Hiện nay, cá rô phi đã được nuôi ở trên 100 nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc và các nước còn lại ở châu Á là khu vực sản xuất cá rô phi lớn nhất, chiếm 75% tổng sản lượng cá rô ph
Trang 1-
HOÀNG ĐỨC LUẤN
“THỬ NGHIỆM QUY TRÌNH NUÔI RÔ PHI DÒNG ĐƯỜNG NGHIỆP
TRONG LỒNG TẠI HỒ NÚI CỐC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành/ngành:Nuôi trồng thủy sản Khoa:Chăn nuôi thú y
Khóa học:2013 - 2017
Thái Nguyên- năm 2017
Trang 2-
HOÀNG ĐỨC LUẤN
“THỬ NGHIỆM QUY TRÌNH NUÔI RÔ PHI DÒNG ĐƯỜNG NGHIỆP
TRONG LỒNG TẠI HỒ NÚI CỐC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:Chính quy Chuyên ngành:Nuôi trồng thủy sản Khoa:Chăn nuôi thú y
Lớp: 45NTTS Khóa học:2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn:Ts Lê Minh Châu
Thái Nguyên- năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo sinh viên của Nhà trường Đây là khoảng thời gian sinh viên được tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học trong Nhà trường
Để có bài khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Minh Châu Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y
là những người đã dạy bảo và hướng dẫn em tận tình trong suốt 4 năm học tập
và rèn luyện tại trường Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn, đặc biệt là kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 06 năm2017
Sinh viên thực tập
Hoàng Đức Luấn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp một số dòng cá rô phi tại Việt Nam 18Bảng 2.2: Một số thành tựu chọn giống nâng cao chất lượng cá rô phi ở Việt Nam 19Bảng 4.1: Biến động một số yếu tố môi trường nước trong các lồng thí nghiệm 36Bảng 4.2: Sinh trưởng tích lũy và tốc độ tăng trưởng của cá theo ngày của rô phi thí nghiệm 40Bảng 4.3: Các khoản chi phí (CP) trong mô hình nuôi cá rô phi 42Bảng 4.4 : Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá rô phi sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế 44
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp 5
Hình 2.2: Tổng sản lượng cá rô phi trong 5 năm gần đây 16
Hình 2.3: Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2015 22
Hình 4.1: Biến động nhiệt độ nước của lồng nuôi theo tháng 37
Hình 4.2: Biến động giá trị pH nước của lồng nuôi theo tháng 38
Hình 4.3: Biến động hàm lượng oxy hòa tan của lồng nuôi theo tháng 39
Hình 4.4: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng của cá theo ngày của 2 lồng rô phi thí nghiệm 40
Hình 4.5: Tỷ lệ sống của 2 lồng cá khi kết thúc thí nghiệm 41
Hình 4.6: Hệ số thức ăn 2 lồng cá rô phi thí nghiệm sau 180 ngày nuôi 42
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1.1 Phân loại 4
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
2.1.1.3 Tập tính ăn 5
2.1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.1.5 Nhiệt độ 7
2.1.1.6 Độ pH 8
2.1.1.7 Oxy hòa tan 8
2.1.1.8 Cách trị một số loại bệnh thường gặp trên cá rô phi 9
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12
Trang 82.2.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá rô phi trên thế giới 12
2.2.2 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá rô phi ở Việt nam 14
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 20
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới 20
2.3.1.2 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 22
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi ở Việt Nam 25
2.3.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam 27
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 29
3.4.2 Phương pháp theo dõi 32
3.4.2.1 Phương pháp xác định tỷ lệ nuôi sống 33
3.4.2.2 Phương pháp cân khối lượng 33
3.4.2.3 Phương pháp đo pH, nhiệt độ nước, oxy hòa tan 33
3.4.3 Phương pháp tính các chỉ tiêu 34
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Kết quả theo dõi môi trường trong lồng thí nghiệm 36
4.1.1 Biến động nhiệt độ nước 36
Trang 94.1.2 Biến động giá trị pH 37
4.1.3 Biến động hàm lượng oxy hòa tan 38
4.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống cá rô phi thí nghiệm 39
4.2.1 Tăng trưởng cá rô phi thí nghiệm 39
4.2.2 Tỷ lệ sống cá rô phi thí nghiệm 40
4.3 Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 41
4.4 Chi phí sản xuất 42
4.4.1 Các khoản chi phí trong mô hình nuôi cá rô phi 42
4.4.2 Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá rô phi 44
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Tài liệu tiếng việt 47
Tài liệu tiếng Anh 48
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc họ Cichlidae,
có nguồn gốc Châu Phi Mặc dù cá có nguồn gốc từ Châu Phi, nhưng chúng
lại được nuôi tập trung chủ yếu ở 2 khu vực chính đó là các nước châu Á và
Nam Mỹ, trong đó sản lượng cá rô phi ở các nước châu Á chiếm đến 80%
sản lượng cá rô phi trên toàn thế giới Hệ có khoảng trên 100 nước trên thế
giới nuôi cá rô phi với các loài khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào các
loài cá rô phi vằn Cá rô phi được coi là đối tượng thủy sản có tiềm năng to
lớn cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu nên đang được đầu tư nghiên cứu
phát triển mạnh trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000) [18]
Cá rô phi là loài cá nuôi nước ngọt quan trọng có sản lượng cao thứ
hai sau nhóm cá chép Trong thập niên từ 2002 đến 2011, sản lượng cá rô
phi tăng từ 1,115 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn, đạt tốc độ tăng trưởng sản
lượng trung bình 28,7%/năm Những năm gần đây sản lượng cá rô phi tăng
trưởng sản lượng trung bình >25%/năm, trở thành đối tượng nuôi chủ lực
của nhiều quốc gia Hiện nay, cá rô phi đã được nuôi ở trên 100 nước trên
thế giới, trong đó Trung Quốc và các nước còn lại ở châu Á là khu vực sản
xuất cá rô phi lớn nhất, chiếm 75% tổng sản lượng cá rô phi thế giới
Sự tăng trưởng nhanh về sản lượng cá rô phi ngoài những đóng góp
quan trọng từ công nghệ nuôi, tăng mức độ thâm canh và siêu thâm canh,
công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp phát triển, còn có sự đóng góp
quan trọng từ các chương trình chọn giống Nhiều tính trạng đã được cải
thiện vượt bậc sau chọn giống, đặc biệt là tính trạng tăng trưởng, tỷ lệ sống
cao, sức chống chịu, kháng bệnh tốt… Bên cạnh đó công nghệ sản xuất cá
rô phi đơn tính đực bằng hooc môn cũng dần được thay thế bằng công nghệ
Trang 11lai khác loài giữa cá rô phi Oreochromis niloticus và cá Rô phi xanh
Oreochromis aureus tạo ra con lai có tỷ lệ giới tính đực >95%
Hiện có rất nhiều dòng rô phi được nuôi ở Việt Nam, trong đó dòng rô phi Đường Nghiệp đang được ưa chuộng hơn cả với ưu điểm tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng chống bệnh và chịu lạnh cao Bản chất, rô phi Đường
nghiệp là thế hệ F1 của 2 loài Oreochromis aureaus và Oreochromis
niloticus và có khả năng phân tính đực cái Sản xuất giống rô phi Đường
nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Phillipine, sau đó công nghệ được chuyển giao sang Trung Quốc Dòng rô phi này mới được đưa về nuôi và sản xuất giống
ở Việt Nam trong vòng 2-3 năm trở lại đây nhưng đã nhanh chóng được bà con nông dân chọn nuôi thay thế cho những dòng cá rô phi trước đây do những ưu việt của nó
Rô phi đơn tính dòng Đường nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình cao khoảng 1-1,4kg/con/6 tháng, gấp 1,4 - 1,6 lần dòng GIFT vẫn được nuôi trên địa bàn, năng suất đạt 20 - 20,7 tấn/ha Cá có thời gian nuôi ngắn,
hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch Rô phi đơn tính Đường Nghiệp là loài cá dễ nuôi, có khả năng thích ứng với mùa đông ở Miền Bắc Giống cá này được nhiều đánh giá cho là có hiệu quả kinh tế cao, có triển vọng nhân ra diện rộng, tạo hướng đi mới cho nhiều vùng nuôi trồng thủy sản.Vì vậy, cá đạt năng suất cao và mang lại giá trị kinh tế giúp bà con cải thiện cuộc sống Để hiểu biết thêm về khả năng thích nghi và sinh trưởng của cá rô phi Đường Nghiệp tại
Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm quy trình nuôi rô phi dòng Đường Nghiệp trong lồngtại hồ Núi Cốc”
Trang 121.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững quy trình kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính thương phẩm
- Nắm vững kỹ thuật về chuẩn đoán và điều trị bệnh cho cá rô phi đơn tính
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá mức độ thích nghi, khả năng sinh trưởng cá rô phi dòng Đường Nghiệp trong lồng tại hồ Núi Cốc Đây là những nghiên cứu ban đầu về sinh trưởng của cá rô phi dòng Đường nghiệp khi sử dụng hai loại thức ăn là thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá khả năng nuôi cá
Rô phi dòng Đường Nghiệp trong lồng bè trên hồ Núi Cốc, là cơ sở để áp dụng vào thực tiễn sản xuất
Đánh giá được tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi sử dụng hai loại thức ăn tự chế và công nghiệp
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.1.Phân loại
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, hiện chúng được nuôi tại hơn
100 quốc gia trên thế giới Dựa vào đặc điểm sinh sản và hình thái học
người ta chia cá rô phi thành 3 giống(Trewavas, 1983) [25]: giống Tilapia
đẻ trứng bám vào giá thể; Giống Sarotherodon cá đực hay cá cái ấp trứng
trong miệng; Giống Oreochromis cá cái ấp trứng trong miệng
Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 80 loài cá rô phi dòng cichlidae
nhưng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy
Loài: Con lai F1 giữa loài cá rô phi O.Aureus (cá bố) và O
Niloticus (cá mẹ) có nguồn gốc Đài Loan
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá rô phi đơn tính Đường nghiệp có thân hình màu hơi tím, vẩy sáng
bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng Vây đuôi có
màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp
vi đuôi Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen
Viền vây lưng và vây đuôi có màu hồng nhạt
Trang 14Hình 2.1: Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp
2.1.1.3 Tập tính ăn
Cá rô phi là loài ăn tạp, thức ăn của chúng chủ yếu là thực vật phù
du, động vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng côn trùng, động vật đáy Khi trưởng thành cá ăn mùn bã hữu cơ lẫn các loại tảo lắng ở đáy ao, ấu trùng côn trùng, thực vật thủy sinh (Nguyễn Văn Hảo, 2009) [4] Tuy nhiên trong
ao nuôi cá ăn cả thức ăn chế biến và thức ăn công nghiệp
2.1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình cao khoảng 125-142g/con/tháng, gấp 1,4 -1,6 lần rô phi đơn tính dòng Gift, năng suất đạt khoảng 20 tấn/ha Có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch
Sự sinh trưởng của cá rô phi mang tính đặc trưng của loài, các loài rô
phi khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau Loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh và vượt trội so với loài O Mossambicus (Nguyễn Văn Hảo, 2009) [4] Cá rô phi loài O niloticus có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất
Trang 15sau đó đến O galilaeus và O aureus (Lowe, 1982) [20]
Trong cùng một loài các dòng khác nhau cũng có tốc độ tăng trưởng
khác nhau Khi nghiên cứu về sự sinh trưởng của 3 dòng cá O niloticus là
dòng Egypt, dòng Ivory Coast và dòng Ghana trong cùng một điều kiện nuôi cho thấy dòng Egypt có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, kém nhất là dòng Ghana (Khater và Smitherman, 1998 trích theo Lê Ngọc Khánh,
2013) [7] Nghiên cứu về sinh trưởng ở Philippin đối với cá O niloticus
dòng Israel, dòng Singapore và dòng Đài Loan kết quả cho thấy dòng Israel
có tốc độ tăng trưởng tốt nhất, kém nhất là dòng Đài Loan (Tayamen và Guerrero, 1998)[26]
Khi so sánh tốc độ sinh trưởng và hệ số thức ăn của cá rô phi O
niloticus chọn giống dòng GIFT và dòng không được chọn giống, kết quả
cho thấy cá chọn giống dòng GIFT có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn và hệ
số thức ăn cũng thấp hơn so với dòng cá không chọn giống (Ridha, 2004 trích theo Lê Thanh Hải, 2007) [5] So sánh sinh trưởng và tỷ lệ sống của
cá rô phi GenoMar và Superme Tilapia dòng GST1 và GST3, kết quả cũng cho thấy dòng GST3 có ưu thế vượt trội cả về sinh trưởng và tỷ lệ sống (Zimmermann và Natividad, 2004)[27]
Ở Việt Nam khi nghiên cứu về tốc độ sinh trưởng của các dòng cá O
niloticus, cá rô phi dòng GIFT sinh trưởng nhanh nhất, tiếp đến là dòng
Việt và dòng Thái, sinh trưởng chậm nhất là dòng Ai (Nguyễn Công Dân, 1998) [2]
So sánh về tốc độ tăng trưởng của con lai các dòng cá rô phi bằng phương pháp lai khác loài cũng cho những kết quả khác nhau ở các dòng
con lai Tốc độ tăng trưởng của con lai giữa cá ♂ O aureus x ♀ GIFT lớn hơn con lai giữa cá♂O aureus x ♀O niloticus Thái và thấp nhất là con lai giữa ♂O aureus x ♀ O niloticus (Chen, 1997 trích theo Nguyễn Văn Tiến, 2004) [11] Pullin (1998) [23] cho rằng con lai giữa O.niloticus với
Trang 16O.aureus có ưu thế về sinh trưởng tốt hơn sovới bố mẹ của chúng Theo
Suat Dikel (2001) (trích theo Lê Thanh Hải, 2007) [5] khi so sánh tốc độ
sinh trưởng của con lai 3 dòng rô phi: O niloticus, O aureus và con lai giữa ♂ O aureus x ♀ O niloticus thì tốc độ tăng trưởng ở con lai khác loài
là lớnnhất
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2007) [5], giai đoạn nuôi thương phẩm NOVIT 4 có tốc độ sinh trưởng cao nhất đạt 1,9g/con/ngày, kế đến là dòng GIFT đạt 1,65g/con/ngày và thấp nhất dòng Việt đạt 1,44g/con/ngày
2.1.1.5 Nhiệt độ
Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32oC Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8 - 42o
C, cá chết rét ở 5,5oC và bắt đầu chết nóng ở 42oC Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn,
ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh
Cá rô phi là loài cá có nguồn gốc nhiệt đới nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn với nhiệt độ thấp Biên độ nhiệt của cá rô phi rất rộng 11 42oC (Bardac và cs, 1972) [15] Nhiệt độ thích hợp cho cá rô phi sinh trưởng và phát triển là 28 - 30o
C (Lê Quang Long, 1964) [8] Ở nhiệt
độ thấp hơn 15,5o
C cá rô phi ngừng hoạt động và hoàn toàn ngừng ăn Quá trình sinh sản của cá rô phi chỉ xảy ra khi nhiệt độ nước trên 22oC, nhiệt độ thích hợp cho cá rô phi sinh sản là 26 - 29oC Ở nhiệt độ nước dưới 20oC tuyến sinh dục ngừng phát triển (Chervinski, 1982) [16] Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho ấp trứng rô phi là trên 20oC (Pillay, 1995) [24]
Khả năng chịu lạnh của các loài cá rô phi ở mỗi loài đều có sự khác
biệt, loài cá rô phi xanh O aureus và T zillii có khả năng chịu lạnh tốt nhất, tiếp đến là O mossambicus và O hornorum, cuối cùng là O niloticus
(Bechrends và cs, 1990 trích theo Nguyễn Thị Hoa và cs, 2014) [6] Nghiên cứu về giới hạn nhiệt độ của một số loài cá rô phi cho thấy giới hạn nhiệt
Trang 17độ thấp của O aureus là 8 - 8,5°C, cao là 41°C, O niloticus thấp là11 - 13°C, cao là 42°C, O mossambicusthấp từ 8 - 10°C và cao là
42°C(Chervinski, 1982) [16] Trong cùng một loài thì ngưỡng chịu nhiệt của các dòng cũng có sự sai khác về khả năng chịu lạnh, khả năng chịu
lạnh của loài O niloticus dòng Egypt là 10°C, dòng Ivory Coast là 12,2°C
và dòng Ghana là 14,4°C (Khater và Smithheman, 1998 trích theo Nguyễn Thị Hoa và cs, 2014) [6] Khả năng thích ứng với các biên độ nhiệt của cá
rô phi còn phụ thuộc vào kích cỡ cá, sự thuần hoá và độ mặn của môi trường nước
Khả năng chịu lạnh ở cá rô phi dòng Đường nghiệp cao Khả năng thích ứng với các biên độ nhiệt của cá rô phi còn phụ thuộc vào kích cỡ cá,
sự thuần hóa và độ mặn của môi trường nước
2.1.1.6 Độ pH
Môi trường có độ pH từ 6,5-8,5 là thích hợp nhất cho sự phát triển và sinh trưởng của cá rô phi, tuy vậy cá rô phi có thể chịu đựng được môi trường nước có độ pH xuống 4 và lên cao tới 11 Cá rô phi có khả năng sống được ở biên độ pH từ 4 - 11 (Chervinski, 1982) [16], nhưng pH thấp hoặc cao quá giới hạn thích hợp đều không có lợi cho quá trình sinh trưởng của cá rô phi Theo Philippart và Ruwet (1982)[22] cá rô phi chết ở ngưỡng
pH = 3,5 hay lớn hơn 12 sau 2-3 giờ
2.1.1.7 Oxy hòa tan
Cá rô phi có thể sống trong ao, đầm, lồng bè, nơi có hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp Yêu cầu hàm lượng oxy hòa tan trong nước của rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú
Theo Phạm Anh Tuấn (1996) [12], trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp cá sẽ giảm tiêu thụ, giảm các hoạt động trao đổi chất và giảm tốc độ sinh trưởng
Cá rô phi có khả năng sống ở những vùng nước có hàm lượng oxy
Trang 18hòa tan thấp nhờ khả năng sử dụng oxy trên mặt nước Tilapia có thể sống trong ao với hàm lượng oxy thấp hơn 1,0mg/l, nhưng không thể sống kéo dài khi hàm lượng oxy thấp hơn 0,7mg/l (Balarin và Haller, 1982) [14] Hàm lượng oxy thấp nhất mà cá rô phi có thể sống trong một thời gian
ngắn là 0,1mg/l đối với O mossambicus và O niloticus; 0,2mg/l đối với O
aureus (Cherviski, 1982) [16] Cá rô phi có thể chịu đựng được hàm lượng
oxy hòa tan dưới 0,1mg/l trong thời gian ngắn nhưng ngưỡng gây chết cho
cá khoảng 0,1 - 0,3mg/l (Vũ Đình Liệu, 2004) [9]
2.1.1.8 Cách trị một số loại bệnh thường gặp trên cá rô phi
- Bệnh xuất huyết
+ Tác nhân gây bệnh:
Cầu khuẩn Streptococcus sp, Gram (+)
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Bệnh gặp ở nhiều loài cá nước ngọt Khi nuôi cá rô phi năng suất cao trong hệ tuần hoàn khép kín, cá dễ phát bệnh Bệnh có thể lây cho người khi chế biến cá không vệ sinh an toàn
- Bệnh viêm ruột:
+ Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn Aeromonas hydrophila, Gram (-)
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Thường gặp ở cá rô phi nuôi thương phẩm và cá bố mẹ sinh sản khi
Trang 19môi trường nuôi bị ô nhiễm, đặc biệt là thức ăn không đảm bảo chất lượng,
tỷ lệ nhiễm bệnh thấp
+ Phòng trị bệnh:
Dùng một số kháng sinh cho cá ăn như Erythromyxin hoặc Oxytetramyxin, liều dùng 10-12 g/100kg cá/ngày đầu, từ ngày thứ 2-7 liều bằng ½ ngày đầu
- Bệnh trùng bánh xe
+ Tác nhân gây bệnh:
Một số loài trong họ trùng bánh xe Trichodinidea như: Trichodina
centrostrigata, T domerguei domerguei, T heterodentata, T nigra, T
orientalis, Trichodinella epizootica, Tripartiella bulbosa, T clavodonta
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Trùng bánh xe gây bệnh chủ yếu ở giai đoạn cá giống, là bệnh ký sinh đơn bào nguy hiểm nhất của giai đoạn này Trùng bánh xe ít gây bệnh
ở giai đoạn cá thịt Khi ương cá trong nhà, bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng tỷ lệ chết cao 70-100% Bệnh thường phát vào mùa xuân, mùa thua, khi nhiệt độ nước 25-30oC
+ Phòng trị bệnh:
Dùng nước muối NaCl 2-3% tắm cho cá 5-15 phút, dùng CuSO4
nồng độ 3-5 ppm tắm cho cá 5- 15 phút hoặc phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5-0,7 ppm (0,5-0,7g cho 1m3 nước) Dùng formalin nồng độ 200-250 ppm (200-250 ml/m3) tắm trong 30-60 phút hoặc nồng độ 20-25 ppm (20-25 ml/m3) phun xuống ao
- Bệnh trùng quả dưa
+ Tác nhân gây bệnh: Trùng quả dưa
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Bệnh thường gặp ở nhiều loài cá nuôi Cá rô phi lưu qua đông ở miền Bắc hoặc nuôi trong nhà, thường bị bệnh trùng quả dưa làm cá chết hàng
Trang 20loạt bệnh phát vào mùa xuân, mùa đông
+ Tác nhân gây bệnh: sán lá đơn chủ Cichlidogyrus tilapiae, C
sclerosus, Gyrodactylus niloticus
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Cá có thể bị bệnh khi ương giống với mật độ dày và có thể gây chết hàng loạt trong giai hoặc bể ương Bệnh phát vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông
+ Tác nhân gây bệnh: rận cá Caligus sp
+ Phân bố và lan truyền bệnh:
Rận cá ký sinh ở nhiều loài cá nuôi Cá rô phi nuôi mật độ dày, rận
cá ký sinh đã gây chết hàng loạt ở các đầm nước lợ hoặc nước ngọt
+ Phòng trị bệnh:
Dùng KMnO4 nồng độ 3- 5ppm (3- 5g/m3) hoặc chlorin nồng độ
Trang 211ppm (1g/m3) phun xuống ao
Dùng formalin nồng độ 20 - 25ppm (20 - 25ml/m3) phun xuống ao
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá rô phi trên thế giới
Trong những năm gần đây, sản lượng cá rô phi tăng nhanh là do chúng có nhiều đặc điểm ưu việt như sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngonvà có khả năng thích ứng rộng với điều kiện môi trường Cá rô phi nuôi từ cỡ giống 5- 10g/con có thể đạt khối lượng trung bình > 500g sau 5-6 tháng nuôi Tỷ lệ filet đạt 2,8 - 3,2 kg nguyên liệu cho 1 kg filet Là loài ăn tạp thiên về thực vật, cá rô phi sử dụng tốt thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp có thành phần nguyên liệu từ thực vật Trong nuôi thương phẩm quy mô công nghiệp, hệ số thức ăn khá thấp từ 1,2-1,4 Cá rô phi cũng là loài có khả năng ăn lọc và sử dụng tốt thức ăn tự nhiên, do vậy cũng phù hợp với nuôi trong các mô hình nuôi kết hợp sử dụng thức ăn là phụ phẩm trồng trọt chăn nuôi Cá rô phi là loài rộng muối, sinh trưởng tốt trong cả môi trường nước ngọt và lợmặn nên khả năng mở rộng diện tích nuôi là rất lớn Chúng còn phù hợp với các dạng hình mặt nước khác nhau như nuôi trong ao nước lợ mặn và xen canh với tôm Do thích ứng rộng, cá
rô phi đã và sẽ là loài cá nuôi quan trọng, có tiềm năng mở rộng đóng góp vào nhu cầu sản phẩm thủy sản ngày càng tăng của thế giới
Sự tăng trưởng nhanh về sản lượng cá rô phi ngoài những đóng góp
từ công nghệ nuôi, tăng mức độ thâm canh và siêu thâm canh, phát triển của thức ăn công nghiệp còn có vai trò quan trọng của các chương trình chọn giống và công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng hooc môn và lai khác loài
Trên cá rô phi vằn hiện đã có một số chương trình chọn giống, tập trung vào tính trạng tăng trưởng Phương pháp chọn lọc có thể là chọn lọc
cá thể hoặc chọn lọc gia đình (Bentsen và cs., 2012; Ponzoni và cs, 2011
Trang 22trích theo Lê Ngọc Khánh, 2013) [7] Chọn lọc cá thể trên cá rô phi được báo cáo là không đạt hiệu quả Điều này cho thấy sự cần thiết phải áp dụng phương pháp chọn lọc gia đình trên cá rô phi (Gjedrem, 2012[19]).Cho đến nay, trong số các chương trình chọn giống trên cá rô phi thì Dự án GIFT
(Genetic Improvement of Farmed Tilapia) (Bentsen và cs., 2012 trích theo
Lê Ngọc Khánh, 2013 [7])là được biết đến nhiều hơn cả và đạt được những kết quả đáng chú ý Dự án GIFT được thực hiện trong 10 năm (1988 - 1997) dưới sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với sự tham gia của Trung tâm Nghề cá Thế giới, AKVAFORSK (Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Na Uy) và một số cơ quan nghiên cứu thủy sản Philippines Kết quả sau 5 thế hệ chọn giống tăng trưởng của cá rô phi GIFT tăng hơn 80% so với quần thể ban đầu Từ đó, cá rô phi GIFT được phát tán và nuôi phổ biến ở nhiều nước khu vực Châu Á và Châu Phi Kết quả cho thấy cá GIFT tăng trưởng nhanh hơn từ 40 - 60% so với cá rô phi địa phương, đồng thời mang lại nhiều hiệu quả tích cực về kinh tế và xã hội (Asian Development Bank, 2005 trích theo Lê Ngọc Khánh, 2013) [7]
Nhiều giống cá rô phi với tên thương mại có phẩm chất tốt hiện đang được nuôi ở phổ biến ở các nước châu Á bao gồm FaST, GIFT, GET-EXCEL, GMT, Nirwana, Gesit (super male), BEST, RedNIFI, Janti, Saline (chịu mặn), Chitralada, Đường nghiệp, Cát Phú, Lai xa, GIFT, NOVIT4, ISRAEL Những giống mới này hầu hết là kết quả của chọn giống, lai khác loài hay tạo bằng công nghệ di truyền phân tử Sự đa dạng về giống cá
rô phi chất lượng cao đã và đang là động lực đóng góp vào sự tăng trưởng sản lượng chung của nghề nuôi cá rô phi trên thế giới
Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực đã khắc phục được nhược điểm sinh sản tự nhiên trong ao Nhờ vậy hệ số thức ăn được cải thiện, kích cỡ thu hoạch lớn và đồng đều Trong ba công nghệ sản xuất
cá rô phi đơn tính đực hiện đang được áp dụng đó là chuyển đổi giới tính
Trang 23bằng xử lý hooc môn giai đoạn cá bột lên hương, lai khác loài và công nghệ siêu đực thì xử lý đơn tính đực bằng hooc môn và lai khác loài đang được
áp dụng phổ biến nhất Xu hướng trong tương lai sẽ dần chuyển sang sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng lai khác loài do những lo ngại về dư lượng hooc môn và ảnh hưởng đến môi trường nước của người tiêu dùng châu Âu
và Mỹ, thị trường tiêu thụ cá rô phi chính của thế giới
Tóm lại, cá rô phi là loài cá nuôi quan trọng trên thế giới, có tiềm năng để phát triển thành đối tượng nuôi quan trọng đem lại sản lượng lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Với nhiều đặc điểm ưu việt nhờ đặc tính của loài, sự phát triển của công nghệ nuôi, thức ăn và công nghệ di truyền đã tạo những giống cá rô phi chất lượng tốt nên chắc chắn trong tương lai gần cá rô phi tiếp tục được nuôi ở quy mô và sản lượng lớn hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm thủy sản thế giới
2.2.2 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá rô phi ở Việt nam
Theo thống kê FAO (2014) [17], năm 2012 sản lượng cá nước ngọt của Việt Nam đạt 2.060.000 tấn Trong đó cá Tra có sản lượng 1.240.000
tấn, chiếm 60%tổng sản lượng cá nước ngọt, cá chép (C.Carpio) và cá rô phi (Oreochromis spp) cùng đạt 100.000 tấn, chiếm 5% sản lượng cá nuôi
nước ngọt Trong nhóm cá nước ngọt, có hai loài có khả năng nuôi với số lượng lớn phục vụ chế biến xuất khẩu là cá tra và cá rô phi Những đối tượng cá nước ngọt khác tuy có sản lượng lớn xong giá trị xuất khẩu thấp
vì tỷ lệ filet thấp Như vậy, có thể khẳng định cá rô phi là đối tượng cá nước ngọt có tiềm năng phát triển với sản lượng lớn cho chế biến xuất khẩu
và tiêu thụ nội địa quan trọng thứ 2, sau đối tượng chủ lực của Việt Nam là
cá Tra
Trong những năm gần đây (2008-2012) sản lượng cá rô phi của Việt Nam tăng lên gấp đôi từ 50.000 tấn lên 100.000 tấn, đến năm 2015 tăng lên 187.800 tấn Hầu hết sản lượng cá rô phi được nuôi trong ao tại các tỉnh
Trang 24đồng bằng sông Hồng mà còn rất ít các vùng nuôi tập trung tạo sản lượng lớn Việc áp dụng các quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) hay bộ tiêu chuẩn VietGAPs còn khá hạn chế Hơn nữa, sản lượng cá thu hoạch tập trung vào cuối năm và đầu năm sau, chất lượng chưa ổn định nên chưa tạo được vùng nguyên liệu lớn cho chế biến xuất khẩu Gần đây đã có một số doanh nghiệp sản xuất cá rô phi với sản lượng lớn phục vụ xuất khẩu, điển hình là Công ty CP xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa năm 2013 đã xuất khẩu 330 tấn cá rô phi đi các thị trường châu Âu, Mỹ, Nhật, công ty Nam Việt (An Giang) năm 2013 đã xuất khẩu khoảng 3000 tấn cá rô phi, diêu hồng cho chế biến xuất khẩu.Do nhu cầu cao của thế giới, giá cá rô phi vào
Mỹ hiện đạt từ 3,8-4,2 đô la Mỹ cho 1kg nên chắc chắn trong những năm tới sản lượng cá rô phi của Việt Nam sẽ phát triển mạnh theo hướng sản xuất nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Ngoài ra, cá rô phi nuôi có kích
cỡ thương phẩm lớn, không có xương răm và chất lượng thịt ngon nên nhu cầu tiêu thụ cá rô phi trong nước cũng ngày một nâng cao Đứng trước bối cảnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt kế hoạch sản xuất 300.000 tấn cá rô phi vào năm 2020
Cá rô phi ở Việt Nam được nuôi ở nhiều hình thức khác nhau như nuôi đơn hoặc nuôi ghép với các loài cá khác, nuôi trong ao, lồng bè, nuôi trong môi trường nước ngọt hoặc lợ mặn Hầu hết các mô hình nuôi cá rô phi trong ao đều ở mức thâm canh với năng suất 8-12 tấn/ha, tỷ lệ nông hộ
áp dụng quy trình nuôi thâm canh đạt năng suất cao >20 tấn/ha còn hạn chế
do yêu cầu thay nước và sục khí Nuôi cá rô phi trong lồng bè nhỏ khá phổ biến, năng suất đạt 45-70kg/m3, trong đó nuôi trong lồng bè trên sông khá phổ biến ở Miền Bắc (Nam Sách, Hải Dương, Thái Bình, Vĩnh Phúc), Miền Trung (Đà Nẵng) hay Miền Nam (An Giang, Đồng Tháp) Nuôi cá rô phi, diêu hồng trong bè trên hồ chứa cũng phát triển trong những năm gần đây tạo nên những vùng nuôi ở miền đông Nam Bộ, Hòa Bình, tuy vậy quy mô
Trang 25nuôi lồng bè trên hồ chứa còn chưa tương xứng với tiềm năng.Cá rô phi cũng đã được nuôi trong các ao đầm nuôi tôm với mục đích cải tạo ao và nâng cao tỷ lệ sống của tôm nuôi Hầu hết cá rô phi nuôi hiện nay đã chuyển sang sử dụng thức ăn công nghiệp và kích cỡ thương phẩm đạt
>500g/con, đạt kích cỡ cho chế biến filet Tuy vậy, tỷ lệ các khu nuôi tập trung ít, chưa áp dụng hình thức quản lý trang trại theo VietGAPs Do vậy hầu hết sản lượng cá rô phi phục vụ tiêu thụ nội địa, tỷ lệ chế biến xuất khẩu còn hạn chế
Hình 2.2: Tổng sản lượng cá rô phi trong 5 năm gần đây
Về sản xuất giống cá rô phi, nhu cầu về con giống ước đạt >300 triệu con giống/năm và tập trung nhu cầu vào tháng 3-5 và tháng 9-10 Mặc dù, miền Bắc có trên 40 trại sản xuất giống nhưng năng lực cung cấp chỉ đạt sản lượng <100 triệu con giống/năm, đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu và thường sản xuất khá muộn khi thời tiết ấm Do vậy sự thiếu hụt cá giống vào khoảng đầu năm từ tháng 3-4 là khó khăn và là vấn đề được lặp lại hằng năm Bù đắp sự thiếu hụt này, các cơ quan, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất giống đã có nhiều biện pháp như lưu giữ giống qua đông, nhập cá
từ miền Nam và miền Trung ra miền Bắc vào đầu năm, sản xuất cá rô phi
Trang 26giống trong mùa đông…Ngoài ra đã có một lượng lớn cá giống được các doanh nghiệp tư nhân nhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan qua đường tiểu ngạch, tỷ lệ được kiểm dịch với những lô hàng tiểu ngạch này còn thấp Do kiểm soát với những lô giống rô phi nhập khẩu tiểu ngạch hạn chế, việc nhập giống sẽ là cơ hội lây lan các dịch bệnh mới mà điển hình là dịch
Streptoccocsis trên cá rô phi đã xảy ra phổ biến trong những năm gần đây,
hậu quả làm giảm năng suất và lợi nhuận đã khá rõ ràng ở nhiều địa phương như Hải Dương, Hà Nội, Bắc Giang Do vậy hướng bền vững ở Việt Nam là khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tại các vùng có ưu thế về điều kiện sinh thái (Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ) sản xuất
cá rô phi giống cung cấp cho các địa phương miền Bắc vào đầu vụ Nhờ có kiểm soát tốt nguồn cá bố mẹ, công tác kiểm dịch tốt sẽ là cơ sở để đảm vào nghề nuôi cá rô phi ở Việt Nam và đặc biệt là đồng bằng Sông Hồng phát triển bền vững
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong thời gian qua đã đầu
tư nhiều chương trình và công trình phục vụ mục tiêu sản xuất cá rô phi giống cho miền Bắc, trong đó có công trình Trung tâm chọn giống cá rô phi
và Dự án sản xuất cá rô phi hàng hóa cũng do Trung tâm chọn giống cá rô phi phối hợp với Trung tâm giống thủy sản Bình Định và Quảng Nam phối hợp thực hiện Trong ba năm qua, dự án đã cung cấp mỗi năm >20 triệu cá
rô phi đơn tính đực cho các tỉnh phía Bắc Trong những năm tới, Trung tâm chọn giống cá rô phi tại Quảng Nam phối hợp với Trung tâm giống thủy sản Bình Định, Quảng Nam sản xuất mỗi năm khoảng 150 triệu cá rô phi đơn tính đực, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu cá rô phi cho các tỉnh phía Bắc
Trang 27Bảng 2.1: Tổng hợp một số dòng cá rô phi tại Việt Nam
STT Dòng cá rô phi Đơn vị sản xuất/cung
NTTS 1 Viện nghiên cứu NTTS 2
Sinh trưởng nhanh, kích
cỡ thương phẩm lớn
Trung tâm chọn giống cá rô phi, Các TT giống TS các tỉnh
Sinh trưởng nhanh, kích
cỡ thương phẩm lớn
thủy sản nước ngọt miền Bắc
Trường Cao đẳng thủy sản
Sinh trưởng nhanh, đầu nhỏ, filet cao, số lượng hạn chế
tại Hải Dương
Sinh trưởng nhanh, đầu nhỏ, kích cỡ thương phẩm lớn, chất lượng thịt nhạt,
hệ số thức ăn thấp
và Sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh
Sinh trưởng nhanh, số lượng lớn, chất lượng tốt
Sinh trưởng nhanh, chống chịu tốt, màu sắc đậm
Sinh trưởng chậm, chống chịu kém, màu sắc hồng phấn đẹp nên được người tiêu dùng ưa chuộng (Lê Thanh Hải, 2007) [5]
Trang 28Thực tiễn cho thấy chất lượng giống cá rô phi ở Việt Nam đã được cải thiện so với giai đoạn trước những năm 90 nhờ kết quả của các chương trình chọn giống và nhập nội những giống có chất lượng tốt Hiện nay, cá
rô phi nuôi sau 5-6 tháng đều đạt khối lượng trung bình >500 g/con Đủ điều kiện cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Tuy nhiên, còn thiếu những đánh giá đầy đủ về chất lượng giống cá rô phi nhằm có những khuyến cáo phù hợp cho người nuôi và các doanh nghiệp nuôi, chế biến xuất khẩu
Về chọn giống, các chương trình chọn giống cá rô phi ở Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng (bảng 2.2)
Bảng 2.2: Một số thành tựu chọn giống nâng cao chất lượng cá rô phi ở
Việt Nam
STT Chương trình chọn giống Tính trạng
Tỷ lệ nâng cao chất lượng tính trạng chọn lọc (%)
Số thế
trong điều kiện lợ mặn
Toán và cs.,
2014
3 Chọn giống trong điều kiện
nhiệt độ nuôi không tối ưu
Hoa và cs., 2014[6]
4 Chương trình chọn giống cá
rô phi dòng GIFT
Trọng, 2009[4]
Trang 292.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới
Nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị cao đang được rất nhiều nước quantâm và chú trọng phát triển Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt được một số kết quả đáng kể Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp chọn giốngtruyền thống đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới để nâng cao chất lượnggiống theo tính trạng thì việc sử dụng công nghệ di truyền phân tử (ADN)cũng bắt đầu được sử dụng Việc kết hợp công nghệ di truyền phân tử vớichọn giống truyền thống của công ty Genomar đã tạo ra dòng cá rô phi GST1và GST3 có tốc độ tăng trưởng cao hơn (khoảng 20%) sau mỗi thế hệ, hệ sốthức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết xuống dưới 3% ởmỗi thế hệ (Hans Magnus, 2004 trích theo Lê Thanh Hải, 2007) [5]
Từ năm 1997 trở lại đây, phương pháp chọn giống cá rô phi truyền thống đã được áp dụng chương trình chọn giống theo tính trạng Trong đó chủyếu tập trung vào tính trạng tăng trưởng để nâng cao chất lượng di truyền, đãđược thực hiện ở nhiều nước khác nhau Cá rô phi dòng GIFT đã được bố trínuôi thử nghiệm ở 5 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó
có ViệtNam Với mục đích khảo nghiệm chất lượng di truyền của đàn cá chọn giốngthông qua việc nuôi để so sánh với các loài rô phi khác trong cùng điều kiệnnuôi khác nhau Kết quả thu được rất đáng quan tâm, dòng GIFT có tốc độtăng trưởng nhanh hơn 15 - 20 % so với các dòng cá khác hiện đang đượcnuôi ở Việt Nam (Nguyễn công Dân và cs,1998)[2]
Đầu tiên là chương trình chọn giống nâng cao chất lượng di truyền cá
rô phi ở Phillipine, kết quả đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ tăngtrưởng vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau 5 thế hệ chọn