Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chỉ ở một mức độ nhất định.. ngoài cơ thể,
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Quang đã tận tình giúp đỡ và
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y, đặc biệt là GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã giúp đỡ tôi hoàn thành Khóa
luận tốt nghiệp đại học này
Tôi xin chân thành cảm ơn chủ trại ông Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công nhân trong trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên khóa luận không tránh khỏi sai sót
Kính mong nhận được ý kiến góp ý của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2017
Sinh viên
Vương Thị Sở
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể vững vàng hơn trong nghề nghiệp sau này mỗi sinh viên khi
ra trường cần trang bi ̣ cho mình vốn kiến thức khoa học , chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vâ ̣y, thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p là giai đoạn hết sức quan tro ̣ng giúp sinh viên củng cố và hê ̣ thống hóa toàn bô ̣ kiến thức đã ho ̣c ,
vâ ̣n du ̣ng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp câ ̣n và làm quen với công viê ̣c Qua đó, sinh viên sẽ nâng cao trình đô ̣, đồng thời ta ̣o cho mình tác phong làm viê ̣c khoa ho ̣c , có tính sáng tạo , để khi ra trường là một cán bộ nắm vững lý thuyết, giỏi về tay nghề đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước
Xuất phát từ quan điểm trên được sự nhất trí của nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở Tôi đã tiến hành thực
tâ ̣p ta ̣i trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình với đề tài:
“Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị”
Được sự dẫn dắt tâ ̣n tình của thầy giáo hướng dẫn TS.Nguyễn Văn Quang, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luâ ̣n Tuy nhiên, do trình
đô ̣ có ha ̣n, bước đầu còn bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu Nên khóa luâ ̣n của tôi không tránh khỏi những sai sót và ha ̣n chế Tôi rất mong nhâ ̣n được sự quan tâm
và giúp đỡ của thầy cô giáo để khóa luận được hoàn thiê ̣n hơn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu sản xuất chăn nuôi lợn tại trại 5
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 43
Bảng 4.2: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo đàn và theo cá thể 44
Bảng 4.3: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 45
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 48
Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh phân trắng theo tháng 49
Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con 50
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CNTY: Chăn nuôi thú y
Cs : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính HCL : Acid Chclohydiric
H2S : Hydro sunfua LMLM : Lở mồm long móng Nxb : Nhà xuất bản
SS : Sơ sinh
Tr : Trang
TT : Thể trọng
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI MỞ ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của trại 3
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến đối tượng của chuyên đề 5
2.2.1 Tổng quan tài liệu 5
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tổng quan nghiên cứu ở ngoài nước 28
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH30 3.1 Đối tượng 30
3.2.1 Địa điểm tiến hành 30
3.2.2 Thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung tiến hành 30
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
Trang 83.4.2 Phương pháp theo dõi 30
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
4.1.1 Công tác vệ sinh thú y 33
4.1.2 Công tác phòng bệnh 35
4.1.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 36
4.1.4 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 39
4.1.5 Các công tác khác 42
4.2 Kết quả chuyên đề 43
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo đàn và theo cá thể 43
4.2.2 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 45
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 47
4.2.4 Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi 49
4.2.5 Kết quả sử dụng thuốc Nova – Amcoli để điều trị bệnh phân trắng lợn con 50
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
I.Tài liệu Tiếng Việt 53
II Tài liệu Tiếng Anh 56 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta trong những năm gần đây đã và đang phát triển mạnh với nhiều hình thức và quy mô khác nhau, từ chăn nuôi hộ gia đình đến các
mô hình chăn nuôi trang trại với số lượng vật nuôi lớn
Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, sự gia tăng đàn gia súc, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra Một trong những bệnh thường gặp gây nhiều thiệt hại trong chăn nuôi là bệnh phân
trắng lợn con (Colibacillosis) Bệnh này phát triển mạnh, đặc biệt ở các
trang trại chăn nuôi lợn tập trung Nếu không được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể tới 100% và tỷ lệ chết cũng rất cao, nhất ở giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
Nguyên nhân chính gây bệnh lợn con phân trắng trong giai đoạn lợn
con theo mẹ chủ yếu là do trực khuẩn Escherichia coli (E coli) sống ở ruột già gây nên Vi khuẩn E coli là vi khuẩn Gram (-), có sức đề kháng cao đối
với điều kiện ngoại cảnh Ngoài ra, điều kiện thời tiết, khí hậu thay đổi thất thường, chuồng trại, điều kiện vệ sinh, chế độ nuôi dưỡng kém… cũng là nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con Nếu không điều trị kịp thời thì
sẽ dẫn tới còi cọc chậm lớn, sức khỏe yếu và có thể dẫn tới tử vong Từ đó làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng con giống cũng như năng suất chăn nuôi và gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 10Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con, nhưng hiệu quả đạt được vẫn chỉ ở một mức độ nhất định Xuất phát từ thực tế trên, được sự giúp đỡ của thầy
giáo hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở
lợn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của trại
Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng nằm trên một quả đồi, cách xa khu dân cư, thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Đây là một trong những trại có quy mô lớn Trại có tổng diện tích khoảng hơn 2 ha, trong đó diện tích hơn 1 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 1 ha trồng cây xanh và ao hồ xung quanh
Trại nằm cách đường mòn Hồ Chí Minh 100m, đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y, tiêu thụ sản phẩm cũng như chuyển giao khoa học kỹ thuật
Trại được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2005 với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷ đồng, trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức
ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp
3 giống lợn Landrace, Yorkshire và Duroc
Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 2 dãy chuồng bầu, 2 chuồng cách ly nuôi 1.200 lợn nái, 30 lợn đực, 120 lợn hậu bị cùng 2500 lợn con đã tách mẹ Lợn sau khi sinh 19 đến 23 ngày thì được xuất chuồng Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống
Trại áp dụng quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Khu sản xuất được phân ra nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Thức ăn cho mỗi loại lợn cũng có chế
độ dinh dưỡng khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, hệ thống giàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ
Trang 12Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhân viên của trại gồm: 2 kỹ sư chính, 1 quản
lý, 4 tổ trưởng và 14 công nhân phụ trách, trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Trại đã chủ động liên hệ với cơ sở thú y địa phương tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh,
đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng… chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo, đeo khẩu trang và đi ủng chuyên dụng Xung quanh trại được trồng cây xanh, đào những hồ sinh học để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ lượng phân mà đàn lợn thải
ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung cách xa khu sản xuất và bán lại cho nhân dân trồng rau màu xung quanh vùng Nguồn nước thải rửa chuồng được thu gom và xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở
2.1.2.1 Đối tượng sản xuất
Trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire
và Duroc Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một trong những trại có quy
mô lớn Với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Trang 13Bảng 2.1: Số liệu sản xuất chăn nuôi lợn tại trại
Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
2014
Năm
2015
Năm 2016 (từ tháng 6 đến tháng 10)
Tổng số lợn con sinh ra (con) 22.727 23.615 12.324
Tổng số lợn con sinh sống (con) 21.958 22.886 11.944
Số lợn con chết, loại sau sinh (con) 767 729 380
Số lợn con cai sữa/nái/năm (con) 21.151 22.096 11.489
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trại chăn nuôi của ông Đặng Đình Dũng là một gương sáng điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay
2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến đối tượng của chuyên đề
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con
Bệnh lợn con ỉa phân trắng xảy ra ở lợn con đang theo mẹ, đặc biệt là lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi Có con mắc ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ và một
số con mắc muộn hơn khi đã 4 tuần tuổi
Trang 14Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng hay gặp nhất khi thời tiết thay đổi: nóng lạnh thất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao,…
Vi khuẩn tập trung chủ yếu ở ruột già nên phân gia súc là nguồn mang
vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là phân của gia súc mắc bệnh Vi khuẩn cũng tồn tại trong đất, nước, chất thải và chất độn chuồng
Theo Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2000) [14], bệnh lợn con ỉa phân trắng là một bệnh cấp tính làm chết nhiều lợn con trong giai đoạn đang bú
mẹ, thể hiện đặc trưng bằng triệu chứng ỉa chảy phân trắng, trắng vàng kèm theo bại huyết
* Đường nhiễm bệnh
Theo Lê Văn Năm (1998) [18], nguồn lây bệnh nhiều nhất các nái chờ phối (96,9%), ít nhất là nái chửa kỳ II (45%) Trong các trường hợp
này lợn con bị nhiễm E coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai
đoạn sau cai sữa giảm còn 76% Lợn ốm sau khi chữa khỏi trở thành vật mang trùng
Đường nhiễm bệnh của bệnh lợn con phân trắng chủ yếu thông qua đường tiêu hoá, thông qua thức ăn, nước uống, ít khi qua đường hô hấp, niêm mạc
mắt Trong một vài trường hợp có thể bị nhiễm E coli qua đường bào thai
Ở trong cơ sở chăn nuôi, E coli có thể lan truyền bằng con đường cơ
học (do chuột, chó, mèo, côn trùng…) hoặc do người đưa thức ăn, dụng cụ bị
nhiễm E coli từ nơi này sang nơi khác
Khi bị nhiễm bệnh, vi khuẩn E coli phát triển nhanh trong đường ruột,
chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra độc tố Độc tố này xâm nhập vào dòng lympho làm máu bị nhiễm độc khiến con vật chết
Từ khi mới sinh, lợn con có hệ vi sinh vật đường ruột rất đa dạng, tỷ lệ,
số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau nên chỉ cần tác dụng bất lợi của điều kiện ngoại cảnh là chúng đã gây bệnh
Trang 15* Quá trình sinh bệnh
Đối với lợn con khoẻ mạnh, vi khuẩn E coli và các vi khuẩn khác cư
trú ở đoạn ruột già và phần cuối đoạn ruột non Phần đầu và phần giữa ruột non hầu như không có vi khuẩn Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn,
Lactobacillus (Nguyễn Hữu Vũ, 2000 [34])
Việc bú sữa không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất dinh dưỡng và globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát triển bệnh Như vậy, để
gây ra E.coli bacillosis rõ ràng phải có chủng E coli cường độc và đều sản sinh
ra một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc kế tiếp
Theo một số nghiên cứu của trường Đại học Nông Nghiệp I, thì cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa hoàn thiện do một số men tiêu hoá thức ăn chưa có hoạt tính mạnh nhất là ở 3 tuần tuổi đầu Bên cạnh đó, cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con cũng phát triển chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt lợn con chưa ổn định, sinh và thải nhiệt chưa cân bằng, mặt khác, ở giai đoạn này tốc
độ sinh trưởng phát dục của lợn con lại rất nhanh
Quá trình sinh bệnh liên quan tới nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con Hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục, việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện Ngoài ra, có những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của thành ruột biểu bì cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận của tế bào nội võng quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi
khuẩn E coli phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và động lực Tất cả các tác
động đó đổ dồn vào ống tiêu hoá khiến cho cơ thể lợn con phải tự điều chỉnh và phản ứng lại bằng cách tăng nhu động co bóp ở dạ dày và ruột non
để đẩy nhanh các tác nhân gây bệnh ra ngoài cơ thể Tuy tiêu chảy là phản
xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể (bằng cách đẩy các tác nhân gây bệnh ra
Trang 16ngoài cơ thể), nhưng vì sự hoạt động không ngừng của các tác nhân khiến cho tần số, chu kỳ của bộ phận này tăng cao gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, các men tiêu hoá, các chất dinh dưỡng cũng bị đẩy ra ngoài khiến cho “tiêu chảy”chuyển sang có hại cho cơ thể lợn Tiếp theo là rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, vi khuẩn lên men sinh thối càng nhiều sẽ làm rối loạn sự giải độc gan Nguy kịch hơn nữa là hiên tượng ỉa chảy liên tiếp sẽ dẫn đến hiện tượng mất nước, rối loạn cân bằng điện giải
Như vậy, 3 quá trình rối loạn: Rối loạn chức năng tiêu hoá, rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, rối loạn cân bằng điện giải đã làm cho cơ thể lợn bị nhiễm độc, truỵ tim mạch và chết
Nếu con lợn nào có qua khỏi nhưng vì bị tổn thương hệ tiêu hoá và các chức năng sống do đó cũng làm giảm năng suất, chất lượng
2.2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con Song nguyên nhân tập chung theo hai hướng chính như sau:
- Nguyên nhân do nội tại
- Nguyên nhân do ngoại cảnh
* Nguyên nhân do nội tại
Khi mới sinh cơ thể lợn con chưa hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Lượng axit HCl ở dạ dày ít dẫn đến hoạt động của men pepsinase kém, tiêu hóa protein yếu Khi thiếu HCl, pepsinase tiết ra không trở thành pepsine hoạt động được Khi thiếu men pepsine, sữa mẹ không được tiêu hóa và bị kết tủa dưới dạng casein, gây rối loạn tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy phân màu trắng (chính là màu của casein chưa được tiêu hóa) Đối với lợn con một tháng tuổi trở lên, hàm lượng HCl và men pepsine dịch vị tăng, nên tỷ lệ cảm nhiễm bệnh giảm rõ rệt
Trang 17Do hệ thống thần kinh của lợn con chưa ổn định nên khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh kém
Lợn con khi mới sinh ra, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa hoàn thiện Vì cơ thể lợn con có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng rất lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì chúng sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn, gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6]: Một trong những yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt, nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg/con/ngày Khi thiếu sắt cơ thể lợn con bị suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc bệnh phân trắng
* Nguyên nhân do ngoại cảnh
Bệnh phân tráng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp và liên quan đến hàng loạt yếu tố Do đó, việc phân chia chỉ là tương đối, nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp phòng trị có hiệu quả
Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh có thể chia thành những nguyên nhân sau:
- Do điều kiện thời tiết khí hậu
- Do đặc điểm nuôi dưỡng
- Do vi khuẩn (chủ yếu là E coli)
- Do virus
- Do ký sinh trùng
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia súc Khi có sự thay đổi của các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của chuồng nuôi, đều ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe của lợn
Trang 18Bệnh phân trắng lợn con phát triển ồ ạt khi độ ẩm trong chuồng nuôi tăng và bệnh ngày càng trầm trọng hơn khi thời tiết lạnh kết hợp với
độ ẩm cao Việc sưởi ấm cho lợn con giúp chống đỡ bệnh và đó là biện pháp phòng bệnh cơ bản nhất trong những vụ đông xuân giá rét và cả mùa
Qua thời gian theo dõi đàn lợn thì cán bộ thú y cho biết lợn con ỉa phân trắng nhiều nhất vào giai đoạn thời tiết có sự chuyển mùa, tỷ lệ bệnh phân trắng là rất cao từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, và cao hơn so với các tháng khác Khi nhiệt độ cơ thể quá lạnh, thân nhiệt giảm xuống làm mạch máu ngoại vi co lại, máu dồn vào các cơ quan nội tạng Khi đó mạch máu thành ruột xuất huyết, làm trở ngại quá trình tiêu hóa, thức ăn
bị ứ lại tạo điều kiện cho vi sinh vật thối rữa phát triển Quá trình lên men tạo nhiều sản phẩm độc gây kích thích làm tăng nhu động ruột Đồng thời tính thấm thành mạch tăng làm nước bị kéo vào ruột, làm loãng chất chứa
và gây nên hiện tượng con vật ỉa chảy
+ Do đặc điểm nuôi dưỡng
Điều kiện nuôi dưỡng cũng đóng vai trò quan trọng Lợn con lúc mới sinh các cơ quan, nhất là cơ quan tiêu hóa chưa phát triển đầy đủ, vì vậy nếu dinh dưỡng không tốt, không hợp lý cũng là nguyên nhân gây bệnh
Khi có sự biến đổi về khẩu phần ăn thì cơ thể gia súc có sự biến đổi theo, nhất là ở cơ thể gia súc non
Trang 19Trong giai đoạn lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn con mới sinh có tốc độ phát triển về cơ thể rất nhanh, đòi hỏi cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cơ thể
Mà sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chính, dinh dưỡng tốt nhất Sự sinh trưởng và phát triển của lợn con nhanh hay chậm phụ thuộc phần lớn vào sữa mẹ Nếu chất lượng sữa mẹ kém dễ gây rối loạn tiêu hóa ở lợn con từ đó dễ phát sinh bệnh
Nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn có chửa, lợn mẹ bị thiếu dinh dưỡng, nhất là Fe, Co, Ca, vitamin B12 làm bào thai phát triển kém, thiếu chất dinh dưỡng Chính vì thế, trong giai đoạn này tình trạng sức khỏe của lợn mẹ, chế độ dinh dưỡng của lợn mẹ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển của con con Do đó cần phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng thức ăn, không những quan tâm đến chế độ dinh dưỡng đối với lợn con mà còn cần quan tâm đến cả lợn mẹ đang cho con bú
Mặt khác lợn con ở giai đoạn sơ sinh chưa phát triển hoàn chỉnh về giải phẫu, sinh lý nên quá trình tiêu hóa hấp thu kém điều hòa nhiệt kém, hệ thống miễn dịch chưa hoạt động nên việc cho lợn con bú sữa đầu là rất quan trọng Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, B, C, D cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra trong sữa đầu còn có MgSO4, có tác dụng tẩy rửa các chất cặn
bã trong đường tiêu hóa của lợn sơ sinh, làm tăng nhu động ruột, giúp cho quá trình tiêu hóa tốt hơn Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể γ- globulin chiếm 34 - 45% Do đó việc cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt
để lợn con được cung cấp đầy đủ kháng thể nhằm hạn chế lợn con mắc bệnh
Bên cạnh đó, việc thiết kế chuồng trại kém vệ sinh, không đảm bảo đông ấm, hè mát, đặc biệt là vệ sinh môi trường kém ảnh hưởng xấu đến tiểu khí hậu chuồng nuôi
+ Do vi khuẩn
Vi khuẩn là một trong những nguyên nhân quan trọng và chủ yếu gây bệnh phân trắng lợn con Trong đường ruột của tất cả các loài gia súc đều có
Trang 20vi sinh vật sinh sống Ở điều kiện bình thường các vi sinh vật ở đường ruột ở trạng thái cân bằng và có lợi cho cơ thể vật chủ, và chúng chỉ trỗi dậy để gây bệnh khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [29]: ở bệnh phân trắng lợn con
tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella,
và thứ yếu là Proteus, Streptococcus
E coli là một vi khuẩn đóng vai trò quan trọng gây tiêu chảy Vi khuẩn
này có mặt rất sớm ở đường ruột của người và động vật E coli thường ở ruột già, ít khi ở dạ dày và ruột non Ở đường ruột động vật, E coli chiếm khoảng
80% quần thể các vi khuẩn hiếu khí
Để gây bệnh trước hết vi khuẩn E coli bám dính vào tế bào nhung mao
ruột non bằng kháng nguyên bám dính và cư trú ở thành ruột non, phát triển, nhân lên, sản sinh độc tố đường ruột, độc tố này sẽ phá hủy tổ chức thành ruột
và làm thay đổi cân bằng muối - nước - chất điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà rút nước từ cơ thể tập trung vào ruột và dạ dày, sữa không tiêu hóa được bị vón sinh ra tiêu chảy, phân có màu trắng
Một số hiểu biết về E coli
Trực khuẩn đường ruột Escherichia, loài Escherichia, trong các vi khuẩn đường ruột Escherichia là phổ biến nhất
Trực khuẩn Escherichia coli còn có tên khác là Bacterium coli
commune, Bacillus coli communis, do Escherich phân lập từ năm 1985 từ
phân của trẻ em (Nguyễn Quang Tuyên, 2000) [32]
Vi khuẩn E coli thường xuất hiện sớm ở đường ruột của người và động
vật sau khi đẻ 2 giờ Chúng thường ở phần sau ruột, ít hơn ở dạ dày và ruột non, trong nhiều trường hợp còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể
Trang 21* Đặc điểm hình thái
Vi khuẩn E coli có thể quan sát được một cách dễ dàng dưới kính hiển vi thông thường E coli là trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2 – 3 µm x 0,4 -0,6
µm, hai đầu tròn Trong cơ thể, chúng có hình cầu trực khuẩn đứng riêng lẻ thành
đôi hoặc thành chuỗi ngắn, phần lớn E coli có lông xung quanh và có khả năng sinh sản, E coli không sinh nha bào nhưng có giáp mô là vi khuẩn gram (-)
E coli được phân thành nhiều chủng khác nhau và các chủng đó được phân
loại thành nhiều cách như theo serotype của chúng thì chia thành: kháng nguyên
vỏ, kháng nguyên lông nhung, kháng nguyên bám dính, hay tính sinh bệnh
Vi khuẩn E coli bắt mầu gram (-), bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu Vi
khuẩn lấy từ khuẩn lạc làm tiêu bản có thể thấy giáp mô
* Đặc điểm nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2000) [32] thì trực khuẩn E coli có thể
sinh trưởng ở điều kiện yếm khí hoặc hiếu khí, nhiệt độ thích hợp 37ºC, pH = 7,2 - 7,4 Do vậy, đặc tính nuôi cấy của chúng rất đa dạng Có một số đặc tính nuôi cấy điển hình như sau:
Nuôi cấy trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển rất nhanh sau 3 - 4 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển làm đục nhẹ môi trường Sau 2 ngày môi trường đục nhiều, trên bề mặt môi trường có màng mỏng, màu ghi nhạt dính vào thành ống, dưới đáy có cặn lắng xuống màu tro nhạt canh trường có mùi phân thối
Nuôi cấy trong môi trường thạch thường: Nuôi cấy ở 37ºC trong 24 giờ hình thành khuẩn lạc tròn, ướt, hơi lồi, không trong suốt, màu trắng đục Đường kính khuẩn lạc từ 1,5 – 3 mm Những ngày sau khuẩn lạc chuyển màu xanh xám, giữa đục xám
Nuôi cấy trong môi trường Endo: Vi khuẩn E coli phát triển tạo thành
khuẩn lạc màu đỏ, màu mận chín, có ánh kim hoặc không có ánh kim
Trang 22Nuôi cấy trên môi trường Levin: E coli mọc thành khuẩn lạc có màu
Lên men sinh hơi các loại đường lactoza, fructoza, galactoza, velulor,
mannit… E coli không lên men đường andonit, irozit… Tất cả các E coli đều
lên men đường lactoza nhanh và sinh hơi.Đây là đặc tính để phân biệt với vi
khuẩn thuộc họ Enterobacteriacae
sau 48 giờ E coli không phân giải urê
Phản ứng MR dương tính, VP âm tính, hoàn nguyên nitrat thành nitrit
* Cấu trúc kháng nguyên
Nguyễn Hữu Phước (1978) [22] cho rằng cấu trúc kháng nguyên của vi
khuẩn E coli được chia thành những nhóm cơ bản sau:
- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân)
Đây là thành phần chính của thân vi khuẩn và cũng được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, chịu nhiệt tốt: Khi đun sôi ở 100o
C trong vòng 90 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, giữ được khả năng liên kết và kết hợp
- Kháng nguyên H (Kháng nguyên lông)
Được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn có bản chất là protein như chất myosin của cơ Nó kém bền vững hơn kháng nguyên O Nó bị phá huỷ ở nhiệt độ 70o
C trong vòng 1 giờ, dễ bị phá huỷ bởi cồn, axit yếu nhưng
Trang 23có sức đề kháng với formon Đây là một đặc điểm rất quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh Kháng nguyên H không giữ vai trò độc lực và không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch
- Kháng nguyên K (Kháng nguyên bề mặt)
Kháng nguyên K nằm bên ngoài vách tế bào vi khuẩn, bản chất là polysaccarit, mang đặc trưng cho từng loài, giống Căn cứ vào đặc tính khác nhau về tính chịu nhiệt hay không chịu nhiệt, có khả năng hình thành ngưng kết tố và khả năng ức chế ngưng kết tố mà chia làm 3 loại A, L, B
+ Kháng nguyên L: Không chịu được nhiệt, bị phá huỷ ở nhiệt độ
100oC trong 1giờ
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu được nhiệt, không bị phá huỷ khi đun sôi ở 100oC, nhưng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút thì kháng nguyên bị phá huỷ
+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên không chịu được nhiệt, bị phá huỷ ở 100o
C trong 1 giờ Lúc đó kháng nguyên B bị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa Kháng nguyên này rất đặc hiệu cho các type trong các nhóm trực khuẩn đường ruột
* Độc tố
Theo nghiên cứu của Trương Quang (2005) [25], vi khuẩn E coli tạo ra
hai loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố
+ Nội độc tố
Nội độc tố có cấu trúc phân tử như màng tế bào vi khuẩn, có tác động trực tiếp trên tế bào biểu mô ruột non, thuộc kháng nguyên hoàn toàn và có tính đặc hiệu cao đối với mỗi serotype
Nội độc tố của vi khuẩn đường ruột hầu hết có cơ chế gây bệnh giống nhau chỉ khác nhau về tính kháng nguyên Nội độc tố có thể được phóng thích khi vi khuẩn bị dung giải Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực tế điều trị bệnh do vi khuẩn đường ruột gây ra Khi dùng kháng sinh nên tránh hiện
Trang 24tượng dung giải vi khuẩn một cách ồ ạt Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: phương pháp phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc bằng axit tricoxetic, phenol dưới tác dụng của enzyme
+ Ngoại độc tố
Là một chất không chịu được nhiệt độ dễ bị phá huỷ ở 56o
C trong vòng 10 - 30 phút, dưới tác dụng của formol và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử Hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lại lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trong môi trường dinh dưỡng (Đào Trọng Đạt và cs 1986) [4]
* Khả năng bám dính của vi khuẩn
Khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố gây bệnh quan trọng, đặc
trưng ở các vi khuẩn gây bệnh thuộc họ Enterobactericeae Đó là một quà
trình liên kết vững chắc giữa vi khuẩn với tế bào vật chủ, để chống lại nhu động của đường ruột tượng bám dính của vi khuẩn lên bề mặt tế bào được thực hiện theo trình tự 3 bước:
- Bước 1: Vi khuẩn liên kết từng phần với bề mặt tế bào, thực hiện quá trình này đòi hỏi vi khuẩn phải có khả năng di động
- Bước 2: Diễn ra quá trình hấp phụ, tuỳ theo đặc tính bề mặt vi khuẩn
và tế bào chủ mà vi khuẩn bám dính Do vậy sự thay đổi đặc tính bề mặt, sự tăng lên hoặc giảm đi điện thế bề mặt của vi khuẩn (trong, môi trường nuôi cấy) hoặc của tế bào chủ (trong điều kiện sống) sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ
- Bước 3: Diễn ra quá trình tác động giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn với điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào (receptor) ruột non (tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, trên các lông nhung) Ở vi khuẩn, yếu tố bám dính đước sắp xếp trên các lipi (fimbriae)
Trang 25* Sức kháng của mầm bệnh
Vi khuẩn E coli không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở 60o
C trong
vòng 15 giờ 30 phút Trong đất và nước E coli sống được khoảng vài tháng,
các chất sát trùng thông thường như acid phênic, formol… có thể tiêu diệt
E coli trong vòng 5 phút E coli đề kháng với sự sấy khô, chúng có độ nhạy
cảm với nhiều loại kháng sinh
Bùi Thị Tho và cs (1995) [31] khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và tính kháng thuốc được phân lập từ các lợn con bị bệnh phân trắng ở nước ta cho biết: Hiện nay, những thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn
con do E coli gây ra gồm chloramphenicol, neomycin, tetracyclin Còn các thuốc streptomycin, sulfamid ít có tác dụng với E coli và tỷ lệ kháng lại
chúng cao từ 70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này được dùng điều trị chỉ có giá trị trong một thời gian nhất định thì phải đổi kháng sinh mới, đó là hậu quả của việc quá lạm dụng kháng sinh đã gây lên hiện tượng kháng kháng sinh ở vi khuẩn
Như vậy, khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường ruột nói riêng luôn luôn thay đổi, phụ thuộc vào từng địa phương, loài động vật, thời điểm làm kháng sinh đồ khác nhau, có thể cho kết quả khác nhau
Khi điều trị bệnh muốn đạt hiệu quả cao ta phải xác định độ mẫn cảm của vi khuẩn đối với từng loại kháng sinh khác nhau bằng kỹ thuật kháng sinh đồ Bên cạnh đó ta phải tìm ra các loại kháng sính mới và nghiên cứu sử dụng phối hợp nhiều loại kháng sinh để điều trị làm tăng hiệu quả và tránh tính kháng kháng sinh Đồng thời ta phải làm thay đổi bản chất của các Plasmit hoặc ngăn ngừa sự tái sinh và truyền Plasmit giữa các tế bào vi khuẩn
Salmonella là vi khuẩn sống hoại sinh trong đường tiêu hóa, chứa đựng các
Trang 26yếu tố gây bệnh phong phú gồm độc tố và yếu tố gây bệnh không phải độc tố
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên (2001) [10]: số lượng vi khuẩn
trung bình của E coli và Salmonella trong mỗi một gam phân lợn ở trạng thái
sinh lý bình thường là 91.450.000 vi khuẩn/gam và 26.531.000 vi khuẩn/gam
Trong khi đó số lượng vi khuẩn trung bình của E coli và Salmonella trong
một gam phân ở lợn mắc tiêu chảy là 173.837.000 vi khuẩn/gam và
51.050.000 vi khuẩn/gam Như vậy số lượng vi khuẩn E coli và Salmonella
trong phân ở trạng thái bệnh lý tăng gấp hai lần so với ở lợn khỏe
Ngoài hai loại vi khuẩn E coli và Salmonella là hai loại vi khuẩn chủ
yếu gây tiêu chảy ở lợn con, còn có rất loại vi khuẩn khác cũng có vai trò là nguyên nhân gây bệnh nguyên phát và kế phát
Tóm lại, khi đàn lợn con bị bệnh phân trắng nếu không can thiệp kịp thời thì tỷ lệ chết cao có thể tới 60 - 90%, đặc biệt là lợn con mắc bệnh vào tuần tuổi đầu Những lợn con khỏi bệnh thì thường còi cọc, phát triển chậm trong giai đoạn sau, dẫn đến chăn nuôi kém hiệu quả
+ Do virus
Trước đây, trong bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ, tác nhân gây bệnh
là virus chưa được để ý nhiều Trong những năm gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, người ta đã thống kê được ở lợn có 11 loại virus có
tác động làm tổn thương đường tiêu hóa gây viêm ruột ỉa chảy như: Adenovirus
type IV, Enterovirus, Rotavirus, Coronavirus, virus gây bệnh dịch tả lợn,
+ Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn cũng như các loài gia súc khác
Lợn con từ 1 - 4 tuần tuổi thường bị nhiễm cầu trùng và phát bệnh nhiều hơn lợn trưởng thành Đặc biệt lợn từ 1 - 10 ngày tuổi bị bệnh cầu trùng
Trang 27có tỷ lệ chết cao, từ 20 - 40% số lợn bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs 2000) [14] Nguyễn Kim Thanh (1999) [28] cho biết: trong đường ruột của lợn tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với số lượng nhiều
Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [26]: tiêu chảy là một phản xạ có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài Song do nguyên nhân gây bệnh không ngừng phát triển, đồng thời sức đề kháng của cơ thể giảm sút đã kích thích gây tổn thương niêm mạc, tiêu chảy lúc này đã có hại
Các tác nhân stress có hại tác động làm rối loạn cơ năng tiêu hóa ở ruột, thức ăn không tiêu hóa được bị lên men, các chất hữu cơ bị phân giải sinh các sản phẩm độc như Indol, H2S, CH3, làm thay đổi pH đường ruột, trở ngại quá trình tiêu hóa, hấp thu, làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa Từ đó
vi khuẩn đường ruột có điều kiện thuận lợi phát triển tăng nhanh về số lượng, sản sinh ra độc tố đường ruột Độc tố đường ruột phá hủy tổ chức thành ruột
và làm thay đổi cân bằng nước, chất điện giải, nước không được hấp thu từ ruột vào mà rút nước từ cơ thể tập trung vào ruột Vi khuẩn phát triển làm thay đổi pH trong ruột và dạ dày, sữa không tiêu, bị vón lại sinh ra tiêu chảy, phân có màu trắng
Khi bị viêm ruột ỉa chảy, thức ăn trong đường tiêu hóa như protit, lipit, thường xuyên không tiêu hóa được sẽ lên men sinh hơi như CH4, H2S,
CO2, và các độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu, làm thay đổi pH của máu,
Trang 28khi đó cơ thể sẽ rơi vào tình trạng nhiễm độc toan
Hậu quả của ỉa chảy là mất nước, mất chất điện giải, nhiễm độc toan, rối loạn chức năng sinh lý tiêu hóa và hấp thu của ống tiêu hóa, rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc thải ở thận
Chính vì vậy, trong điều trị cần phải cung cấp nước và chất điện giải để lập lại cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột
2.2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn con sơ sinh đến 21 ngày tuổi Có con mắc sớm hơn ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ, nhưng cũng có con mắc muộn hơn khi đã được 4 tuần tuổi
Lợn con bị nhiễm E.coli thường yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít
khi tăng cao, cá biệt có trường hợp nhiệt độ 40,5 - 41oC nhưng sau một ngày lại hạ xuống ngay, lợn đi ỉa nhiều lần trong một ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám, màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân
có mùi thối khắm, đặc biệt bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính bết quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất khi thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh bất thường, mưa nhiều, độ ẩm cao Bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn cùng mắc
Bệnh thường diễn ra chủ yếu ở 2 thể: thể cấp tính và thể kéo dài
- Thể cấp tính: Bệnh gặp nhiều ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi, lợn kém ăn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo, lợn đi ỉa, da nhăn nheo, đầu to, bụng tóp, lợn gầy sút nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó chuyển sang màu trắng xám như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống,
Trang 29làm bệnh nặng thêm Đôi khi lợn nôn ra sữa chưa tiêu hoá có mùi chua Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết
- Thể kéo dài: Thường gặp ở lợn từ 22 ngày tuổi trở lên Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Mắt có dử
và vàng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 -
50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ bị phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu trắng xám Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc chậm lớn
* Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng Ruột non bị viêm cata, kèm xuất huyết, mạch máu màng treo ruột sưng, mềm, đỏ tấy do sung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng, phủ một lớp chất nhầy, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu và những nốt đen trên thành do bị nhồi huyết Ruột chứa chất lỏng trắng có mùi chua Ruột căng phồng đầy hơi, ruột non trương giãn to và xuất huyết, niêm mạc ruột bị hoại
tử từng đám
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [3], mổ khám thấy lợn con gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó chịu Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi Gan bình thường, đôi khi hơi sưng Túi mật chứa đầy mật Phổi thường ứ máu, đôi khi phổi bị viêm Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng có thể bị teo
2.2.1.5 Phòng và trị bệnh
Bệnh lợn con ỉa phân trắng là một bệnh do nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau gây ra Do vậy, việc phòng và trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau thì mới thu được kết quả tốt
Trang 30* Phòng bệnh
Do các nguyên nhân gây bệnh khác nhau, nên việc phòng trị bệnh phân trắng lợn con hiện nay còn là một vấn đề nan giải, phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh gây ra Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trường, vật chủ và mầm bệnh Biện pháp chủ yếu là:
Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh tiêu chảy gây ra Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trường, vật chủ
và mầm bệnh
- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Sử An Ninh (1993) [19], biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11], lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC Như vậy sẽ tránh được stress lạnh, ẩm
Để cho đàn gia súc non khoẻ mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi mới chửa, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [4]
Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng… cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng
- Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Tạ Thị Vinh (1994) [33] đã công bố kết quả chiết tách thành công chế phẩm γ - globulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy
Phan Thanh Phượng, Đặng Thị Thuỷ (2008) [23], đã công bố kết quả
phòng bệnh bằng kháng thể E coli được chiết tách từ lòng đỏ trứng gà dạng bột
Trang 31Trần Thị Hạnh và cs (2002) [8], đã nghiên cứu 3 loại chế phẩm: E coli sữa, Cl perfringens dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E coli Baderin và
Cl perfringens) dùng cho lợn con để phòng và trị bệnh tiêu chảy và phân
trắng lợn con
Nguyên lý: dùng các vi khuẩn có lợi để phòng bệnh Các nhóm vi khuẩn
thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium, Lactobacillus, Các vi khuẩn
này khi đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ có vai trò cải thiện tiêu hóa thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, ức chế các vi khuẩn có hại
Xí nghiệp thuốc thú y trung ương đã sản xuất chế phẩm Subtilis, Viện thú y quốc gia đã chế thành công sản phẩm men tiêu hóa Biolacty cho hiệu quả tốt
Theo Tô Thanh Phượng (2006) [24], dùng enzyme vi sinh cho lợn uống hoặc ăn có tác dụng giảm tỷ lệ tiêu chảy, lợn tiêu hóa thức ăn tốt, giảm mùi hôi chuồng nuôi
Bùi Thị Tho và cs (1995) [31]cho biết: Tác dụng phòng bệnh phân trắng lợn con khi bổ sung cao mật bò 20% cho lợn từ 1 - 21 ngày tuổi là tốt nhất, giảm tới 31,4% tỷ lệ lợn mắc bệnh
Trên cơ sở nghiên cứu về các vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, các nhà khoa học đã kết luận có nhiều loại vi khuẩn tác động và gây ra hội chứng tiêu chảy nói chung và bệnh phân trắng lợn con nói riêng Việc tìm ra một loại vaccine đa giá được bào chế từ nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh là một hướng
Trang 32nghiên cứu hiện nay Trên cơ sở đó, Nguyễn Thị Nội và cs (1989) đã nghiên cứu và bào chế vaccine đa giá Salsco để phòng bệnh ỉa chảy cho lợn Vaccine
được chế từ các chủng vi khuẩn E Coli, Salmonella và Streptococcus
Như đã đề cập ở trên thì nguyên nhân gây bệnh chính cho lợn con là do
E coli Do đó, nghiên cứu chủ yếu tập chung vào chế tạo vaccine từ E coli
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [29]: chế vaccine E coli để
phòng bệnh ở nhiều địa phương thường đem lại hiệu quả phòng bệnh không cao Do đó vaccine cần được chế từ các serotype tại chỗ sẽ cho kết quả tốt hơn
Tuy nhiên, Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] cũng lưu ý rằng: do E coli
có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc chế vaccine E coli gặp những khó khăn nhất định và việc chế một loại vaccine E coli để phòng cho
lợn ở nhiều địa phương đem lại hiệu quả phòng bệnh không cao
Ngoài các loại vaccine E Coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vaccine Salmonella Hiện nay trên thế giới đã có nhiều loại vaccine phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn
- Phòng bệnh bằng thuốc hóa học trị liệu
Ở lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt, dẫn tới giảm sức đề kháng, lợn con thường bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến ỉa chảy Do vậy, cần bổ sung Dextran - Fe cho lợn con để phòng suy dinh dưỡng và các bệnh đường ruột
Lưu ý: Lúc đỡ đẻ phải thực hiện các biện pháp vệ sinh vô trùng tốt, các biện pháp đúng kỹ thuật để đề phòng lợn mẹ bị viêm tử cung, viêm vú sữa bị nhiễm độc, nhiễm trùng kế phát… lợn con bú sữa đó sẽ ỉa chảy
* Điều trị
Việc điều trị bệnh phân trắng lợn con đòi hỏi phải điều trị sớm ngay khi mới phát hiện và điều trị bàng các biện pháp tổng hợp Đó là loại bỏ nguyên nhân gây bệnh, thải trừ chất chứa trong đường tiêu hóa, bảo vệ niêm mạc ruột,
Trang 33chống mất nước và điện giải, sử dụng các loại kháng sinh để gây ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, nhằm tạo lại sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Đồng thời có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý, bổ sung các loại vitamin và khoáng chất cần thiết
Bùi Thị Tho và cs (1995) [31] đã đưa ra nguyên tắc sử dụng kháng sinh để tránh tác dụng phụ và hạn chế hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn như sau:
- Tiến hành làm kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh mẫn cảm
- Dùng đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lượng Kinh nghiệm cho thấy khi sử dụng kháng sinh phải dùng liều cao ngay từ đầu, không dùng liều tăng dần, do vi khuẩn có khả năng kháng thuốc, nếu dùng 1 loại kháng sinh nào đó trong 3 - 5 ngày mà không đem lại hiệu quả thì cần tiến hành kèm kháng sinh
đồ, chọn kháng sinh khác nhạy cảm hơn
Việc sử dụng kháng sinh trong chữa bệnh có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thời gian dài, thiếu hiểu biết
về kháng sinh, sự phát triển chưa hoàn chỉnh của cơ thể lợn con, đặc biệt là hệ tiêu hóa cũng dẫn đến những mặt có hại như vi khuẩn kháng thuốc, phá hoại
sự cân bằng sinh học của tập đoàn vi sinh vật trong đường tiêu hóa
- Phối hợp kháng sinh: Phối hợp kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng nhưng khi phối hợp cần lưu ý tính tương kị và tính hiệp đồng giữa các kháng sinh
Điều trị bằng kháng sinh: Khi sử dụng kháng sinh cần tiến hành làm kháng sinh đồ
Điều trị bằng Đông dược: Theo Trương Lăng (2004) [16], có thể điều trị theo bài thuốc sau:
Tô mộc: 500 gam
Ngũ bột tử: 300 gam