Bài viết của em được viết nhằm xem xét nội dung “phân tích những thuận lợi và khó khăn trong tìm kiếm việc làm của lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới”. Đồng thời em xin phép đưa ra ý kiến về những giải pháp giải quyết tìm kiếm việc làm của lao động Việt Nam. Trong khuôn khổ thời gian và năng lực có hạn, bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót. Em xin chân thành mong có những ý kiến đóng góp của cô và các bạn để bài viết hoàn thiện hơn.
Trang 1MỞ ĐẦU
Việc làm - lao động là một vấn đề kinh tế - xã hội lớn ở nước ta hiện nay Sự
đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất, dịch vụ đã tạo ra mỗi năm gần một triệu việc làm mới Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn gay gắt Năm 2015, tính trung bình cả nước, tỉ lệ thất nghiệp là 2,1%, tỉ lệ thiếu việc làm là 8,1% Ở khu vực thành thị tỉ lệ thất nghiệp là 5,3%, ở nông thôn
là 1,1%; tỉ lệ thiếu việc làm ở thành thị là 4,5%, ở nông thôn là 9,3%
Có thể khẳng định lao động có vai trò động lực quan trọng trong tăng trưởng
và phát triển kinh tế Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động
có vai trò 2 mặt
Thứ nhất, là một nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu trong các hoạt
động kinh tế Với vai trò này lao động luôn được xem xét ở cả 2 khía cạnh, đó là chi phí và lợi ích Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng yếu tố sản xuất khác Lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập cải thiện đời sống và giảm nghèo đói thông qua chính sách(tạo việc làm, tổ chức lao động có hiệu quả, áp dụng công nghệ phù hợp…)
Thứ hai, lao động là một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích
của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “ phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”
Do đó việc làm là đặc biệt cần thiết đối với người lao động Việt Nam là một nước “đang phát triển” và nguồn nhân lực có đầy đủ các tính chất của một nước kém phát triển: Tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động dồi dào, giá lao động rẻ, chất lượng lao động thấp, lao động dư thừa nhiều… nhưng trong những năm qua, chúng ta đã có những thay đổi đáng kể trong công tác đào tạo, sử dụng nguồn lao động, thúc đẩy sự chuyển biến nguồn lao động theo hướng tích cực nhất và cũng
đã đạt được những thành quả nhưng cũng còn những bất cập nhất định
Trang 2Bài viết của em được viết nhằm xem xét nội dung “phân tích những thuận lợi và khó khăn trong tìm kiếm việc làm của lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới” Đồng thời em xin phép đưa ra ý kiến về những giải
pháp giải quyết tìm kiếm việc làm của lao động Việt Nam
Trong khuôn khổ thời gian và năng lực có hạn, bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót Em xin chân thành mong có những ý kiến đóng góp của cô
và các bạn để bài viết hoàn thiện hơn
PHẦN I: VIỆC LÀM
I Một số khái niệm cơ bản
1 Khái niệm về việc làm
Việc làm: là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, TLSX, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người
Theo Bộ luật Lao động ở Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là:
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Người có việc làm là những người làm những công việc gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hay những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật Khi tiến hành cuộc điều tra thống kê về lao động và việc làm, khái niệm người có việc làm được cụ thể hóa bằng một số tiêu thức khác tùy thuộc vào mỗi nước đặt ra Có thể phần làm 2 nhóm các tiêu thức bổ sung:
- Nhóm thứ nhất là nhóm có việc làm và đang làm việc, đó là những người làm bất kể công việc gì được trả công hoặc vì lợi ích làm việc hoặc làm việc không
Trang 3- Nhóm thứ hai là người có việc làm hiện tại nhưng không làm việc, hiện đang nghỉ việc vì đang là kỳ nghỉ (nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ phép…), ốm, do thời tiết xấu hoặc do các lý do khác
2 Khái niệm về thất nghiệp
Theo khái niệm của Tổ chức lao động Quốc tế, thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm
Theo quan niệm nêu trên, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh giá bằng chỉ tiêu “Tỷ lệ thất nghiệp” Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động
Một điểm cần đề cập đến là phân loại thất nghiệp:
*) Nếu phân theo tính chất của thất nghiệp, chúng ta có các dạng sau:
- Thất nghiệp tạm thời: phát sinh là do sự di chuyển không ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống
- Thất nghiệp có tính cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với công nhân Sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại lao động nào đó tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác lại giảm đi, trong đó mức cung không điểu chỉnh kịp với sự thay đổi này
- Thất nghiệp chu kỳ: xảy ra khi mức cầu chung về lao động thấp Khi tổng mức chi và sản lượng giảm, chúng ta thấy thất nghiệp tăng hầu hết ở khắp nơi Việc thất nghiệp tăng hầu hết ở các vùng là dấu hiệu cho thấy thất nghiệp tăng phần lớn là theo chu kỳ
3.1 Thực trạng về vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan
Trang 4của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử
Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế Điều đó thể hiện ở các khía cạnh:
Ở khía cạnh cung - cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên, dưới 70% Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Tình trạng thiếu việc làm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc
Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế Sự kiểm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ Chưa phát huy được vai trò của “tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội
Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ
và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi
Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém Hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm giao dịch lớn đạt hiệu quả khu vực Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên 3.000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh
Trang 5và Hà Nội, song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm
Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như "chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”
PHẦN II NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG TÌM KIẾM VIỆC
LÀM CỦA LAO ĐỘNG VIỆT NAM
1 Những nhân tố tác động tới tạo việc làm cho người lao động
1.1 Điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ
1.2 Chất lượng lao động
1.3 Cơ chế chính sách
2 Những khó khăn trong tìm kiếm việc làm của lao động ở Việt Nam
Một là, mức tăng việc làm chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Giai đoạn 2013-2015, tốc độ tăng trưởng việc làm bình quân ở thành thị đạt 4,8% trong khi ở nông thôn chỉ là 1,8%, hệ số co dãn việc làm chung chỉ đạt mức trung bình 0,28, tức là khi GDP tăng thêm 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28% Thậm chí, năm 2015, hệ số co dãn việc làm còn thấp hơn mức trung bình, chỉ đạt 0,27%
So với các nước trong khu vực, hệ số co dãn việc làm còn thấp, hay tăng trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm và đem lại lợi ích cho người lao động
Hai là, chuyển dịch cơ cấu việc làm chậm, không theo kịp chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
Trang 6Việc làm vẫn tiếp tục bị dồn nén trong khu vực nông nghiệp, nông thôn với năng suất thấp (năm 2013, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 48,2% việc làm nhưng chỉ tạo ra 24,3% GDP) Đặc biệt, năng suất, hiệu quả lao động trong các ngành kinh tế thấp, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và các ngành thâm dụng lao động (sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và khai khoáng, các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ tiêu dùng sử dụng nhiều lao động phổ thông), các ngành công nghiệp mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kỹ thuật cao (điện tử, co khí chế tạo, vật liệu mới…) và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao đòi hỏi trình độ lành nghề (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…) chậm phát triển
Ba là, chất lượng việc làm thấp Năm 2013, lao động tự làm việc và lao
động gia đình không hưởng lương, với đặc trưng là việc làm không bền vững và dễ
bị tổn thương, vẫn là hai nhóm lao động chủ đạo của nền kinh tế, chiếm khoảng 70,5% trong việc làm phi nông nghiệp
Bốn là, tỷ lệ lao động không có việc làm thấp nhưng lại chủ yếu rơi vào lao
động có chuyên môn kỹ thuật
Là một nước đang phát triển, thị trường lao động chưa hoàn thiện, hệ thống an sinh xã hội chưa đảm bảo, tỷ lệ lớn lao động sinh sống tại nông thôn và làm việc trong nông nghiệp, do vậy, thất nghiệp hoàn toàn chưa phải là vấn đề nghiêm trọng với Việt Nam Cơ cấu người thất nghiệp có sự biến đổi quan trọng, tỷ trọng người thất nghiệp thành thị có xu hướng giảm trong khi ở nông thôn lại có xu hướng tăng Như vậy, hiện nay, lao động và việc làm trên thị trường lao động Việt Nam còn rất nhiều hạn chế về cơ cấu lao động và việc làm, về chất lượng lao động và việc làm Những hạn chế này là rất cơ bản và không thể khắc phục được trong ngắn hạn
Năm là, Chính sách việc làm, chính sách việc làm hiện nay chủ yếu mới chú
trọng đến tạo việc làm theo chiều rộng, càng nhiều việc làm càng tốt mà chưa chú trọng đến chất lượng việc làm Vì vậy, chưa khuyến khích người lao động nâng cao trình độ và tay nghề
Trang 7Chính sách về việc làm ban hành còn tản mạn ở nhiều văn bản gây chồng chéo Các quy định của chính sách việc làm mang tính quy phạm chưa cao, chính sách chủ yếu hướng vào hỗ trợ, khuyến khích chưa rõ trách nhiệm của các đối tượng điều chỉnh của chính sách Một số chính sách hỗ trợ việc làm chưa được hướng dẫn cụ thể như: chính sách miễn giảm thuế để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị và cá nhân tạo việc làm cho nhiều người lao động; chính sách khuyến khích đưa nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao; đi làm việc tại các công trình, dự án do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ở nước ngoài; chính sách hỗ trợ người lao động sau khi về nước
PHẦN III CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG
TÌM KIẾM VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Thực hiện các chính sách khuyền khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo việc làm mới; chú trọng khuyến khích phát triển ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, các doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều lao động Thực hiện tốt chương trình khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển làng nghề và kinh tế trang trại
2 Tập trung nguồn vốn của Quỹ cho vay giải quyết việc làm đối với các dự
án thu hút nhiều lao động; sắp xếp và đổi mới và thống nhất trong phạm vi cả nước Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội; có cơ chế chính sách về nhà ở và phúc lợi để cải thiện đời sống người lao động trong các khu công nghiệp, nhất là lao động di cư đến các khu công nghiệp tập trung; các trung tâm giới thiệu việc làm, tạo điều kiện phát triển thị trường lao động theo đúng quy hoạch Đẩy mạnh phong trào thanh niên lập nghiệp; đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn và nông dân ở nơi chuyển đất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ Xây dựng chính sách di cư phù hợp để thúc đẩy sự phân bố lao động giữa các vùng, hỗ trợ cho người lao động nhập cư được tiếp cận với các dịch vụ xã hội
Có chính sách đảm bảo dịch vụ y tế và giáo dục cho trẻ em nhập cư
Trang 83 Đưa xuất khẩu lao động thành một chương trình lớn, đồng bộ theo hướng
mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt chú ý cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu để tham gia vào thị trường lao động có giá trị cao, tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh
tế, xã hội trong nước và nâng cao mức sống của người dân Có giải pháp mạnh và chính sách cụ thể để mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và tạo cơ hội cho người lao động tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động
4 Đổi mới mạnh mẽ phương thức đào tạo nguồn lao động xuất khẩu có tác phong công nghiệp, ý thức tuân thủ pháp luật, có văn hóa ứng xử, trình độ ngoại ngữ tốt
5 Tăng cầu lao động là phương hướng cơ bản để khai thác sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động góp phần tăng thu nhập xã hội
- Phát triển các ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động
- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm chẳng hạn như: hoạt động dịch vụ việc làm; dạy nghề gắn với việc làm; xuất khẩu lao động…
* Tăng cầu lao động ở khu vực thành thị cần tập trung vào hướng sau:
+ Phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, nhất là ở các địa bàn có điều kiện lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, các dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tạo việc làm có giá trị kinh tế cao và giá trị lao động cũng cao
+ Phát triển các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao động, việc làm khu vực phi chính thức, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh dịch vụ
+ Phát triển hình thức gia công sản xuất hàng hóa tiêu dùng xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa, mặt hàng, trước hết là các mặt hàng có công nghệ sử dụng nhiều lao động như may mặc, da giầy, gốm sứ, lắp ráp điện tử…
* Đối với khu nông thôn, để tăng cầu lao động cần phải:
+ Phát triển kinh tế trang trại gắn với xu thế chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo
Trang 9+ Khôi phục và phát triển các ngành nghề nông thôn.
+ Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, chú trọng công nghiệp chế biến và dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp
+ Chuyển đổi và phát triển các hợp tác xã mới chủ yếu làm các khâu dịch vụ cho hộ nông dân
6 Giảm cung lao động về số lượng và tăng cung lao động về chất lượng cũng
là hướng cần thiết phải được coi trọng Việc tăng cung lao động về chất lượng nhằm phát triển nguồn lao động có trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới; đồng thời cũng tăng cơ hội tiếp cận của người lao động với quá trình hội nhập
Như vậy, với những hướng giải quyết như trên nhưng có thể trong tương lai gần Việt Nam sẽ thu hút them được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa để trở thành một nước có nền kinh tế phát triển đứng vào hàng ngũ các nước công nghiệp trên thế giới
KẾT LUẬN
Lĩnh vực lao động - việc làm những năm qua có nhiều đổi mới và thu hút được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Trước hết Nhận thức về việc làm, hiểu biết về việc làm và cách giải quyết việc làm cũng như tâm lý về việc làm của người lao động, của xã hội đã được thay đổi tích cực Tạo và giải quyết việc làm cho lao động xã hội không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, các gia đình bản thân người lao động và của toàn
xã hội Quan điểm nhân dân tự tạo ra việc làm là chính Nhà nước tạo ra môi trường kinh tế, pháp luật thuận lợi và hỗ trợ một phần nguồn lực để nhân dân tự tạo việc làm đã thấm nhuần trong cuộc sống và trở thành nội lực thúc đẩy sự nghiệp tạo và giải quyết việc làm Những năm qua Đảng và Nhà nước đã đề ra một loại chính sách chương trình phát triển kinh tế xã hội Trong đó có nhiều chính sách, chương trình tác động trực tiếp đến việc tạo và giải quyết việc làm cho lao động xã hội Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chất chiến lược và kinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh
Trang 10tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn Đất nước ta đang trông chờ vao thế hệ trẻ, đặc biệt là cán bộ quản lý kinh tế trong tương lai, là một sinh viên khoa kinh tế tôi nhận thức được điều này Phải luôn trau rồi kiến thức, tận dụng thời gian và nâng cao năng lực để theo kịp với sự tiến triển của nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ đổi mới, một thế giới mới, thế giới của sự văn minh, giàu có và công bằng