1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA LÀNG VÂN ĐIỀM (VÂN HÀ, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI): TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

128 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 784 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân gian có câu: “Thứ nhất Đông Mai, thứ hai Bèo, Đóm” hay “Thứ nhất là cửa đền Xà, thứ nhì Cầu Gạo, thứ ba Vân Điềm” . Làng Vân Điềm nằm ở phía Bắc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 27km. Có nhiều cách để đi đến Vân Điềm nhưng mọi người thường đi theo cách: từ trung tâm thành phố Hà Nội (Bưu điện Bờ Hồ), qua cầu Chương Dương, cầu Đuống theo quốc lộ số 3, qua dốc Vân, nhà máy đúc Mai Lâm, qua cầu Lộc Hà, rẽ phải theo đường liên huyện qua UBND xã Dục Tú, đi tiếp lên phía Bắc gặp UBND xã Vân Hà bên trái. Đi tiếp khoảng hơn 1km là đến làng Vân Điềm. Nằm trong xã Vân Hà nên nơi đây cũng thuận tiện cho việc giao thông giữa Bắc Ninh và phía Nam huyện Đông Anh. Từ đây có thể đi tới trung tâm Thủ đô hay sân bay quốc tế Nội Bài một cách thuận tiện qua Quốc lộ 3. Với vị trí địa lý như vậy nên Vân Điềm cùng với các thôn trong xã là nơi có tầm chiến lược quan trọng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Về tài nguyên thiên nhiên thì có đất phù sa úng nước và đất bạc màu phát triển từ đất phù sa cổ. Do nằm trong vùng trũng nên vào mùa mưa lũ thường xảy ra úng lụt. Bên cạnh nguồn nước ngầm, nước mưa cũng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa ẩm của vùng châu thổ sông Hồng, quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời dồi dào với nhiệt độ cao. Từ những thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên đất, nước và khí hậu đã tạo cho làng Vân Điềm điều kiện để phát triển nền nông nghiệp đa dạng, thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các vùng lân cận. Không những vậy nó còn có ảnh hưởng nhất định với đời sống văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của làng Vân Điềm, mang đậm văn hóa bản sắc dân gian. Hiện nay nghiên cứu về làng xã được nhiều nhà khoa học cũng như những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Với xã hội hiện nay, nhịp sống theo lối công nghiệp hóa đã làm cho không gian làng xã truyền thống dường như bị thay đổi trên căn bản. Khuynh hướng thương mại hóa, đô thị hóa mỗi ngày một mạnh đang lấn át và thay thế dần hình ảnh còn lại của một ngôi làng truyền thống và phai dần đi những giá trị vốn có của làng cổ truyền Việt Nam. Với xã hội phát triển ngày nay thì mọi khía cạnh của văn hóa luôn luôn thay đổi để phù hợp với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhưng việc tìm hiểu, giữ gìn và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa vốn có của làng quê Việt thì không thể mất đi. Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài Đời sống văn hóa làng Vân Điềm (Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội): Truyền thống và biến đổi để thực hiện luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Văn hóa của mình với mong muốn làm rõ sự hình thành, những giá trị đặc trưng và sự phát triển không gian văn hóa của làng trong bối cảnh chung của làng xã hiện nay.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VƯƠNG THỊ THÚY AN

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA LÀNG VÂN ĐIỀM (VÂN HÀ, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI): TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2017

1

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VƯƠNG THỊ THÚY AN

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA LÀNG VÂN ĐIỀM (VÂN HÀ, ĐÔNG ANH, HÀ NỘI): TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa Việt Nam

Mã số: Đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu công bố trong luận văn là trung thực, phảnánh thực tế những gì tôi nhận thức được qua quá trình nghiên cứu và khảo sát tại địa bànlàng Vân Điềm, xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Tôi xin chịu tráchnhiệm về lời cam đoan này

Xác nhận đã sửa chữa luận văn Tác giả luận văn

của chủ tịch hội đồng

PGS.TS Vũ Văn Quân Vương Thị Thúy An

3

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến GS.TS NGND Nguyễn Quang Ngọc,người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy,

cô giáo trong Bộ môn Văn hóa học và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Khoa Lịch sử, TrườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã trang

bị cho tôi tri thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương pháp nghiên cứutrong lĩnh vực lịch sử văn hóa Và tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến thầy cô và anh chị

em trong Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - nơi tôi công tác, đã cho tôi nhiềukiến thức, thường xuyên động viên chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thànhluận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người đã nhiệt tình cung cấp thông tin, sốliệu cho luận văn, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của ông Nguyễn Đình Tính (trưởngthôn Vân Điềm), TS Nguyễn Văn Sơn (chủ tịch Hội sử học Hà Nội), cụ Nguyễn VănMão, cụ Nguyễn Văn Giang, cụ Nguyễn Phiên,… cùng bà con làng Vân Điềm, xã Vân

Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Do hạn chế về năng lực, nguồn lực đầu tư, luận văn khó tránh được những thiếusót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu tiếptục theo đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12

3 Mục tiêu nghiên cứu 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Phương pháp nghiên cứu 17

6 Đóng góp của đề tài 17

7 Kết cấu đề tài 17

NỘI DUNG 18

Chương 1: KINH TẾ - XÃ HỘI LÀNG VÂN ĐIỀM 18

1.1 Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm trước đổi mới 18

1.1.1 Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp 18

1.1.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp 27

1.1.2.1 Thủ công nghiệp 27

1.1.2.2 Thương nghiệp và dịch vụ 29

1.1.3 Tổ chức xã hội 30

1.1.3.1 Gia đình và dòng họ 30

1.1.3.2 Bộ máy hành chính 33

1.2 Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm sau đổi mới 37

1.2.1 Nông nghiệp 37

1.2.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ 40

5

Trang 6

1.2.2.1 Thủ công nghiệp 40

1.2.2.2 Thương nghiệp, dịch vụ 45

1.2.3 Tổ chức xã hội 46

1.2.3.1 Hoạt động dòng họ 46

1.2.3.2 Các tổ chức xã hội 48

Tiểu kết chương 1: 50

Chương 2: VĂN HÓA LÀNG VÂN ĐIỀM TRƯỚC NĂM 1986 52

2.1 Văn hóa vật chất 52

2.1.1 Diện mạo tổ chức xóm làng 52

2.1.1.1 Cổng làng 52

2.1.1.2 Không gian mặt nước 53

2.1.1.3 Đường làng, ngõ xóm 54

2.1.2 Kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng 55

2.1.2.1 Đình Vân Điềm 55

2.1.2.2 Chùa Vân Điềm 57

2.1.2.3 Nhà thờ họ 57

2.1.3 Đời sống vật chất thường ngày 62

2.1.3.1 Ăn 62

2.1.3.2 Mặc 64

2.1.3.3 Ở 65

2.1.3.4 Đi lại 66

2.2 Văn hóa tinh thần 66

2.2.1 Tín ngưỡng dân gian 66

Trang 7

2.2.1.1 Thờ cúng tổ tiên 66

2.2.1.2 Thờ cúng thành hoàng làng 68

2.2.2 Lễ hội 69

2.2.3 Giáo dục 71

2.2.4 Phong tục tập quán 79

Tiểu kết chương 2: 81

Chương 3: VĂN HÓA LÀNG VÂN ĐIỀM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 82

3.1 Văn hóa vật chất 82

3.1.1 Diện mạo tổ chức xóm làng 82

3.1.1.1 Cổng làng, đường làng, ngõ xóm 82

3.1.1.2 Nhà văn hóa làng Vân Điềm 83

3.1.2 Kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng 84

3.1.2.1 Đình Vân Điềm 84

3.1.2.2 Chùa Vân Điềm 88

3.1.2.3 Từ đường dòng họ 89

3.1.3 Đời sống vật chất thường ngày 90

3.1.3.1 Ăn 90

3.1.3.2 Mặc 91

3.1.3.3 Ở 92

3.1.3.4 Đi lại 94

3.2 Văn hóa tinh thần 95

3.2.1 Tín ngưỡng dân gian 95

3.2.1.1 Thờ cúng tổ tiên 95

7

Trang 8

3.2.1.2 Thờ cúng thành hoàng làng 96

3.2.2 Lễ hội 97

3.2.3 Giáo dục 101

3.2.4 Phong tục tập quán 103

3.3 Đánh giá quá trình biến đổi đời sống văn hóa làng Vân Điềm trong thời kỳ đổi mới 106

Tiểu kết chương 3: 110

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 120

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Tình hình công tư điền thổ của xã Vân Điềm đầu thế kỷ XIX 17Bảng 1 2 Quy mô sở hữu ruộng tư ở xã Vân Điềm 17Bảng 1 3 Quy mô sở hữu theo nhóm dòng họ 19Bảng 1 4 Kế hoạch chuyển đổi diện tích các loại cây trồng của xã Vân Hà đến năm 2020 36Bảng 2 1 Số tiến sĩ của Vân Điềm qua các thhời kỳ trong mối tương quan xã Vân Hà 73Bảng 2 2 Bảng kê Danh sách các tiến sĩ làng Vân Điềm 73Bảng 2 3 Bảng kê số người đỗ đạt theo các thông xã Vân Hà 74Bảng 2 4 Các tiến sĩ Vân Điềm đi sứ 75

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 1: Quy mô sở hữu của xã Vân Điềm 18

Trang 11

Về tài nguyên thiên nhiên thì có đất phù sa úng nước và đất bạc màu phát triển từ đấtphù sa cổ Do nằm trong vùng trũng nên vào mùa mưa lũ thường xảy ra úng lụt Bên cạnhnguồn nước ngầm, nước mưa cũng là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt củanhân dân Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa ẩm của vùng châu thổ sông Hồng,quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời dồi dào với nhiệt độ cao Từ những thuận lợi

về vị trí địa lý, tài nguyên đất, nước và khí hậu đã tạo cho làng Vân Điềm điều kiện đểphát triển nền nông nghiệp đa dạng, thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội với

1 Đông Mai hay còn gọi Đông Mơi nay thuộc Yên Phong, Bắc Ninh; Bèo là xã Tấn Bào nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh; Đóm là tên nôm làng Vân Điềm nay thuộc xã Vân Hà, Đông Anh.

2 Đền Xà, Cầu Gạo đều thuộc Yên Phong, Bắc Ninh; Vân Điềm nay thuộc xã Vân Hà, Đông Anh.

2

11

Trang 12

các vùng lân cận Không những vậy nó còn có ảnh hưởng nhất định với đời sống văn hóa,tôn giáo tín ngưỡng của làng Vân Điềm, mang đậm văn hóa bản sắc dân gian.

Hiện nay nghiên cứu về làng xã được nhiều nhà khoa học cũng như những nhànghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Với xã hội hiện nay, nhịp sống theo lối côngnghiệp hóa đã làm cho không gian làng xã truyền thống dường như bị thay đổi trên cănbản Khuynh hướng thương mại hóa, đô thị hóa mỗi ngày một mạnh đang lấn át và thaythế dần hình ảnh còn lại của một ngôi làng truyền thống và phai dần đi những giá trị vốn

có của làng cổ truyền Việt Nam

Với xã hội phát triển ngày nay thì mọi khía cạnh của văn hóa luôn luôn thay đổi đểphù hợp với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhưng việc tìm hiểu, giữ gìn và bảotồn, phát huy những giá trị văn hóa vốn có của làng quê Việt thì không thể mất đi Từ

những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài Đời sống văn hóa làng Vân Điềm (Vân Hà, Đông

Anh, Hà Nội): Truyền thống và biến đổi để thực hiện luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành

Lịch sử Văn hóa của mình với mong muốn làm rõ sự hình thành, những giá trị đặc trưng

và sự phát triển không gian văn hóa của làng trong bối cảnh chung của làng xã hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài làng xã Việt Nam luôn thu hút sự quan tâm của nhà nghiên cứu trong và ngoàinước và đạt được những thành tựu nhất định Trước những năm 80 của thế kỷ XX, đã có

một số tác phẩm tiêu biểu viết về làng xã Việt Nam như Nông dân đồng bằng châu thổ

Bắc Kỳ của Pierre Gourou (Paris, 1936) hay Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính Tiêu

biểu phải kể đến cuốn sách Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ

của Trần Từ (Hà Nội, 1984) Đây là cuốn sách đã nghiên cứu một cách cơ bản và sâu sắc

về làng xã Việt Nam cho đến trước đổi mới năm 1986 Chúng ta không thể không kể đếnnhững nghiên cứu của GS.NGND Phan Đại Doãn, từ những vấn đề lý luận cho đếnnhững vấn đề cụ thể, Giáo sư tìm hiểu về Kinh tế, văn hóa, xã hội của làng xã Việt Nam

như: “Làng xã Việt Nam - một số vấn đề về Kinh tế - Văn hóa - Xã hội”, tác giả nhấn

mạnh vấn đề cơ bản trong sản xuất của nông dân Việt Nam từ xưa đến nay là sản xuấttiểu nông và nhận định làng Việt Nam là cộng đồng làng đa chức năng liên kết chặt chẽ,

Trang 13

là sự kết hợp giữa nông thôn và thành thị Vấn đề dòng họ, các yếu tố văn hóa, tínngưỡng thế tục, hương ước cũng được nhắc đến trong cuốn sách này Và GS cũng nghiên

cứu về vấn đề quản lý xã hội nông thôn nước ta và giải pháp như “Quản lý xã hội nông

thôn nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” (1996), “Mấy vấn đề về văn hóa làng

xã Việt Nam trong lịch sử” (2004), “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (1994)… Những công trình nghiên cứu dù xuất phát từ những góc độ khác

nhau và mục đích khác nhau nhưng đều làm nổi bật lên bộ mặt của làng xã Việt Nam vềcon người, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, nghề nghiệp,…

Đối tượng luận văn là làng Vân Điềm nên bên cạnh những nghiên cứu liên quan vềlàng Vân Điềm thì chúng tôi cũng tiếp cận những nghiên cứu về làng xã thuộc vùng châuthổ sông Hồng và vùng Đông Anh - Từ Sơn

Nghiên cứu làng xã vùng châu thổ sông Hồng và vùng Đông Anh - Từ Sơn:

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc: “Một số vấn đề làng xã Việt Nam” nghiên cứu về lịch sử

hình thành và những biến đổi của làng xã Việt Nam trong tiến trình lịch sử, phân tích kếtcấu kinh tế - xã hội, văn hóa của làng Việt cổ truyền và hiện nay Sự trở lại vị trí củathôn, làng truyền thống trong nông thôn Việt Nam hiện nay qua nghiên cứu trường hợplàng Đan Loan

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm trong công trình nghiên cứu “Biến đổi văn hóa ở

các làng quê hiện nay” (NXB Văn hóa - Thông tin và viện Văn hóa), công trình nghiên

cứu về sự biến đổi kinh tế - xã hội - văn hóa của ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảngthuộc Từ Sơn, Bắc Ninh Tác giả đi sâu vào nghiên cứu biến đổi văn hóa: tiền đề lýthuyết và thực tiễn, sau đó trình bày một cách cụ thể về sự biến đổi về các mặt kinh tế -văn hóa - xã hội của 3 làng trên và đưa ra những vấn đề đặt ra cần giải quyết cho sự biếnđổi đó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngô Văn Giá, Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà

Nội trong thời kỳ đổi mới Công trình nghiên cứu tác động của những biến đổi kinh tế

-xã hội tới các giá trị văn hóa truyền thống của các làng ven đô Hà Nội, hiện trạng biến

13

Trang 14

đổi cũng như phương hướng xây dựng hệ giá trị văn hóa ở các làng ven đô Hà Nội trongthời kỳ đổi mới.

Tô Duy Hợp, Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay ở đồng bằng sông Hồng,

cho ta thấy sự biến đổi làng xã đồng bằng sông Hồng trong suốt hơn 10 năm đổi mới baogồm: thiết kế kinh tế, các dịch vụ xã hội cơ bản, chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục, y tế,thiết chế văn hóa và quản lý làng xã Ngoài ra còn đề cập những chuyển đổi đáng kể vànhững hạn chế của quá trình chuyển đổi các quan hệ xã hội cơ bản và đưa ra một số vấn

đề xây dựng chiến lược phát triển cộng đồng làng xã trong sự phát triển nông thôn ViệtNam

Kim Jong Ouk, Một số biến đổi ở làng xã châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỉ XIX đến

giữa thế kỉ XX Công trình đã nghiên cứu về sự biến đổi làng xã châu thổ sông Hồng về

các mặt: điều kiện tự nhiên, biến đổi về bộ máy quản lý, sở hữu ruộng đất và nền giáodục ở làng xã châu thổ sông Hồng (làng Mễ Trì)

Một số công trình khác cũng liên quan đến nội dung trên: Biến đổi cơ cấu ruộng đất

và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới (Qua khảo sát

một số làng xã) (Nguyễn Văn Khánh, 2001), Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã

truyền thống đến văn minh thời đại (Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp chủ

biên, 2004), Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Trần Minh Yến, 2004), Sự phát triển của làng nghề La Phù (Tạ Long chủ biên, 2006), Kinh tế

hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (Nguyễn Đức Tuyến, 2003), Định hướng phát triển làng xã đồng bằng sông Hồng ngày nay (Tô Duy Hợp chủ biên, 2003)

Nghiên cứu về làng Vân Điềm: Những nghiên cứu về làng Vân Điềm hiện nay chưa

có một nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu giá trị văn hóa của làng cũng như không gianvăn hóa của làng mà chỉ là những bài phân tích về văn bia, giới thiệu về giáo dục khoa cửthời phong kiến và dòng họ

Các công trình nghiên cứu về làng Vân Điềm dưới nhiều khía cạnh khác nhau:

Trang 15

Công trình “Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm”, viện KHXHVN,

trình bày khái quát về 6 tiến sĩ họ Nguyễn tại Vân Điềm thời Hậu Lê

Nghiên cứu dưới góc độ di tích lịch sử văn hóa của làng: Cuốn “Đông Anh với

nghìn năm Thăng Long - Hà Nội”, NXB Hà Nội, 2010 Trong đó trình bày về một số di

tích Văn hóa của làng đó là đình Vân Điềm, nhà thờ họ Nguyễn Thực và họ Nguyễn Đạitôn Đặc biệt nêu lên những người đỗ đạt trong truyền thống khoa cử Đông Anh, cácnhân vật khoa cử ở Vân Điềm chiếm đa số

Gần đây nhất là cuốn “Địa chí Đông Anh”, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, 2016,

có nêu lên về tên làng, trình bày cụ thể, chi tiết về nhân vật lịch sử, từ đường họ Nguyễn

ở Vân Điềm, tên làng, đặc biệt là thời kỳ giáo dục - khoa cử của xã Vân Điềm thời phongkiến

“Lịch sử cách mạng Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010)” ghi lại lịch sử

đấu tranh cách mạng của nhân dân Vân Hà trong 2 giai đoạn: 1930 -1954 và 1954 - 1975,tiếp đó là công cuộc đổi mới (1976 - 2010) Nội dung về làng Vân Điềm được trình bày

sơ bộ trong phần 1 của cuốn sách, mục truyền thống và lịch sử văn hiến

Ngoài ra, viết về làng Vân Điềm chủ yếu là các bài viết tìm hiểu về dòng họ Nguyễn

Thực, trong đó có bài viết “Giới thiệu tấm bia về gia tộc Nguyễn Thực làng Vân Điềm”

và bài viết “Hoàng Giáp Nguyễn Thực và một dòng họ hào hoa xứ Kinh Bắc” của tác giả

Vương Hường, nghiên cứu sâu về người khai khoa mở đầu cho dòng họ Nguyễn ở VânĐiềm và các thế hệ sau đó

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là nghiên cứu quá trình biến đổi đời sống văn hóa củalàng Vân Điềm từ truyền thống cho tới ngày nay

Để làm được điều đó, luận văn tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu, phân tích không gian văn hóa của làng Vân Điềm truyền thống và thời kỳhiện đại

- Nhận diện những biến đổi về đời sống văn hóa của từng giai đoạn: trước năm 1986

và sau năm 1986 trong diễn trình lịch sử văn hóa của làng

15

Trang 16

- Chỉ ra được những đánh giá và thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển củalàng Vân Điềm hiện nay.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là những biến đổi đờisống văn hóa làng Vân Điềm, xã Vân Hà từ truyền thống đến nay Trong đề tài này,khách thể nghiên cứu là cộng đồng làng Vân Điềm, diện mạo văn hóa vật chất, văn hóatinh thần của làng Vân Điềm

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian nghiên cứu: Những biến đổi hiện tại được quan sát, nhận định trên cơ sởnghiên cứu của tôi trong thời gian điền dã thực tế trong những đợt khảo sát vào tháng 5-6-7/2017 Giai đoạn văn hóa trước đây tôi nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa những ghichép làng Vân Điềm của các công trình đi trước và thông qua phỏng vấn người dân tạiđây

+ Không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu chính là làng Vân Điềm, xã Vân

Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Ngoài ra, luận văn cũng chú ý tới không gianđịnh cư, nơi dân cư hình thành, gắn bó, tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội để thấy được những biến đổi văn hóa của làng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Trong quá trình tiến hành nghiên cứu bước đầu để thu nhận tài liệu, phương pháp sửdụng là phương pháp điền dã, phỏng vấn, quan sát

- Để tiến hành nghiên cứu, ngoài tài liệu quan sát trực tiếp không thể không quan tâmđến tài liệu lịch đại (phương pháp lịch sử) Tài liệu lịch đại chủ yếu là tư liệu được thuthập trong các cơ quan lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1, Trung tâm Thông tin -Thư viên (Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội)

- Phương pháp Nghiên cứu Liên ngành và phương pháp Khu vực học được áp dụng

đó là coi làng xã như một không gian xã hội - văn hóa mang tính hệ thống và tổng thể,chịu sự tác động thường xuyên và liên tục của các yếu tố bên trong và bên ngoài, nênluôn luôn vận động và biến đổi

Trang 17

- Phương pháp Nghiên cứu Lịch sử: giúp chúng tôi khai thác các nguồn sử liệu và phêphán sử liệu để có được những thông tin, tư liệu đạt đến trình độ chính xác cao.

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp chuyên ngành của văn hóa, xã hội, địalý… được sử dụng ở mức độ thích hợp

6 Đóng góp của đề tài

- Luận văn bước đầu phác dựng một bức tranh tổng thể về văn hóa vật chất và vănhóa tinh thần của làng Vân Điềm trước năm 1986 và từ năm 1986 đến nay Qua đó làmnổi bật sự biến đổi của đời sống văn hóa làng Vân Điềm từ truyền thống cho tới hiện nay.Bên cạnh đó là sự biến đổi rõ nét về 2 mảng văn hóa đó từ truyền thống cho tới hiện đại

- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi không gian văn hóa làngVân Điềm, đồng thời đưa ra một số phương hướng để bảo tồn những giá trị văn hóa lịch

sử của làng

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm

Chương 2: Văn hóa làng Vân Điềm trước năm 1986

Chương 3: Văn hóa làng Vân Điềm từ sau năm 1986 đến nay

17

Trang 18

NỘI DUNG Chương 1: KINH TẾ - XÃ HỘI LÀNG VÂN ĐIỀM 1.1 Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm trước đổi mới

1.1.1 Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp

Làng Vân Điềm có tên Nôm là Kẻ Đóm, được hình thành từ thế kỉ thứ XIII, vàothời kỳ nhà Trần lên ngôi thay nhà Lý Từ cuối thế kỷ XV tại khu vực Vân Điềm đã hìnhthành 4 cụm dân cư là: làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Nội Điểm Sau đó, 4cụm dân cư này hội cư về một khu vực, hình thành một làng lớn hơn, có tên trong sổhành chính là làng Nội Điểm (thuộc tổng Hà Lỗ) Tổng Hà Lỗ khi đó gồm 9 xã, thôn: xã

Hà Lỗ, thôn Thiết Úng thuộc xã Thiết Úng, thôn Cổ Châu thuộc xã Thiết Úng, xã ThiếtBình, xã Vân Điềm, xã Lỗ Khê, xã Hà Vĩ, xã Ngô Khê, xã Thù Lỗ Năm 1822, trấn KinhBắc đổi thành trấn Bắc Ninh, khu vực xã Vân Hà (hiện nay) thuộc về địa giới 4 xã NgôKhê, Thiết Úng, Thiết Bình và Vân Điềm thuộc tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ TừSơn, trấn Bắc Ninh Từ năm 1831, sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, xã VânĐiềm thuộc tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đầu thế kỷ XX,

xã Vân Điềm thuộc tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Sau cách mạng tháng Támnăm 1945, xã Vân Điềm cùng các xã Hà Khê, Thiết Úng, Thiết Bình, Cổ Châu đượcthành lập thành xã Vân Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Năm 1961, làng Vân Điềmthuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Khi tìm hiểu về tình hình kinh tế nông nghiệp của làng xã Việt Nam, vấn đề đầutiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm chính là vấn đề sở hữu ruộng đất Theo địa bạ GiaLong (1804) tổng diện tích tư điền xã Vân Điềm, số liệu là 216 mẫu 4 sào 2 thước 8 tấc,nhưng khi cộng từng thửa lại diện tích ruộng tư chỉ có được 213 mẫu 1 sào 1 thước 4 tấc,còn thiếu 3.314 mẫu Những sai khác trên đây một phần do tính phức tạp, đa dạng củacác loại hình sở hữu, một phần do bị nhầm lẫn ngay từ lúc làm địa bạ hoặc do lỗi saochép Tổng diện tích công điền và tư điền ở xã Vân Điềm là 221 mẫu 10 sào 2 thước 8tấc, còn lại là ruộng Thần Từ, Phật Tự, Kỵ Điền tại xứ Cửa Cầu 1 sở 8 mẫu 11 thước 4

Trang 19

ở cũ là 21 mẫu 3 sào) Nhìn chung, bộ phận giữ vị trí lớn là ruộng tư điền, bộ phận nàychiếm 213.114 mẫu Số liệu bảng dưới đây sẽ cho phép hiểu mối quan hệ giữa tính chất

sở hữu với chất lượng các loại ruộng

Bảng 1 1 Tình hình công tư điền thổ của xã Vân Điềm đầu thế kỷ XIX

Tính chất sở

hữu

Phân loại ruộng

Tổng cộng

Nguồn: Thống kê từ địa bạ Gia Long (1804)

Chỉ tính riêng trong bộ phận ruộng, sở hữu tư nhân chiếm 216.428 mẫu (chiếm99,98%) Theo cách phân loại ruộng của địa bạ (chia làm 3 hạng): đẳng hạng, ruộnghạng nhất là loại tốt nhất, rồi lần lượt tới hạng nhì, hạng ba nhưng ở xã Vân Điềm thì chỉ

có nhị đẳng điền và tam đẳng điền (ruộng hạng 2 và ruộng hạng 3), là loại kém màu mỡ,khô cằn, khó canh tác Có thể thấy chất lượng ruộng không được tốt Điều này phản ánhtính chất ruộng đất phụ thuộc chủ yếu vào địa hình, khí hậu của địa bàn và loại hìnhruộng đất còn phụ thuộc vào thời tiết

Bảng 1 2 Quy mô sở hữu ruộng tư ở xã Vân Điềm

Quy mô Số chủ Diện tích sở hữu

Trang 20

Biểu đồ 1: Quy mô sở hữu của xã Vân Điềm

Nhìn vào phân bố tỉ lệ ruộng có thể thấy ngay rằng số chủ và diện tích sở hữu tươngđương nhau là từ 1 đến 3 mẫu Tuy nhiên khi xét về diện tích thì tỉ lệ cao nhất là lớp sởhữu từ 3 - 5 mẫu (39,01%), mặc dù họ chỉ chiếm 18,11% số chủ Số chủ sở hữu nhỏthuộc 2 lớp từ 5 - 10 mẫu (2,36%) và từ 10 - 20 mẫu (0,78%) Qua đây ta có thể thấy đaphần là số chủ sở hữu chiếm quy mô từ dưới 1 mẫu cho đến từ 3 -5 mẫu, hộ dân nghèosản xuất nông nghiệp là chính Có thể thấy tỉ lệ từ 10 - 20 mẫu chỉ có 1 chủ sở hữu, có lẽđây là phú nông hoặc địa chủ giàu có

Bảng 1 3 Quy mô sở hữu theo nhóm dòng họ

STT Họ Chủ sở hữu Diện tích

Trang 21

Theo thống kê địa bạ đầu thế kỷ XIX cho ta thấy có tất cả 4 dòng họ, trong đó dòng

họ Nguyễn chiếm ưu thế tuyệt đối cả về số lượng người ở sở hữu tư điền cũng như diệntích sở hữu Họ Nguyễn có số chủ sở hữu (chiếm 96,85% ) nắm giữ hơn 200 mẫu (chiếm97,86%), tiếp đó là 2 chủ hộ họ Dương, 1 chủ hộ họ Đỗ và 1 chủ hộ họ Nghiêm Trong

số họ Nguyễn thì có 1 -2 hộ là dân ở xã khác đến phụ canh là Nguyễn Hữu Mô ở xã BìnhLâm, huyện Yên Phong; Nguyễn Đức Mại và Nguyễn Trí Cự ở xã Quan Độ; NguyễnĐình Nghị ở xã Thiết Bình Riêng 2 chủ hộ họ Dương là Dương Thế Thịnh và DươngVăn Đàn thuộc xã Hà Lỗ; chủ hộ họ Đỗ là Đỗ Tiến Học người xã Bình Lâm, huyện YênPhong Qua đây ta có thể thấy, tình hình sở hữu ruộng đất ở xã Vân Điềm nói chung làmanh mún, nhỏ lẻ Chủ yếu là tình trạng thực canh chỉ xuất hiện vài hộ ở xã khác đếnphụ canh

Thuộc khu vực huyện Đông Anh - đây chính là miền châu thổ đầu tiên được bồi đắpsau khi sông Hồng tiếp nhận các phụ lưu lớn là sông Lô và sông Đà Huyện Đông Anhnằm trong khu vực chuyển giữa trung du và đồng bằng, từ miền đồi núi xuống vùng châuthổ “Đầu thế kỷ XV để phục hồi nông nghiệp sau chiến tranh giải phóng dân tộc, vua LêThái Tổ cho nhập ruộng hoang vắng chủ vào ruộng công của làng Một số ruộng đất tưđược công hữu hóa trở lại Đầu thế kỷ XIX: những địa bạ Gia Long (ra đời dưới triềuNguyễn đầu tiên) cho thấy rằng số ruộng đất tư tại từng xã ở đồng bằng và trung du Bắc

Bộ đến lúc bấy giờ đã át hẳn số lượng ruộng công”3 - Như bảng phân tích trên đã thấy rõ

3 Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt Cổ truyền ở Bắc Bộ, NXB Khoa học xã hội, tr.20-21.

21

Trang 22

phần nào Ruộng đất của làng vốn là công hữu, việc chia ruộng đất của làng xã cho dânlàng đã có từ rất sớm Nhưng phân chia ruộng đất theo định kỳ thì xuất hiện muộn Việcnhận ruộng cày cấy suốt đời hoặc chỉ được thời gian mấy năm rồi trả lại cho làng để nhậnđám khác có từ sớm, nhưng việc phân chia ruộng đất làng xã theo định kỳ lần đầu tiênđược quy định thành luật lệ là chế độ quân điền của triều đình Lê Thánh Tông Chế độquân điền được thực hiện là một biến cách lớn trong làng xã Nó chi phối sự phát triểncủa làng, xã cuối thế kỷ XV trở về sau trên các mặt kinh tế, chính trị và cả tư tưởng, vănhóa

Về kinh tế, ruộng công và chế độ quân điền đã ràng buộc người nông dân trong làng

xã Khi mất mùa đói kém, họ có thể đi nơi khác, nhưng trước sau vẫn trở về làng cũ vìlàng cũ vẫn chia ruộng đất cho họ, sự ràng buộc này từ quan hệ kinh tế dần thành phongtục tập quán và tâm lý tình cảm “Cuối năm 1955, được sự chỉ đạo cấp trên đội cải cáchruộng đất được thực hiện tại xã Vân Hà với phương châm “dựa hẳn vào bần cố nông,đoàn kết với trung nông, liên hiệp phú nông, đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ” Chi bộ tại

xã chỉ đạo chính quyền phân hóa các đối tượng địa chủ, tiến hành tịch thu, trưng thu,trưng mua được hơn 666 mẫu ruộng; 2856 kg thóc; 18 con trâu bò; hơn 26 mẫu đất ở;

245 gian nhà Uy thế của giai cấp địa chủ ngự trị ở nông thôn hoàn toàn sụp đổ, người laođộng thực sự làm chủ Tính trung bình toàn xã, tổng số ruộng đất là 1.324 mẫu 1 sào;bình quân ruộng cho mỗi nhân khẩu là 3 sào Song hành cùng cải cách ruộng đất, chi bộ

và chính quyền đoàn thể quần chúng vận động nhân dân tiến hành khôi phục kinh tế, hàngắn vết thương chiến tranh, chỉ sau vài tháng nhiều diện tích hoang hóa ở cánh đồng cácthôn đều được phục hồi và gieo trồng kip thời vụ”4

Giai đoạn từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 12 năm 1960, nhân dân Vân Điềm cùngtoàn xã thực hiện cải cách ruộng đất, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa Hậu quảcủa chiến tranh để lại cho xóm làng bị tàn phá, trâu, cày kéo và nhân lực thiếu nghiêmtrọng Thôn xóm xác xơ do giặc đốt phá, vơ vét nhiều năm liền Một bộ phận người dân ở

4BCH Đảng bộ xã Vân Hà (2012), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010), NXB.

Văn hóa Thông tin, tr.115-116.

Trang 23

các thôn đi tản cư về không có chỗ ở, phải đến ở nhờ nhà người thân hay các điếm côngcủa làng Trong khi đó, công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu, đời sống nhân dân lại càng gặpnhiều khó khăn Tháng 6 năm 1955, xã thực hiện việc giảm tô, giảm tức Sau khi tổ chứchọc tập, quán triệt chính sách ruộng đất của Đảng và chính phủ trong chi bộ và nông hội,đội giảm tô đã phân công cán bộ về các thôn “thăm nghèo hỏi khổ”, “bắt rễ xâu chuỗi”.Đội dựa hẳn vào bần cố nông - những người có lợi ích đối lập nhất với thực dân phongkiến mà phát hiện ra giai cấp địa chủ, buộc họ phải chấp hành triệt để chính sách giảm tô,giảm tức, xóa nợ của Đảng và chính phủ Đợt giảm tô thu được 205.530 đồng tiền thoái

tô và 5.550kg thóc của địa chủ Số tiền, số thóc này được chia cho các hộ bần cố nông để

họ giải quyết vấn đề cứu đói và có vốn mua thóc giống, tậu trâu - bò để phục hồi kinh tế.Sau đó là cải cách ruộng đất, qua việc tịch thu, trưng thu, trưng mua từ địa chủ và phúnông mà toàn xã tổng số ruộng đất là 1.324 mẫu 1 sào; bình quân ruộng cho mỗi nhânkhẩu là 3 sào 0,5 thước Sau cải cách ruộng đất, nhân dân tiến hành khôi phục kinh tế,hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực hàng nghìn ngày công biến ruộng hoang thànhnơi trồng lúa, hoa màu Chỉ sau vài tháng nhiều diện tích hoang hóa ở cánh đồng các thônđược phục hồi và gieo trồng đúng thời vụ

Cây trồng chủ yếu thời kỳ này chủ yếu vẫn là cây lúa Lúa xuất hiện từ rất sớm và làgiống cây trồng chủ đạo của ngành nông nghiệp Trong nông nghiệp, trồng trọt đã trởthành nguồn sống chủ yếu của con người Kĩ thuật trồng trọt có nhiều tiến bộ, công cụ sắt

và trâu bò cày kéo được sử dụng phổ biến trong canh tác Hệ thống đê điều bước đầuhình thành dọc các sông lớn vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Người dân đã biếtdùng phân để bón ruộng, biết chiết cành cây để trồng Trải qua quá trình lâu dài trongcanh tác, con người Việt Nam đã tiến tới trồng lúa cho hai vụ chiêm mùa Do là vùng đấttrũng nên ở Vân Điềm thời kỳ này vẫn chỉ trồng được giống lúa Tám Nước (hạt dài, thâncao, phát triển rất nhanh khi bị ngập nước) là loại lúa thích hợp cấy trồng ở ruộng trũng ,đầm, dọc nước, ruộng thụt Trong khi đó ở Đông Anh có các loại giống lúa khác nhaunhư: Tam Sơn, Bạc Bụng, lúa Tây, lúa Gié, lúa Lốc, lúa Sọc,…

23

Trang 24

Đất đai ở Đông Anh được chia làm nhiều loại khác nhau bởi sự đa dạng của địa hình

tự nhiên nơi đây Bởi vậy tương ứng từng loại đất sẽ có các giống lúa và cách thức chămsóc, thu hoạch cũng khác nhau Đối với làng Vân Điềm thì thuộc đất đai khu đồng thấp lànhững thửa ruộng trũng, gần các đầm hồ, luôn chịu ảnh hưởng của nước lũ Thuộc vùngđất trũng thì Vân Điềm thường cấy vụ chiêm, năng suất không được cao như vụ mùa,nhưng vì điều kiện tự nhiên, thiên nhiên làm ảnh hưởng đến năng suất Nhưng đó vẫn lànguồn kinh tế chính của từng hộ gia đình

Có thể nói, nghề trồng lúa nước là nghề sinh sống chủ đạo của cư dân nông nghiệp.Mỗi công đoạn đòi hỏi người nông dân không chỉ sức lao động mà còn là những kinhnghiệm truyền từ đời này sang đời khác Bên cạnh trồng lúa để bổ sung cho nguồn lươngthực từ rất sớm cư dân ở đây đã trồng các loại rau màu: rau ngót, rau dền, rau mồng tơi,bầu, bí, su hào, su su, khoai lang, khoai sọ,… đặc biệt là củ từ là những cây trồng có khảnăng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, lại nhanh cho thu hoạch và năng suấtcao nên được người dân ở đây trồng nhiều Vân Điềm còn trồng ngô, đỗ vụ đông, có khilên tới 4 vụ/năm Trong sản xuất nông nghiệp, truyền thống thâm canh tạo ra nhiều giốngcây mang đặc sản địa phương như các giống lúa: chiêm, tẻ,… Sôi nổi hưởng ứng Lời kêugọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa xuân của chủ tịch Hồ Chí Minh (2/1955), nhiệt tìnhthực hiện các phong trào thi đua chống hạn với những khẩu hiệu thể hiện quyết tâmchống chọi với thiên tai Các ao hồ, chuôm đều được tận dụng để lấy nước tưới cho câylúa, hoa màu Làng Vân Điềm cùng làng Hà Khê và Thiết Úng còn đào được hệ thốngmương nhỏ dẫn nước từ các ao trong làng ra ngoài đồng ruộng Nguồn nước phục vụ chosản xuất đảm bảo, cây trồng được chăm bón tốt, năng suất lúa và hoa màu tăng đáng kể.Chăn nuôi, nhất là lợn, trâu bò cày kéo và gia cầm dần phát triển

Đối với chăn nuôi, chính quyền vận động mỗi hộ gia đình nuôi 1 con lợn bột, 5 hộnuôi một con lợn nái và chú trọng phát triển gia cầm Nhờ vậy nạn khan hiếm thực phẩmtừng bước được giải quyết và tạo ra nguồn phân bón đáng kể, thúc đẩy sự sinh trưởng củacây trồng thiết thực cải tạo những ruộng đất bị bạc màu Ngoài ra, ở Vân Điềm còn trồngnhiều loại ăn quả như cam, nhãn, mít,… Cũng như bao làng quê khác việc phát triển

Trang 25

nông nghiệp tại Vân Điềm những năm trước đổi mới chủ yếu là trồng lúa, đảm bảo đượcđời sống hàng ngày của người dân

Tháng 9 năm 1960, làng Vân Điềm thành lập HTX gồm 85 hộ do ông Nguyễn VănChanh làm chủ nhiệm Cuối năm 1960 Vân Điềm cùng toàn xã căn bản hoàn thành hợptác hóa nông nghiệp Hoạt động của HTX đi vào nề nếp, đạt hiệu quả cao thu nhập bìnhquân đầu người tăng 14,5% so với thời kỳ 1954 -19575 Lợn, trâu, bò và gia cầm là nhữngvật nuôi chính được HTX nông nghiệp chú trọng Đặc biệt là lợn, HTX nào cũng có 1 trạichăn nuôi lợn, trung bình có từ 200 - 300 con Trong chăn nuôi hộ gia đình, nhiều giađình xã viên còn chú trọng phát triển các loại gia cầm như: ngan, ngỗng, gà tây,… Bêncạnh đó, HTX chú trọng xây dựng khung thời vụ cho sản xuất và khắc phục tình trạng đấtbạc màu Ngoài biện pháp luân canh, HTX Vân Điềm vận động xã viên thi đua tạo nguồnphân bón ruộng bằng việc thiết thực là chuyển bùn từ đáy ao, hồ lên phơi ải rồi đem rađồng làm phân bón Ở tất cả các HTX đều dành diện tích thả bèo hoa dâu, trồng điềnthanh làm nguồn phân xanh dồi dào, giúp cho việc cải tạo đất bạc màu có hiệu quả Ngoàiviệc cải tạo đất, công tác thủy lợi cũng được quan tâm Do Vân Điềm là địa bàn trũngnhất nên ngay từ năm 1962 làng Vân Điềm cùng làng Thiết Úng ra sức đắp bờ chốngúng Công trình cống Mới ở cánh đồng Chằm (Vân Điềm) được cấp trên đầu tư xây mớilại gấp đôi cống cũ nên việc chống úng được đảm bảo hàng năm

HTX từ khi được thành lập đều hoạt động ở sân đình nhưng đến giai đoạn 1965

-1975 thì HTX Vân Điềm được chuyển từ sân đình vào khu Dinh rộng gấp 3 lần diện tíchsân cũ Dù phải vừa đảm bảo chiến đấu, vừa phục vụ chiến đấu, song cơ sở vật chất - kỹthuật vẫn được đầu tư xây dựng và sửa chữa thêm Năm 1968, đáp ứng yêu cầu của tiềntuyến tổng tiến công và nổi dậy, thực hiện khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người” xã Vân Hà không những hoàn thành và vượt chỉ tiêu mà còn làmtròn và vượt mức kế hoạch lương thực, thực phẩm cho nhà nước Làng Vân Điềm luôn là

cơ sở tiến hành nhanh, gọn hơn cả Hai khoản thuế nghĩa vụ thường chiếm 30% tổng sản

5BCH Đảng bộ xã Vân Hà (2012), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Vân Hà (1930 - 2010), Sđd,

tr.126.

25

Trang 26

lượng lương thực của địa phương Mỗi năm một hộ bán cho nhà nước với giá rẻ 50kg thịtlợn hơi và 3kg thịt gà, đảng viên tự nguyện bán 2kg gà,…

Cuối năm 1975 và đầu năm 1976 HTX Vân Điềm cùng HTX Thiết Bình, HTX ThiếtÚng quy hợp lại thành HTX nông nghiệp xã Vân Hà Sau khi hợp nhất nhiệm vụ đầu tiêncủa HTX là tổ chức đại hội xã viên để quyết định mục tiêu, phương hướng của HTX,quyết tâm đưa sản xuất nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Năm 1981Ban bí thư trung ương Đảng khóa V ra chỉ thị số 100 - CT/TW về cải tiến công táckhoán, thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động Theo chỉ thị này, hộ xãviên được tự chủ trong ba khâu: gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch Các HTX thành lậphội đồng chỉ đạo khoán, khảo sát, đo đạc lại diện tích, ổn định lại mức khoán cho từngthửa, đưa ra xã viên bàn bạc Khoán sản phẩm đã tạo ra sức hấp dẫn lớn, thu hút mọi đốitượng lao động vào sản xuất nông nghiệp Sau 4 vụ thực hiện chỉ thị 100-CT/TW, tổngdiện tích các loại cây trồng toàn xã thực hiện được là 350ha, năng suất lúa đạt 35,5 tạ/ha,sản lượng lương thực đạt 1.500 tấn Thực hiện khoán sản phẩm tới nhóm và người laođộng từng bước phá thế độc canh cây lúa, chuyển sang sản xuất các loại cây trồng có giátrị kinh tế cao Năm 1985, toàn xã trồng trên 54ha cây vụ đông các loại, trong đó chủ lực

là khoai tây, khoai lang, lạc và các loại rau Phong trào trồng cây tiếp tục được đẩy mạnh,HTX đã giành cho mỗi làng một số đất để các cụ làm vườn quả Bác Hồ Vườn quả làngThiết Úng, làng Thiết Bình, làng Vân Điềm hàng năm cho thu nhập rất cao

1.1.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp

1.1.2.1 Thủ công nghiệp

Lịch sử kinh tế đã chứng minh bản thân nông nghiệp không thể tự tạo việc làm đầy

đủ và ổn định trong năm, cho nên nông nghiệp (chủ yếu trồng trọt) phải kết hợp với cácngành nghề khác Đó là sự kết hợp đa thành phần kinh tế Giai đoạn năm 1954, trước khi

có nghề chạm khắc gỗ mỹ nghệ thì làng Vân Điềm hiện nay là xã Vân Điềm trước kia cónghề nấu rượu cùng các xã Yên Lã, Yên Thường, Quan Đình, Dương Lôi, Hà Lỗ và KimBảng Làng Vân Điềm trong xã có nghề nấu rượu lâu đời, khá nổi tiếng Vào đầu thế kỷ

XIX, Bắc Ninh phong thổ tạp ký kể tên xã Vân Điềm khi đó thuộc huyện Đông Ngàn,

Trang 27

tỉnh Bắc Ninh có nghề nấu rượu Đến đầu thế kỷ XX, Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí cũng

nhắc đến nghề của làng Có thể nói, trong dân gian xã nào cũng có nghề khác nhau nhưngvẫn phần nhiều là nghiệp nhà nông Hiện nay, không có văn bản nào nói về việc nấu rượu

ở xã Vân Điềm phát triển cụ thể như nào mà chỉ được ghi lại trong tài liệu với cách nêu

tên, không được trình bày một cách chi tiết Theo như Địa chí Đông Anh: “Nghề nấu

rượu nổi tiếng nhất ở Đông Anh là rượu Đông Ngàn Trước đây, rượu Đông Ngàn baogiờ cũng được cất bằng gạo nếp cái Hoa Vàng với những bí quyết gia truyền nên đặc biệtthơm ngon Tương truyền, rượu Đông Ngàn đã nhiều lần đem tiến vua nên được vua bancho tên gọi là làng Long Tửu (làng có rượu được tiến vua)”

Bên cạnh các xã trong huyện như dệt ở Thụy Lôi (xã Thụy Lâm), sơn mài ở làngChâu Phong (xã Liên Hà), làm đậu phụ ở làng Chài (xã Võng La),… thì làng Vân Điềm(xã Vân Hà) cũng có làng nghề thủ công: chạm khắc gỗ mỹ nghệ

Đến khoảng giai đoạn 1954 - 1985, ngành nghề thủ công thời kỳ này ở toàn xã pháttriển Cùng với sản xuất lương thực, nghề thủ công truyền thống cũng được phục hồi.Bên cạnh các HTX thủ công nghiệp chuyên nghiệp như điêu khắc Từ Vân (Vân Hà), sơnmài Châu Phong, cơ khí Dục Tú, may mặc Việt Hùng, Uy Nỗ,… thì các HTX nôngnghiệp cũng phát triển thủ công trong nông nghiệp như thợ mộc, thờ nề, thợ cưa xẻ, thợrèn,… tổ vận chuyển do HTX điều hành Cùng với bàn tay khéo léo, thợ mộc, thợ xẻ, thợ

nề ở Vân Điềm, Thiết Bình, Thiết Úng được điều đến làm việc tại các công trường BắcSơn, Từ Sơn, Yên Viên, Đền Đô, xây dựng kho tàng Ban đầu chỉ phát triển một cách thô

sơ, với những dụng cụ đơn giản Chủ yếu là được truyền dạy nghề và học hỏi từ các làngkhác xung quanh, nhất là khu vực làng Thiết Úng - nơi nổi tiếng với nghề mộc và chạmkhắc Làng Vân Điềm cùng với sự phát triển nghề thủ công trong toàn xã nên mới đầu chỉphát triển manh mún, chỉ có một vài hộ tham gia làm, không có nhiều nhân công, chủ yếuvẫn phát triển HTX nông nghiệp, thủ công nghiệp chưa phát triển mạnh vì do nguồn kinh

tế chưa cao, đất nước lúc đó vẫn còn chưa phát triển nhiều về các mặt hàng thủ công Khi

đó chỉ mang tính chất là thợ làm nghề, chưa có kỹ xảo nhiều như HTX điêu khắc Từ Vân.Nhu cầu đối với người dân lúc đó mới chỉ đảm bảo đời sống hàng ngày, nhu cầu ăn uống

27

Trang 28

là chính cho nên người đi làm thuê không nhiều và các hộ gia đình thì chưa có kinh phícao để hoạt động, chủ yếu là lấy công làm lãi dẫn tới việc phát triển thủ công nghiệp chưathực sự có dấu ấn mạnh trong kinh tế truyền thống lúc đó.

1.1.2.2 Thương nghiệp và dịch vụ

Sau năm 1954, Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương thực hiện cải tạo xãhội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương, tiểu chủ, thợthủ công và nông dân cá thể; kinh tế tập thể quốc doanh trở thành hai thành phần kinh tếchủ yếu, trong khi kinh tế tư nhân, cá thể bị thu hẹp Cùng với hệ thống thương nghiệpquốc doanh là sự ra đời phát triển mạnh mẽ của HTX mua bán, phục vụ đắc lực cho hệthống mậu dịch quốc doanh Các đơn vị HTX mua bán đứng ra thực hiện công tác thumua lương thực, thực phẩm, hàng nông sản để bán cho nhà nước

Vân Điềm không giống như những làng buôn quanh vùng, đặc biệt không giốngnhư một số làng buôn bán ở địa phận Bắc Ninh hiện nay như Phù Lưu hay Cổ Châu Vàonhững thời điểm khó khăn của đất nước, khi miền Bắc làm hậu phương cho miền Namruột thịt (1954 - 1975), người dân Vân Điềm bên cạnh là thành viên của HTX nôngnghiệp và HTX tiểu thủ công nghiệp Vân Hà, thì họ còn tham gia buôn bán các sản phẩmtiểu thủ công nghiệp ở nhiều khu quanh vùng, đặc biệt là sản phẩm tượng gỗ Sau khiđiều tra phỏng vấn, tôi được biết sản phẩm tượng gỗ này được ưa dùng lúc đó vì mụcđích trang trí, chỉ có những nhà nào giàu có, điều kiện kinh tế khá giả thì mới có thể mua

ở trong vùng hoặc ngoài vùng có thể từ Hà Nội hay Bắc Ninh Ở Vân Điềm người dânchỉ làm đến sản phẩm thô, nhưng cũng có những sản phẩm được làm đến công đoạn cuốicùng

Trước thời kỳ đổi mới, ở Vân Điềm chưa có hoạt động chợ tại địa phương, mà chủyếu đi giao thương bên ngoài Nhu cầu phục vụ đời sống chỉ có thể trao đổi ở các làngquanh vùng, đặc biệt bên khu Bắc Ninh hiện nay Không gian trong làng trước đây chưa

có dịch vụ buôn bán nhiều, chỉ chủ yếu phục vụ nông nghiệp, đất đai chưa được cải tạothành các khu chuyên biệt buôn bán nhằm phục vụ cho nhu cầu người dân

1.1.3 Tổ chức xã hội

Trang 29

1.1.3.1 Gia đình và dòng họ

Gia đình là một đơn vị kinh tế, một đơn vị xã hội, nhưng nó không tồn tại độc lập

mà luôn luôn tồn tại phụ thuộc vào làng Cộng đồng làng vừa là tập hợp của các gia đìnhvừa là nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi gia đình nông dân6 Gia đình truyền thốngtrong làng xã của người Việt thường là các gia đình hạt nhân gồm 1 vợ 1 chồng và nhữngđứa con chưa trưởng thành nhưng nhìn chung các triều đại phong kiến vẫn thườngkhuyến khích các gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống Mỗi gia đình đều có nhiều convới quan điểm đông con đông của và cũng do tính chất của cư dân nông nghiệp cần nhiềunhân công trong sản xuất trồng cấy nên các gia đình đều không có ý thức hạn chế sốlượng con Đa phần là kinh tế nông nghiệp lúa nước hết sức manh mún chịu sự tác độngcủa thiên nhiên, nên cần sự giúp đỡ từ những gia đình láng giềng, những người có chungdòng máu Vì thế quan hệ thân tộc đã thật sự nổi lên như một sợi dây hết sức cơ bản củalàng Việt nói chung và làng Vân Điềm nói riêng Người trong họ dễ tổ chức với nhau đểlàm mọi việc từ trồng lúa, làm thủy lợi, làm nghề, bảo vệ làng xóm, đồng điền,…

Qua quá trình tìm hiểu 2 bản gia phả của 2 dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm là dòng

họ Nguyễn Thực và Nguyễn Đình, 2 dòng họ nhất nhì trong làng, để thấy được sự hiệndiện của hai dòng họ lớn trong làng Mỗi gia phả lại có những cách viết khác nhau, cónhững quy định chung, nhưng cũng có những điểm riêng Mở đầu mỗi bản gia phả đềunói khái quát về dòng họ của mình Bản gia phả họ Nguyễn Thực chủ yếu nói về các đờicon cháu của họ Nguyễn, ghi chép chi tiết cụ thể về từng chi, việc đỗ đạt của từng người.Làng Vân Điềm hình thành từ cuối thế kỷ XIV khi đó có 7 họ nguồn gốc khác nhaunhưng đều mang tên là họ Nguyễn Mãi đến năm 1970 Vân Điềm vẫn chưa có ngườimang tên họ khác họ Nguyễn Sau năm 1970 mới có người đến chiếu theo chứng minhthư mà mang họ khác Cũng thời kỳ này có một họ chỉ có 4 gia đình xin đổi tên họ là họgốc cũ

Họ Nguyễn Đại Tôn (sau này còn gọi là họ Nguyễn Thực) về làng Vân Điềm từgiữa thế kỷ XV, theo như được truyền lại đây là họ gốc Lý, dòng của Lý Quang Bật Gia

6 Nguyễn Quang Ngọc (2009), Một số vấn đề làng xã Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.124.

29

Trang 30

phả chữ Hán ở Vân Điềm các cụ không chép rõ rệt về chuyện này, nhưng truyền thuyếtthì vẫn để lại nhiều câu chuyện về sau: người về đầu tiên được các cụ bên dòng họNghiêm ở Quan Độ che chở rồi sau gả cháu gái cho Họ Nghiêm ở Quan Độ có nhiềungười làm quan dưới triều Lý, có cụ làm đến chức Tư Mã là cụ Nghiêm Tĩnh là con rểvua Lý Cao Tông Đến đời cụ Bồn (cụ đời thứ 3 ở Vân Điềm) còn nghèo, cụ gần 60 tuổivẫn phải theo hầu cụ Quan Nội thị trong làng Khi được cụ Nội thị cho về thì cụ đượcquan Tiến sĩ ở Quan Độ là Nghiêm Phụ cháu bảy đời của cụ Nghiêm Tĩnh (tiến sĩ khoaMậu Tuất 1478) quan tâm rồi gả con gái cho Sự việc này gia phả cũ có ghi và nay đốichiếu khớp với gia phả họ Nghiêm Hiện giờ họ Nghiêm ở Quan Độ và họ Nguyễn ở VânĐiềm vẫn giữ được mối quan hệ như xưa Mỗi khi có việc lớn của mỗi họ đều có mời đạidiện của họ kia Trong văn khấn của họ tại nhà thờ còn ghi “Cung thỉnh” (mời) ngoại tổ ở

họ có danh vọng xứ Kinh Bắc Họ Nguyễn ở Vân Điềm là một dòng họ có tiếng ở ĐôngAnh Ở dòng họ này từ cụ tổ cho đến con cháu sau này đều làm các quan trong triều Cóthể kể đến Nguyễn Thực, Nguyễn Nghi, Nguyễn Khuê, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Thẩm,Nguyễn Lân, Nguyễn Thưởng

Đối với gia phả họ Nguyễn Đình, trong quá trình tìm hiểu nội dung bản chữ Hán(54 tờ), khổ 16x27cm, không kể bia phết màu nâu, bị mủn nát một số tờ đầu và một số tờcuối; bản này nội dung chép gia phả họ Nguyễn Đình đến đời thứ 14 Người biên soạn vàchép lại là cụ Vi Thiện Gia phả Nguyễn Đình được biên soạn gồm 3 phần: phần 1 làchép các bài văn tế, cúng tế, nghi thức lễ; phần 2 là ghi chép thể thứ 14 đời họ NguyễnĐình; phần thứ 3 là đại tự và câu đối Bản tiếng việt viết bằng chữ quốc ngữ trên loại giấykhổ 19x26,5cm (loại giấy 5 hào 2 cũ trước đây màu nâu) chỉ phiên dịch phần 2 và ghi

Trang 31

chép đến đời thứ 15 (nhiều hơn bản chữ Hán 1 đời) theo ý kiến của các cụ trong ban biêntập bổ sung gia phả năm 2014: Đời thứ 14 ở thời điểm cụ Vi Thiện (cụ Nguyên) biênsoạn năm 1942 chưa đầy đủ, tháng 10 năm 2002 ban biên tập gia phả đã dịch và bổ sungđầy đủ nên phần gia phả đời thứ 14 không in để tránh hiểu lầm và không thống nhất Đặcbiệt dòng họ Nguyễn Đình thường xuyên bổ sung tên họ các cháu thi đỗ đại học haynhững cá nhân công tác tại địa phương hoặc những con cháu đi làm xa Như vậy, việcnắm chắc rất cụ thể và rành mạch, tạo nên tính đoàn kết cũng như tinh thần trách nhiệmcủa người trưởng họ

Hoạt động của 2 dòng họ trên thường xuyên được tổ chức tại nhà thờ họ, ăn uốngđóng góp đều do mỗi hộ thực hiện cùng trưởng họ Các hoạt động của dòng họ được duytrì trên cơ sở kinh tế là ruộng họ Mỗi dòng họ đều có số ruộng nhất định, những họ cónhiều ruộng thì khoảng 1 đến 2 mẫu Phần ruộng này thường được giao cho các gia đìnhnghèo hoặc các gia đình không đi buôn bán trong họ cày cấy, lấy hoa lợi phục vụ chocông việc của họ Ngoài phần ruộng họ ra còn có quỹ riêng bằng tiền Những khoản tiềntrong quỹ họ thường không cố định và được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau nhưtiền hương khói tưởng nhớ tổ tiên của những người làm ăn xa không về dự lễ giỗ họ hàngnăm hoặc do các thành viên trong họ đóng góp Dù là làm gần hay làm xa thì việc củadòng họ vẫn thường xuyên phải tham gia, nếu không tham gia và đứng lên làm được thìtrong gia đình có bố hoặc anh em phải đứng lên làm thay Điều này có nghĩa, mỗi mộtnăm dòng họ có công có việc lớn đều phải phân chia ra cho từng suất đinh, mỗi suất đinhphải chịu trách nhiệm chính công việc đó trong năm đấy Dù đi làm ăn xa nhưng tên vẫn

có trong gia phả thì phải làm công việc mà dòng họ giao cho, từ 18 tuổi trở lên là có thểthực hiện được Hình thức này là tiêu biểu cho dòng họ Nguyễn Đình Khi có hoạt độngdòng họ cần họp hành, bàn bạc thì người trưởng họ không cần phải đến từng thành viên

để thông báo mà chỉ cần gõ 3 hồi trống ở nhà thờ họ là mọi người đều biết và tự giác đến.Trước cửa mỗi nhà thờ đều có 1 cái trống to treo ở phía bên trái hiên của nhà thờ Điềunày rút ngắn thời gian thông báo, thể hiện tinh thần tập thể cao, nhưng vẫn mang néttruyền thống của một làng quê Việt

31

Trang 32

1.1.3.2 Bộ máy hành chính

Bộ máy quản lý hành chính các cấp ở Việt Nam ra đời và phát triển từ rất sớm Đếntrước thời kỳ cận đại, hệ thống này đã được hoàn thiện từ trung ương trở xuống đến cáccấp địa phương Trong hệ thống đó, làng là đơn vị cấp cơ sở Bộ máy quản lý làng xãđược tự quyết trong rất nhiều việc như mức thuế khoá dân phải nộp, điều dân đinh thựchiện các công việc lao dịch, binh dịch; phân bổ tiền công quỹ; tiến hành các loại thờ cúng

và nghi lễ của làng xã, và đặc biệt là quản lý và phân phối ruộng đất công làng xã Thực

ra tất cả những nội dung này đều được quy định trong luật pháp của nhà nước, nhưng trênthực tế các làng đều tiến hành theo phong tục riêng của mình Điều quan trọng là việctiến hành theo “lệ” nhưng vẫn tồn tại cùng sự đồng tình của dân làng, cho nên đối vớingười dân, làng xã như một quốc gia thu nhỏ và có tầm quan trọng đôi khi còn hơn quốcgia

Cuối thời Lê đầu Nguyễn (từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX) làng Vân Điềm cũng nhưcác làng khác trong xã đều có phe giáp, phường hội Giáp là tổ chức dành cho nam giớitrong làng xã, có đặc điểm cha truyền con nối, cha ở giáp nào, con ở giáp ấy Người contrai khi đến 18 tuổi phải làm lễ làng để lên đinh hoặc tráng Khi đã là đinh tráng, họ nhậnmột diện tích ruộng công để cày, thêm phần hoa màu Trong các dịp hội họp, đình đámcủa xã họ được ngồi ở một chiếu nhất định Bên cạnh quyền lợi, họ có nghĩa vụ với làngnhư giúp đỡ trong dịp lễ lạt, đình đám, đóng thuế, đi lính, đi phu Đến năm 60 tuổi, ngườitrai đinh coi như hoàn thành nghĩa vụ, không phải gánh việc làng theo đơn vị giáp vàđược mọi người xin ý kiến khi gặp khó khăn Mỗi giáp được chia thành nhiều phe, mỗiphe về cơ bản hình thành theo khu vực cụm xóm, phần lớn mang tên xóm chính gắn vớitên giáp gốc Phe giúp giáp thu thuế, biên lễ thờ Thành hoàng và lo tang lễ cho người quá

cố Bên cạnh phe giáp còn có phường hội, phường hội tập hợp các thành viên trên tinhthần tự nguyện nhằm mục đích tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thường ngàyhoặc vì mục đích nghề nghiệp, tín ngưỡng hay cùng sở thích, thú vui

Giống như bộ máy quản lý của nhiều làng xã thời thuộc Pháp, chúng thi hành chínhsách dùng người Việt để cai trị người Việt, khi đó bộ máy quản lý làng xã ở các địa

Trang 33

phương được tổ chức theo khuôn hình của thực dân Pháp đề ra Trong điều 1 của Hương

ước (Phần thứ nhất: Chính trị) có ghi: “Nhiều họ hay nhiều giáp hợp lại thành một làng,

bởi thế mỗi họ hay mỗi giáp phải có người được gọi là tộc biểu hay giáp biểu, để quản trị việc làng Cách thức bầu tộc biểu hay giáp biểu đều tuân theo một nghị định Quan Thống

sứ Bắc Kỳ ngày 25 25 Fevrier 1927” Như vậy, vào những năm 20 của thế kỷ XX, bộ

máy quản lý làng xã truyền thống ở Vân Điềm được thay thế và gọi tên là Hội đồng tộcbiểu Tổ chức của hội đồng tộc biểu “trừ ra có việc mở hội đồng bất thường thì không thểcòn cứ mỗi tháng mồng 1 hoặc ngày rằm mở hội đồng một lần để làm các việc lần và độniên cứ thượng tuần tháng 11 phải hội một lần để làm sổ chi thu năm sau và thượng tuầntháng Giêng đấy phải hội 1 kỳ để làm sổ kết toán năm đã qua” Làng Vân Điềm trước đây

có nói cụ thể về việc lập sổ thu chi và sổ biên thu riêng Việc lập sổ thu chi thu và thực

hành sổ thu chi trình duyệt đều phải tuân theo Nghị định của chính phủ và các thể lệ của quan đầu tỉnh đã sức mà thi hành, nếu không có chi thu trình duyệt thì đã có quyển nhật

ký biên việc thu chi riêng đều phải tuân theo nghị định mà thi hành (điều 15)

Khi được bầu ra, Hội đồng tộc biểu có nhiệm vụ đôn đốc các công việc của làng,thực thi các công việc của quan trên, đồng thời ban hành ra khoán lệ để quản lý làng, đảmđương việc sưu thuế, ổn định an ninh thôn xóm, bài trừ tệ cờ bạc, buôn lậu, giám sát việctuần phòng, phân xử những mâu thuẫn trong làng Về cơ cấu tổ chức của hội đồng tộc

biểu, điều thứ 2, trong hương ước ghi: “Tộc biểu hay giáp biểu chọn lấy một người làm

chánh hương Hội lấy một người làm phó hương hội, một người làm thư ký, một người làm thủ quỹ để làm việc trong ban hương hội, nếu trong ban không thể bầu được thủ quỹ

và thư ký thì chọn người làm ngoại ban cũng được, người ngoại ban được bầu làm thư ký thủ quỹ thì được quyền dự hội đồng và làm các công việc Khi họp hội đồng do viên chánh Hương hội báo cáo, nếu chánh hương hội bận thì có viên phó hương hội báo cáo”.

Bên cạnh hội đồng, nhân sự giúp việc còn có thủ quỹ, thư ký, điều 5: Khi hương hội

có họp làm việc gì thì thư ký phải ghi chép các lời bàn, và phải lập thành biên bản, các viên hương hội có mặt khi hội đồng đều phải ký vào trong biên bản Trong biên bản phải

kê biên rõ tên các viên hội vắng mặt, khi làm xong thì phải giải tán ngay, không được

33

Trang 34

ngồi lâu bày ra cuộc tửu phiếm Còn đối với thủ quỹ thường liên quan đến thu chi thì

“Thủ quỹ nhận tiền của ai nộp vào công quỹ hay phát tiền để tiêu việc làng thì phải có giấy của chánh hương hội mới được thu phát, khi nhận tiền phải biên vào sổ và phát biên lai cho người nộp tiền khi phát tiền phải giữ lấy giấy của chánh hương hội làm bằng chứng”.

Việc tham dự hội đồng cũng có những quy định rõ ràng: “ Người nào say rượu thì

cấm không được dự hội đồng, ai làm ngăn trở việc hội đồng thì phó viên chánh hội được phép đuổi người đấy ra, nhưng phải có các viên hương hội ý họp mới được Khi hội đồng thì công chúng được vào dự thính, nếu ai muốn hỏi việc gì thì phải xin phép Hội đồng ưng thuận mới được” Những quy định rất chặt chẽ, thể hiện tính chuyên biệt “tộc biểu

nào bận việc không đến được thì hội đồng phải có lời cáo để hội đồng biết, nếu ai không

có duyên cớ gì mà tự tiện bỏ vắng đến 2 lần thì hương hội sẽ làm biên bản trình quan xinbãi người ấy và sức cho họ ấy bầu người khác” Bên cạnh đó các hương hội phải coi sátviệc cai trị ở làng, phải lập sổ chi bổ siu thu, quản trị tài sản công dân, thi hành các sắclệnh của quan trên

Cùng với hội đồng tộc biểu, làng còn có hội đồng kỳ mục, đối với bộ phận này làngcũng định ra những tiêu chí cụ thể để đứng trong hàng ngũ của Hội đồng kỳ mục Về tổchức và vận hành thì hội đồng kỳ mục cũng có sự tuyển chọn rõ ràng về danh sách những

người đứng trong hàng ngũ của hội, điều 9: “Trong xã có từ 4 người trở lên hợp lệ dự

hàng kỳ mục theo như điều 9 nghị định 25 Fevrier 1927 thì kê thành danh sách trình lên quan trên phê duyệt Danh sách ấy cứ phẩm hàm cao thấp mà kê trên dưới, viên nào vị thứ cao nhất thì làm chủ hội đồng kỳ mục” Chức vụ của hội đồng kỳ mục là kiểm duyệt

từ hành vi của ban hương hội Trong hương ước dành riêng điều 3 để quy định về cách

tuyển lý trưởng, điều 12: Cách tuyển cử lý trưởng phó lý hộ lại chưởng 3 điều tuân theo

nghị định của nhà nước thi hành, còn sự bầu xã đoàn hay chương tuần phải chọn người

25 tuổi trở lên cường tráng tính hạnh thuần cẩn, có gia sản do hương lý trọng bầu, phải

có hội đồng kỳ mục ứng thuận hợp thành biên bản trình lên quan trên phê duyệt Và chức

vụ của lý trưởng, điều 13: Lý trưởng là người môi giới làm việc, quan phó lý là người

Trang 35

giúp việc lý trưởng Chưởng bạ giữ sổ địa bạ, hộ lại giữ sổ hộ tịch của làng, đều được dự hội đồng, còn xã đoàn hay trương tuần thuộc quyền hương lý đốc xuất tuần tráng canh phòng hương ấp đồng điền cùng là coi nom nông sản của dân.

Lý phó trưởng làm việc được 3 năm thanh thỏa được từ dịch thời làng đại vị thứ miễn dịch Hộ lại Cưởng Dạ làm việc được 3 năm thanh thỏa được từ dịch, thời làng đãi

vị thứ miễn dịch, Xã đoàn hay Trương tuần làm việc được 3 năm thanh thỏa từ dịch thì làng cho vị thứ miễn tráng

Trong hương ước này với tổng số 92 điều thì có 14 điều quy định về cơ chế vận hành

và tổ chức của hội đồng tộc biểu Từ những quy định đó, đã giúp chúng ta hình dung ra

bộ máy quản lý làng xã trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Tronghội đồng tộc biểu, Lý trưởng là những người có trách nhiệm và quyền lực tối cao, giúpviệc cho hội đồng tộc biểu còn có thư ký, thủ quỹ, trương tuần,… Việc đưa ra các điềukhoản khiến cho việc quản lý làng xã trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn

Từ sau năm 1954 đến năm 1985, hội đồng kỳ mục hay hội đồng tộc biểu hoàn toàn bịbãi bỏ vì có sự phân chia quyền lực trong quản lý làng xã rõ ràng hơn, các hoạt động của

xã thôn nằm trong tay chính quyền xã mà đại diện là chủ tịch xã, phó chủ tịch xã và bíthư xã và bộ máy giúp việc Tổ chức bộ máy quản lý về cơ bản được tổ chức như sau: Tổchức Đảng có vai trò lãnh đạo cao nhất, sau đó đến các tổ chức HTX nông nghiệp: đây là

tổ chức cung cấp vật chất cho các tổ chức khác Ngoài đóng vai trò kinh tế, HTX nôngnghiệp còn là một tổ chức chính trị - xã hội chi phối các hoạt động của làng xã Các HTXnông nghiệp cũng được thành lập vào giai đoạn này Mỗi xã gồm một hay nhiều HTXnông nghiệp tùy thuộc vào quy mô xã lớn hay nhỏ, một làng hay nhiều làng Các HTXchủ yếu là HTX dịch vụ và HTX sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp Việc quản

lý cộng đồng làng xã theo lối tự quản bị thay thế, thay vào đó là các tổ chức chính trịquần chúng như hội nông dân, hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên, đội thiếu niên,… Trướcnăm 1945, người dân được quyền tự quản với lệ làng, hương ước nhưng giai đoạn nàyquyền tự quyết bị hạn chế trong các tổ chức quần chúng cứng nhắc do Đảng và chínhquyền quản lý Trong giai đoạn bao cấp này, người nông dân không chủ động với hàng

35

Trang 36

hóa mình sản xuất ra, họ không trực tiếp mua bán sản phẩm, tham gia trực tiếp vào quátrình mua bán mà tất cả được thực hiện thông qua các HTX mua bán Đây có thể xem làmột sự hạn chế về phát triển kinh tế, làm cho kinh tế bị tụt hậu, suy thoái.

1.2 Kinh tế - xã hội làng Vân Điềm sau đổi mới

1.2.1 Nông nghiệp

Cùng với những bước ngoặt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được đề bạt tại NghịQuyết 10-NQ/TW của bộ Chính trị thì nhân dân tại xã Vân Hà, trong đó có làng VânĐiềm có nhiều thuận lợi lớn Kinh tế hộ gia đình phát triển, bộ máy quản lý, quy mô hợpHTX được tinh giảm, gọn nhẹ HTX khi đó mang tính chất cung cấp dịch vụ thương mại,

hỗ trợ sự phát triển của kinh tế hộ (tách biệt xã và HTX) Luật HTX năm 1996: “Các hợptác xã đổi mới, chuyển dần nội dung hoạt động” Sự đổi mới mô hình hoạt động của HTXlàm dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ, cung ứng dịch vụ theo nhu cầu của kinh tế hộ và tựchịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Còn hộ nông dân thì đã là một đơn vị kinh tế tựchủ, tự chịu trách nhiệm sản xuất kinh doanh và được giao đất, cấp sổ đỏ và sử dụng lâudài Điều này như một bước đột phá lớn làm thay đổi cơ bản hình thức tổ chức sản xuấtnông nghiệp ở nước ta trong thời kỳ đổi mới

Hiện nay Vân Điềm mỗi khẩu/1 sào/ người, trung bình cả thôn có 180 mẫu, có xuhướng giảm so với trước đổi mới Trong 180 mẫu đó thì 150 mẫu/2 vụ và trên 30 mẫu/vụ.Trước đây có 4 vụ trong một năm nhưng hiện nay chỉ có 3 vụ, do số lượng đất canh tác

và trồng trọt giảm đi nhiều, không mang lại thu nhập lớn cho người dân cộng thêm donằm trong vùng trũng, đất thường xuyên bị ngập úng ảnh hưởng đến việc sản xuất củangười dân Đối với trồng lúa thì cũng giống như toàn vùng, Vân Điềm cấy vào hai vụtrong năm: vụ đông xuân và vụ hè thu Nhờ vào trình độ thâm canh và những cải tiến vềtưới tiêu nên năng suất cũng có xu hướng tăng, nhưng hiện nay người dân không cấynhiều, chủ yếu chỉ cấy để cung cấp lương thực hàng ngày

Cây rau và hoa màu: chủ yếu người dân ở đây trồng rau cũng để phục vụ đời sốnghàng ngày hoặc cũng có khi để buôn bán ở những khu chợ nhỏ thuộc các làng quanhvùng hay ngay tại làng của mình Nếu nói về trồng rau thì chủ yếu “tập trung ở các xã

Trang 37

như Nam Hồng, Tiên Dương, Nguyên Khê, Vân Nội, Cổ Loa vốn là các xã nằm trên cácbậc địa hình tương đối cao”7 Đối với Vân Điềm cũng như toàn thể dân Vân Hà do thuộcvùng trũng nên không trồng rau với quy mô lớn mà chỉ trồng ở đất chuyên dùng tại giađình Trước thời kỳ đổi mới thì ngô và đỗ tương được trồng nhiều nhưng sang đến giaiđoạn đổi mới thì cây lương thực thứ hai là ngô và cây công nghiệp là đỗ không đượctrồng nhiều Đất có khi để hoang từ vụ này sang vụ khác vì do nằm ở địa hình vàn thấp

và khu vực ngoài đê dễ bị ảnh hưởng của lũ lụt, ngập úng vào mùa mưa trong năm, ảnhhưởng nhiều đến năng suất và sản lượng cây trồng

Bảng 1 4 Kế hoạch chuyển đổi diện tích các loại cây trồng của xã Vân Hà đến năm

Tổng diện tích chuyển đổi

Chuyển sang rau

Chuyển sang cây

ăn quả

Chuyển sang hoa, cây cảnh

Chuyển đổi sang nuôi trồng hải sản

Nhìn vào bảng số liệu này ta có thể thấy, để phù hợp với tình hình phát triển hiệnnay thì việc chuyển đổi sang các loại cây trồng khác là một việc làm cần thiết Lúa là loạicây lương thực chính, cung cấp thực phẩm hàng ngày cho người dân nhưng cùng vớinhững yêu cầu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Đông Anh nói chung

và xã Vân Hà nói riêng nhằm nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt và hiệu quả sửdụng đất canh tác ngày càng bị thu hẹp nên UBND huyện Đông Anh đã ban hành quyếtđịnh số 333/2008/QĐ-UBND, ngày 31/3/2008 với định hướng giảm dần diện tích câylương thực và tăng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao (rau, hoa…) Sự chuyển dịch

7 Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh (2016), Địa chí Đông Anh, NXB Chính trị

Quốc gia sự thật, tr.664.

37

Trang 38

cơ cấu cây trồng này thì còn tùy thuộc vào điều kiện đất đai, nhu cầu tiêu dùng và kinhnghiệm sản xuất của từng vùng

Hiện nay do ảnh hưởng của thời tiết, diễn biến phức tạp đến vụ, phần nào cũngảnh hưởng đến gieo cấy của địa phương cộng với do tập quán canh tác của địa phươngvẫn còn theo lối cũ, gieo cấy thì muộn so với thời vụ của huyện cho nên sản xuất nôngnghiệp bị trì trệ Cuối vụ mưa nhiều ẩm thấp làm cho cây trồng phát triển chậm khôngthuận lợi, nhiều sâu bệnh làm ảnh hưởng tới thu hoạch của người dân Tuy nhiên, Đảng

và chính quyền quan tâm tới vấn đề này nên chỉ đạo bằng nhiều biện pháp tích cực như:hướng dẫn nội dung chăm sóc, theo dõi bảo vệ thực vật,… đảm bảo môi trường trongsạch không ảnh hưởng tới môi trường, làm tốt công tác dịch bệnh Cùng với sự tập trungchỉ đạo của cán bộ và nhân dân làng Vân Điềm, kết quả sản xuất nông nghiệp vụ Xuânnăm 2017 cây lúa vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất ước đạt khoảng 50 - 60tạ/ha Hoạt động các dự án trang trại, hệ chăn nuôi vẫn ổn định và phát triển tốt

Hình thức HTX dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân hàng năm, địaphương vẫn thường xuyên nạo vét kênh mương cho khu vực nội đồng, đảm bảo lấy đủnước phục vụ nhân dân trong những lúc nắng hạn, không để hạn hán cục bộ xảy ra; dịch

vụ giống cây trồng đáp ứng đủ

Nhưng hiện nay một điều đáng buồn xảy ra là diện tích ruộng bỏ hoang vẫn khônggiảm và có chiều hướng gia tăng Sản xuất nông nghiệp chưa được cao, chưa có mô hìnhđiển hình kinh tế, vì kinh phí đầu tư cho nông nghiệp còn hạn chế, chưa xứng tầm vớiphát triển kinh tế nông nghiệp ở những giai đoạn mới, việc tưới tiêu chưa được chú trọngdẫn đến nhiều thửa ruộng không cấy được cho nên dẫn đến diện tích bỏ hoang nhiều

1.2.2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ

1.2.2.1 Thủ công nghiệp

Trong những năm đầu đổi mới 1991 - 1992, các sản phẩm chủ yếu của ngành côngnghiệp Đông Anh gồm nhóm các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, xay xát, chế biếnlương thực; nhóm vật liệu xây dựng như cát, sỏi, gạch, đá, tôn, sắt,… nhóm cơ khí cósửa chữa cơ khí, công cụ cầm tay, máy tuốt lúa; nhóm tiểu thủ công nghiệp có sản phẩm

Trang 39

mây, tre đan, mỹ nghệ Các nhóm này vẫn tồn tại và phát triển theo hướng hiện đại, sảnxuất với quy mô lớn so với sản xuất đơn thuần thủ công trước đây “Khu vực các xã Liên

Hà, Vân Hà, Dục Tú,… là nơi tập trung các cơ sở tiểu thủ công nghiệp lớn nhất toànhuyện kể từ những năm 1990 cho đến nay Năm 2011, số cơ sở công nghiệp ở riêng các

xã này đã chiếm đến hơn 52% tổng số cơ sở toàn huyện Tuy nhiên, các khu vực này chủyếu tập trung cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ, chuyên sản xuất đồ gỗ (giường,

tủ, bàn ghế,…), đồ cơ khí gia công”8

Làng Vân Điềm sau thời gian đổi mới là làng phát triển mạnh nhất về tiểu thủ côngnghiệp sản xuất đồ gỗ nhưng hiện nay thì làng Cổ Châu, làng Thiết Úng mới là mạnhnhất trong vùng vì họ giáp với khu vực Bắc Ninh nên buôn bán trao đổi dễ hơn Nhưngkhông vì thế mà ở làng Vân Điềm không phát triển mạnh nghề này nữa Hiện nay, tạilàng có tới 90% số hộ làm TCN, 10% số hộ đi thoát ly hoặc đi làm thuê ở những nơikhác: ở các doanh nghiệp hoặc trong làng, hoặc cũng có khi thì đi làm ở Đông Kỵ (BắcNinh) nếu ở làng không bán được Ngoài ra còn một số thợ đi nhiều nơi đóng đồ chongười tiêu dùng, ai thuê thì họ làm Ở tại gia đình như một xưởng sản xuất, tập hợp concháu đục chạm, mọi người truyền nghề hết lòng theo tình cảm của gia đình Khác vớitrước kia chỉ có con trai được học nghề, giờ cả con gái và con dâu đều có nghề, nhiều côtrở thành thợ chạm rất khéo; người già, trẻ em đánh giấy giáp, thanh niên đàn ông làmngang, làm đục, phụ nữ đánh giấy giáp, gọt hàng (qua công đọan đục thô thì gọt) hoànthiện sản phẩm

Thợ chạm Vân Điềm đóng đồ trang trí nội thất và chạm đồ mỹ nghệ, do đó có thợngang đóng đồ tạo dáng và thợ chạm đục trang trí tạo hình nhưng phần đông là thợ songhoàn Sản phẩm Vân Điềm trang trí nội thất gồm các loại đồ gỗ truyền thống như sập gụ,

tủ chè, xa lông Tàu,… giờ thêm các mặt hàng như giá nương, cây đèn… và đồ chơi mỹnghệ là vô số tượng nhỏ có nhiều mẫu khác nhau Những mặt hàng thường gặp là Phật,

Di Lặc, La Hán, tiên nữ, ông lão, trâu, voi, ngựa, sư tử, hổ,… Gỗ làm trang trí nội thất và

đồ chơi mỹ nghệ phải là gỗ tốt nhưng không quá rắn Đồ nội thất bình thường dùng các

8 Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh (2016), Địa chí Đông Anh, Sđd, tr.679.

39

Trang 40

loại gỗ mỡ, dổi và de Đồ nội thất kiểu mới dùng gỗ lát, gỗ cẩm vân Mặt hàng kiểu cổphải dùng gỗ trắc, gỗ gụ và có thể cả gỗ đinh Gỗ trắc quý nhất, gỗ gụ cũng quý thườngkhông bị cong, xé, nứt và co ngót Chạm tượng nhỏ thường dùng gỗ mun, gỗ nu, gỗ sưa,

gỗ khi mua về xẻ bỏ bìa, còn lõi xẻ thành ván gọi là gỗ tấm để dùng dần Gỗ làm đồ mỹnghệ không cần nhiều nhưng đắt, phải chọn kỹ Một số câu tục ngữ mang tính nghềnghiệp “Thợ cao vô giá, thợ khá vô ngần”, bảo nhau cách đục: “dóng mốt rồi lại dóng ba,tay chuốt đỏng đảnh chớ mà dóng hai”, cách đẽo gọt “đời cha cho chí đời con, muốn vocho tròn trước phải đẽo vuông” và tận dụng phế thải “Mùn cưa rấm lửa, phoi bào thổicơm”…

Công đoạn làm đồ gỗ: Thứ nhất là xử lý gỗ nguyên liệu, gỗ được chọn kỹ lưỡng, loại

bỏ rác gỗ (đây là phần gỗ non, bên ngoài cây gỗ, rác này dễ mục và không đảm bảo chấtlượng khi làm sản phẩm) sau đó được luộc nhiều ngày để đảm bảo gỗ không bị congvênh do thời tiết nóng ẩm ở Việt Nam Thứ hai là pha gỗ, đây là công đoạn hết sức phứctạp Người thợ pha gỗ phải có kinh nghiệm, có óc tổng hợp, phân tích sản phẩm Côngđoạn này phân chia những cây gỗ lớn thành các thanh gỗ phù hợp với từng loại sản phẩmgiống như người đầu bếp sơ chế nguyên liệu Đây là khâu quan trọng để tiết kiệm nguyênliệu đầu vào do gỗ nguyên liệu là loại gỗ quý có giá thành rất cao, nguyên liệu đầu vàochiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Nếu không biết pha gỗ thì sản phẩm sẽ cóchỗ thừa chỗ thiếu, sản phẩm làm ra sẽ rất xấu không đảm bảo chất lượng Những thanh

gỗ dau khi được pha chế sẽ được những người thợ đục, thợ khảm sẽ đục và khảm lênnhững thanh gỗ đó những hoa văn họa tiết trang trí như: Long, Ly, Quy, Phượng, tùng,cúc, trúc, mai, phúc lộc thọ,… để tạo cho sản phẩm làm ra sau này có được những nétmềm mại, đẹp mắt Những thanh gỗ được đục mộng lắp ghép vào nhau được bào kỹ làmcho thanh gỗ phẳng, mịn và bóng lên để dựng thành sản phẩm Sau đó, sản phẩm đượcđánh giấy giáp 2 lượt (một lần đánh giấy giáp ướt, một lần đánh giấy giáo khô) Sau khicông đoạn này kết thúc thì sản phẩm cơ bản được hình thành gọi là đồ mộc Về kíchthước sản phẩm cao, rộng, dài là số lẻ, không được dùng là số chẵn

Ngày đăng: 21/08/2018, 13:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w