TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Hồ Huy Thành Tên luận án: "Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ dưới tác động của đô thị hóa trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh" Chuy
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HỒ HUY THÀNH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ KINH TẾ HỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HỒ HUY THÀNH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ KINH TẾ HỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
Chuyên ngà nh: Quản lý đất đai
Mã số: 9.85.01.03
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Đào Châu Thu
2 TS Mai Văn Phấn
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ
ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận án đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong Luận án này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả Luận án
Hồ Huy Thành
Trang 4- Lãnh đạo và các phòng, đơn vị chức năng thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Hà Tĩnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh, Lãnh đạo và các phòng, đơn vị chức năng thuộc UBND thành phố Hà Tĩnh; Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn các
xã Thạch Hạ, Thạch Môn và phường Thạch Quý; các nông hộ thuộc địa bàn nghiên cứu
đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện Luận án tại địa phương
- Vợ, con và gia đình đã đầu tư, hỗ trợ, gánh vác công việc cho tôi trong suốt hơn
6 năm học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
- Cơ quan và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả Luận án
Hồ Huy Thành
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
Trích yếu luận án xi
Thesis abstract xiii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 5
2.1.1 Đất nông nghiệp và tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp 5
2.1.2 Đô thị hóa và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô 10
2.1.3 Kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa vùng đô thị và ven đô 20
2.2 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam 24
2.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa tại một số nước trên trên thế giới 24
2.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa tại Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh 33
2.3 Những nghiên cứu về sử dụng đất và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa vùng đô thị và ven đô 39
2.4 Nhận xét, đánh giá chung, định hướng nghiên cứu 41
Trang 6Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 44
3.1 Nội dung nghiên cứu 44
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong điều kiện ĐTH ở thành phố Hà Tĩnh 44
3.1.2 Sử dụng đất và công tác quản lý đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 tại thành phố Hà Tĩnh 44
3.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của ĐTH ở thành phố Hà Tĩnh 44
3.1.4 Kinh tế nông hộ của một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của ĐTH vùng nội đô và ven đô thành phố Hà Tĩnh 44
3.1.5 Định hướng sử dụng đất và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thành phố Hà Tĩnh 45
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 45
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 45
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 47
3.2.4 Phương pháp đánh giá đất theo FAO 48
3.2.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 48
3.2.6 Phương pháp đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường 51
3.2.7 Phương pháp ứng dụng GIS trong xây dựng bản đồ 51
3.2.8 Phương pháp phân tích đất 52
3.2.9 Phương pháp phân cấp xây dựng bản đồ độ phì 52
3.2.10 Phương pháp phân tích SWOT 53
3.2.11 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu và minh họa kết quả nghiên cứu 54
Phần 4 Kết quả và thảo luận 55
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội dưới tác động của đô thị hóa ở thành phố Hà Tĩnh 55
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 55
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dưới tác động của đô thị hóa ở thành phố Hà Tĩnh 60
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Tĩnh 66
4.2 Sử dụng đất và công tác quản lý đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 tại thành phố Hà Tĩnh 68
Trang 74.2.1 Đặc điểm tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở thành phố Hà Tĩnh 68
4.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp qua các giai đoạn 69
4.2.3 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 ở thành phố Hà Tĩnh 71
4.2.4 Công tác quản lý đất đai và chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp ở thành phố Hà Tĩnh 77
4.3 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa ở thành phố Hà Tĩnh 81
4.3.1 Đánh giá bổ sung tính chất đất nông nghiệp sau tác động của quá trình đô thị hóa tại 3 xã, phường nghiên cứu 81
4.3.2 Đánh giá thích hợp đất đai của các loại sử dụng đất theo yêu cầu sử dụng đất thành phố Hà Tĩnh 85
4.3.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa 104
4.4 Hiệu quả một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa thành phố Hà Tĩnh 123
4.4.1 Cơ sở để lựa chọn mô hình sử dụng đất để theo dõi, đánh giá 123
4.4.2 Hiệu quả sản xuất mô hình trồng hoa đào 124
4.4.3 Hiệu quả sản xuất mô hình trồng Lạc - Dưa hấu - Bắp cải 125
4.4.4 Hiệu quả sản xuất mô hình trồng Hoa ly - Dưa hấu - Súp lơ 127
4.4.5 Hiệu quả sản xuất mô hình nuôi cá Chẽm, cá Chim 129
4.4.6 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất của các mô hình 130
4.5 Định hướng sử dụng đất và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thành phố Hà Tĩnh 132
4.5.1 Căn cứ định hướng sử dụng đất 132
4.5.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ 139
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 148
5.1 Kết luận 148
5.2 Đề nghị 149
Các công trình khoa học đã công bố 150
Tài liệu tham khảo 151
Phụ lục 160
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
GIS Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
MCA Phân tích đa tiêu chuẩn (Multi Criteria Analysis)
Trang 9Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
NCS Nghiên cứu sinh
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2.1 So sánh nông nghiệp đô thị và nông nghiệp nông thôn 13
2.2 Diện tích các loại đất qua các thời kỳ ở Nhật Bản 31
2.3 Diện tích các loại đất ở Hàn Quốc giai đoạn 2003 - 2011 32
3.1 Các chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 50
3.2 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội 50
3.3 Các chỉ tiêu phân tích đất 52
3.4 Chỉ tiêu đánh giá độ phì 53
4.1 Mức lũ của sông Rào Cái 58
4.2 Diện tích các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh 60
4.3 Diện tích, cơ cấu nhóm đất chính thành phố Hà Tĩnh từ 2000 - 2015 69
4.4 Diện tích, cơ cấu các loại đất nông nghiệp thành phố Hà Tĩnh từ 2000 - 2015 70
4.5 Chu chuyển diện tích một số loại đất chính giai đoạn 2000 - 2015 74
4.6 Một số dự án trọng điểm có tác động đến sản xuất nông nghiệp 75
4.7 Tính chất lý, hóa học đất của phẫu diện HT 08 82
4.8 So sánh tính chất lý, hóa học đất tầng mặt giữa phẫu diện phúc tra HT08 năm 2015 và phẫu diện xây dựng bản đồ đất TPHT02 năm 2010 83
4.9 Tính chất lý, hóa học đất của phẫu diện HT 10 84
4.10 Các yếu tố, chỉ tiêu phân cấp xác định đơn vị đất đai thành phố Hà Tĩnh 86
4.11 Tổng hợp diện tích loại đất theo đơn vị hành chính 87
4.12 Tổng hợp diện tích địa hình tương đối theo đơn vị hành chính 88
4.13 Tổng hợp diện tích độ dày tầng canh tác theo đơn vị hành chính 89
4.14 Tổng hợp diện tích thành phần cơ giới theo đơn vị hành chính 90
4.15 Tổng hợp diện tích độ phì theo đơn vị hành chính 91
4.16 Tổng hợp diện tích chế độ tưới theo đơn vị hành chính 92
4.17 Tổng hợp các đơn vị đất đai thành phố Hà Tĩnh 94
4.18 Mức độ thích hợp đất đai một số loại sử dụng đất chính 96
4.19 Tổng hợp các mức độ thích hợp đất đai của LMU 97
4.20 Tổng hợp diện tích thích hợp đất chuyên lúa theo đơn vị hành chính 98
Trang 114.21 Tổng hợp diện tích thích hợp đất lúa màu theo đơn vị hành chính 99
4.22 Tổng hợp diện tích thích hợp đất chuyên màu theo đơn vị hành chính 100
4.23 Diện tích các loại sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh 104
4.24 Các loại sử dụng đất chính ở phường Thạch Quý 105
4.25 Hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất phường Thạch Quý 106
4.26 Tổng hợp phân cấp hiệu quả kinh tế phường Thạch Quý 107
4.27 Các loại sử dụng đất chính ở xã Thạch Môn 107
4.28 Hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất xã Thạch Môn 108
4.29 Tổng hợp phân cấp hiệu quả kinh tế xã Thạch Môn 109
4.30 Các loại sử dụng đất chính ở xã Thạch Hạ 109
4.31 Hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất xã Thạch Hạ 110
4.32 Tổng hợp phân cấp hiệu quả kinh tế xã Thạch Hạ 111
4.33 Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất lựa chọn 112
4.34 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 114
4.35 Diễn biến một số chỉ tiêu môi trường đất tại các mô hình sử dụng đất 117
4.36 Tổng hợp hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của các LUT 118
4.37 Kết quả điều tra nông hộ về sản xuất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa tại các điểm nghiên cứu 120
4.38 Hiệu quả của mô hình sản xuất trồng hoa Đào 125
4.39 Hiệu quả của mô hình sản xuất trồng Lạc - Dưa hấu - Bắp cải 127
4.40 Hiệu quả của mô hình sản xuất trồng hoa Ly - Dưa hấu - Súp lơ 129
4.41 Hiệu quả của mô hình cá (Chẽm, Chim) nuôi ao 130
4.42 Quy hoạch sử dụng đất đến 2020 thành phố Hà Tĩnh 135
4.43 Phân tích SWOT 135
4.44 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp thành phố Hà Tĩnh 137
4.45 Quy hoạch phát triển đô thị (lấy trên đất thích hợp sản xuất nông nghiệp: chuyên lúa, lúa màu, chuyên màu) 140
Trang 12DANH MỤC HÌNH
2.1 Quy trình đánh giá đất theo FAO 9
2.2 Sơ đồ minh họa khu vực đô thị và ven đô 16
2.3 Tỷ lệ đô thị hóa của Trung Quốc thời kỳ 1953 - 2015 25
2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị của Nhật Bản (2003) 30
3.1 Sơ đồ vị trí điểm nghiên cứu ở thành phố Hà Tĩnh 46
4.1 Vị trí địa lý thành phố Hà Tĩnh 55
4.2 Nhiệt độ, lượng mưa và lượng bốc hơi trung bình 2000 -2016 56
4.3 Tổng GDP thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2010-2015 63
4.4 Biến động cơ cấu lao động giai đoạn 2010-2015 64
4.5 Biến động sử dụng đất nông nghiệp ở thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2000 - 2015 73
4.6 Tỷ lệ diện tích các loại đất nông nghiệp giảm sang đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 75
4.7 Phẫu diện HT 08 82
4.8 Ảnh phẫu diện HT 10 83
4.9 Sơ đồ đơn vị đất đai 93
4.10 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất chuyên lúa 101
4.11 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất lúa màu 102
4.12 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất chuyên màu 103
4.13 Xu hướng biến động của các kim loại nặng tại hai điểm lấy mẫu nông hóa 116
4.14 Xu hướng biến động của các kim loại nặng tại điểm phẫu diện 117
4.15 Mô hình trồng đào của hộ ông Trần Hữu Sỹ 124
4.16 Mô hình trồng Lạc - Dưa hấu - Bắp cải của hộ ông Nguyễn Tiến Trình 126
4.17 Cánh đồng rau ở Thôn Quyết Tiến, xã Thạch Môn 126
4.18 Hộ ông Đặng Hào Quang làm nhà lưới để trồng Hoa Ly 128
4.19 Hoa Ly giai đoạn thu hoạch 128
4.20 Ao nuôi cá (Chẽm, Chim) của hộ ông Lê Huy Chương 129
4.21 Phân vùng kiến trúc đô thị đến năm 2030 thành phố Hà Tĩnh 141
4.22 Phân vùng nông nghiệp đô thị đến năm 2030 thành phố Hà Tĩnh 142
Trang 13TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Tên tác giả: Hồ Huy Thành
Tên luận án: "Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ dưới
tác động của đô thị hóa trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh"
Chuyên ngành: Quản lý đất đai; Mã số: 9.85.01.03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp; Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp; Phương pháp đánh giá đất theo FAO; Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất; Phương pháp đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường; Phương pháp ứng dụng GIS trong xây dựng bản đồ; Phương pháp phân tích đất; Phương pháp phân cấp xây dựng bản đồ độ phì; Phương pháp phân tích SWOT; Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu và minh họa kết quả nghiên cứu
Kết quả chính và kết luận
- Thành phố Hà Tĩnh hiện có tỷ lệ ĐTH là 72%, tốc độ ĐTH là 34,45%, trong tương lai đất nông nghiệp tiếp tục sẽ bị giảm để phát triển đô thị Đất nông nghiệp Thành phố bố trí khá tập trung ở khu vực ven đô, diện tích còn 2.852,89 ha (chiếm 50,45% so với tổng diện tích tự nhiên) Quá trình ĐTH đã làm cho tổng diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2015 giảm sang đất phi nông nghiệp 646,55 ha, chiếm 18,73% so với tổng diện tích đất nông nghiệp đầu kỳ; diện tích đất khai hoang để SXNN chỉ đáp ứng được 59,51% số bị mất do ĐTH; diện tích được tưới, tiêu chủ động và diện tích gieo trồng đều bị giảm dần theo thời gian
- Bản đồ đơn vị đất đai thành phố Hà Tĩnh được xây dựng từ 6 bản đồ chuyên
đề là bản đồ loại đất, bản đồ địa hình tương đối, bản đồ độ dày tầng canh tác, bản đồ
Trang 14thành phần cơ giới, bản đồ độ phì và bản đồ chế độ tưới Thành phố Hà Tĩnh có 51 đơn vị đất đai, từ chất lượng đất đai của các LMU, đã xác định có 1.031,79 ha đất thích hợp trồng lúa (chiếm 41,7%); có 1.570,19 ha đất thích hợp trồng lúa - màu (chiếm 63,45%) và 1.253,90 ha đất thích hợp trồng màu (chiếm 50,67%) trên trên tổng số 2.474,59 ha diện tích đất điều tra Tuy nhiên, vẫn còn có 57,03 ha đất không thích hợp cho SXNN
- Thành phố Hà Tĩnh có 7 LUT chính có hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường xếp theo thứ tự cao - thấp là: chuyên hoa, chuyên màu, hoa - màu, nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả, lúa màu và chuyên lúa Trong đó, các kiểu sử dụng đất có hiệu quả cao là Hoa đào, Lạc - Dưa hấu - Bắp cải, Dưa hấu - Dưa hấu - Rau cải, Lạc - Dưa hấu -
Su hào và Lạc - Dưa hấu - Súp lơ Mặc dù LUT NTTS cho hiệu quả trung bình nhưng
để góp phần cải thiện kinh tế hộ cần khuyến cáo chuyển phần diện tích đất trồng lúa ở vùng trũng, nhiễm mặn, năng suất thấp sang NTTS mặn lợ với các bờ bao trồng cây ăn quả, cây cảnh
- Kết quả theo dõi, đánh giá mô hình thực nghiệm trong 3 năm 2013, 2014 và
2015 với 4 kiểu sử dụng đất gồm: Hoa Ly (vụ Đông) - Dưa Hấu (vụ Xuân Hè) - Súp
lơ (vụ Đông) có GTGT 1.680,83 triệu đồng/ha/năm; trồng hoa Đào có GTGT 770,06 triệu đồng/ha/năm và Lạc Xuân - Dưa Hấu (vụ Hè Thu) - Bắp cải (vụ Đông) có GTGT 221,23 triệu đồng/ha/năm và mô hình NTTS gồm cá Chẽm, cá Chim nuôi ao đất với GTGT 542,38 triệu đồng/ha/năm Trong thời gian tới để góp phần cải thiện kinh tế hộ, thành phố Hà Tĩnh cần nhân rộng các mô hình mang lại hiệu quả cao là: chuyên hoa (Hoa đào), chuyên màu (Lạc - Dưa hấu - Bắp cải, Dưa hấu – Dưa hấu – Rau cải, Lạc – Dưa hấu – Su hào, Lạc - Dưa hấu - Súp lơ) và NTTS (cá Chẽm, cá chim nuôi ao)
- Đối với khu vực đô thị và ven đô thành phố Hà Tĩnh đề xuất thực hiện đồng
bộ 7 nhóm giải pháp cho công tác quản lý đất đai và 5 nhóm giải pháp, biện pháp sử dụng đất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và ổn định kinh tế hộ trong điều kiện ĐTH tại địa phương
Trang 15THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Ho Huy Thanh
Thesis title: “Study on the status of agricultural land use and household economy
under the influence of urbanization in Ha Tinh city”
Major: Land Management Code: 9.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- To assess the efficiency, potential of agricultural land use and household economy under the impact of urbanization;
- To propose models of appropriate agricultural land use and solutions to improve the efficiency of agricultural land use, household economy in the urban and peri-urban areas of Ha Tinh city
Materials and Methods
Study methods include: method of secondary data collection; method of site selection; method of primary data collection; land evaluation method of FAO; method
of land use efficiency assessment; The method of integrated economic, social and environmental efficiency; method of application of GIS in mapping; method of soil analysis; SWOT analysis method; decentralization method for mapping fertility; methods of data aggregation, data processing and illustration of study results
Main findings and conclusions
- Ha Tinh currently has urbanization ratio of 72%, urbanization rate of 34.45%, then in the future agricultural land will continue to decline for urban development The agricultural land of Ha Tinh city was quite concentrated in the peri-urban area, with area
of 2852.89 hectares after urbanization process (accounting for 50.45% of total natural area) Urbanization process caused 646.55 ha of agricultural area in the period 2000 -
2015 transfered to non-agricultural land, accounting for 18.73% of the total agricultural land at the beginning of the period; The area of land reclaimed for agricultural production only fulfilled 59.51% of the lost land area due to urbanization The area under active irrigation and drainage and the planted area have been reduced over time
- Land unit map of Ha Tinh city was built by 6 thematic maps as follows: map of soil type, map of relative terrain, map of top soil depth, map of soil fertility and map of irrigation regime The map of land units at the study site had 51 land units, LMU had
Trang 16the smallest area was LMU No 19, with the area of 9.68 ha; LMU had the largest area was LMU No 30, with the area of 166.13 ha From the land quality of the LMUs, 1.031,79 hectares of land were considered suitable for rice (accounting for 41,7%), 1.570,19 hectares of land were considered suitable for growing rice - cash crop (accounting for 63,45%), and 1.253,90 hectares of land was suitable for cash crop (accounting for 50,67%) on the total 2.474,59 ha of surveyed land area However, there were still 57,03hectares of land less suitable for agricultural production
3) Ha Tinh city has 7 main LUTs that ranked by efficeient order from high to low
as follows: flower only; cash crop only; flower - cash crop; aquaculture; Fruit tree; Rice
- cash crop; Rice only In particular, LUTs are highly effective incude: sakura flower,
peanut - watermelon - cabbage, watermelon - watermelon - vegetables, penut - watermelon - kohlrabi, peanut - watermelon 0 cauliflower Although LUT aquaculture gives a medium efficiency, it is recommended to expand in lowland, salinity and low productivity
- The results of the monitoring and evaluation of the experimental models in the three years 2013, 2014, and 2015 for 4 sub land use types including: lily flower (Winter crop) - watermelon (Spring - Summer crop) - cauliflower (Winter crop) was VND 1.680,83 million VND/ha/year, sakura flower was 770,06 million VND/ha/year, and spring peanut - watermelon (Summer - Autumn crop) - Cabbage (Winter crop) was 221,23 million VNĐ/ha/year and aquaculture with Barramundi and Pomfret in pond was 542,38 millions VNĐ/ha/year In the next time, it is nessesary to expand the models
of high efficiency as follow: Flower only (sakura flower), cash crop only (peanut -
watermelon - cauliflower; watermelon - watermelon - vegetables.; penut - watermelon -
kohlrabi; peanut - watermelon - cabbage), and aquaculture (Barramundi and Pomfret in
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đô thị hóa là một quy luật tất yếu, tỷ lệ đô thị hóa được xem là một chỉ báo về sự phát triển của một quốc gia, vùng miền, địa phương Không có quốc gia nào có thể trở thành nước thu nhập cao và tăng trưởng kinh tế mạnh mà không có đô thị hóa đi trước và hầu như tất cả các nước đạt đô thị hóa ít nhất 50% trước khi đạt đến mức thu nhập trung bình (dẫn theo Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2016) Đô thị hóa trên thế giới diễn ra ở tốc độ nhanh và có phạm vi khá rộng lớn Năm 2007 đánh dấu lần đầu tiên dân số thế giới sinh sống trong các khu vực đô thị chiếm 50% tổng dân số (United Nations, 2013) Dự báo là số dân sinh sống trong các khu vực đô thị tiếp tục tăng và sẽ chiếm 70% vào năm 2050 Việt Nam có lịch sử phát triển đô thị từ rất lâu đời Đến thập kỷ 90, số lượng đô thị đã lên đến khoảng 500 đô thị, kể từ đó đến nay, số lượng đô thị tiếp tục tăng lên nhanh chóng Tính đến tháng 12 năm 2016, cả nước đã có 795 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa đạt 35,2%, gồm 02 đô thị đặc biệt (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), 17 đô thị loại I trong đó có 3 đô thị trực thuộc Trung Ương (Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ), 25 đô thị loại II, 41 đô thị loại III, 84 đô thị loại
IV và 626 đô thị loại V (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016b) Theo Bộ Kế hoạch
và Đầu tư và nhóm Ngân hàng thế giới (2014), từ năm 1991 đến 2014, dân số đô thị chính thức của Việt Nam đã tăng từ gần 14 triệu lên 30 triệu người và tỷ lệ dân số đô thị tăng từ mức 1/5 lên 1/3 trong tổng dân số, với tốc độ tăng dân số đô thị hàng năm của Việt Nam cao hơn nhiều so với mức bình quân thế giới
Quá trình đô thị hoá (ĐTH) ở các nước cũng như ở Việt Nam đã là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, kinh tế đô thị chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng GDP, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận tiến bộ khoa học công nghệ, đã góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân… Song bên cạnh tác động tích cực cũng nảy sinh nhiều vấn đề nan giải như: áp lực dân số, giao thông, môi trường, bất cập giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn… Bên cạnh đó, việc tăng dân số
đô thị đều đi đôi với tăng diện tích đất đô thị, tức là nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sẽ được chuyển đổi thành đất đô thị Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016a), trong giai đoạn 2000 - 2015, đất phi nông
Trang 18nghiệp cả nước ta tăng 1.199 ngàn ha, đất trồng lúa giảm 437,43 ngàn ha (bình quân giảm khoảng 29 ngàn ha/năm) Theo đó, cơ cấu sử dụng đất cũng được chuyển đổi phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lực lượng lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ (so với năm 2000, cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,53% xuống 17,39%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 36,73% lên 82,61% vào năm 2015 Lao động nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 68,24% năm 2000 xuống còn 44,69% vào năm 2015) Đặc biệt,
đã tạo điều kiện để kinh tế nông thôn thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp và chuyển sang sản xuất hàng hóa, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với nền kinh tế thi ̣ trường Thành phố Hà Tĩnh bắt đầu tập trung phát triển đô thị kể từ năm 1991 (Thời điểm chia tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) Quá trình ĐTH đã hình thành nên nhiều khu đô thị hiện đại; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được đầu tư xây dựng khá đồng bộ Thành phố hiện có tỷ lệ ĐTH là 72%, tốc độ ĐTH là 34,45% (Tỷ lệ ĐTH của tỉnh Hà Tĩnh là 21,59%; tỷ lệ ĐTH toàn quốc là 35,2%) Đến nay Thành phố cơ bản đạt 47/49 tiêu chuẩn đô thị loại II (đạt 91 điểm/100 điểm) Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 2010 - 2015 của Thành phố đạt 12%; giai đoạn 2005 - 2010 đạt 8% Cơ cấu kinh tế của Thành phố trong những năm qua chuyển dịch theo hướng kinh tế đô thị (tăng tỷ trọng khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ; giảm tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng và nông - lâm nghiệp - thủy sản) (UBND thành phố Hà Tĩnh, 2017) Ngoài những tác động tích cực thì quá trình ĐTH đã làm cho tổng diện tích đất nông nghiệp thời kỳ 2000 - 2015 giảm sang đất phi nông nghiệp 646,55 ha, chiếm 18,73% so với tổng diện tích đất nông nghiệp đầu kỳ (Đất lúa chuyển sang đất phi nông nghiệp 574,13 ha, chiếm 16,63%); trong đó, giai đoạn 2000 - 2005 giảm 248,31
ha, chiếm 7,19%; giai đoạn 2005 - 2010 giảm 246,89 ha, chiếm 7,40% và giai đoạn 2010 - 2015 giảm 151,35 ha, chiếm 4,91% so với tổng diện tích đất nông nghiệp đầu kỳ (UBND thành phố Hà Tĩnh, 2015a) Mặc dù, diện tích đất sản xuất của nông hộ giảm dần do quá trình ĐTH, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp giảm nhưng để thích ứng phát triển trong điều kiện ĐTH các nông hộ đã biết dứt
bỏ tập quán sản xuất lạc hậu, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa ngành nghề, chú trọng áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ; theo đó đời sống kinh tế của các nông hộ ngày một được nâng cao, nhiều nông hộ đã biết chuyển đổi loại sử dụng đất, hướng đến sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn
Trang 19Quá trình ĐTH gây mất dần diện tích đất SXNN là tất yếu nhưng không thể chuyển hết đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp trong một thời điểm mà phải chuyển dần theo lộ trình các kỳ quy hoạch Vấn đề đặt ra là phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau quá trình ĐTH (sau khi thực hiện QHSD đất theo mỗi kỳ quy hoạch) phải được tổ chức quản lý, sử dụng làm sao cho hợp lý, hiệu quả nhất, phù hợp với các kỳ QHSD đất tiếp theo trong tương lai, nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp cho xã hội và cải thiện tình hình kinh tế nông hộ khu vực đô thị và ven đô, đó là lý do cần phải tiến hành nghiên cứu đề tài
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả, tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế hộ dưới tác động của ĐTH
- Đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, kinh tế nông hộ cho khu vực nội đô, ven
đô thành phố Hà Tĩnh
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản của thành phố Hà Tĩnh giai đoạn 2000 - 2015; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng hai loại đất trên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trong ranh giới hành chính thành phố Hà Tĩnh; có nghiên cứu đại diện tại địa bàn 02 xã khu vực nông thôn (ven đô) và 01 phường thuộc khu vực nội đô thị của thành phố Hà Tĩnh
Giới hạn nội dung: Đánh giá hiệu quả, tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp
và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa thành phố Hà Tĩnh
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định hiệu quả, tiềm năng các loại sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa thành phố Hà Tĩnh
- Đề xuất các mô hình sử dụng đất nông nghiệp thích hợp, hiệu quả và bền vững cho khu vực nội đô, ven đô thành phố Hà Tĩnh gồm Chuyên hoa (Hoa đào); Chuyên màu (bao gồm các kiểu sử dụng đất: Lạc - Dưa hấu - Súp lơ; Dưa hấu -
Trang 20Dưa hấu - Rau cải; Lạc - Dưa hấu - Su hào, Lạc - Dưa hấu - Bắp cải) và nuôi trồng thủy sản (cá Chẽm, cá Chim nuôi ao) để nâng cao thu nhập cho nông hộ thành phố Hà Tĩnh
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần bổ sung cơ sở khoa ho ̣c cho việc sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, hiệu quả góp phần phát triển kinh tế nông hộ cho các khu vực đô thị và ven đô
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận án đã đề xuất các kiểu sử dụng đất thích hợp, hiệu quả và bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao ở thành phố Hà Tĩnh; nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho nông hộ khu vực đô thị và ven đô thành phố Hà Tĩnh
Trang 21PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đất nông nghiệp và tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
a Khái niệm đất nông nghiệp
Theo Từ điển Luật học: “Đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ” (Bộ Tư pháp, 2006)
Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1993)
Luật Đất đai 2003 đã bổ sung các đối tượng đất nông nghiệp và sử dụng khái niệm “nhóm đất nông nghiệp” Theo quy định của luật này, nhóm đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm
về nông nghiệp (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003)
Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục sử dụng khái niệm nhóm đất nông nghiệp như Luật Đất đai năm 2003 Theo Thông tư 28/2014-BTNMT, nhóm đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014) Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Như vậy, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội Ở nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
Trang 22nước (Lê Du Phong, 2007) Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
b Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Theo Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung (1997), sử dụng đất nông nghiệp bao gồm 3 nguyên tắc sau:
- Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợplý: Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cầnđượcsử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế -
kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vậtnuôivừa duy trì được độ phì nhiêu củađất
- Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao: Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp.Nguyên tắc chung là đầu
tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó
- Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế
hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài
2.1.1.2 Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp theo chỉ dẫn của FAO
a Một số khái niệm sử dụng trong đánh giá đất của FAO
* Tiềm năng, đánh giá tiềm năng đất đai
Tiềm năng là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, tiềm năng có thể là những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người (Bùi Văn Sỹ, 2012)
Đánh giá tiềm năng đất đai là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất liên quan đến mục đích của đất được sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử
Trang 23dụng đất như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hóa… để có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp Đánh giá tiềm năng đất đai cung cấp về mă ̣t số lượng, chất lượng đất gắn với mu ̣c đích sử du ̣ng, mức
đô ̣ thích hợp và thuâ ̣n lợi, đây là cơ sở để phân bổ, bố trí quỹ đất hợp lý theo hướng bền vững Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho quy hoa ̣ch phát triển
bền vững kinh tế - xã hô ̣i, phát huy lợi thế so sánh theo đă ̣c trưng vùng, miền (Đỗ Đình Sâm và cs., 2005)
Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), để đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp, người ta phải tiến hành phân loại đất, phân tích tính chất lý, hóa học đất theo từng quy mô diện tích Tùy theo yêu cầu về mức độ chi tiết của việc đánh giá để thể hiện kết quả đánh giá bằng các loại bản đồ chuyên đề với nhiều loại tỷ lệ khác nhau Qua đó, sẽ xác định được tiềm năng về loại đất thổ nhưỡng để bố trí cây trồng thích hợp
Mục đích của đánh giá tiềm năng đất đai là đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người; xác định những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn (Bùi Văn Sỹ, 2012) Như vậy, đánh giá đất đai thực chất là đánh giá tiềm năng đất đai và đều dựa trên việc so sánh đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất đai của cây trồng với những đặc điểm đất đai của khoanh đất, vạt đất với một cây trồng cụ thể
độ đánh giá đất đai, có thể phân loại sử dụng đất đai theo mức khái quát hoặc chi tiết tương ứng (Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8409: 2011)
Kiểu sử dụng đất (Kind of Land Use): là phần chia nhỏ chủ yếu của sử dụng
Trang 24đất nông nghiệp như đất SXNN, đất lâm nghiệp, đất NTTS, đất làm muối, đất nông nghiệp khác (Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8409: 2011) và nó cũng là bức tranh mô tả chi tiết các loại sử dụng đất khi đánh giá ở cấp huyện, xã, nông trại, nông hộ Trong nhiều trường hợp nó cũng có thể là hệ thống cây trồng hoặc luân canh cây trồng (Ví dụ: LUT chuyên lúa có kiểu sử dụng đất Lúa xuân - Lúa mùa hoặc kiểu sử dụng đất 1 vụ lúa)
* Bản đồ đơn vị đất đai
Theo FAO (1983), đơn vị bản đồ đất đai là một khoanh/vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt, thích hợp đồng nhất cho từng loại sử dụng đất, có cùng điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất
Bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng dựa trên các đặc tính đất đai như: địa hình, loại đất và thực vật (FAO, 1976) Đặc tính đất đai là một trong những yếu
tố quan trọng nhất của đánh giá sử dụng đất nông nghiệp (Dominati et al., 2016; Bonfante and Bouma, 2015; Juhos et al., 2016)
Theo quy trình đánh giá đất của FAO, việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở để so sánh với các yêu cầu sử dụng đất (SDĐ) của từng loại hình sử dụng đất (LUT) (Đào Châu Thu
và Nguyễn Khang, 1998)
b Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp theo chỉ dẫn của FAO
Theo FAO (1976), “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai
mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có”
Khi tiến hành đánh giá đất cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông, lâm kết hợp thì đất đai được nhìn nhận như là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trong, bên trên
và bên dưới như: không khí, loại đất, hình dạng, điều kiện địa chất, thủy văn, động vật, thực vật, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người phát triển ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc
sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai Như vậy, đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rộng rãi bao gồm cả về không gian, thời gian và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đặc điểm đánh giá đất đai của FAO là những tính
Trang 25chất của đất có thể đo lường hoặc ước lượng được (Dent, 1992) Ngoài việc xem xét xét kỹ về điều kiện tự nhiên thì phương pháp đánh giá đất theo FAO rất chú trọng tới điều kiện kinh tế - xã hội Các số liệu sinh học cùng các yếu tố kinh tế -
xã hội như sở hữu đất đai, khả năng lao động, những quyết định về mặt chính sách, luật pháp, hệ thống giao thông, thủy lợi, các cơ sở chế biến, thị trường, vốn là những kết quả để giúp cho việc đánh giá đất đai mang tính thực tiễn hơn (Dumanski, 2000)
Hình 2.1 Quy trình đánh giá đất theo FAO
Nguồn: FAO (1976) Phương pháp đánh giá đất theo FAO được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại sử dụng đất (LUT) khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có
sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã
Trang 26hội học Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng/ khu vực cần nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khác nhau Phương pháp đánh giá đất theo FAO bao gồm 3 nội dung chính: (i) đánh giá hiện trạng sử dụng đất để lựa chọn các loại sử dụng đất phục vụ đánh giá đất; (ii) xây dựng bản đồ đơn vị đất đai; (iii) phân hạng thích hợp đất đai (Hình 2.1)
2.1.2 Đô thị hóa và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô
2.1.2.1 Đô thị, đô thị hóa, vùng ven đô
Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người trên một cây số vuông và tổng số dân phải trên 1.000 người Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu
tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang Tại Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc và Ethiopia định nghĩa đô thị là khu vực có dân số tối thiểu từ 2.000 trở lên (United Nation, 2005)
Tại Việt Nam, theo Hội đồng quốc gia chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam (2015), đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành và ngoại thành của thành phố, nội thị và ngoại thị của thị xã hoặc thị trấn (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2015)
Trang 27Trong thực tế, đô thị là một khu vực cư trú của loài người Đối với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, đô thị có thể có quy mô diện tích nhỏ so với toàn vùng nhưng trình độ phát triển của đô thị mạnh về nhiều mặt và có vai trò quan trọng đối với các vùng xung quanh Như vậy, có thể thấy khái niệm đô thị có thể hiểu tổng quát như sau: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện
b Đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống (Nguyễn Thế Bá, 2004) ĐTH là quá trình chuyển dịch hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp ĐTH cũng bao gồm quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị, tập trung ngày càng nhiều dân cư trong những vùng lãnh thổ hạn chế, gọi là đô thị (Đàm Trung Phường, 2005) ĐTH như một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị Đây là một quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật (Nguyễn Văn Chính, 1997)
Dưới góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, ĐTH được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Về mặt xã hội, ĐTH được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người (Alan và cs., 2006) ĐTH không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội Như vậy, quá trình ĐTH không những diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về năng suất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa (Hồ Kiệt và cs., 2012)
Về mặt bản chất, ĐTH gắn liền với quá trình tăng trưởng kinh tế của một khu vực, một quốc gia Tuy nhiên, tốc độ và đặc điểm của ĐTH còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của khu vực hay quốc gia đó Bản chất của quá trình ĐTH
Trang 28bao gồm: Tỷ lệ gia tăng dân số tại các đô thị; Thu nhập bình quân của cư dân đô thị; Tốc độ gia tăng thu nhập của các ngành kinh tế - xã hội và GDP; Chất lượng
cơ sở hạ tầng; Lối sống của cư dân địa phương; Cấu trúc xã hội và vai trò của các
tổ chức xã hội trong khu vực
Theo Spencer et al (2010), tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
thường kéo theo quá trình ĐTH nhanh chóng và bền vững Song nếu xử lý không đúng thì sự phát triển của các thành phố lại gây ra những vấn đề có thể làm chệch hướng tăng trưởng
Phát triển đô thị bền vững là một đối tượng và vật thể quan trọng trong xã hội phát triển và phát triển bền vững Đô thị phát triển bền vững vẫn được dựa trên nguyên tắc: Kinh tế đô thị, môi trường đô thị và văn hoá xã hội đô thị Phát triển đô thị bền vững được dựa trên một hệ thống nhóm các tiêu chí, trong đó có rất nhiều tiểu tiêu chí cụ thể khác (Lê Hồng Kế, 2011)
Trong lịch sử, nông nghiệp thường gắn với vùng nông thôn rộng lớn Nói đến nông nghiệp là nói đến nông thôn và ngược lại Các đô thị ra đời đã kéo theo
sự hình thành nền nông nghiệp mới của nhân loại - nông nghiệp đô thị Các đô thị ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và họ cũng đã đạt được nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này (Lê Văn Trưởng, 2008a)
Tóm lại, ĐTH được thể hiện trong rất nhiều khái niệm khác nhau Tuy nhiên, dù ở góc độ nghiên cứu nào, các khái niệm này đều đề cập đến quá trình thay đổi hình thức cư trú của con người, từ hình thức sống ở nông thôn tiến lên hình thức sống ở thành thị cũng như thể hiện vai trò của ĐTH đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
c Vùng ven đô
Vùng ven đô được sử dụng để mô tả các khu vực mới được đô thị hoá ở rìa các thành phố, đặc biệt là tại các nước đang phát triển (Adell, 1999;
McGregor et al., 2006) Vùng ven đô là một vành đai chuyển tiếp giữa thành
phố và nông thôn, chứa đựng sự giao thoa và tương tác giữa nông thôn và đô thị Nó là nơi tồn tại xen kẽ, đan xen các đặc tính đô thị và đặc tính nông thôn
(Joe et al., 2013) Theo quan điểm của châu Âu, vùng ven đô thường được hiểu
là các khu vực hỗn hợp dưới ảnh của hưởng đô thị nhưng có hình thái vùng nông thôn (Caruso, 2001)
Trang 29Trong quá trình đô thị hóa, vùng ven đô thường phải chịu tác động mạnh của việc mở rộng không gian đô thị Ở nhiều nước, chính sách quy hoạch và phát triển đã biến vùng ven đô thành đô thị và đô thị hóa vùng nông thôn lân cận thành vùng ven đô mới (Nguyễn Duy Thắng, 2009)
2.1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp vùng đô thị và ven đô
Theo Võ Hữu Hòa (2011): “Nông nghiệp đô thị (Urban agriculture) là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường Quá trình đó được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, ven đô và ngoại ô”
Nông nghiệp đô thị khác biệt với nông nghiệp nông thôn đó là sự hòa nhập của nông nghiệp vào hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế đô thị Các mối liên kết đó bao gồm việc sử dụng các cư dân đô thị như lao động phổ thông, sử dụng các nguồn lực đô thị đặc trưng như rác thải hữu cơ làm phân bón và nước thải đô thị làm tưới tiêu Các mối liên kết trực tiếp tới sự tiêu dùng đô thị, tác động trực tiếp lên sinh thái đô thị và sự sống còn của hệ thống thực phẩm đô thị Sự cạnh tranh về đất với các chức năng đô thị khác đang bị tác động bởi các qui hoạch đô thị và chính sách đô thị (Madeleno, 2002)
Bảng 2.1 So sánh nông nghiệp đô thị và nông nghiệp nông thôn
Nội dung Nông nghiệp đô thị Nông nghiệp nông thôn
Lãnh thổ sản xuất nông nghiệp kém ổn định do sự mở rộng và thay đổi không gian đô thị
Tiến hành ở vùng nông thôn, nơi mật độ dân cư thấp
Chỉ tiến hành trên mặt đất và các thủy vực
Quy mô lớn, liên tục về mặt lãnh thổ
Lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định
3 Chức Cung cấp thực phẩm tươi sống khó vận Cung cấp các sản phẩm nông
Trang 30Nội dung Nông nghiệp đô thị Nông nghiệp nông thôn
năng chuyển đi xa cho bản thân đô thị nghiệp (lương thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả, )
Cơ sở hạ tầng phát triển và tương đối đồng bộ
Sử dụng cơ sở hạ tầng chung của đô thị
Yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng
Nguồn lực tự nhiên, lao động,
cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng kém phát triển, không đồng bộ và có tính chuyên môn hóa không cao
Ít được sử dụng chung cơ sở
hạ tầng của vùng nông thôn
5 Nông hộ Kinh doanh hỗn hợp
Dễ thay đổi loại hình kinh doanh sang các ngành phi nông nghiệp
Chủ nông trại là phụ nữ chiếm tỷ lệ cao
Phần lớn thuần nông
Chậm hoặc hầu như không thay đổi ngành nghề kinh doanh
Chủ nông trại là nam giới chiếm tỷ lệ cao
6 Lao động
Phần lớn là lao động tại chỗ, có thu nhập thấp và chủ yếu là phụ nữ Trình
độ canh tác, khả năng ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật cao, nhất là khả năng tiếp thị tốt Thời gian rảnh rỗi ít do có nhiều công việc phi nông nghiệp
Lao động tại chỗ và biết nhiều nghề, trình độ chuyên môn thấp Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp thị yếu Thường di cư theo mùa vụ đến các đô thị Lao động thủ công là chủ yếu Thời gian rảnh rỗi nhiều
7 Cơ cấu
Làm vườn, chăn nuôi, thủy sản, lâm viên, hoa viên Phần lớn là cây, con có thời gian sinh trưởng ngắn Ngũ cốc, cây có
củ, rau, nấm, quả, cây cảnh, nuôi gia cầm, gia súc, lợn, thủy sản, chủ yếu là rau và vật nuôi cao cấp
Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp Có cả cây hàng năm và cây lâu năm Cơ cấu sản phẩm rất đa dạng và chủ yếu là sản phẩm có thể vận chuyển đi
Hệ số sử dụng đất thấp
9 Dịch vụ Tiếp cận với dịch vụ nông nghiệp dễ Tiếp cận với dịch vụ nông
Trang 31Nội dung Nông nghiệp đô thị Nông nghiệp nông thôn
nông nghiệp dàng và ngay bên cạnh, cơ cấu dịch vụ
nông nghiệp đa dạng và phát triển
Tín dụng phát triển
nghiệp khó khăn và cách xa, cơ cấu dịch vụ kém đa dạng và chất lượng dịch vụ kém phát triển Tín dụng kém phát triển
Thường xuyên ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch sản xuất, chế biến và bảo quản
Hệ số đổi mới công nghệ nhanh Sử dụng năng lượng thương mại để chế biến và bảo quản
Kém phát triển, sử dụng nhiều phương pháp thủ công và các nguồn năng lượng tự nhiên để chế biến, bảo quản
Công nghệ lạc hậu Hệ số đổi mới công nghệ chậm
11 Thị
trường tiêu
thụ
Thị trường tại chỗ đa dạng, khó tính
Dung lượng thị trường lớn Thông tin thị trường phát triển
Cách xa thị trường, thị trường tại chỗ dung lượng thấp Thông tin thị trường kém phát triển
do sử dụng nhiều hóa chất nông nghiệp
Tác động môi trường chủ yếu tới sinh vật, đất, nước
Nguồn: Dẫn theo Lê Văn Trưởng (2008b) Nông nghiệp ven đô thị (Peri-urban agriculture), dùng để chỉ các đơn vị nông nghiệp ở gần thành phố sản xuất theo hình thức thâm canh và thương mại hóa toàn bộ hay một phần sản phẩm nông nghiệp như rau, hoa quả, thịt, trứng và sữa (Nguyễn Văn Bắc, 2011) Thực tế cho thấy, dân cư đô thị có trình độ nhận thức, đời sống thu nhập cao, nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng cũng đòi hỏi khắt khe hơn nhiều so với khu vực nông thôn Theo đó, yêu cầu về sử dụng đất nông nghiệp vùng ven đô cũng đòi hỏi có sự đầu tư cao hơn vùng thuần nông Nghĩa là phải nuôi trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế và giá trị cung - cầu cao; đầu
Trang 32tư giống cây, con, vật tư phân bón, cơ sở sản xuất chuồng trại, máy móc, kho tàng, công nghệ - kỹ thuật sản xuất cao; trình độ, khả năng, kỹ năng sản xuất của người lao động cũng phải cao Phải xây dựng được một môi trường sản xuất nông nghiệp an toàn, sạch cho người tiêu thụ như áp dụng nông nghiệp hữu cơ, đất trồng màu mỡ, không có kim loại nặng, nước tưới sạch, không bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp và các vi khuẩn gây bệnh Bên cạnh đó, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích của nông hộ vùng ven đô thị thường cao hơn, ổn định hơn so với các nông hộ ở khu vực thuần nông vì sản xuất nông nghiệp của họ luôn gắn liền với nhu cầu của dân cư đô thị; việc sản xuất được đầu tư bằng công nghệ cao nên tạo ra sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt,
có giá trị kinh tế cao hơn
Hình 2.2 Sơ đồ minh họa khu vực đô thị và ven đô
Nguồn: Dẫn theo Lê Văn Thơ (2012) Nông nghiệp đô thị và ven đô thị đều có mặt trên các đô thị thế giới, cung cấp sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp cho vùng đô thị và ven đô thị Các sản phẩm bao gồm cả sản phẩm lâm nghiệp không phải gỗ và các dịch vụ môi trường mang tính chất nông, lâm, ngư nghiệp Thông thường, các hệ thống đa canh và làm vườn xuất hiện nhiều ở ven đô thị Sự phân biệt giữa tính chất “đô thị” và “ven đô thị” thay đổi tùy theo hoàn cảnh về mật độ dân số và kiểu mẫu sử dụng đất (Nguyễn Văn Bắc, 2011)
Khu vực đô thị, ven đô thị là nơi hội tụ tri thức của vùng, về kinh tế - xã hội cũng phát triển hơn vùng thuần nông Đây là cơ sở để phát triển các ngành nghề phụ nhất là các nghề chế biến nông sản để phục vụ cho ẩm thực thành phố
Trang 33hoặc sơ chế nông sản cho ngành công nghiệp thực phẩm
2.1.2.3 Tác động của đô thị hoá đối với phát triển nông nghiệp khu vực đô thị
và ven đô
Trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, việc mở rộng quy mô đô thị ra vùng ven đô ngày càng lớn, nhiều địa phương đã phát triển với tỷ lệ ĐTH cao (Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhóm Ngân hàng thế giới, 2014) Quá trình đô thị hoá ở các nước cũng như ở Việt Nam là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sống cho người dân… (Đào Ngọc Nghiêm, 2017) Theo Trần Trọng Phương (2012), với các thành phố phát triển nông nghiệp nói chung và đặc biệt là nông nghiệp đô thị, ven đô thị nói riêng không những cho phép giải quyết lao động, tăng thu nhập cho người dân mà còn là nơi ứng dụng công nghệ cao để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, an toàn và bảo vệ cảnh quan, môi trường của thành phố văn minh, hiện đại
Bên cạnh tác động tích cực từ quá trình đô thị hóa, trong thực tế cũng nảy sinh nhiều vấn đề nan giải như: áp lực dân số, giao thông, môi trường, bất cập giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn… (Đào Ngọc Nghiêm, 2017) Chính sách và khả năng kiểm soát sự phát triển của đô thị có ảnh hưởng mạnh đến tính
ổn định của phát triển nông nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhóm Ngân hàng thế giới, 2014) Theo Vũ Năng Dũng (2015), quá trình phát triển đô thị cũng đặt
ra nhiều thách thức đối với sử dụng đất như: (1) Thách thức về tăng dân số, tăng
sử dụng đất phi nông nghiệp, giảm đất SXNN; (2) Thách thức về BĐKH, nước biển dâng cao và thời tiết cực đoan như bão, lũ, hạn hán diễn ra thường xuyên hơn; (3) Thách thức do suy thoái dinh dưỡng trong đất; (4) Thách thức về quản lý
sử dụng đất; (5) Môi trường đất đã và đang bị suy thoái
Đối với khu vực đô thị và ven đô, đô thị hoá đã khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và manh mún, sự thay đổi phương thức sản xuất…,
cụ thể như sau:
- Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và manh mún do quá trình
đô thị hóa: Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng trong hai thập niên qua Kết quả của quá trình này là Nhà nước đã thu hồi một lượng lớn đất nông nghiệp để phục vụ cho các mục đích phát triển
Trang 34khu công nghiệp, khu dân cư, cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị Trong giai đoạn 2001-2010, đã có gần một triệu ha đất nông nghiệp (chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước) được Nhà nước thu hồi và chuyển sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp (Ngân hàng thế giới, 2011b) Theo Nguyễn Duy Thắng (2009), đô thị hóa tạo ra sự thay đổi trong việc sử dụng đất ở khu vực ven đô Việc chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang xây dựng các khu công nghiệp, khu dân cư đô thị đã làm mất đi nguồn sống chính của người nông dân, buộc họ phải chuyển đổi sang các hoạt động phi nông nghiệp Đây là một thách thức đối với nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo vì nó đòi hỏi
và có thời gian và sự đầu tư cả về tiền bạc lẫn trí tuệ thì mới có thể thích ứng được với điều kiện mới
Ngoài việc giảm diện tích đất SXNN thì manh mún ruộng đất cũng là vấn
đề cần được quan tâm Thực hiện chủ trương Khoán 100 (1981) của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Khoán 10 (1988) của Bộ Chính trị, bên cạnh những thành tựu to lớn thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt là đã tạo nên sự manh mún rộng đất Thêm vào đó, tốc độ ĐTH ngày càng cao, phát sinh nhu cầu
sử dụng đất nên việc chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp càng lớn thông qua các biện pháp thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã làm cho các thửa đất nông nghiệp còn lại bé nhỏ, ngày càng tồn tại nhiều hộ nông dân sản xuất với quy mô khiêm tốn do đất đai ngày càng thu bị hẹp
- Sản xuất theo hướng chuyên canh cây trồng và vật nuôi phục vụ thị trường tiêu thụ ở đô thị: Ngày nay, sản xuất nông nghiệp ở các khu vực đô thị và ven đô
có xu hướng phát triển theo chiều tập trung về các sản phẩm rau, quả, hoa, cây cảnh và chăn nuôi có giá trị kinh tế cao Nhờ tiếp cận thuận lợi hơn với khoa học
kỹ thuật nên nhiều hộ nông dân ở khu vực đô thị và ven đô đã biết làm giàu từ nông nghiệp Vùng sản xuất nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường vì
sự đòi hỏi về nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị, nông nghiệp khu vực ĐTH thường phát triển các sản phẩm tươi sống tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó
- Sự thay đổi về lực lượng lao động nông nghiệp: Khu vực bị tác động của quá trình ĐTH thường còn ít đất sản xuất, manh mún nhỏ lẻ, điều kiện sản xuất khó khăn, yêu cầu đòi hỏi về trình độ sản xuất phải cao hơn khu vực nông thôn trong khi đó khu vực này thừa lao động do lao động nông nghiệp chưa chuyển
Trang 35kịp hoặc không chuyển được sang ngành nghề khác (do khả năng tiếp cận, tuổi tác, trình độ học vấn, ) nhưng lại thiếu lao động nông nghiệp có trình độ cao do những người có khả năng tiếp cận khoa học công nghệ thường chọn hướng chuyển đổi nghề sang lĩnh vực phi nông nghiệp để có thu nhập tốt hơn
Theo khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội vào năm 2008, ở vùng đồng bằng Sông Hồng, trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm, trong khi đó 1 ha đất nông nghiệp hằng năm tạo ra việc làm cho 13 lao động nông nghiệp Người mất việc làm chủ yếu là nông dân, trình độ văn hóa, chuyên môn thấp, chưa qua đào tạo nghề phi nông nghiệp nên cơ hội tìm việc làm ngoài nông nghiệp rất khó khăn (Mai Thành, 2009)
- Quá trình ĐTH làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn; chuyển các vùng kinh tế ở nông thôn sang một bước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền công nghiệp tập trung, trình độ cao
Về mặt xã hội, ĐTH góp phần hình thành các đô thị ở nông thôn Đây là xu hướng tất yếu trong quá trình ĐTH ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới hiện đại Từ đó, làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội vùng nông thôn, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nông nghiệp bền vững (Võ Văn Đức và Đinh Ngọc Giang, 2012)
- Tác động của môi trường đối với sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị (nước thải đô thị, nước thải công nghiệp, chất thải rắn, ,)
và việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng không đúng cách Chất thải rắn không được thu gom; nước thải không qua xử lý hoặc xử lý không triệt để thải vào hệ thống sông ngòi, nơi cung cấp nguồn nước tưới chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp; thuốc BVTV, phân bón sử dụng quá mức cho phép, bao bì phân bón, chai, lọ thuốc BVTV sử dụng xong không được thu gom, gây ô nhiễm đất trồng trọt, ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản,…
Tóm lại, nền nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô ở nước ta vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, sức cạnh tranh thấp, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động gần như diễn ra tự phát và chậm chạp Hơn nữa, đất nông nghiệp ở những thành phố lớn, đặc biệt là những khu vực có tốc độ ĐTH cao đang có xu
Trang 36thế giảm nhanh, điều này sẽ làm quy mô sản xuất ngày một bị thu hẹp, lao động
dư thừa và sự cạnh tranh sản phẩm từ các địa phương khác đến cũng như hàng nhập khẩu là những thách thức to lớn cho nền nông nghiệp khu vực này
2.1.3 Kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa vùng đô thị và ven đô
2.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm kinh tế nông hộ
a Khái niệm hộ nông dân và kinh tế nông hộ
- Khái niệm hộ nông dân: Theo Frank (1993), hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh
tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và
có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Ở nước ta, khái niệm hộ nông dân cũng được một số tác giả đề cập đến Theo Lê Đình Thắng (1993) định nghĩa như sau: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” Theo Đào Thế Tuấn (1997), “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”
Như vậy, hộ nông dân được hiểu là hoạt động sản xuất nông nghiệp theo quy mô hộ gia đình, sử dụng sức lao động của gia đình là chính
- Khái niệm kinh tế nông hộ: Kinh tế nông hộ là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, một nguồn ngân sách, ngủ chung một mái nhà,
ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra (Frank, 1993)
Kinh tế nông hộ được hiểu là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó (Dẫn theo Nguyễn Đức Truyền, 2003)
Kinh tế nông hộ là một thành phần của kinh tế nông nghiệp, do đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế nông hộ chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh tế hộ nông dân, làm cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi lên
Trang 37Như vậy, kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định Sự tồn tại của kinh
tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng
Tại Việt Nam, kinh tế nông hộ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh tế nông hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông (hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp); hộ kiêm nghề (vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động tiểu thủ công nghiệp); hộ chuyên nghề (hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề
và dịch vụ); và hộ kinh doanh tổng hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) Thời kỳ trước khi đất nước đổi mới, với mô hình hợp tác xã nông nghiệp và các nông, lâm trường là chủ đạo thì vai trò kinh
tế hộ gia đình bị xem nhẹ và chỉ được coi là “kinh tế phụ gia đình” Trên thực tế, sản xuất của nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập chiếm 50 - 60% tổng thu nhập của hộ Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50% (Vũ Thị Ngọc Trân, 1997) Thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh, kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa ở nước ta Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
b Đặc điểm kinh tế nông hộ
- Kinh tế nông hộ được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ
- Kinh tế nông hộ tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau
- Trong kinh tế nông hộ, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người lao
Trang 38động trực tiếp Tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động
- Quy mô sản xuất của kinh tế nông hộ thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu
- Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp Do vậy, tích lũy của hộ thường chỉ dựa vào lao động gia đình là chính
- Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ thường rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau Bên cạnh đó, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng như về kinh tế thị trường cũng khiêm tốn
2.1.3.2 Tác động của đô thị hóa đến kinh tế nông hộ
- ĐTH tác động mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước trên thế giới Bởi ĐTH không chỉ gắn liền với sự phát triển công nghiệp, khoa học kĩ thuật mà còn gắn liền với sự phát triển giao thông, thương mại, dịch vụ Vì thế,
nó là yếu tố quan trọng làm thay đổi quá trình phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo hướng giảm lao động nông nghiệp, được thể hiện ở quá trình người nông dân xa rời đồng ruộng để trở thành người thành thị Như vậy, ĐTH đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế và tính chất lao động theo hướng tích cực (Vũ Hào Quang, 2005)
- Theo Nguyễn Duy Thắng (2009), tác động dễ nhận thấy nhất của ĐTH đến kinh tế của vùng ven đô là cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp sinh thái ĐTH theo hướng bền vững sẽ thúc đẩy
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội vì nó tạo ta nhiều cơ hội việc làm cho các vùng ven đô nhờ phát triển các hoạt động phi nông nghiệp như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ ĐTH tạo cơ hội cho người dân được tiếp xúc với cái hiện đại nên sẽ làm nảy sinh những nhu cầu tiêu dùng mới trong cuộc sống, dẫn đến thúc đẩy các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thị trường và dịch vụ phát triển, nhiều nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ được hình thành để đáp ứng những nhu cầu mới đó, điều này góp phần phát triển kinh tế, xã hội vùng ven đô nói riêng và vùng đô thị nói chung Tuy nhiên, ĐTH đã tạo ra sự thay đổi trong việc sử dụng đất ở khu vực ven đô Việc chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang xây dựng các khu đô thị đã làm mất đi nguồn sống
Trang 39chính của người nông dân, buộc họ phải chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp Đây là một thách thức đối với nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo vì nó đòi hỏi phải có thời gian và sự đầu tư cả về tiền bạc lẫn trí tuệ thì mới có thể thích ứng được với điều kiện mới
- Đô thị hóa là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa và là kết quả của quá trình kết cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu
và khối lượng GDP Như vậy, tác động của ĐTH đến kinh tế hộ nông dân chính
là sự tác động của quá trình ĐTH làm tăng cơ cấu ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm cơ cấu ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế hộ nông dân (Vũ Hào Quang, 2008)
- Đô thị hóa là quá trình mang lại một khoản thu nhập lớn cho các hộ nông dân do bồi thường đất, như vậy hộ gia đình cần có kế hoạch thực hiện nguồn vốn này hiệu quả Đây cũng là một yếu tố giúp tác động đến quá trình chuyển dịch kinh tế của hộ gia đình (Vũ Hào Quang, 2008)
2.1.3.3 Mối quan hệ giữa đô thị hóa với kinh tế hộ nông dân
- Đô thị hóa và kinh tế hộ nông dân có mối quan hệ biện chứng với nhau Khi nền kinh tế chưa đủ mạnh, kinh tế chưa phát triển hay kém phát triển, thì quá trình ĐTH hầu như phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên và các nguồn lực sẵn có Khi kinh tế phát triển, ĐTH phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý, khả năng tài chính Đến lượt mình, ĐTH góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ giai đoạn nào Nhìn lại quá trình phát triển các nước trên thế giới, hầu như các nước có nền kinh tế phát triển hoặc tăng trưởng nhanh đều có ĐTH hình thành từ lâu đời như Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc… Ở Việt Nam thì điều này cũng khá rõ Khu đô thị hình thành kéo theo hàng loạt những hoạt động khác ra đời, khu dân cư, khu công nghiệp, hoạt động buôn bán, xây dựng, giao thông… tạo nên sức bật của nền kinh tế Chịu ảnh hưởng rõ nét nhất của quá trình ĐTH là các hộ nông dân của khu vực nông thôn tiếp giáp với khu vực đô thị phát triển, người nông dân sản xuất nông sản, thực phẩm và đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị, từ đó giúp họ tăng thu nhập và kinh tế hộ nông dân sẽ phát triển (Lê Hồng Kế, 2006)
- Đô thị hóa giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì người dân tại các đô thị thường có thu nhập cao hơn người dân ở các vùng nông thôn, cho phép họ chi tiêu
Trang 40nhiều hơn với các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng Quá trình ĐTH mang lại những lợi ích cho kinh tế hộ nông dân, nông thôn như đường xá, cầu cống, mạng lưới điện… được xây dựng mới tạo thuận lợi cho kinh tế hộ nông dân phát triển
- Tại các khu vực nông thôn gần khu vực ĐTH, các vùng nông thôn đang diễn ra quá trình ĐTH mạnh sẽ có thu nhập và khả năng phát triển kinh tế cao,
do đó kinh tế hộ nông dân, nông thôn được thúc đẩy và phát triển Đô thị diễn
ra, sẽ biến các khu vực nông thôn thành thành thị, các hộ nông dân sẽ thành các dân thành thị
- Kinh tế hộ nông dân nông thôn nếu nắm bắt tốt và theo kịp được tiến trình ĐTH sẽ có một nền kinh tế phát triển, đời sống ổn định và ấm no hơn (Lê Hồng
Kế, 2006) Ngược lại, các hộ nông dân, các vùng nông thôn muốn tăng trưởng thì cần có kinh phí để xây dựng và thực hiện xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị, đời sống đi lên thì cần phải có kinh tế hộ nông dân, nông thôn đủ mạnh
và phát triển Ngoài những kinh phí nhà nước cấp, thì kinh tế nông hộ, nông thôn cũng cần đạt mức độ nào đó để đảm bảo cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được diễn ra Tốc độ ĐTH nhanh và bền vững sẽ tạo ra nền kinh tế phát triển cao và bền vững, nền kinh tế phát triển ắt hẳn sẽ ĐTH nhanh và mạnh
2.2 SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ NÔNG HỘ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa tại một số nước trên trên thế giới
2.2.1.1 Sử dụng đất nông nghiệp và kinh tế nông hộ dưới tác động của đô thị hóa tại Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có chủ quyền nằm tại Đông Á với dân số đông nhất thế giới (khoảng 1,5 tỷ người), trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80% Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.682.796 km2, trong đó diện tích đất canh tác
là trên 100 triệu ha, chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới Trung Quốc bắt đầu công cuộc công nghiệp hóa từ năm 1978, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ
Năm 1953, trên 85% dân số Trung Quốc vẫn sinh sống ở khu vực nông thôn Năm 1978, Trung Quốc thực hiện đường lối “cải cách mở cửa” nhưng đến