1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu nâng cao hiệu quả ương nuôi cá nheo mỹ (ictalurus punctatus) từ giai đoạn cá hương đến giai đoạn giống tại trung tâm giống thủy sản nước ngọt miền bắc – phú tảo – thạch khôi – hải dương

59 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu

Trang 1

- -

BÙI PHƯƠNG THẢO

Tên khóa luận:

“NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ ƯƠNG NUÔI CÁ NHEO

MỸ (ICTALURUS PUNCTATUS) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG ĐẾN GIAI ĐOẠN GIỐNG TẠI TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT MIỀN BẮC - PHÚ TẢO - THẠCH KHÔI - HẢI DƯƠNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản

Khóa học : 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

- -

BÙI PHƯƠNG THẢO

Tên khóa luận:

“NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ ƯƠNG NUÔI CÁ NHEO

MỸ (ICTALURUS PUNCTATUS) TỪ GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG ĐẾN GIAI ĐOẠN GIỐNG TẠI TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT MIỀN BẮC - PHÚ TẢO - THẠCH KHÔI - HẢI DƯƠNG”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản

Khóa học : 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn : TS Hoàng Hải Thanh ThS Lê Ngọc Khánh

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là một khâu cuối cùng rất quan trọng của tất cả sinh viên trước ngưỡng cửa của ngày ra trường sau thời gian thực tập Và kết quả cuối cùng của khóa thực tập đạt được là những hiểu biết về kiến thực tế, áp dụng những lý thuyết trên ghế nhà trường vào thực tế Để có những thành quả như vậy, chúng ta không thể nào quên gửi những lời cảm ơn đến bậc thầy cô, anh chị, người thân đã giúp em hoàn thành tốt khóa thực tập tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo hướng dẫn Tiến sỹ Hoàng Hải Thanh, Tiến sỹ Lê Minh Châu người đã tạo điều kiện giúp đỡ, định hướng và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt thời gian thực tập để em có thể hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Lê Ngọc Khánh và các anh, các chị, cán bộ công nhân viên của “ Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền bắc – Phú Tảo – Thạch Khôi – Hải Dương ” đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thưc tập

Trong suốt 4 năm đại học, tôi đã nhận được sự dạy dỗ, chỉ bảo của các thầy, các cô qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới các thầy cô giáo

Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ những người đã sinh ra con va nuôi con khôn lớn Tôi xin cảm ơn các anh chị và những người thân luôn ở bên cạnh giúp đỡ, hỗ trợ về mọi mặt và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn của tôi đã luôn động viên, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Bùi Phương Thảo

Trang 4

nước ngọt 32

hương lên giống 33

hương lên giống 35Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của cá trong giai đoạn ương 38Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mâ ̣t đô ̣ tới hê ̣ số chuyển hóa thức ăn và chi

phí thức ăn 39

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

nuôi 34

đoa ̣n ƣơng nuôi 34

đoa ̣n ƣơng nuôi 36

Hình 4.6: Tỉ lệ sống trong quá trình ƣơng nuôi 38

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BW: Trọng lƣợng thân CT: Công thức

Ctv: Cộng tác viên ĐVPD: Động vật phù du

HCG: Human Chorionic Gonadotropin LRHa: Lutening Releasing Hoormon analog ppm: Phần triệu

ppt: Phần nghìn Pr: protein

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu 2

1.2.1.Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4

2.1.1 Vị trí địa lý 4

2.1.2 Điều kiện cơ sở thực tập 4

2.2 Cơ sở khoa học 6

2.2.1.Phân loại 6

2.2.2.Hình thái cấu tạo 6

2.2.3.Phân bố, tập tính và di nhập 8

2.2.4.Sinh trưởng: 9

2.2.5.Sinh sản 10

2.2.6 Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và hoạt động của cá Nheo Mỹ………… 12

2.2.7.Giá trị dinh dưỡng của thịt cá Nheo 13

Trang 8

2.3.Tình hình nuôi và tiêu thụ sản phẩm 14

2.4.Nghiên cứu cá Nheo Mỹ trong và ngoài nước 15

2.5 Quy trình sinh sản cá Nheo Mỹ 16

2.5.1 Tuyển chọn cá bố mẹ 16

2.5.2 Chăm sóc và quản lý 16

2.5.3 Sinh sản 17

2.5.4 Ương 19

2.6 Nuôi thương phẩm cá Nheo Mỹ và quản lý bệnh 21

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Thời gian, địa điểm và vật liệu nghiên cứu 26

3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

3.1.2 Đối tượng nghiên cứu 26

3.1.3 Các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu 26

3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 26

3.2.2 Quản lý và chăm sóc 27

3.3 Thu thập và xử lý số liệu 27

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 30

4.2 Điều kiện môi trường trong quá trình ương nuôi 31

4.2.1 Nhiệt độ 31

4.2.2 pH 31

4.2.3 Oxy hòa tan (DO) 31

4.2 Ảnh hưở ng của mâ ̣t đô ̣ đến khối lượng thân cá 32

4.3 Ảnh hưở ng của mâ ̣t đô ̣ đến chiều dài thân cá 35

4.4 Ảnh hưởng của mật đô tới tỉ lệ sống của cá trong giai đoạn ương 38

4.5 Ảnh hưởng của mật độ đến hệ số chuyển hóa thức ăn và chi phí thức ăn 39

Trang 9

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHI ̣ 41

5.1 Kết luận 41

5.2.Đề nghi ̣ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG KHÓA LUẬN 46

Trang 10

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ

và hữu cơ với nhau Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp

Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong quy hoạch hệ thống thuỷ lợi để không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Kể từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Nhiều mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi tôm lớn mang tính chất sản xuất hàng hoá lớn được hình thành, sản phẩm nuôi mặn lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao động Một bộ phận dân

cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ hải sản Song song chú trọng vào việc tăng năng xuất đa dạng hóa đối tượng nuôi cũng rất được quan tâm

Trang 11

Trong đó cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu Tại Hoa Kỳ, các loài cá da trơn được chăn nuôi với quy mô công nghiệp, đặc biệt

là cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus)

Ở Việt Nam, những năm gần đây cá Nheo được người dân nhập theo con đường tiểu ngạch và nuôi ở một số tỉnh phía Bắc Qua một số năm phát triển tự phát, phong trào nuôi đang ngày càng được mở rộng tại một số tỉnh như Hải Dương, Hà Nội, Quảng Ninh….Cá nuôi nhanh lớn, chất lượng thịt ngon và khả năng chống chịu tốt với môi trường, bệnh dịch Để phát triển phong trào nuôi loài cá này vấn đề chủ động sản xuất giống cung cấp tại chỗ được ưu tiên hàng đầu Cùng với thành công trong nuôi vỗ, kích thích sinh sản và ấp nở phôi trong điều kiện nhân tạo thành công thì việc nghiên cứu ương nuôi cá giống cũng cần được quan tâm thử nghiệm Để góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo, chủ động sản xuất được con giống cá Nheo Mỹ thì việc nghiên cứu về mật độ ương nuôi như thế nào để quá trình ương nuôi đạt hiệu quả tốt nhất tạo nguồn con giống sạch bệnh, tăng trưởng

(Ictalurus punctatus) từ giai đoạn cá hương đến giai đoạn giống tại Trung tâm giống Thủy sản nước ngọt miền Bắc – Phú Tảo – Thạch Khôi – Hải Dương ”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu

Tìm ra mật độ ương nuôi phù hợp nhất trong giai đoạn từ hương lên

Trang 12

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình ương nuôi

- Hệ số chuyển hóa thức ăn trong quá trình ương nuôi

- Chi phí thức ăn cho quá trình ương cá từ hương lên giống

1.3 Ý nghĩa đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá hiệu quả ương nuôi cá Nheo mỹ từ giai đoạn hương đến giai đoạn giống tại Trung tâm giống Thủy sản nước ngọt miền Bắc-Phú Tảo-Hải Dương-Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở xây dựng một quy trình ương nuôi giống hoàn chỉnh, là cơ sở khoa học có thể áp dụng trực tiếp vào mô hình của người nuôi thủy sản

Trang 13

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Vị trí địa lý

Hải Dương một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, nằm trong phạm vi

từ 20°36′ đến 21°33’ vĩ độ Bắc và từ 106°30’ đến 106°36 kinh độ Đông Hải Dương tiếp giáp với 6 tỉnh, đó là : Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây, Hải Phòng ở phía đông, Thái Bình ở phía nam Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1661,2 km2, dân số (1999) là 1701,1 nghìn người ; chiếm 0,5% về diện tích tự nhiên và 2,2 % về dân số so với cả nước ; đứng hàng thứ 51 về diện tích và thứ 11 về dân số trong số 61 tỉnh, thành phố Hải Dương là một bộ phận lãnh thổ nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), có các tuyến đường bộ, đường sắt quan trọng của quốc gia chạy qua như các quốc lộ 5, 18, 183, 37 Hải Dương là điểm trung chuyển giữa thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng theo trục quốc lộ 5 (cách Hải Phòng 45 km về phía đông, cách Hà Nội 57 km về phía tây) Phía bắc của tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài với biển qua cảng Cái Lân Quốc lộ 18 tạo điều kiện giao lưu hàng hóa từ nội địa (vùng Bắc Bộ) và từ tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc ra biển, giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới, đồng thời tạo cơ sở hạ tầng cho việc phát triển hành lang công nghiệp

Đó chính là những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí để phát triển nhanh nền kinh tế - xã hội của tỉnh

2.1.2 Điều kiện cơ sở thực tập

Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc tiền thân là Trại cá tỉnh Hải Dương, được thành lập với mục đích sản xuất giống một số

Trang 14

đối tượng thủy sản nước ngọt truyền thống phục vụ nhu cầu của người nuôi trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, cùng với xu thế phát triển của xã hội, việc sử dụng các sản phẩm thủy sản ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu con giống có chất lượng, các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ người nuôi…cũng tăng theo Chính vì những lý do đó, năm 2001 Chính phủ đã quyết định xây dựng

và nâng cấp lên thành Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc, trực thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I theo Quyết định số 715/QĐ-BTS ngày 31/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

Sau hơn 10 năm hoạt động và phát triển Trung tâm đã đạt được nhiều thành công và hiện nay đã trở thành một trong những Trung tâm đi đầu trong nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ các nguồn gen thủy sản nước ngọt, chuyển giao công nghệ sản xuất giống, công nghệ nuôi thương phẩm và các loại giống thủy đặc sản nước ngọt chất lượng cao cho các tỉnh miền Bắc cũng như trong phạm vi cả nước Bên cạnh đó Trung tâm cũng là nơi duy nhất tại miền Bắc đủ khả năng để cung cấp đàn cá bố mẹ các loại có chất lượng cao cho các trại giống của các địa phương trong cả nước để phục vụ sản xuất

Hàng năm Trung tâm thường xuyên tiến hành các chương trình nghiên cứu, thực nghiệm về nâng cao chất lượng di truyền các loài thủy sản nước ngọt, các đối tượng nuôi chủ lực có năng suất cao để nâng cao tốc độ tăng trưởng, khả năng kháng bệnh và sức chống chịu với điều kiện môi trường không thuận lợi

Điều kiện cở sở vật chất

- Diện tích: 12,7 ha

- Ao: 65 cái diện tích từ 500-3000 m2

- Bể xi măng: 24 bể 50 m3 và 24 bể 25 m3

Trang 15

- Nhà hành chính, 1 nhà nâng nhiệt, 1 nhà công nghệ, 1 nhà sản xuất với đầy đủ hệ thống bể đẻ, bể ấp, khu xuất hàng

2.2 Cơ sở khoa học

2.2.1 Phân loại

Cá Nheo Mỹ thuộc bộ cá Nheo Siluriformes, bộ này có trên hai nghìn

loài và phần lớn sống trong các thủy vực nước ngọt vùng nhiệt đới Ở Mỹ, cá Nheo Mỹ thuộc họ Ictaluridae là loài cá bản địa của vùng Gulf và thung lũng Mississippi, họ này có khoảng 43 loài Một số loài quan trọng trong họ này

đang được nuôi thương phẩm rộng rãi là cá Nheo Mỹ xanh (I furcatus), cá Nheo Mỹ trắng (I catus), cá Nheo Mỹ đầu vàng (I natalis), cá Nheo Mỹ đầu nâu (I nebulosus), cá Nheo Mỹ đầu đen (I melas), cá Nheo Mỹ đầu bẹt (Pylodictis olivaris) Loài I Punctatus được nuôi phổ biến nhất ở Mỹ và

thường được gọi là cá Nheo Mỹ Cá Nheo mỹ thuộc:

Giới (Kingdom regnum) Animalia

Bộ (order) Siluriformes

Họ (familya) Ictaluridae

Chi (genus) Ictalurus

Loài (species) Ictalurus Punctatus (Rafinerque,1818)

2.2.2 Hình thái cấu tạo

Cá Nheo Mỹ (I Punctatus) có thân thon dài, không vẩy, tia vây trên các

vây là tia vây mềm ngoại trừ tia vây trên vây lưng và ngực Vây mỡ nằm giữa vây lưng và vây đuôi không có chứa tia vây Mắt cá nhỏ, miệng nằm phía trước có 4 đôi râu quanh miệng Đuôi cá hình lưỡi mác, vây hậu môn hình vành khuyên

Trang 16

Vây hậu môn có 24-27 tia vây, vây lưng có 6-7 tia vây, vây ngực có 7-9 tia vây, vây bụng có 8-9 tia vây, có 13-18 lược mang

Cá Nheo Mỹ loài cá vây có đối xứng song song, không có vảy Sự khác biệt giữa cá catfish và cá catfish Mỹ khác là vây đuôi dài rìa sâu với phần trên của vây lớn hơn phần dưới cùng Cá trê kênh có đốm, có màu đen tối hơn, nhưng màu sắc có thể thay đổi từ màu xanh, đen hoặc ô liu Nói chung trong nước bùn, chúng có màu trắng ô liu đến vàng nhạt và trong nước biển thì

chúng có màu đen hơn Có hai đôi râu trên hàm trên (maxilla) và bốn trên

hàm dưới Chúng có 24 đến 29 tia trong vây hậu môn Hàm trên nhô ra phía trước hàm dưới Vây lưng và vây ngực có gai cứng, trong khi các tia khác mềm như hậu môn và vây đuôi Con đực thường có đầu lớn hơn con đực và con đực có màu đậm hơn so với con cái Có sự khác biệt về mặt giải phẫu giữa cá con và cá già khác với quy mô, nhưng cá da trơn ở độ tuổi rất sớm không có sắc tố (Wang, 1996)[19]

Cơ thể được kéo dài và nén phía sau Cá có tám râu cảm giác, hoặc

"râu", quanh miệng Bốn râu đang trên cằm, hai trên mõm, một trên cả hai góc của miệng Đuôi chia hai sâu sắc với lề vây hậu môn làm tròn màu sắc cá trưởng thành là màu xám nhạt để ô liu lưng và màu trắng để màu vàng bụng Thông thường, nhiều, những đốm nhỏ màu đen là hiện tại, nhưng có thể bị che khuất ở cá trưởng thành Vây hậu môn có 24-29 tia mềm, trái ngược với

cá da trơn màu xanh mà luôn luôn có 30 hoặc nhiều tia ở vây hậu môn Màu sắc: Cá nhỏ thường có màu ánh bạc và màu trắng hồng Viền ngoài của vây lưng, vây mỡ, vây hậu môn và vây đuôi thường có màu đen Cá giống khi đạt kích cỡ 6-7 cm bắt đầu xuất hiện chấm đen trên thân, các đốm này từ từ biết mất khi cá có tuổi đời lớn hơn 3 tuổi (Wellborn, 1988)[20] Cá hương râu không màu, khi cá trưởng thành râu chuyển màu sáng bạc Cá lớn có màu

Trang 17

xanh đen dọc theo lưng, cá cái có màu sáng hơn cá đực Đầu cá đực trưởng thành có màu xanh đen

2.2.3 Phân bố, tập tính và di nhập

- Phân bố, tập tính sống

Đây là cá da trơn phổ biến nhất và đông dân cư của Bắc Mỹ, thường trú tại các hồ, sông, đầm lầy và thậm chí còn cao lên ở các cửa sông có độ mặn thấp hơn Cá da trơn có một chế độ ăn uống đa dạng, và có đôi mắt lớn nhất trong gia đình cá da trơn, cũng như vị giác chuyên trên khắp cơ thể của họ, giúp họ tìm thức ăn trong nước tầm nhìn thấp Thông thường chúng được khai thác dài 0,4-0,6m, nhưng cũng có con lên đến 1,3 m và nặng tới 26,3 kg Họ

là màu xám để ô liu, với mặt dưới nhạt, và có tám “râu” hoặc râu cảm giác xung quanh miệng

Theo Glodek(1980)[15], cá Nheo Mỹ phân bố rộng trên các hồ tự nhiên, hồ chứa, các dòng suối nước sạch nơi có hàm lượng oxy cao, có thể tìm thấy trên các suối có tốc độ dòng chảy chậm và nước phù sa, thường thấy

cá ở cuối nguồn của các đập nước, cũng có thể tìm thấy cá trong các vùng nước nợ Trong tự nhiên cá Nheo Mỹ hoạt động chủ yếu vào ban đêm Ban ngày chúng thường sống trong khu vực nước sâu và các nơi tối có vật chú ẩn

Cá nhỏ thường tập trung ở nơi có lưu tốc dòng nước nhỏ và các khu vực có độ đục cao (Brown và ctv, 1970)[7]

- Di nhập

Cá Nheo Mỹ có thể tìm thấy ở khắp lục địa châu Mỹ phía Đông bờ biển Đại Tây Dương cũng như phần vùng núi phía Tây (Wellborn, 1988)[19] Ngày nay cá Nheo Mỹ đã có mặt ở trên 35 quốc gia trên thế giới (FAO, 2006)[12] Cá Nheo Mỹ được giới thiệu đầu tiên tại Puerto Rico năm 1938, tiếp đó cá được đưa tới cộng hòa Dominican năm 1954, Bỉ và Anh năm 1968,

Trang 18

Nigeria năm 1970, Hàn Quốc năm 1972, Philippines năm 1974, Trung Quốc năm 1984, Thái Lan năm 1989

Cá Nheo Mỹ là loài có khả năng thích nghi khá tốt Cá Nheo Mỹ nhập vào Ukraine năm 1972 thích nghi và sinh trưởng tốt trong điều kiện ao nuôi tại nước này Sau 3 năm di nhập sinh sản nhân tạo và ương nuôi ấu trùng đã được tiến hành thành công Ở Brazil cá Nheo Mỹ giống nhập về được nuôi trong bể xi măng, ao đất với mật độ khác nhau cũng thích nghi biểu hiện qua

sự sinh trưởng khác nhau Tại Trung Quốc, sau khi di nhập cá Nheo Mỹ được nuôi trong ao cho ăn thức ăn chính là đậu tương kết quả cho thấy cá thể hiện sinh trưởng tốt Hiện nay Trung Quốc là một trong những quốc gia có sản lượng cá Nheo Mỹ lớn trên thế giới Hầu hết các nước nhập cá Nheo Mỹ về nuôi thì cá đều thích nghi tốt và phát triển thành một nghề sản xuất

2.2.4 Sinh trưởng:

Trong tự nhiên, sinh trưởng của cá Nheo Mỹ phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng trong mỗi thủy vực Theo Carlander 1969[8] số liệu theo dõi sinh trưởng về chiều dài của cá Nheo Mỹ 8 năm liên tục trong khu vực sông Tennessee lần lượt là: 86-163 mm, 170-239 mm, 206-290 mm, 241-333 mm,

269 -366 mm, 295-404 mm, 325-427 mm, và 462-495 mm Trong vùng hồ Mississippi sinh trưởng về chiều dài trung bình năm đầu của cá Nheo Mỹ là 72-102 mm, các năm tiếp theo trong 7 năm lần lượt là 132-189 mm, 203-272

mm, 266-341 mm, 304-370 mm, 353 mm và 425 mm chiều dài xương sống của cá từ năm thứ nhất tới năm thứ 12 lần lượt là 75 mm, 161 mm, 231 mm,

299 mm, 361 mm, 423 mm, 488 mm, 536 mm, 620 mm, 676 mm, 658 mm và

709 mm Cá Nheo Mỹ có thể sống đến 40 năm tuổi, khối lượng 26,3 kg và chiều dài 1300 mm (Glodek, 1980)[15]

Trang 19

2.2.5 Sinh sản

Chúng đẻ trứng từ tháng 5 đến tháng 7 khi nhiệt độ nước đạt khoảng 23,9ºC Tổ bao gồm những nơi cỏ gần bờ hồ, dưới gờ đá và trong các hang ngập nước Trước khi đẻ trứng, con đực làm sạch các tổ bằng cách mạnh

mẽ quạt các vây vào cơ thể của mình Thời gian đẻ trứng kéo dài 4 - 6 giờ Con cái có thể đẻ từ 2.000 đến 70.000 quả trứng mỗi năm tùy thuộc vào kích thước Sau khi con cái đã đẻ những quả trứng, con đực kiểm soát trứng của tổ và không cho phép con cái đến thăm những quả trứng, vì chúng sẽ ăn trứng của chính mình

Trứng của cá da trơn trung bình 3,2 mm đường kính Chúng có màu vàng nhạt với một chiếc áo khoác ngoài dính Thời kỳ ấp nở của trứng là 5-10 ngày, ở nhiệt độ nước từ 21,1°C-29,4°C Kích thước tối thiểu của trứng khi ấp

là khoảng 6,4 mm Những cá mới nở ở lại trong tổ khoảng 7 ngày sau đó được học hành vi Những cá mới nở là động vật ăn côn trùng, ăn muỗi vằn và con sâu dùng làm mồi câu ấu trùng, thêm vào một loạt các động vật thuỷ sinh nhỏ khác Vào khoảng 3 cm chiều dài, cá con có một diện mạo cá da trơn của màu xám thường ánh sáng trên lưng và màu bạc ở hai bên Sau khi đạt đến độ dài của 9 cm, chúng ăn tạp hay ăn cá, tăng trưởng nhanh chóng được tìm thấy trong những năm đầu tiên của cuộc sống.

- Tuổi và cỡ cá thành thục

Theo Carlander (1969)[8], điều kiện sinh sản nhân tạo và nuôi trong ao

cá Nheo Mỹ thành thục sinh dục ở tuổi thứ 2 khi đạt chiều dài khoảng

350-359 mm với cá cái và 330-339 mm với cá đực Thông thường cá thành thục khi đạt chiều dài 305 mm (Appelget và Smith, 1950)[6] Tỷ lệ sinh sản thành công với cá 2 năm tuổi thường thấp và với cá 3 năm tuổi khoảng 12,7% Theo Steeby và Wagner (2005)[18], khi tiến hành sinh sản cá Nheo Mỹ nên chọn cá

bố mẹ có tuổi từ 3 tuổi trở lên, tuổi tốt nhất cho cá bố mẹ là 5 tuổi Thành

Trang 20

thục của cá Nheo Mỹ có thể thay đổi theo chu kỳ mùa và sự thay đổi về chu

kỳ ánh sáng, cá Nheo Mỹ 22 tháng tuổi có thể kích thích thành thục sinh dục

- Sức sinh sản

Cá Nheo Mỹ có sức sinh sản tương đối lớn 10.000-20.000 trứng/cá cái tùy theo khối lượng cá Thông thường cá đẻ từ 6.000-8.000 trứng/kg khối lượng cơ thể (Hunter và Dupree, 1984)[14] Cá cái có khối lượng khoảng 0,45-1,81 kg thường có khoảng 8.800 trứng/kg khối lượng (Clemens và Sneed, 1957)[11]

- Tập tính sinh sản và quá trình phát triển của phôi

Trên các sông suối khi cá đẻ, cá đực tìm vị trí thích hợp, thường là nơi

có các vật trú ẩn, dưới các gốc cây, hay các hốc đá Trong các ao nuôi hay hồ chứa cá đẻ có thể làm tổ trên bùn đáy (Clemens và Sneed, 1957)[11] Giai đoạn cá đẻ thường kéo dài từ 4 - 6 giờ, mỗi giờ cá đẻ khoảng 9 lần, mỗi lần đẻ khoảng 150 trứng Trứng cá Nheo Mỹ mới đẻ có màu vàng, đường kính từ 3,0-4,0 mm, trung bình 3,2 mm (Menzel, 1945)[16] Cá cái sau khi đẻ bơi đi,

cá đực ở lại chăm sóc ổ trứng (Hunter và Dupree, 1984)[14] Trong sinh sản nhân tạo các vật trú ẩn, thùng chứa được thiết kế làm tổ đẻ cho cá

Cá Nheo Mỹ đẻ trứng dính, màu sắc của trứng thay đổi theo giai đoạn phát triển của phôi từ màu vàng sang đỏ nhạt, thời gian ấp nở của trứng thụ

C, Allen và Strawn (1968)[5] cho rằng cá bị biến đổi hình thái của xương sống Ấu trùng cá mới nở thường dài khoảng 6,4 mm và thường tập trung quanh ổ đẻ Sau khoảng 7 ngày cá bắt đầu tiêu hết noãn hoàn

và bơi kiếm thức ăn

Trang 21

2.2.6 Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và hoạt động của cá Nheo Mỹ

- Oxy hòa tan

Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng trong nuôi cá Nheo Mỹ Oxy hòa tan trong môi trường nuôi cá Nheo Mỹ phụ thuộc vào sự tương tác gữa các yếu tố như chế độ dinh dưỡng cho ăn, mật độ tảo, cỡ cá, mật độ cá cũng như nhiệt độ nước Theo nghiên cứu của Hargreaves và Kucuk (2001)[13], nhiệt độ nước ảnh hưởng tới sự hòa tan của oxy, nhiệt độ cao vào mùa hè làm tăng trao đổi chất của cá dẫn tới hàm lượng oxy trong nước giảm Với ấp trứng và ương nuôi cá hương cá giống hàm lượng oxy cần thiết từ 4-5 mg/l, khi hàm lượng oxy hòa tan giảm xuống 1,5-1,0 mg/l cá bỏ ăn Nghiên cứu cho biết khi oxy giảm xuống còn 2,5 mg/l, lượng tiêu thụ thức ăn của cá hương và cá giống giảm 6%; khi oxy giảm xuống còn 1,5 mg/l lượng thức ăn giảm 45% theo dõi

cá trong ao nuôi cá thương phẩm hàm lượng oxy xuống tới 2,2 mg/l nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động ăn của cá, tuy nhiên khi lượng oxy hòa tan giảm còn 1 mg/l thì gây ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ thức ăn và làm giảm sinh trưởng của cá

- pH

Có rất ít nghiên cứu về ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng của cá Nheo

Trang 22

trong môi trường ao nuôi, tuy nhiên pH thích hợp cho nuôi cá Nheo Mỹ dao động từ 6,5 đến 9,0

- Độ mặn

Cá Nheo Mỹ là loài thích nghi với biên độ dao động độ muối lớn, khả năng chịu độ muối của cá Nheo Mỹ thay đổi theo các giai đoạn phát triển của vòng đời Trứng cá Nheo Mỹ có thể chịu được độ muối 16 ppt, cá bột mới nở

có thể chịu được độ muối 8 ppt Cá khi tiêu hết noãn hoàng khả năng chịu đựng độ muối tăng lên 9-10 ppt và 12 ppt Cũng theo nghiên cứu này, sinh trưởng và tiêu thụ thức ăn của cá giống 42-148 ngày tuổi nuôi trong độ muối

5 ppt và cá nuôi trong nước ngọt là như nhau

- Hàm lượng NH 3

hàm lượng oxy hòa tan trong môi trường nuôi Thí nghiệm được tiến hành trên cá Nheo Mỹ thương phẩm 500-600 g nuôi trong môi trường có nồng độ

làm ảnh hưởng tới lượng thức ăn tiêu thụ của cá Tuy nhiên lượng thức ăn tiêu

oxy hòa tan giảm xuống 2,3 mg/l

2.2.7 Giá trị dinh dưỡng của thịt cá Nheo

Nhìn chung cá Nheo Mỹ là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein cao, mỡ và cholesterol thấp, thành phần khoáng và vitamin phong phú Giá trị dinh dưỡng của cá Nheo Mỹ khoảng 116-128 kcal/100g thịt cá, trong 100 g thịt cá protein chiếm 16,3 g, lipit 6,9 g (trong đó axit béo không

no n-3, n-6 chiếm khoảng 25 %), độ ẩm 75,7 g và tro 1,1 g Clement và Lovell (1994)[10] nghiên cứu so sánh thành phần dinh dưỡng của cá Nheo

Mỹ và cá Rô phi (Tilapia nilotica) nuôi thương phẩm với cùng thời gian chăm

sóc 180 ngày và cùng loại thức ăn, cỡ cá thu trung bình của cá Nheo Mỹ 610

Trang 23

g, cá Rô phi 585 g và tác giả kết luận: Khối lượng cá thu được bỏ đầu, da và nội tạng của cá Nheo Mỹ là 60% cao hơn so với cá Rô phi (chiếm 51%) Thịt philê của cá Nheo Mỹ chiếm 30%, cao hơn cá Rô phi (25%) Hàm lượng axit béo của cá Rô phi là 5,7 g/100g, thấp hơn của cá Nheo Mỹ 7,4 g/100g Giá trị dinh dưỡng của cá Nheo Mỹ 144 kcal/100g thịt cá, trong khi đó cá Rô phi là

139 kcal/100g thịt cá Về amino acid trong thịt cá, tác giả cho rằng thành phần

và hàm lượng của hai loài gần tương đương nhau, tuy nhiên hàm lượng sodium và magnesium trong cá Nheo Mỹ cao hơn so với cá Rô phi

2.3 Tình hình nuôi và tiêu thụ sản phẩm

Cá được bắt đầu nuôi khi hội nghề cá của Mỹ tiến hành thu gom cá bố

mẹ từ tự nhiên vào những năm 1870 Sản phẩm thương mại của cá Nheo Mỹ nuôi ở Mỹ bắt đầu tại bang Alabama Vào những năm 1960 sản phẩm thương mại cá Nheo Mỹ tăng lên đáng kể do nông dân chuyển đổi từ đất trồng trọt sang đào ao nuôi cá Năm 1963 diện tích ao nuôi cá tại Mỹ là 948 ha, diện tích này đã tăng lên 16.000 ha vào năm 1969 và cuối năm 1985 đã lên tới 49.000 ha Năm 1992, các trang trại nuôi cá Nheo Mỹ tập trung phần lớn tại các bang Mississippi, Alabana, Arkansas và Louisiana với sản lượng cá thu hoạch lên tới 228.683 tấn cho chế biến Năm 2003, sản lượng cá Nheo Mỹ sản xuất tại Mỹ tăng đáng kể, chiếm khoảng 60% sản lượng cá nuôi của toàn nước Mỹ và giá trị thương mại trung bình lên tới 650 triệu USD Sản lượng cá nuôi tại các bang Mississippi, Alabana, Arkansas và Louisiana đóng góp 90% tổng sản lượng cá nuôi trên toàn nước Mỹ Sau năm 2003, sản lượng cá Nheo

Mỹ sản xuất tại Mỹ có xu hướng giảm, trung bình hàng năm sản lượng cá sản xuất tại Mỹ chỉ đạt 250.000 tấn Giá trị thương mại giảm còn 466 triệu USD năm 2009 Trái ngược với tình hình nuôi cá Nheo Mỹ tại Mỹ, sản lượng cá Nheo Mỹ nuôi trên thế giới tăng nhanh sau những năm 2000 và đạt gần

Trang 24

500.000 tấn năm 2007 Một trong số những nước đóng góp sản lượng cá Nheo Mỹ lớn là Trung Quốc, trung bình hàng năm khoảng 255.000 tấn

2.4 Nghiên cứu cá Nheo Mỹ trong và ngoài nước

- Thế giới:

Nghiên cứu sinh sản cá Nheo Mỹ được tiến hành đầu tiên ở Mỹ vào năm 1890 Năm 1916, phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ và sử dụng ổ đẻ, thu trứng ấp trong điều kiện nhân tạo thành công Tiếp theo sự thành công các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu ương nuôi cá hương, cá giống trong trại sản xuất giống Hiện nay các kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá Nheo Mỹ được thực hiện tương tự như những kỹ thuật được phát triển sau những năm

1940 Nghiên cứu bảo quản tinh trùng cá Nheo Mỹ trong dung dịch bảo quản giúp giữ tinh trùng lâu hơn và chủ động thời gian sinh sản được thực hiện bởi Christensen và Tiersch (1996)[9] Ngoài những phương pháp ấp trứng truyền thống thì phương pháp khử dính và ấp trứng trong bình cũng được nghiên cứu thành công Bên cạnh những nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo, một số nghiên cứu lai tạo giữa các loài cá Nheo Mỹ khác nhau để tạo con lai có ưu thế lai như khả năng sinh trưởng nhanh và kháng bệnh cũng được tiến hành Nghiên cứu lai tạo giữa cá cái của cá Nheo Mỹ Ictalurus punctatus và cá đực cá Nheo

Mỹ xanh Ictalurus furcatus, kết quả thu được con lai có sức sinh trưởng tăng 20% so với cá bố mẹ Hệ số chuyển đổi thức ăn của con lai giảm từ 10-20%

so với cá bố mẹ Bên cạnh khả năng về sinh trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn, khả năng kháng bệnh của con lai cũng tốt hơn

- Trong nước:

Cá Nheo Mỹ Ictalurus punctatus (Rafinesque, 1818) là loài cá da trơn mới được người dân nhập giống từ Trung Quốc về nuôi trong thời gian gần đây Loài cá này đã thể hiện nhiều ưu điểm và được người nuôi, người tiêu

Trang 25

dùng ưa chuộng Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I bắt đầu thu thập quần đàn và tiến hành cách li nghiên cứu về cá Nheo Mỹ năm 2010-2011

Sau đây là kết quả nghiên cứu ban đầu về một số đặc điểm sinh trưởng

và kích thích sinh sản do Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I thực hiện: Sau 12 tháng nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp 28% protein, cá có sinh trưởng nhanh và đạt 1,5 kg/con với cỡ cá thả ban đầu 20 g/con Đã xác định được giới tính (đực, cái) bằng quan sát hình thái ngoài Cá bố mẹ thành thục ở

kích dục tố Lutening Releasing Hoormon analog (LRHa) với liều 120 µg/kg

cá cái và Human Chorionic Gonadotropin (HCG) với liều 150 UI/kg cá cái kích thích đã thấy cá cái rụng trứng, tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế

2.5 Quy trình sinh sản cá Nheo Mỹ

Trang 26

- Tháng thứ 3 trở đi cho ăn 3% BW, phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường Nhiệt độ thấp cá có thể ăn ít nên giảm lượng thức ăn tránh ảnh hưởng đến môi trường

Thức ăn sử dụng nuôi cá là cám công nghiệp > 30% pr, có thể bổ sung VitaminC tăng sức để kháng cho cá

Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 9 giờ và 14 giờ

* Quản lý

Ao nuôi phải có nguồn nước sạch Định kỳ thay nước 15 ngày/lần, thay bằng ½ lượng nước trong ao là tôt nhất Nếu để nước ao bẩn (tảo chết nổi, nước ao có màu xanh) cá thường bị lở loét thân và chết rải rác

Ao nuôi vỗ phải có máy bơm tạo oxy cho cá

Theo dõi khả năng sử dụng thức ăn của cá để điều chỉnh cho phù hợp

2.5.3 Sinh sản

Kiểm tra cá cho sinh sản

Mùa vụ sinh sản của cá Nheo Mỹ vào khoảng trung tuần tháng 4, tháng

Tùy theo nhiệt độ môi trường trong quá trình nuôi phải thường xuyên kiểm tra cá vì nhiệt độ cao trứng cá xuống rất nhanh ảnh hưởng đến hiệu quả, năng suất sản xuất giống

Cá cái có trứng màu từ màu vàng rơm sang màu xám, căng, tròn, to là

có thể cho sinh sản

Cá đực quan sát bên ngoài có cơ quan sinh dục dài là tốt nhất, đặc biệt nhiều khi có thể vuốt nhẹ có sẹ màu trắng đục chảy ra ngoài

Kỹ thuật cho sinh sản

Cá đực và cá cái sau khi kiểm tra cho vào sinh sản được nhốt riêng mỗi con một bể để không xảy ra hiện tượng cắn nhau trong bể ảnh hưởng đến quá sinh sinh sản và ảnh hưởng đến cá

Trang 27

Bể cao 1m, dài tùy thuộc vào mục đích sử dụng, sau đó chia nhỏ ô ra làm nhiều ngăn, mỗi ngăn nhốt 1 con

Tỷ lệ đực cá cho sinh sản: 1 đực : 3 – 4 cái

Thời gian hiệu ứng thuốc khoảng 36 tiếng

Vuốt trứng cá cái vào bát, lưu ý vuốt nhẹ nhàng tránh ép quá mức dẫn đến trứng bị tắc không thể chảy ra ngoài Đặc biệt cá Nheo Mỹ có thể vuốt làm nhiều lần không ảnh hưởng đến thụ tinh

Trong quá trình vuốt trứng cá cái thì đồng thời mổ sẹ cá đực, sẹ cá đực

có thể sử dụng cho 3-4 con cái

Có thể lấy ít một thụ tinh sau đó dùng khăn ướt quấn lấy con đực để trong thùng xốp để sử dụng cho lần tiếp theo hoặc có thể lấy hết sẹ ra cho vào hộp lồng để trong ngăn mát để sử dụng cho lần tiếp theo

Sau khi vuốt trứng xong cho sẹ vào dùng lông gà đảo nhẹ nhàng cho trứng và tinh trùng gặp nhau sau đó dùng nước sạch cho từ từ vào và đảo đều một cách nhẹ nhàng khoảng 3 phút, tiếp đó gạn nước trong bát đi và cho nước sạch vào 1-2 lần cho trứng sạch rồi chuyển vào bình ấp

Ấp nở

Dụng cụ ấp nở trứng cá là bình weys nhỏ dùng để ấp cá chép thí nghiệm, khay ấp giống ấp cá Lăng Chấm, máy sục khí, pipet (Nguyễn Đức Tuân, 2006)[4]

Trang 28

Nước sử dụng ấp trứng phải sạch, nước bẩn sẽ làm trứng dễ bị nấm Sau khi thụ tinh chuyển trứng vào bình ấp Trong quá trình ấp phải điều chỉnh lưu tốc nước cho phù hợp Khoảng 30-1 giờ đầu tiên lưu tốc nước phải mạnh để tránh hiện tượng trứng bị lắng xuống đáy bình và dính trở lại với nhau Sau khi trứng đã hình thành màng trương thì có thể điều chình lưu tốc vừa phải đảm bảo trứng luôn được đảo đều

Thường xuyên kiểm tra trong quá trình ấp, hút loại bỏ trứng không thụ tinh tránh hiện tượng trứng hỏng bị vỡ ảnh hưởng đến trứng thụ tinh

Trứng thụ tinh có màng trong suốt nhìn rõ nhân, trứng không thụ tinh có màu trắng sữa đục không nhìn thấy nhân

Trứng cá Nheo Mỹ sau khi ấp trong bình khoảng 24 giờ tùy nhiệt độ nước phải chuyển ra khay ấp có sục khí mạnh Khi phôi đã phát triển đến giai đoạn có điểm mắt, dây sống nếu không chuyển ra ngoài phôi sẽ bị chết trong bình hoặc cá bột nở ra bị dị hình, vỡ noãn hoàng Do khi hình thành dây sống

là giai đoạn nó cần nhiều oxy nên chuyển ra khay ấp có sục khí chỉ sau 2-3 giờ là cá nở

+ Ương cá Nheo Mỹ từ cá bột lên cá hương:

Cá sau khi nở 5-7 ngày tiêu hết noãn hoàng có thể bơi chủ động được chuyển tới ao ương, mật độ thả thông thường 370.000-500.000cá/ha Cũng có thể ương cá trong bể Bể ương kích thước 234 cm × 55 cm × 29 cm cần nắp đặt hệ thống sục khí, duy trì nước chảy và thường xuyên siphon thức ăn thừa

Trang 29

và phân ra khỏi bể Vào khoảng 3 ngày sau khi cá nở, chúng được xác định số lượng và chuyển sang ương Có thể thả 6.000-8000 cá bột/bể Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng được cho ăn bột cá nghiền nhỏ, hàm lượng đạm khoảng 50%, cho ăn 4-6 lần/ngày trong 7-10 ngày, các ngày tiếp theo cá cho ăn thức

ăn có kích cỡ lớn hơn phù hợp với cỡ miệng của cá Cũng có thể sử dụng thức

ăn tươi sống như Artemia nauplii để ương cá

+ Ương cá Nheo Mỹ từ cá hương lên cá giống:

Chuẩn bị ao ương, tát tẩy dọn, vét bùn, lọc nước bằng lưới lọc có kích

cỡ 500 μm Với bể ương nên rửa bể bằng 10% formaline, lắp đặt hệ thống sục khí hay thiết kế hệ thống dòng chảy Đối với cá hương cỡ 50-75mm mật độ thích hợp cho ương từ cá hương lên cá giống trong ao từ 24.700-37.000 con/ha Cá cỡ 50 mm được chuyển sang bể ương kích thước 234 cm × 55 cm

× 29 cm với mật độ 600 con/bể Sau thời gian nuôi 80 ngày cỡ cá có thể đạt

230 mm Trong ao đất nếu thả với mật độ 12.350-14.820 con/ha sau thời gian nuôi 80-100 ngày cỡ cá có thể đạt 305 mm Giai đoạn này, cho ăn với tỷ lệ và kích cỡ thức ăn theo bảng 2.1 (Huner và Dupree, 1984)[14]

Bảng 2 1 Một số chỉ tiêu về cỡ cá, tỷ lệ cho ăn và kích cỡ thức ăn của cá

Ngày đăng: 23/08/2018, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w