1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quản lí chất lượng nước, bệnh của tôm thẻ chân trắng trong hệ thống ao nuôi tôm công nghiệp tại công ty cổ phần thực phẩm BIM, thị xã quảng yên tỉnh quảng ninh

68 211 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 900,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong và ngoài nước, em tiến hành nghiên cứu chuyên đề : “Quản lí chất lượng nước, bệnh của tôm thẻ

Trang 1

CỔ PHẦN THỰC PHẨM BIM, QUẢNG YÊN, QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên năm 2017

Trang 2

CỔ PHẦN THỰC PHẨM BIM, QUẢNG YÊN, QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn :TS Trương Hữu Dũng

Thái Nguyên năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo sinh viên của Nhà trường Đây là khoảng thời gian sinh viên được tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học trong Nhà trường

Để có bài khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân

thành cảm ơn thầy giáo TS Trương Hữu Dũng Giảng viên trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y là những người đã dạy bảo và hướng dẫn em tận tình trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, chuyên viên công ty CP thực phẩm BIM, khu nuôi Minh Thành, khu Động Linh, phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại công ty

Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn, đặc biệt là kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô và các bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 06 năm 2017

Sinh viên thực tập

Nguyễn Thị Lý

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Giới thiệu về khu nuôi Minh Thành 3

2.1.2 Vị trí địa lí kinh tế xã hội của địa phương 5

2.2 Cơ sở khoa học 6

2.2.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 6

2.2.2 Đặc điểm một số yếu tố môi trường 11

2.2.3 Tìm hiểu về những bệnh thường gặp trên tôm thẻ chân trắng 14

2.2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.2.5 Những hiểu biết về quản lí chất lượng nước trong quá trình nuôi tôm 26 Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29

3.1 Đối tượng và phạm vi 29

3.1.1 Đối tượng 29

3.1.2 Phạm vi 29

3.2 Địa điểm và thời gian 29

3.3 Nội dung tiến hành 29

3.3.1 Nội dung đề tài 29

3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 35

Trang 5

3.4 Phương pháp theo dõi 35

3.4.1 Cách theo dõi nhiệt dộ nước 36

3.4.2 Cách theo dõi pH 36

3.4.3 Cách đo nồng độ oxy hòa tan 36

3.4.4 Phương pháp theo dõi độ mặn 37

3.4.5 Phương pháp theo dõi độ kiềm trong quá trình nuôi 37

3.4.6 Phương pháp theo dõi bệnh trong quá trình nuôi thương phẩm 37

3.5 Phương pháp xử lí số liệu 39

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Kết quả theo dõi nhiệt độ trong quá trình nuôi thương phẩm 40

4.2 Kết quả theo dõi độ mặn trong quá trình nuôi thưởng phẩm 42

4.3 Kết quả theo dõi pH trong quá trình nuôi thương phẩm 43

4.4 Kết quả theo dõi độ kiềm trong quá trình nuôi thương phẩm 45

4.5 Kết quả theo dõi DO trong quá trình nuôi thương phẩm 45

4.7 Kết quả theo dõi bệnh trong môi trường quá trình nuôi của ao G1 và D2 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

Phòng trị bệnh trong quá trình nuôi 49

5.2 Đề nghị 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm biển: 8

Bảng 2.2 Một số thông số thích hợp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng 11

Bảng 2.3 Diện tích, sản lƣợng và năng suất tôm Chân trắng qua các năm 23

Bảng 2.4 Sản lƣợng nuôi tôm Chân trắng ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh 25

Bảng 3.1 Bảng tóm tắt lại quy trình xử lý ao nuôi 35

Bảng 3.2 Sự biến đổi màu sắc tôm do bệnh 38

Bảng 4.1 Kết quả theo dõi bệnh của ao G1 và ao D2 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Hình thái ngoài của tôm Chân trắng (Tôn Thất Chất, 2010)[3] 7

Hình 2.2: Vòng đời tôm he (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2] 8

Hình 2.3: Các giai đoạn biến đổi ấu trùng tôm thẻ chân trắng 9

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện biến động nhiệt độ của 2 ao G1 và D2 40

Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện biến động nhiệt độ của ao G1 trong ngày 41

Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện biến động nhiệt độ của ao D2 trong ngày 41

Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi của độ mặn trong quá trình nuôi 42

của ao G1 và D2 42

Hình 4.5: Sự biến động pH giữa ao G1 và D2 43

Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi pH trong ngày của ao G1 và D2 44

Hình 4.7: Biểu đồ biến động độ kiềm trong quá trình nuôi giữa ao G1 và D2 45

Hình 4.8: Sự biến động oxy trong quá trình nuôi giữa ao G1 và D2 46

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

IHHNV Infectious hypodermal và hematopoietic necrosis

Trang 9

có thể nuôi 1 -3 vụ trong một năm, có khả năng thích nghi với biên độ dao động của nhiệt độ và độ mặn cao, có sức đề kháng với bệnh tật tốt

Chất lượng nước là yếu tố cực kì quan trọng trong nuôi thủy sản; nhưng khó

dự đoán và kiểm soát được Chất lượng nước quyết định được hiệu quả của thức ăn, tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của con nuôi Con nuôi chết, bệnh, chậm lớn hay thức ăn kém chủ yếu là do ảnh hưởng từ chất lượng nước Các nhà nuôi tôm thường

nói: “Nuôi tôm nghĩa là nuôi nước” Để con nuôi phát triển bình thường thì nguồn

nước phải sạch không bị ô nhiễm Chất lượng nước phụ thuộc vào nguồn cấp nước, chất đất, chế độ cho ăn thời tiết và chế độ quản lí của đầm nuôi Chất lượng nước được đáng giá bằng các thông số sinh, lý, hóa khác nhau; cần được kiểm tra liên tục

để có thể bảo vệ được con nuôi

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lượng nước nhưng vì tính chất phức tạp do những thông số trong môi trường nước gây nên Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong và ngoài

nước, em tiến hành nghiên cứu chuyên đề : “Quản lí chất lượng nước, bệnh của tôm thẻ chân trắng trong hệ thống ao nuôi tôm công nghiệp tại công ty Cổ phần thực phẩm BIM, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Điều tra chất lượng nước trong đầm nuôi tôm thẻ chân trắng tại công ty Thực phẩm BIM, Quảng Yên Quảng Ninh

Trang 10

Khuyến cáo với người nu ôi tôm về sự biến động chất lượng nước trong quá trình nuôi

Điều tra tình hình bệnh diễn biến trên tôm trong quá trình nuôi

Kết quả của đề tài là cơ sở cho người nuôi tôm quản lí tốt được ao nuôi tôm hơn

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

Theo dõi tình hình biến đổi chất lượng nước trong vụ nuôi tôm

Theo dõi tình hình mắc bệnh trên tôm trong quá trình nuôi

Nắm được các thông số trong môi trường nước ảnh hưởng đến quá trình nuôi tôm Đưa ra được các đề xuất quản lý được khu nuôi tốt hơn

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Giới thiệu về khu nuôi Minh Thành

Với định hướng xây dựng công ty lấy nguồn nhân lực làm trọng tâm, chiến lược nhân sự đã được Ban giám đốc xem xét nghiêm túc như một trong những yếu

tố quyết định sự thành công của công ty Với hơn 3000 cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm, trải khắp đất nước Việt Nam, tập đoàn BIM được dẫn dắt bởi 3 thành phần chủ chốt là ông Đoàn Quốc Việt – Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Đốc tập đoàn BIM, Ông Đoàn Quốc Huy – Phó Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Phó tổng giám đốc tập đoàn BIM, Bà Khổng Thị Hiền – Phó tổng giám đốc

tập đoàn BIM

Công ty cổ phần thực phẩm BIM là một thành viên của tập đoàn BIM Việt Nam, được thành lập từ năm 1994 với tiền thân là Công ty mẹ Công ty đầu tư phát triển và sản xuất Hạ Long Một trong những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn nhất Việt Nam hoạt đông đã lĩnh vực bao gồm: Bất động sản, Y Tế, Du Lịch, Hàng Không và đặc biệt là Nuôi Trồng Thủy Sản Hiện nay Công ty đang sở hữu 1,700 ha diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tại Quảng Ninh, Kiên Giang và Ninh Thuận ngoài ra BIM còn sở hữu sản xuất tôm giống tại dảo Phú Quốc với diện tích 50 ha

Trang 12

Khu nuôi tôm Minh Thành có tổng diện tích trên 251 ha nằm tại thị xã

Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Được chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2001, đến nay khu nuôi tôm luôn cho năng xuất ổn định với tổng sản lượng trung bình đạt

2000 tấn/năm Trong đó theo tài liệu cung cấp của khu nuôi thì cho đến năm 2015 thì đã sử dụng làm mặt nước nuôi trồng là 220 ha, được chia thành 3 khu (khu 1, khu 2, khu 3) Trong mỗi khu lại được quy hoạch để chia ao và xây dựng ao, xung quanh mỗi khu đều có kênh mương bao bọc xung quanh để thuận tiện cho quá trình cấp nước, hệ thống điện lưới được bố trí đến từng ao rất quy mô Trong mỗi khu lại phân ra nhiều tổ nhỏ và đứng đầu mỗi tổ để hướng dẫn là tổ trưởng.Văn phòng làm việc của ban giám đốc và các nhân viên của công ty được đặt trụ sở tại khu 1

Toàn bộ khu bao gồm:

Trang 13

+ Kho

+ Trại tôm giống (bao gồm 34 nhà cấp 1 và 24 nhà cấp 2)

+ Đầm nuôi tôm (khu I, khu II, khu III)

2.1.2 Vị trí địa lí kinh tế xã hội của địa phương

Với khu đầm ven biển, diện tích rộng, bằng phẳng, mực nước biển điều hòa,

có nguồn nước mặn, lợ dồi dào, khu nuôi nằm ven biển có các dãy núi chạy dọc ra biển rất thuận lợi cho việc chắn gió bão

+ BIM là một tập đoàn đa lĩnh vực, trong đó thủy sản là 1 mảng đầu tư được chú trọng của BIM nên có vốn đầu tư mạnh

+ Về phía tỉnh Quảng Ninh cũng có những chính sách thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển

+ Đội ngủ nhân viên lành nghề

+ Khu nuôi gần biển, có hệ thống giao thông thuận lợi, giáp ranh với Trung Quốc là 1 thị trường tiêu thụ tôm lớn

+ Điều kiện tự nhiên ở miền bắc nói chung và Quảng Ninh nói riêng có sự thay đổi trong năm với tính chất không ổn định Mùa hè nóng nóng nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông thì lạnh khô hanh Như vậy ở Quảng Ninh chỉ có thể nuôi tôm thẻ chân trăng một vụ chính từ tháng 3-10 Đây cũng là khó khăn trong việc sản xuất khi chỉ nuôi chính được một vụ, và vụ còn lại do thời tiết quá lạnh nên tôm không thể sinh trưởng và phát triển

+ Thị trường tiêu thụ còn rất hạn chế chủ yếu xuất khẩu qua các nước nhỏ lẽ giá cả rất bấp bênh, mặc dù đây là sản phẩm của tập đoàn lớn nhưng các sản phẩm bán ra cho các lái buôn với giá bán thất thường và bị ép giá rất nhiều

+ Chất lượng tôm thẻ chân trắng vẫn chưa được tốt tôm còn mắc phải nhiều bệnh khi gần thu hoạch, đặc biệt là chết đáy, vàng mang, đen mang…khối lượng tôm không đồng đều nên giá tôm bị rớt giá nhiều

+ Trong quá trình nuôi tuy thực hiện đúng với quy trình kỹ thuật chăm sóc quản lý nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra, bệnh ở tôm thường là phòng trước một khi đã phát hiện có dấu hiệu bên ngoài thì tôm đã bị bệnh nặng

Trang 14

+ Một số thiết bị, máy móc đã xuống cấp, rất dễ dẫn đến hư hỏng trong quá trình hoạt động

Tiềm năng và cơ hội:

+ Trong tương lai, BIM sẽ còn lớn mạnh, bay cao và bay xa

+ Toàn bộ các ao đất đang dần được thay thế bằng các ao bạt Minh Thành đang thay da đổi thịt Đây cũng là một địa chỉ đáng tin cậy của sinh viên thủy sản có thể làm việc sau khi ra trường

2.2 Cơ sở khoa học

2.2.1 Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng

2.2.1.1 Vị trí phân loại

Theo Boone 1931

Tên khoa học: Lipopenaeus vannamei

Tên tiếng Anh: white leg shrimp

Tên tiếng Việt: Tôm he chân trắng, tôm thẻ chân trăng, tôm chân trắng

Tên khác: Penaeus vannamei

2.2.1.2 Đặc điểm nguồn gốc và phân bố

Tôm Chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo

Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở ven biển Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru, nhiều nhất ở biển gần Ecuador, ở Tây Bán Cầu [2]

Tôm Chân trắng thích nghi với biên độ muối rộng từ 0 – 40‰, có thể sinh trưởng được trong nước ngọt, lợ và mặn Dãy biến nhiệt của tôm Chân trắng khá rộng và phản ứng rất linh hoạt khi có những tác động cơ học

Trang 15

Hiện nay, do quá trình di nhập giống nên tôm Chân trắng được đưa sang nuôi

ở Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và nhiều nước khác (Tôn Thất Chất

và cs, 2011)[2]

2.2.1.3 Đặc điểm hình thái và cấu tạo

Hình 2.1 Hình thái ngoài của tôm Chân trắng (Tôn Thất Chất, 2010)[3]

Cơ thể tôm được chia làm hai phần:

Phần đầu ngực (cephalo throrax): Gồm 13 đốt và 13 đôi phụ bộ dính liền thành một khối bên ngoài Có một lớp vỏ bao bọc gọi là giáp đầu ngực (carapace), mép trứớc hình thành chủy đầu, gai trên dạ dày, gai gan, rảnh sau chủy đầu, gờ gan

+ Hai đôi râu Anten 1 (A1) và Anten 2 (A2)

+ Ba đôi chân hàm: Một đôi chân hàm lớn, đôi hàm nhỏ và đôi hàm 2

Phần bụng có (Abdomen): Chia làm 7 đốt, mỗi vỏ (Segment), có 5 đôi chân bơi (Swimming feet), có 2 nhánh trong và ngoài Đốt thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phần nhánh tạo thành bánh lái giúp tôm di chuyển động lên xuống

và búng nhảy, hai nhánh trong của chân bụng biến thành petesma và hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành phụ bộ đực bên ngoài của tôm

2.2.1.4.Đặc điểm dinh dưỡng

Tôm Chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng, cường độ bắt mồi khỏe, tôm sử dụng nhiều loài thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn

bã hữu cơ đến các động vật thủy sinh Tôm có thể ăn thịt lẫn nhau khi lột xác hoặc khi thiếu thức ăn (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2]

Trang 16

Protein là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn của tôm Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho tôm Chân trắng khoảng 20-35%, thấp hơn so với các loại tôm nuôi cùng họ khác (36-42%) (Lê Tiến Dũng và cs, 2011)[4]

Ngoài ra thức ăn cho tôm nuôi cũng cần các thành phần như: glucid, lipid, vitamin và các khoáng chất Nếu các thành phần dinh dưỡng thiếu hoặc không cân đối ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của tôm

Với tính ăn tạp và khả năng chuyển hóa thức ăn cao nên hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thường thấp, dao động từ 1,1 – 1,3 Đây là một trong những ưu điểm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi

2.2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và tuổi thọ

Hình 2.2: Vòng đời tôm he (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2]

Cũng như các loài tôm he khác, tôm Chân trắng phát triển qua 4 giai đoạn ấu trùng chính là Nauplius, Zoea, Mysis, Postlarvae

Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm biển:

Giai đoạn Số giai đoạn Thời gian (ngày)

Trang 17

Giai đoạn Nauplius: Nauplius không cử động được trong khoảng 30 phút, sau

đó bắt đầu bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng Nauplius thay vỏ 4 lần (N1 đến N5) mỗi lần kéo dài 7 giờ (theo các nhà sinh học Đài Loan có đến 6 giai đoạn) Trong thời kỳ này ấu trùng bơi một đoạn rất ngắn rồi nghỉ và tiếp tục bơi Không cần cho Nauplius ăn, chúng tự nuôi sống bằng noãn hoàng có sẵn

Giai đoạn Zoea: sau N5 ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea, giai đoạn này ấu trùng bơi liên tục, bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, chủ yếu là thực vật phù du Zoea thay vỏ hai lần từ Z1 tới Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài 36 giờ

Giai đoạn Mysis: thời kỳ này ấu trùng qua 3 giai đoạn (M1, M2, M3) Mỗi giai đoạn kéo dài 24 giờ Mysis ăn cả thực vật phù du lẫn động vật phù du Trong khi Nauplius có khuynh hướng bơi gần mặt nước thì Mysis bơi hướng xuống sâu và bơi ngược, đuôi đi trước, đầu đi sau

Giai đoạn Postlarvae: sau thời kỳ này tôm con đã có đủ các bộ phận, chúng dần dần hướng ra biển, rời xa các cửa sông và trở thành Juvenile Từ đây tôm trưởng thành

Tôm nhỏ thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1 - 2 ngày Tốc độ lớn thời gian đầu 3g/tuần lễ (mật độ nuôi 100 con/m2), tới cỡ 30g tôm lớn chậm dần (1g/tuần lễ) Tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực

Hình 2.3: Các giai đoạn biến đổi ấu trùng tôm thẻ chân trắng

Trang 18

2.2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Mùa vụ sinh sản: Khu vực có tôm phân bố tự nhiên, quanh năm đều bắt được tôm mẹ mang trứng Mùa sinh sản có sự chênh lệch theo từng vùng khác nhau, thường là tháng 3 – tháng 8 nhưng đẻ rộ nhất từ tháng 4 – 5 (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2]

Cơ quan sinh sản: Tôm Chân trắng trưởng thành phân biệt rõ đực cái thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài

+ Con đực: Giữa đôi mái chèo thứ nhất có một cơ quan gọi là petasma Trong khi giao hợp petasma sẻ chuyển tinh trùng sang thelycum của con cái

+ Con cái: Con cái có một cơ quan gọi là thelycum để tiếp nhận tinh trùng của con đực Thelycum nằm ở phía bụng phần ức, giữa cặp chân đi thứ 4 và thứ 5 Giao vĩ: Tôm Chân trắng là loài thelycum hở khác với loại hình túi chứa tinh kín như ở tôm Sú và tôm he Nhật Bản, tôm đực và tôm cái tìm nhau giao phối sau khi hoàng hôn Tôm đực phóng các chùm tinh từ cơ quan giao cấu và dính vào đôi chân bò thứ 3 của con cái Trong tự nhiên tỷ lệ giao phối tự nhiên có kết quả không cao Trình tự của sinh sản mở là:

(tôm mẹ) lột vỏ thành thục giao phối đẻ trứng ấp nở Sức sinh sản: Tôm Chân trắng có tốc độ tăng trưởng nhanh, thành thục sớm, tôm cái có khối lượng khoảng 40 – 50g là có thể tham gia sinh sản

Sức sinh sản trong thực tê là khoảng 10 – 25 vạn trứng/ tôm mẹ Trong tự nhiên tôm mẹ thường đẻ ở độ sâu 70m, độ mặn 35‰, nhiệt độ khoảng 26 – 28°C Trứng nở ra Nauplius và trải qua các giai đoạn biến thái ấu trùng rồi chuyển dần di

cư vào cửa sông có độ mặn thấp, sau vài tháng phát triển thành tôm con trưởng thành và bơi ra biển tiếp tục chu kỳ vòng đời của tôm he

2.2.1.7 Đặc điểm sinh thái của tôm thẻ chân trắng

Tôm Chân trắng là loài tôm nhiệt đới có khả năng thích nghi với giới hạn rộng

về độ mặn và nhiệt độ Tôm có khả năng thích nghi nhiệt độ 15-33oC, nhưng nhiệt

độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 – 30oC Nhiệt độ tối ưu cho tôm lúc nhỏ (1g) là 30oC và cho tôm lớn (12-18g) là 27oC

Trong vùng biển tự nhiên, tôm Chân trắng sống nơi có đáy bùn, độ sâu < 72m, tôm trưởng thành phần lớn sinh sống ở ven biển gần bờ, tôm con phân bố nhiều ở

Trang 19

vùng cửa sông nơi giàu chất dinh dưỡng Tôm lột xác về đêm, thời gian lột xác lúc nhỏ nhanh hơn lớn

Bảng 2.2 Một số thông số thích hợp trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng

Yếu tố môi

trường

Giới hạn thích

Nhiệt độ (0C) 20-30 Biến động trong ngày <30C

pH 7,5-8,5 Biến động trong ngày <0,5

Độ mặn (‰) 15-25 Biến động trong ngày <5‰

Độ kiềm

(mgCaCO3/l)

80-120 Tạo hệ đệm và nâng pH

Độ trong (cm) 30-40 Phụ thuộc vào tảo phát triển

NH3 (mg/l) <0,1 Độc hơn khi pH, nhiệt độ cao

NO2 ( mg/l) <0,1 Độc hơn khi thiếu oxy hòa tan

H2S (mg/l) <0,03 Độc hơn khi pH thấp

2.2.2 Đặc điểm một số yếu tố môi trường

2.2.2.1 Tìm hiểu những thông số trong môi trường nước

Trang 20

pH

pH của nước ao rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tôm nuôi

và phiêu sinh vật pH là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng nuớc ao nuôi Khi pH biến động sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh lý, sinh hoá trong

cơ thể tôm, làm ảnh hưởng các yếu tố khác trong ao như tảo, khí độc… pH phù hợp cho ao nuôi là 7,5 – 8,5, khoảng dao động trong một ngày không quá 0,5

Một vài chức năng của cơ thể tôm có thể bị ảnh hưởng trực tiếp do pH quá cao hay quá thấp hay do sự biến động của nó sẽ có hại đến tôm pH thấp thường làm tổn thương phụ bộ và mang gây trở ngại cho việc lột xác và làm tôm bị mềm vỏ NH3 và

H2S là hai loại khí độc hoà tan trong nước Các loại khí độc này hiện diện trong ao dưới hai dạng: dạng khí có tính độc cao và dạng ion ít độc hơn Tỷ lệ giữa dạng khí

và dạng ion bị ảnh hưởng bởi độ pH Khi pH cao, NH3 dạng khí sẽ nhiều và ít H2S hơn Khi pH thấp thì H2S dạng khí nhiều và ít NH3 dạng khí

Độ mặn

Đây là yếu tố chúng ta có thể điều chỉnh được nếu có nguồn nước ngọt và nước mặn dự trữ Độ mặn nuôi tôm Chân trắng từ 10 – 30‰, nếu độ mặn cao quá hoặc thấp quá cũng không tốt Độ mặn cao >30‰ tôm rất chậm lớn (Đỗ Hữu Sơn

và cs, 2004)[7], vì khi độ mặn cao hàm lượng các khoáng cũng rất cao, sẽ làm quá trình lột xác của tôm gặp nhiều khó khăn Nếu tôm đã tới chu kỳ lột xác mà không lột được sẽ không phát triển và chậm lớn Hơn nữa nước mặn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh do vi khuẩn vibrio gây ra, đặc biệt là bệnh phát sáng Độ mặn tốt nhất cho sự phát triển của tôm Chân trắng từ 10 – 25‰ Nếu độ mặn thấp <10 ‰ cũng dễ phát sinh bệnh, vì trong nước ngọt thiếu các khoáng Na,

Ca, Cl, Fe, Cu, P, Mn… là những khoáng chất cần thiết cho sự tạo vỏ của tôm, nếu

thiếu tôm sẽ không tạo được vỏ

Nồng độ oxy hòa tan

Hàm lượng oxy thích hợp cần thiết cho ao nuôi Ở nồng độ oxy nhỏ hơn 4mg/l tôm vẫn bắt mồi bình thường nhưng tiêu hóa thức ăn không hiệu quả Hàm lượng oxy thấp dẫn đến tỷ lệ chuyển hoá thức ăn giảm, khả năng cảm nhiễm bệnh tăng, giảm lợi nhuận Nếu hàm lượng oxy giảm thấp hơn 2 – 3mg/l tôm sẽ ngừng bắt mồi

Trang 21

và yếu đi Hàm lượng oxy thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển > 4mg/l (Lê Tiến Dũng và cs, 2011)[4]

Nhiệt độ

Tôm cũng như hầu hết các loài động vật sống dưới nước thuộc loại máu lạnh, nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường, vì vậy nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm Nhiệt độ ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hô hấp, tiêu thụ thức ăn, đồng hoá thức

ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng

Nhiệt độ thường thay đổi theo mùa, ngày đêm và mỗi vùng miền khác nhau Thông thường nhiệt độ nước trong ngày thấp nhất vào lúc 2 đến 5 giờ sáng, cao nhất vào buổi chiều lúc 14 giờ đến 16 giờ chiều Tôm có thể chịu đựng sự thay đổi nhiệt độ 0,2oC/phút, nhưng khi nhiệt độ thay đổi đột ngột 3 – 4oC hoặc vượt quá sẽ

gây sốc thậm chí còn gây chết Nhiệt độ thích hợp cho tôm loại Penaeus spp tại các

ao hồ nhiệt đới khoảng 28 – 30oC Các thí nghiệm ở Hawaii cho thấy tôm Chân trắng sẽ chết nếu nhiệt độ môi trường nước thấp hơn 15oC, cao hơn 33o

C trong 24 giờ hoặc lâu hơn nữa, tôm sẽ ngạt nếu nhiệt độ khoảng 15 – 22o

C và 30 – 33oC Với tôm Chân trắng nhiệt độ chấp nhận được là 23 – 30oC, trong khoảng nhiệt độ này độ lớn của tôm cũng tùy giai đoạn tăng trưởng của tôm Thí nghiệm cho biết, lúc còn nhỏ (1gr) tôm lớn nhanh hơn ở 30oC, khi tôm lớn hơn (12 – 18gr) tôm lớn nhanh nhất ở nhiệt độ 27oC thay vì 30oC như lúc nhỏ Khi tôm lớn hơn nữa mà nhiệt độ cao hơn 27oC thì môi trường nước này hoàn toàn bất lợi cho sự tăng trưởng

Trang 22

Amonia: Trong ao hồ, amonia xuất hiện như một sản phẩm do sự biến dưỡng của động vật trong nước cũng như từ sự phân huỷ các chất hữu cơ với tác dụng của vi khuẩn Trong nước amonia được phân chia làm 2 nhóm: nhóm NH3 (khí hoà tan) và nhóm NH4+ (ion hoá)

Chỉ có dạng NH3 của amonia là gây độc cho tôm, NH3 có tính độc cao hơn

NH4+ từ 300 đến 400 lần Sự phân chia này chịu ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và độ mặn nhưng pH ảnh hưởng quan trọng hơn cả Nếu tăng 1 đơn vị pH sẽ tăng 10 lần

tỷ lệ của NH3 Độ độc của amonia gây ra không đáng ngại trong ao tôm vì thực vật phiêu sinh (phytoplankton) sẽ giữ cho độ độc ở mức thấp Mức độ NH3 thay đổi về ban đêm đáp ứng sự thay đổi của pH và nhiệt độ Dưới tác dụng của vi khuẩn, amonia sẽ bị biến đổi thành nitrite (NO2) (bởi Nitrosomonas bacteria) rồi nitrate (NO3-) (bởi Nitrobacter bacteria)

Hình thức nitrate thường vô hại, nhưng trong môi trường nước lượng chlorinity thấp thì nitrite sẽ gây độc cho tôm Nitrite gây độc chính là tạo thành chất methemoglobin và giảm sự chuyển oxygen tới tế bào

Hydro sulfide (H 2 S)

Hydro sulfide là một chất khí, được tạo thành dưới điều kiện kỵ khí Tương tự như amoni, hydro sulfide chia làm 2 nhóm: nhóm H2S (khí) và HS- (ion) Chỉ có dạng H2S là chất độc pH rất có ảnh hưởng tới độ độc của H2S

2.2.3 Tìm hiểu về những bệnh thường gặp trên tôm thẻ chân trắng

*Bệnh đốm trắng trên thân (White spot disease – WSSD)

Nguyên nhân: Theo các nhà khoa học bệnh này do 1 loại virus có tên

Baculovirus Virus này có acid nucleic là DNA, kí sinh trong nhân Virus có độc lực cực mạnh, tấn công nhiều mô tế bào khác nhau: thường trên tế bào biểu mô da WSSD gây chết trên tất cả các giai đoạn phát triển của tôm từ ấu trùng đến tôm giống và tôm trưởng thành (Tố Nguyên- TT Thủy sản Long An, 2011)[11]

Triệu chứng: bệnh xảy ra trong giai đoạn tôm thương phẩm sau 2 tháng trở

lên Tuy nhiên, bệnh có thể xuất hiện sớm hơn từ vài 3 tuần đến 1 tháng Vì kích thước tôm nhỏ nên đôi khi không thấy đốm trắng mà chỉ thấy đỏ thân, hay đôi khi độc lực của virus rất mạnh, chưa thấy đốm trắng tôm đã chết

Trang 23

Khi tôm bị bệnh, quan sát chúng ta thấy tôm giảm ăn đột ngột (đối với tôm thẻ chân trắng hay ăn nhiều hơn trước khi giảm ăn) Tôm lờ đờ, tấp vào bờ và chết, cơ thịt hơi đục Đốm trắng xuất hiện ở giáp đầu ngực, đốt bụng cuối trước và lan khắp

cơ thể Đốm trắng nằm trong vỏ kitin Bệnh thường xuất hiện mùa xuân và đầu hè khi thời tiết biến đổi nhiều như biên độ nhiệt trong ngày biến thiên quá lớn (Đặng Xuân Bình và cs, 2011)[1]

Bệnh đốm trắng (tên tiếng anh là White spot disease – WSSD) là loại bệnh được xác định đầu tiên năm 1990-1991 Bệnh này xuất hiện ở Đông Bắc Á (Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), từ đó lây sang các nước Châu Á Thái Bình Dương Năm 1995, lần đầu tiên xuất hiện bệnh ở Tây bán cầu do Châu Mỹ nhập tôm sú Châu Á về nghiên cứu (những con tôm này có thể đã mang mầm bệnh)

Ở Việt Nam, bệnh bùng phát lần đầu vào các năm 1994-1995 tại các tỉnh miền Nam và một số tỉnh miền Trung

Bệnh có thể lây truyền theo chiều dọc tức là virus đốm trắng (WSSD) từ bố

mẹ truyền sang tôm con Hoặc bệnh lây truyền theo chiều ngang tức là WSSD lây lan trực tiếp từ nước qua các vết thương tổn hay niêm mạc ống tiêu hóa Tôm bố mẹ

ăn giáp xác nhỏ có mang WSSD Tôm có tập tính ăn đồng loại nên chúng có thể ăn các con tôm bệnh Virus trong môi trường nước có thể lây trực tiếp cho tôm thẻ qua các tế bào biểu mô che phủ trên mang Con bị nhiễm lây sang con chưa bị nhiễm khi nuôi chúng trong cùng ao

Phòng trị:

Đây là bệnh do virus gây ra nên hiện nay vẫn chưa có phương pháp chữa trị, vì vậy, người nuôi cần phải tăng cường các biện pháp phòng bệnh sau (Đặng Xuân Bình và cs, 2011)[1]:

+ Thả tôm giống sạch bệnh (có chứng nhận kiểm dịch của địa phương)

+ Hạn chế cấp nước trực tiếp vào ao nuôi, nên cấp qua ao lắng đã xử lý và nâng mực nước trong ao nuôi đạt 1,0 – 1,2m

+ Kiểm tra thường xuyên màu sắc, khả năng bắt mồi, tình trạng sức khỏe của tôm để kịp thời phát hiện và xử lý

Trang 24

+ Cách ly ao nuôi với các tác nhân có thể lan truyền bệnh (giáp xác)

+ Bổ sung vitamin C vào ao hoặc thức ăn cho tôm

+ Đối với ao tôm bệnh, người nuôi nên vớt tôm chết ra khỏi ao Sau đó dùng Chlorin với liều lượng 30 kg/1,000 m3; hoặc formol 200 lít/1,000m3

hòa nước tạt đều ao, ngâm 7 ngày rồi tiến hành xổ ra môi trường Khi phát hiện bệnh tốt nhất là thu hoạch ngay để giảm thiệt hại

*Hội chứng gan tụy

Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome - AHPNS) là bệnh mới và nguy hiểm trên tôm nuôi đã gây ra thiệt hại

lớn cho người nuôi tôm trong thời gian qua

Dấu hiệu nhận biết

Giai đoạn nhiễm bệnh:

Trong suốt quá trình nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn từ 10-45 ngày sau khi thả nuôi[12]

Triệu chứng lâm sàng:

- Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng Tôm chậm lớn, lờ đờ, bỏ

ăn, tấp mé và chết ở đáy ao/đầm nuôi (Đặng Xuân Bình và cs, 2011)[1]

- Giai đoạn tiếp theo, tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm, màu sắc cơ thể biến đổi, gan tụy mềm nhũn, sưng to hoặc bị teo lại[11]

Dấu hiệu bệnh tích:

Tổ chức gan tụy thoái hóa tiến triển cấp tính

Thiếu hoạt động phân bào đẳng nhiễm trong tế bào có nguồn gốc từ mô phôi (tế bào E: Embyonazellen)

Các tế bào trung tâm của tổ chức gan tụy (tế bào tiết B: Basenzellen, tế bào xơ F: Fibrillenzellen, tế bào dự trữ R: Restzellen) có sự biến đổi cấu trúc và rối loạn chức năng

Các tế bào của tổ chức gan tụy có nhân lớn bất thường và có hiện tượng bong tróc tế bào biểu mô ống lượn và bị viêm nhẹ

Ở giai đoạn cuối của AHPNS có sự tập hợp của tế bào máu ở giữa ống gan tụy

và nhiễm khuẩn thứ cấp

Trang 25

Biện pháp phòng ngừa

Đối với tôm giống:

- Chọn đàn tôm mẹ sạch bệnh để ngăn cản quá trình lây nhiễm bệnh từ tôm mẹ sang tôm con

- Không nên nhốt chung tôm mẹ từ các nguồn khác nhau vào một dụng cụ để tránh sự lây lan mầm bệnh từ con này sang con khác

- Không nên ương ấp mật độ quá dày, rửa nauplius (ấu trùng tôm), hay rửa trứng bằng Formol 100 - 200ppm trong 30 giây đến 1 phút hoặc Iodine 1 - 2ppm trong 1 - 2 phút

- Nguồn nước nên được xử lý bằng các phương pháp khác nhau như: phương pháp cơ học (lọc), phương pháp hóa học (xử lý bằng thuốc sát trùng), phương pháp

lí học (sát trùng bằng đèn cực tím), phương pháp sinh học, sinh thái để tiêu diệt và kìm hãm tác nhân gây bệnh

Đối với tôm nuôi thương phẩm:

- Tẩy ao cẩn thận trước một chu kỳ nuôi: Vét hết chất thải của đợt sản xuất trước, phơi nắng đáy ao (nếu có thể), sát trùng đáy ao bằng vôi và hóa chất để tiêu diệt mầm bệnh tồn tại ở đáy ao Cần có ao hệ thống ao chứa, lắng và nước được lọc

kỹ khi đưa vào ao

- Lựa chọn con giống khỏe mạnh, đã qua kiểm dịch, áp dụng biện pháp sốc Formol 100 - 200ppm, trong 30 giây đến 1 phút, để loại bỏ bớt những con mang mầm bệnh, con yếu trước khi thả giống

- Không nên nuôi tôm với mật độ quá cao, không sử dụng kháng sinh và chất cấm trong nuôi tôm Sử dụng các chế phẩm sinh học, men vi sinh để tăng sinh khối sinh vật tự nhiên có lợi trong ao tôm

- Các loại thức ăn tổng hợp và tự chế biến cần được bảo quản tốt, tránh mốc, vón và nhiễm khuẩn Bởi nấm mốc trong thức ăn tổng hợp hay trong nguyên liệu để sản xuất thức ăn có thể sinh ra độc tố (thường là Aflatoxin) gây hoại tử gan nghiêm trọng ở động vật thủy sản nuôi nói chung và tôm nuôi nói riêng

Trang 26

*Bệnh đục cơ và hoại tử cơ

Đục cơ và hoại tử cơ là hai bệnh khá phổ biến ở tôm thẻ chân trắng (TTCT) Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai loại bệnh này để có cách phòng, trị kịp thời và phù hợp Phân biệt hai loại bệnh

Bệnh đục cơ, cong thân

Bệnh thường bắt đầu xuất hiện ở TTCT 10 ngày tuổi cho đến trưởng thành, biểu hiện phần mô cơ chạy dọc theo cơ thể tôm trở nên trắng đục kèm theo hiện tượng cong thân [14] Bệnh này nếu không can thiệp kịp thời có thể ảnh hưởng đến

tỷ lệ sống của TTCT Bệnh này do thiếu một số khoáng chất thiết yếu trong nước, hoặc bị sốc bởi yếu tố môi trường, tác nhân vật lý dẫn đến đục cơ và cong thân, nên người nuôi tôm thường gọi là bệnh đục cơ, cong thân [14]

Bệnh hoại tử cơ

Bệnh hoại tử cơ (Infectious myonecrosis-IMNV) do virus gây ra Bệnh thường xuất hiện ở TTCT giai đoạn 45 ngày tuổi trở lên [14] Biểu hiện ban đầu: phần cơ đuôi trở nên trắng đục, sau đó lan dần khắp cơ thể Ở giai đoạn nặng có thể dẫn đến hiện tượng hoại tử và đỏ ở phần cơ Tôm chết và rớt đáy tỷ lệ khá cao

m3 nước, dùng lúc 20 - 21h để tránh pH tăng Đến ngày thứ 3, sử dụng chế phẩm sinh học vi sinh để cải thiện môi trường và tôm sẽ bắt mồi trở lại

Một nguyên nhân nữa khiến TTCT bị bệnh này là do ảnh hưởng môi trường như oxy thấp, khí độc cao, nhiệt độ thay đổi Chài tôm kiểm tra không đúng kỹ thuật cũng có thể khiến tôm bị bệnh này

Trang 27

Trên thị trường có nhiều sản phẩm bổ sung khoáng rất tốt để phòng ngừa và điều trị bệnh

Đối với hoại tử cơ, đây là bệnh do virus nên chưa có thuốc đặc trị Cách phòng trị tốt nhất là vệ sinh ao cẩn thận trước và sau vụ nuôi Sử dụng chế phẩm sinh học

để giảm ô nhiễm và giảm sự phát sinh mầm bệnh, có thể khử trùng nước định kỳ để giảm virus và vi khuẩn trong ao, sau đó dùng chế phẩm sinh học để phục hồi hệ vi sinh trong ao

Tăng cường vitamin và khoáng chất giúp tôm khỏe và đề kháng tốt với sự thay đổi môi trường cũng như sự tấn công của dịch bệnh

Luôn đảm bảo lượng ôxy đầy đủ khi nuôi TTCT từ 4 mg/l trở lên, nhất là nuôi với mật độ cao

*Bệnh đốm đen trên thân

Người nuôi tôm ở nhiều nơi đang chia sẻ thông tin về một loại bệnh ở tôm thẻ chân trắng (TTCT), tạm gọi là bệnh đốm đen Bệnh gây thiệt hại không nhỏ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời

Nguyên nhân: Thiếu vitamin C hoặc hàm lượng vitamin C không đủ[12] Giai đoạn mắc bệnh: 20- 90 ngày tuổi Các ao nuôi có tôm bị bệnh đốm đen thường có hàm lượng khí độc NH3 hoặc NO2 vượt ngưỡng, hàm lượng oxy hòa tan thấp, chất lượng nước ao kém[12]

Bệnh đốm đen làm cho tôm chết đến 80 - 90% nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời[12]; nếu điều trị được thì tôm cũng trở nên "xấu mã", giảm giá trị

Biểu hiện:

Khi bị bệnh đốm đen, tôm có biểu hiện bỏ ăn hoặc giảm ăn, lờ đờ, hoạt động chậm Trên thân tôm xuất hiện nhiều đốm đen nhỏ nằm riêng biệt hoặc chụm thành từng đám Mang có màu tối hoặc đen, đuôi mỏng, phụ bộ bị tổn thương, như mòn đuôi, cụt râu

Tôm chậm lớn; khi bệnh nặng trên thân có nhiều đốm đen, ruột rỗng, gan tụy nhợt nhạt nhưng không phải là bệnh hoại tử gan tụy (EMS) Đến nay, nguyên nhân bệnh đốm đen cũng chưa được xác định rõ Tuy nhiên, theo nhiều người nuôi tôm

Trang 28

Bệnh hoại tử thường gặp nhất là dạng vỏ bị tổn thương do vi khuẩn Những vi khuẩn này thường xuất hiện và gây nhiễm trùng khi vỏ bị tổn thương hay không cứng được (bệnh mềm vỏ) Có nhiều loại vi khuẩn có khả năng ăn mòn lớp kitin ở

vỏ tôm và gây lở loét, tạo ra các vết lõm làm cho vỏ bị nhăn nheo Với những tổn thương trên vỏ, nếu để lâu, kéo dài sẽ bị đen hóa, tạo ra những đốm đen hay nâu Vì thế nhiều người cho rằng bệnh đốm đen hiện nay là bệnh hoại tử vỏ

Không chỉ có vi khuẩn mà nhiều loại sinh vật khác như nấm và động vật nguyên sinh cũng có thể xâm nhập và gây tổn thương cho vỏ Nấm có thể tác động đến mang hoặc vỏ tôm và có khuynh hướng kích thích phản ứng tạo nên những mảng đen trên vỏ Những động vật nguyên sinh có thể gây ra hiện tượng đen hóa nghiêm trọng trên mang, còn được gọi là bệnh đen mang[15]

Phòng bệnh: chú ý cải tạo ao, sát trùng ao nuôi đúng kỹ thuật và an toàn Nguồn nước lấy vào ao nuôi phải đảm bảo yêu cầu về các thông số: pH, độ mặn, hàm lượng kim loại nặng Chọn tôm giống chất lượng tốt, không bị bệnh nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn, virus Thả nuôi với mật độ vừa phải Luôn đảm bảo mực nước trong ao (1,2 - 1,5 m); hệ thống cung cấp ôxy cho ao luôn hoạt động tốt

Quản lý tốt thức ăn, tăng cường bổ sung canxi, khoáng giúp tôm lột vỏ và tăng cường sức khỏe cho tôm Thường xuyên kiểm tra khí độc trong ao như: NH3, H2S,

Trang 29

- Ký sinh trùng (Gregarine) bám trên thành ruột, tôm bị bệnh đường ruột

- Vi khuẩn gây bệnh phân trắng thường gặp thuộc các chuẩn vibrio

Triệu chứng

- Tôm ăn kém (hoặc bỏ ăn nếu bị bệnh nặng), phân tôm nổi lên mặt nước và tập trung nhiều ở cuối hướng gió Khi quan sát đường ruột tôm thấy trống thức ăn hoặc thức ăn bị đứt quãng

- Kiểm tra bằng phương pháp mô học của mẫu tôm bị bệnh phân trắng thì thấy gan cũng bị tổn thương, tế bào gan bị chết từng điểm bong ra

- Phân tôm có màu trắng, thịt tôm không chứa đầy vỏ, vỏ mềm

Phòng bệnh

Lựa chọn thức ăn và bảo quản thức ăn tốt

- Chọn thức ăn chuyên dùng cho tôm, thức ăn có chất lượng, đầy đủ dưỡng chất Cho tôm ăn thức ăn đúng kích cỡ cho từng giai đoạn nuôi, với lượng thức ăn phù hợp

và không bị dư thừa Thức ăn phải được bảo quản tốt, không nhiễm nấm mốc, độc tố

- Trong quá trình nuôi nên bổ sung thường xuyên men tiêu hóa có lợi cho đường ruột tôm, bằng cách trộn BIOZYME for shrimp hoặc BIOTIC for shrimp và HEPATIC với thức ăn và cho tôm ăn mỗi cữ ăn Bà con chăn nuôi nên bổ sung thêm BIO-ACTIVIT for shrimp cho tôm ăn để trợ giúp cơ quan miễn dịch của tôm hoạt động hiệu quả, ngăn chặn các tác nhân gây bệnh…

Quản lý tốt môi trường ao nuôi

- Tỷ lệ thả tôm giống phải phù hợp với mức độ đầu tư và trình độ nuôi, không nên thả dày Đặc biệt trước khi thả tôm phải cải tạo chuẩn bị ao thật kỹ, đúng quy trình, ao nuôi tôm công nghiệp phải có đầy đủ trang thiết bị như máy quạt nước, máy sục khí ôxy đáy

- Có chế độ thay nước định kỳ, ngăn ngừa sự phát triển của tảo độc và diệt khuẩn trong ao bằng các sản phẩm như BIO ABC for shrimp hoặc BIO BKC for shrimp, khoảng nửa tháng 1 lần để phòng tôm ăn phải tảo độc gây bệnh

- Định kỳ 10 ngày/lần, dùng men vi sinh xử lý đáy ao như BIO- BACTER for shrimp hoặc BIO SUPERBAC for shrimp để phân hủy chất hữu cơ có trong ao do phân thải ra hàng ngày, do tảo tàn, thức ăn thừa, xác vỏ tôm lột xác tạo môi

Trang 30

Trị bệnh

Đối với thức ăn: Trộn bổ sung men đường ruột BIOZYME for shrimp hoặc

BIOTIC for shrimp cho tôm ăn mỗi cữ ăn để hỗ trợ tiêu hóa đồng thời trộn BIO HEPATIC for shrimp hoặc BIO ACTIVIT for shrimp cho tôm ăn nhằm giúp tăng khả năng đào thải độc tố trong cơ thể tôm

Đối với yếu tố môi trường:

- Nếu do tảo độc: Thay nước nhiều hơn bình thường, kế tiếp tạt BIO ANTISHOCK for shrimp hoặc BIO ANTISTRESS for shrimp giúp chống shock tôm Tiếp theo dùng BIO ABC for shrimp hoặc BIO BKC for shrimp để diệt tảo độc

Sau khi dùng thuốc diệt tảo độc khoảng 2 ngày: dùng men vi sinh xử lý đáy ao như BIO- BACTER for shrimp hoặc BIO SUPERBAC for shrimp để phân hủy xác tảo chết Đồng thời trộn thêm men tiêu hóa BIO ZYME for shrimp hoặc BIOTIC for shrimp ít nhất 7 ngày giúp phục hồi đường ruột cho tôm

- Nếu do vi khuẩn gây bệnh: Kháng sinh đặc trị bệnh phân trắng là BIO SULTRIM 48% liều 10 ml/kg thức ăn, cho ăn 7 ngày hoặc BIO OXYTETRA 50% liều 1 g/kg thức ăn, cho ăn trong 5 - 7 ngày Sau khi dùng kháng sinh trộn men tiêu hóa BIO ZYME for shrimp hoặc BIOTIC for shrimp ít nhất 7 ngày nhằm giúp phục hồi hệ vi sinh vật đường ruột tôm nuôi

Song song với đó, dùng thuốc sát trùng BIO POVIDINE for shrimp hoặc BIOXIDE for shrimp diệt vi khuẩn có trong nguồn nước, tránh vi khuẩn từ bên ngoài tấn công tôm

2.2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.4.1 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trăng ở Việt Nam

Tôm Chân trắng đưa vào Việt Nam năm 2001 và được nuôi thử nghiệm tại 3 công ty: Công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty Việt Mỹ (Quảng Ninh) và công ty Asia Hawaii (Phú Yên) (Bộ NN&PTNT 2010)

Vào thời điểm này nước ta hạn chế phát triển nuôi tôm Chân trắng vì sợ lây bệnh cho tôm Sú Đến năm 2006, ngành thủy sản cho phép nuôi bổ sung tôm Chân trắng tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận, nhưng vẫn cấm nuôi tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 31

Đầu năm 2008, nhận thấy thị trường thế giới đang có xu hướng tiêu thụ mạnh mặt hàng tôm Chân trắng của Thái Lan, Trung Quốc… và sản phẩm tôm Sú nuôi của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh, hiệu quả sản xuất thấp do dịch bệnh, Ngày 25/01/2008, Bộ NN&PTNT ban hành chỉ thị số 228/CT-BNN-NTTS về việc phát triển nuôi tôm Chân trắng tại các tỉnh phía Nam Từ đó diện tích và sản lượng tôm Chân trắng không ngừng được tăng lên

Dự kiến đến năm 2015 sản lượng tôm Chân trắng đạt khoảng 449,500 tấn (Bộ NN&PTNT 2010)

Hiện nay tôm Chân trắng được nuôi với hình thức thâm canh năng suất đạt từ 2,980 kg/ha vào năm 2005 và tăng lên 4,460 kg/ha vào năm 2012 (Bảng 1) Hiện nay diện tích nuôi tôm Chân trắng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Sông Cửu Long (chiếm khoảng 94 % diện tích của cả nước)

Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng và năng suất tôm Chân trắng qua các năm

Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

Năng suất bình quân (kg/ha)

2.2.4.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới

Tôm thẻ Chân trắng được nuôi vào khoảng thập niên 80 (FAO Fishery Statistic, 2011)[19] Đến năm 1992, tôm được nuôi phổ biến trên thế giới, nhưng chủ yếu tập trung ở các nước Nam Mỹ (Wedner và Rosenberry,1992[19]) Lúc đó

Trang 32

nhiều nước Châu Á đã tìm cách hạn chế phát triển tôm Chân trắng do sợ lây bệnh cho tôm Sú

Đến năm 2003 các nước châu Á bắt đầu nuôi đối tượng này và sản lượng tôm Chân trắng trên thế giới đạt khoảng 1 triệu tấn, từ đó sản lượng tôm liên tục tăng nhanh qua các năm, đến năm 2010 sản lượng tôm đạt khoảng 2,7 triệu tấn (FAO, 2011[18]) Đến năm 2012 sản lượng tôm đạt khoảng 4 triệu tấn (GOAL 2013) Các nước nuôi tôm chủ yếu trên thế giới gồm Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Brazil, Ecuador, Mexico, Venezuela, Honduras, Guatemala, Nicaragua, Belize, Việt Nam, Malaysia, Thái Bình Dương đảo, Peru, Colombia, Costa Rica, Panama, El Salvador, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Philippines, Campuchia, Suriname, Saint Kitts, Jamaica, Cuba, Cộng hòa Dominica, Bahamas (FAO, 2012[18]) Trong đó Trung Quốc có sản lượng cao nhất thế giới đạt khoảng 1,3 triệu tấn vào năm 2012 (GOAL, 2012[18]) Hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu thâm canh Dự kiến sản lượng tôm Chân trắng đạt sản lượng khoảng 6 triệu tấn vào năm 2015 (GOAL, 2012) (trích

theo TS Châu Tài Tảo, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ)

Trên thế giới, sản lượng tôm Chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm Sú nhưng

ở châu Mỹ sản lượng tôm Chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86,000 tấn (1990), 132,000 tấn (1992), 191,000 tấn (1998) và đạt gần 200,000 tấn năm 1999 (Boyd và Gross ,1998)[9]

Tôm Chân trắng được nuôi nhiều nhất ở Châu Mỹ, chiếm hơn 70% sản lượng các loài tôm he như Ecuado, Mehico, Panama, Peru, Họ đã phát triển nghề nuôi tôm Chân trắng từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX Ecuado là quốc gia đứng đầu

Trang 33

Bảng 2.4 Sản lƣợng nuôi tôm Chân trắng ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh

Trang 34

2.2.5 Những hiểu biết về quản lí chất lượng nước trong quá trình nuôi tôm

Chất lượng nước là yếu tố cực kỳ quan trọng trong nuôi thủy sản; nhưng khó

dự đoán và khó kiểm soát Chất lượng nước quyết định hiệu quả của thức ăn, tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của con nuôi Con nuôi chết, bệnh, chậm lớn, hay thức ăn kém hiệu quả đều do chất lượng nước Các nhà nuôi tôm lớn thuờng nói: "Nuôi tôm nghĩa là nuôi nước" Để con nuôi phát triển bình thường thì nước phải sạch, không

bị ô nhiễm Chất lượng nước phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước, chất đất, chế độ cho ăn, thời tiết, công nghệ và chế độ quản lý đầm nuôi Chất lượng nước được đánh giá bằng nhiều thông số sinh, hóa, lý khác nhau; và cần được kiểm tra liên tục

để có thể xử lý nước kịp thời để bảo vệ con nuôi

2.2.5.1 Chất lượng nước và chất đất

Đất phèn có tính axit, pH rất dễ xuống thấp nên không có lợi cho tôm cá Do đó nếu có thể, nên tránh đất phèn nặng Vùng đất ven biển có nước lợ và nước mặn, thuận lợi cho nuôi tôm nhưng thường là đất phèn Để hạn chế ảnh hưởng của phèn thì phải có phương pháp thiết kế ao tôm thích hợp và chế độ quản lý nước phù hợp Muốn vậy thì trước khi đào ao, nên biết rõ chất lượng đấtvà chiều sâu các lớp đất Việc tìm hiểu chất đất vừa giúp đưa ra cách thiết kế ao sao cho giảm ảnh hưởng của phèn, vừa giúp tính lượng hóa chất cần thiết để cải tạo đất, nhờ đó tiết kiệm nhiều chi phí

2.2.5.2 Nhiệt độ

Nhiệt đô ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của con nuôi Nhiệt độ tốt nhất cho tôm là 26 - 32°C (Đỗ Hữu Sơn và cs, 2004)[7] Cần chú ý khi nhiệt độ tăng trên 32°C Ở nhiệt độ 35°C, 100% tôm dưới một tháng tuổi chết; trên 40°C thì toàn bộ tôm sẽ chết Nhiệt độ thấp thì tôm sẽ chậm lớn

Ngày đăng: 23/08/2018, 16:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w