, hệ số sử dụng thức ăn… ngoài ra, một số đặc điểm về hình dáng cơ thể, gù lưng, ngắn đuôi cũng được quan tâm đến việc chọn tạo giống cá Chép nuôi trong môi trường nước ấm
Cá Chép là loài được nuôi phổ biến và được tiêu thụ nhiều nhất ở Hungary và loại cá thả với tỷ lệ cao nhất chiếm từ 70-80% các loại cá nuôi trong các ao nuôi ghép Cá Chép Hungary có khả năng chịu đựng kém với các điều kiện bất lợi của môi trường
Ở Viện nghiên cứu cá Szarvas Hungary có lưu giữ ngân hàng gen sống của 18 dòng cá Chép có nguồn gốc Hungary và 13 giống có nguồn gốc từ các nước khác trên thế giới Tại đây công việc nâng cao chất lượng cá Chép đã được bắt đầu từ năm 1962 theo phương pháp chọn lọc cổ truyền (phương pháp chọn lọc theo gia đình và chọn lọc hàng loạt) Sau khi tiến hành các biện pháp lai tạo hoặc dùng hoormon chuyển đổi giới tính Những đặc điểm chính
để đánh giá giá trị kinh tế ở cá Chép là: tỷ lệ nuôi sống, tốc độ sinh trưởng, hệ
số chuyển đổi thức ăn, giá trị thương phẩm và tỷ lệ mỡ trong thịt
Hiện nay có tới 80% cá Chép được nuôi ở Hungary là các dòng cá Chép lai ba máu giữa cá Chép Kính SZ215 lai với cá Chép SZP31 và SZP34 (Bùi Lai và Trần Mai Thiên, 1979 [7]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong các loài cá nước ngọt được nuôi ở Việt Nam thì cá chép là loài được nuôi phổ biến, nó có những ưu điểm được người dân Việt Nam ưa chuộng như chất lượng thịt thơm ngon, cá có tốc độ lớn nhanh, ngoại hình đẹp Chính vì vậy
cá chép không những chỉ nuôi làm thực phẩm, nuôi làm cảnh và nuôi với mục đích tâm linh