MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài:“ Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn, nước Nam còn” là câu nói nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh – người tiên phong trong việc quảng bá, bảo vệ chữ Quốc Ngữ. Với người xa xứ, mọi người thường nói rút ngắn lại thành: “ Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Truyền bá tiếng Việt là con đường cơ bản nhất để duy trì, phát triển và phát huy tinh thần Việt, văn hóa Việt đặc biệt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và thông qua đó quảng bá hình ảnh quốc gia Việt Nam. Tiếng Việt là sợi dây bền chắc nhất gắn bó những người Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với kiều bào trong nước.Người Việt Nam ở nước ngoài luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đường lối chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 36 – NQTW của Bộ Chính trị ngày 2632004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài: “ Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”. Đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 19 nhằm đẩy mạnh công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong cả hệ thống chính trị, nhận được sự quan tâm hơn của các cấp, các ngành với nhiều chương trình, kế hoạch và hoạt động thiết thực, trong đó có việc hỗ trợ đồng bào ở xa Tổ quốc duy trì được tiếng Việt – tiếng nói cội nguồn dân tộc.Tuy nhiên, nhiều năm qua trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhất là những người sinh ra và lớn lên ở nước ngoài đang đứng trước nguy cơ mai một ngôn ngữ của dân tộc. Những thế hệ con em thứ hai, thứ ba trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không nói được tiếng Việt, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thông tin đối ngoại cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vì không thông thạo tiếng Việt nên các thế hệ tương lai kiều bào ở nước ngoài không thể nắm bắt đầy đủ tình hình thông tin trong nước.Bên cạnh đó, sự bất cập về phương pháp tiếp cận, giáo trình hay những tổ chức, cá nhân muốn lợi dụng việc dạy và học tiếng Việt cho những mục tiêu không vì quyền lợi của cộng đồng, lợi ích của dân tộc, tạo ra một rào cản lớn trong việc gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đất nước.Nhận thấy việc tăng cường công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một việc làm quan trọng và cần thiết, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, xây dựng cầu nối tình cảm, sự gắn kết giữa người Việt Nam ở nước ngoài với người Việt Nam ở trong nước. Tiểu luận “ Công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay” được xây dựng nhằm nâng lên tầm quan trọng và những vấn đề về tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay. Từ đó, phân tích thực trạng dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thực tiễn triển khai việc dạy và học tiếng Việt cho kiều bào trên các phương tiện thông tin đại chúng: Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, báo mạng điện tử. Từ đó, đề xuất một vài phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn sắp tới, góp phần làm tăng tình đoàn kết hữu nghị giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN CÁC CHUYÊN ĐỀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
Đề tài
CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY 6
1.1 Đảng và Nhà nước đối với công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài 6
1.2 Công tác tiếng Việt và sự cần thiết phải hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 10
1.2.1 Khái niệm và nội dung công tác tiếng Việt: 10
1.2.2 Sự cần thiết phải hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 10
1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong công tác tiếng Việt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY 16
2.1 Vấn đề dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay 16
2.2 Tổng quan tình hình dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay 19
2.2.1 Các hoạt động dạy và học tiếng Việt: 19
2.2.2 Việc biên soạn tài liệu dạy và học tiếng Việt 20
2.2.3 Hình thức dạy học và đối tượng học tập: 22
2.3 Thực trạng triển khai dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại một số nước (Lào, Campuchia, Mỹ) 23
2.4 Một số phương tiện thông tin đại chúng dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 27
Trang 32.5 Những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại trong công tác dạy và
học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay: 29
2.5.1 Những kết quả đạt được 29
2.5.2 Những khó khăn còn tồn tại 30
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 31
3.1 Một số phương hướng: 31
3.2 Một số giải pháp 32
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 37
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
“ Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn Tiếng Việt còn, nước Nam còn” làcâu nói nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh – người tiên phong trong việcquảng bá, bảo vệ chữ Quốc Ngữ Với người xa xứ, mọi người thường nói rútngắn lại thành: “ Tiếng Việt còn, nước ta còn” Truyền bá tiếng Việt là conđường cơ bản nhất để duy trì, phát triển và phát huy tinh thần Việt, văn hóaViệt đặc biệt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và thông qua
đó quảng bá hình ảnh quốc gia Việt Nam Tiếng Việt là sợi dây bền chắc nhấtgắn bó những người Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài, giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với kiều bào trong nước
Người Việt Nam ở nước ngoài luôn chiếm một vị trí quan trọng trongđường lối chính sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước.Nghị quyết số 36 – NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 26/3/2004 về công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài: “ Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ
phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước” Đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 19
nhằm đẩy mạnh công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng và Nhànước ta đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong cả hệ thống chính trị,nhận được sự quan tâm hơn của các cấp, các ngành với nhiều chương trình, kếhoạch và hoạt động thiết thực, trong đó có việc hỗ trợ đồng bào ở xa Tổ quốcduy trì được tiếng Việt – tiếng nói cội nguồn dân tộc
Tuy nhiên, nhiều năm qua trong cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài nhất là những người sinh ra và lớn lên ở nước ngoài đang đứng trướcnguy cơ mai một ngôn ngữ của dân tộc Những thế hệ con em thứ hai, thứ batrong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không nói được tiếngViệt, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thông tin đối ngoại cho cộng
Trang 5đồng người Việt Nam ở nước ngoài vì không thông thạo tiếng Việt nên cácthế hệ tương lai kiều bào ở nước ngoài không thể nắm bắt đầy đủ tình hìnhthông tin trong nước.
Bên cạnh đó, sự bất cập về phương pháp tiếp cận, giáo trình hay những
tổ chức, cá nhân muốn lợi dụng việc dạy và học tiếng Việt cho những mụctiêu không vì quyền lợi của cộng đồng, lợi ích của dân tộc, tạo ra một rào cảnlớn trong việc gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quêhương, đất nước
Nhận thấy việc tăng cường công tác dạy và học tiếng Việt cho cộngđồng người Việt Nam ở nước ngoài là một việc làm quan trọng và cần thiết,trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, xây dựngcầu nối tình cảm, sự gắn kết giữa người Việt Nam ở nước ngoài với người
Việt Nam ở trong nước Tiểu luận “ Công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay” được xây dựng nhằm nâng lên
tầm quan trọng và những vấn đề về tiếng Việt trong cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài hiện nay Từ đó, phân tích thực trạng dạy và học tiếng Việtcho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thực tiễn triển khai việc dạy vàhọc tiếng Việt cho kiều bào trên các phương tiện thông tin đại chúng: Đàitruyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, báo mạng điện tử Từ đó, đềxuất một vài phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả củacông tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoàitrong giai đoạn sắp tới, góp phần làm tăng tình đoàn kết hữu nghị giữa cộngđồng các dân tộc Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Công tác thông tin đối ngoại cho cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài được đề cập, nhấn mạnh rất nhiều trong các chỉ thị, quyết định, đề áncủa Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ…nhưng cho đến nay, vẫn chưa cócông trình nào nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về công tác dạy và học tiếng Việtcho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các tài liệu mới chỉ dừng ở các
Trang 6bài viết, tham luận, các bài phát biểu của một số cán bộ chuyên trách, đại diệnlãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Xuất phát từ tình hình trên, tiểu luận “ Công tác dạy và học tiếng Việt
cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay” mong muốn đi sâu
khảo sát thực trạng của vấn đề này, phân tích những thành quả đạt được,những khó khăn và chỉ rõ nguyên nhân từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm, phương hướng giải quyết để nâng cao hiệu quả của công tác này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
*) Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của tiểu luận nhằm phân tích thực tiễn hoạt độngdạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thựctrạng triển khai dạy và học tiếng Việt cho kiều bào trên các phương tiện thôngtin đại chúng như: Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, báomạng điện tử… với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của côngtác quan trọng này
*) Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày khái quát tình hình công tác thông tin đối ngoại cho ngườiViệt Nam ở nước ngoài Nêu rõ sự cần thiết phải dạy học và duy trì tiếng Việttrong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay
Phân tích tình hình dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài cũng như nhu cầu dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng,
để làm rõ những thành quả đã đạt được và những khó khăn còn tồn tại, chỉ rõnguyên nhân
Phân tích, đánh giá thực tế triển khai, xây dựng chương trình, biên soạntài liệu dạy và học Tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoàitrên VTV4, VOV2 và VOV3, trên trang web Quê hương online
Đề xuất một số biện pháp, phương hướng nhằm tăng cường và nângcao hơn nữa hiệu quả của công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài hiện nay
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
*) Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài đặc biệt là các thế hệ thứ hai, thứ ba… trong cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài
*) Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu luận tập trung nghiên cứu hoạt động dạy và học tiếng Việt chocộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 2004, sau khi Chính phủ
triển khai đề án: “ Hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài”.
Đặc biệt tập trung phân tích những vấn đề trong thời gian gần đây nhất
là khi Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện nhiệm vụđược Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị số 19/2008/CT – TTg và Quyết
định số 102/2008/QĐ – TTg về việc xây dựng Đề án: “ Đẩy mạnh công tác
tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay đến năm 2020”.
Địa bàn nghiên cứu bao gồm tất cả những nơi có cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài sinh sống, tập trung chủ yếu tại các địa bàn: các nước lánggiềng (Lào, Campuchia); Mỹ ( khu vực có đông kiều bào nhất)
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu:
*) Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lốicủa Đảng và Nhà nước ta về công tác thông tin đối ngoại đối với người ViệtNam ở nước ngoài và công tác dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài
*) Cơ sở thực tiễn:
Nhu cầu học tiếng Việt và mong muốn giữ gìn bản sắc băn hóa, truyềnthống dân tộc của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cơ sở thực tiễncủa tiểu luận
Trang 8Bên cạnh đó, tiểu luận cũng dựa trên những chương trình và cácphương tiện dạy, học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoàinhư: Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Báo mạng điện tử.
*) Phương pháp nghiên cứu:
Một số phương pháp chính được dùng trong tiểu luận: phương phápkhảo sát, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu,phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp tổng kết thực tiễn…
6 Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm
co 3 chương và 10 tiết
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC
NGOÀI HIỆN NAY
1.1 Đảng và Nhà nước đối với công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài
*)Khái niệm thông tin đối ngoại:
Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng
và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu
rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong côngcuộc đổi mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giátrị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luậnđiệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thế giới;đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế,
sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc
*) Đối tượng của thông tin đối ngoại:
Đối tượng của thông tin đối ngoại gồm nhiều tầng lớp, giai cấp, thànhphần xã hội với trình độ nhận thức, hiểu biết và có mối quan tâm khác nhauđến Việt Nam Đó là nhân dân tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là cácnước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, các trung tâm kinh tế
- chính trị - xã hội lớn và các bạn bè truyền thống Về cơ bản, có thể chia đốitượng của hoạt động thông tin đối ngoại thành 4 nhóm lớn, trong đó có 3nhóm mang tính đặc thù:
Nhóm thứ nhất:nhân dân, chính phủ các nước trên thế giới
Nhóm thứ hai: người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập, du lịch ởViệt Nam
Nhóm thứ ba: cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Nhóm thứ tư: nhân dân trong nước
Trang 10*)Thông tin đối ngoại đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài:
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài gắn liền với lịch sử phát triểncủa đất nước trong suốt thế kỷ 20 cho tới nay và luôn có những đóng góp quýbáu vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc Năm 2011, kiều hối gửi về nướctăng trung bình 10 -15%/năm, đạt trên 9 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành mộttrong mười quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất, đóng góp quan trọng vào việc
ổn định cán cân thanh toán và kinh tế của đất nước Chính vì lẽ đó, cộng đồngNVNONN có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết dântộc của Đảng ta Ngày nay, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoàitiếp tục được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, và là một trọng tâm côngtác của ngành ngoại giao
Quán triệt tinh thần đại đoàn kết dân tộc và thể hiện sự quan tâm, chăm
lo đến công tác này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 36 năm 2004 khẳng
định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, trong đó nêu rõ “người
Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”, đồng thời chỉ rõ
“công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ
hệ thống chính trị và của toàn dân”
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cũng xác định “Đồng bào định cư ở
nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; Nhà nước ban hành các cơ chế, chính sách để hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào
ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc” nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Một vấn đề đặt ra là đồng bào ở xa Tổ quốc, không có điều kiện thườngxuyên về thăm quê hương thường khó nắm bắt tình hình ở quê nhà Những tintức về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa trong nước rất khó đến được với
Trang 11bà con Do đó, việc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không hiểu rõhoặc hiểu sai về tình hình đất nước là khó tránh khỏi Để giải quyết vấn đềnày, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp khắc phục khó khăn, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh vao trò, tầm quan trọng của công tác thông tin đốingoại đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Thông tin đối ngoại đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một bộphận rất quan trọng trong công tác thông tin đối ngoại, có nhiệm vụ chuyểntải những sự kiện, sinh hoạt trên các mặt của đời sống xã hội đưa hình ảnh củađất nước đổi mới đến với bạn bè quốc tế trong đó có bộ phận người Việt Nam
ở nước ngoài đang hướng về Tổ quốc, cũng như giới thiệu những tình cảm,quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam Nộidung thông tin đối ngoại cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài baogồm những điểm sau:
+ Thông tin về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
do đường lối đổi mới mang lại
+Thông tin về những thành tựu của chính sách đại đoàn kết toàn dântộc, tự do tôn giáo, dân chủ, quyền con người
+ Thông tin về các vấn đề lớn đang diễn ra trong từng thời kỳ như cácthông tin về văn hóa – xã hội, đời sống sinh hoạt trong nước; thông tin về chủquyền lãnh thổ trên đất liền, trên biển; về công tác xây dựng Đảng, chốngquan liêu, tham nhũng, lãng phí
+ Thông tin trực tiếp về những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhànước đối với người Việt Nam ở nước ngoài; những quan tâm, mong muốn củacộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với Tổ quốc
Để thực hiện được nội dung này, công tác thông tin đối ngoại đượctriển khai trên nhiều lĩnh vực, với nhiều nghị quyết, biện pháp như:
+Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (khóa VII) với Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 29/11/1993 về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, xác
Trang 12định những quan điểm đúng đắn cùng các chính sách và biện pháp lớn trongcông tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
+ Nghị quyết 36 – NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ chính trị, công tácđối với người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới, toàn bộ hệ thốngchính trị từ trung ương đến địa phương được huy động nhằm triển khai thựchiện công tác này trên cả ba lĩnh vực: thông tin tuyên truyền, hoạch địnhchính sách và vận động cộng đồng
+ Nhiều chính sách được ban hành như: miễn thị thực xuất nhập cảnhViệt Nam cho kiều bào; sửa đổi các đạo luật về Quốc tịch, Đất đai, Nhà ở; cácquy định về cư trú, hồi hương về đầu tư, kinh doanh, hợp tác trong nước…
+ Công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vớinhiều hình thức và nội dung phong phú: chương trình “ Xuân quê hương” vàoTết nguyên đán hàng năm, tổ chức cho kiều bào tiêu biểu về dự Quốc lễ giỗ
Tổ Hùng Vương, Quốc khánh 2/9, các hoạt động “ đền ơn đáp nghĩa”…
Hình: Đêm hội Xuân quê hương năm 2014
+ Vận động thế hệ trẻ kiều bào được xác định là một nhiệm vụ quantrọng Công tác dạy tiếng Việt cho các thế hệ kiều bào thứ hai, thứ ba…luônđược quan tâm Đề án “Hỗ trợ dạy và học tiếng Việt đối với người Việt Nam
ở nước ngoài từ nay đến 2020” và sự triển khai trên một số địa bàn…
Trang 131.2 Công tác tiếng Việt và sự cần thiết phải hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
1.2.1 Khái niệm và nội dung công tác tiếng Việt:
“Công tác tiếng Việt” là một khái niệm mới, được đề cập lần đầu tiên
trong đề án: “ Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước
ngoài từ nay đến năm 2020” của Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước
ngoài năm 2008
Công tác tiếng Việt được xác định với mục tiêu là để đồng bào ở nước
ngoài duy trì, sử dụng được tiếng Việt về cả nghe, nói, đọc, viết góp phần gìngiữ bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, tinh thần đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhautrong cộng đồng, xây dựng cộng đồng ổn định, phát triển thành đạt ở nước sởtại và luôn hướng về quê hương
Nhìn chung, công tác tiếng Việt được xác định với ba nội dung chính:Thứ nhất là xây dựng, củng cố và phát triển các phong trào truyền bá,duy trì tiếng Việt trong cộng đồng
Thứ hai là xây dựng, củng cố, phát triển các tổ chức về tiếng Việt trongcộng đồng nhằm mục tiêu phổ biến tiếng Việt và các mục tiêu khác của côngtác cộng đồng
Thứ ba là đổi mới, đẩy mạnh các nội dung, loại hình hoạt động liênquan đến dạy và học tiếng Việt, tạo môi trường thuận lợi cho việc học tập và
sử dụng tiếng Việt, tạo không gian văn hóa tiếng Việt Góp phần giúp bà concũng như người dân sở tại hiểu rõ hơn về đất nước, con người Việt Nam
1.2.2 Sự cần thiết phải hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
*) Tiếng Việt là công cụ hữu hiệu để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam:
Sắc là thể hiện ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức
là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc
Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
Trang 14mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định: nền văn
hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Nghị quyết “Xây dựng và phát riển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc” mà Hội nghị trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nayvẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và pháttriển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huytrong thời kỳ mới Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục pháttriển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làmcho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triểntoàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn,dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộđời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinhquan trọng của phát triển”
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nơi đất khách quê người,sinh hoạt trong những môi trường khác nhau Sở dĩ kiều bào ta vẫn trụ vững
và ngày càng ổn định, phát triển là nhờ có sự đoàn kết gắn bó trong cộngđồng và gắn bó với quê hương, Tổ quốc Sợi dây đoàn kết gắn bó ấy chính lànhững giá trị văn hóa Việt Nam cao đẹp được biểu hiện trong niềm tự hào vềtruyền thống lịch sử, phong tục, tập quán, nếp sống…Những giá trị văn hóa
ấy được hình thành và thấm sâu vào mỗi con người Việt Nam bằng nhiều con
Trang 15đường trong một thời gian dài mà công cụ hữu hiệu nhất trong việc truyền đạt
và giáo dục về văn hóa là tiếng Việt
Dân tộc và ngôn ngữ dân tộc là hai mặt gắn bó mật thiết với nhautrong tiến trình lịch sử của dân tộc Trong đó, ngôn ngữ vừa là cái thể hiện rõnét nhất đặc trưng của dân tộc lại vừa là cái phản ánh, bảo tồn nền văn hóadân tộc Ngôn ngữ cũng đồng thời là phương tiện hợp nhất, đoàn kết dân tộc,củng cố và góp phần phát triển xã hội
Tiếng Việt được hình thành và phát triển song song với sự hìnhthành và phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam Đến nay, tiếng Việt đã trởthành một ngôn ngữ giàu đẹp, phong phú và độc đáo
Ngôn ngữ bao gồm hai chức năng chính là chức năng làm công cụ
tư duy và chức năng là phương tiện giao tiếp Vì vậy, muốn đào tạo thế hệ trẻtrở thành những công dân Việt Nam với tư cách là những chủ thể của sự pháttriển kinh tế - xã hội, không thể không quan tâm tới việc giáo dục tiếng Việt.Thông qua tiếng Việt, mỗi người Việt Nam mới thực sự tiếp nhận được cáctinh hoa, giá trị, bản sắc riêng biệt, độc đáo của nền văn hóa Việt Nam, từ đólàm tăng thêm sự gắn bó của mỗi con người Việt Nam đối với quê hương, đấtnước
*) Tiếng Việt là cầu nối để gắn kết kiều bào với quê hương đất nước.
Việc dạy và học tiếng Việt không chỉ nhằm giữ gìn, phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, mà còn xây dựng ý thức hướng về cội nguồn, đoàn kết vớiđồng bào trong nước tạo thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Hiện nay, kiềubào ở nước ngoài ngày càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của công tác duy trìtiếng Việt đối với sự tồn tại, phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài với tư cách là một cộng đồng có bản sắc văn hóa riêng trong lòng nước
sở tại
Bên cạnh đó, việc duy trì và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việttrong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giúp đồng bào có điều kiệnnắm bắt tốt hơn thông tin trong nước, cập nhật tình hình mọi mặt về đời sống,
Trang 16chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước, hiểu rõ hơn sự quan tâm, đườnglối chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung và với kiều bào nói riêngthông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, ấn phẩm từ trongnước, góp phần truyền bá có hiệu quả công tác thông tin đối ngoại ở nướcngoài.
Việc giữ gìn tiếng Việt giúp cho kiều bào thêm yêu quê hương đấtnước, từ đó góp phần trực tiếp vào việc xây dựng, củng cố và phát triển cộngđồng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của những người Việt Nam sống
xa quê hương, duy trì sự liên kết thiêng liêng của đồng bào với cội nguồn dântộc và sự gắn bó với nhân dân trong nước
1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong công tác tiếng Việt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Theo tinh thần đổi mới, Đảng và Nhà nước ta xác định rõ công tác đốivới người Việt Nam ở nước ngoài là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị.Ngày 26/3/2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36 – NQ/TW vềcông tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đánh dấu một giai đoạn mớitrong nhận thức và thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng vàNhà nước ta Ngay sau đó, Chính phủ đã ban hành chương trình hành độngcủa Chính phủ nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đây được coi là các vănbản quan trọng nhất về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, trong
đó có vấn đề về tiếng Việt ( Nhiệm vụ 5 của Nghị quyết và Nhiệm vụ 7 củachương trình hành động)
Nhiệm vụ 5 của Nghị quyết 36: “ Tích cực đầu tư cho chương trình dạy
và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể giúp bà con học tiếng Việt Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh thiếu niên người Việt Nam
ở nước ngoài”.
Trang 17Nhiệm vụ 7 – Về việc dạy và học tiếng Việt cho thế hệ trẻ người Việt
Nam ở nước ngoài trong chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nướcngoài đã chỉ rõ:
“Thực hiện Quyết định số 281/QĐ – TTG ngày 22 tháng 3 năm 2004
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Hỗ trợ Việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài Trong quý III năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Ban Điều hành Đề án với sự tham gia của đại diện các Bộ: Tài chính, Ngoại giao, Văn hóa – Thông tin,Văn phòng Chính phủ, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và các cơ quan liên quan khác để triển khai Đề án trong năm 2004, 2005 và các năm tiếp theo, bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
- Điều tra, khảo sát nhu cầu dạy và học tiếng Việt của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
- Xây dựng chương trình, biên soạn, phát hành tài liệu dạy và học tiếng Việt phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn việc dạy và học tiếng Việt theo phương thức từ xa qua truyền hình, đài phát thanh, mạng Internet, đĩa từ.
- Tổ chức việc bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Việt cho người Việt Nam
ở nước ngoài.
- Hỗ trợ việc dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài tại các trung tâm, nhà văn hóa, các trường của Hội người Việt Nam hoặc các cơ sở giáo dục khác ở nước ngoài tổ chức dạy và học tiếng Việt”.
Bên cạnh đó, Tạp chí điện tử Quê hương Online của Ủy ban Nhà nước
về người Việt Nam ở nước ngoài đã mở trang học tiếng Việt Ủy ban đã thựchiện nhiều dự án hỗ trợ xây dựng trường, lớp cho cộng đồng tại nhiều nước,
hỗ trợ gửi sách giáo khoa, giáo trình tiếng Việt trong cộng đồng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam cùng nhiều
cơ quant rung ương và địa phương cũng đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm hỗ
Trang 18trợ bà con trong công tác dạy và học tiếng Việt: cử giáo viên, hỗ trợ xâytrường lớp, cung cấp trang thiết bị, sách giáo khoa và đồ dùng học tập…
Từ năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa chương trình dạy tiếng Việttrực tuyến cho người Việt Nam ở nước ngoài theo hai bộ sách giáo khoa “
Quê Việt” dành cho người lớn và “ Tiếng Việt vui” dành cho trẻ em và thanh
niên trên website www.tiengvietonline.com.vn Đây là Chương trình dạytiếng Việt trực tuyến, thuộc Đề án “ Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt chongười Việt Nam ở nước ngoài” do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì Mục đíchcủa chương trình này nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi để người Việt Namđang sống ở nước ngoài có thể tự học tiếng Việt
Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình trong giai đoạn mới, ngày6/6/2008, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 19/2008/CT – Ttg về việc tiếptục tăng cường triển khai thực hiện Chương trình Hành động của Chính phủ
về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài Riêng về vấn đề tiếng Việt chokiều bào, Chỉ thị yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị quán triệt sâu sắc chủ
trương “ tích cực đáp ứng các nhu cầu về thông tin, dạy và học tiếng Việt” và
“ Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục
và Đào tạo, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đẩy mạnh triển khai việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, với các bước đi
cụ thể và thiết thực”.
Thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng giao, Ủy ban đã xây dựng Đề án
“Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay
đến năm 2020” nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết và ngày càng lớn của đồng
bào người Việt Nam ở nước ngoài
Đến nay, Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm và Ủyban đang xây dựng kế hoạch phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan để
có thể triển khai tại Lào, Campuchia, Nga, Séc, Mỹ và Canada trong giai đoạn
2009 – 2020
Trang 19CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC DẠY VÀ
HỌC TIẾNG VIỆT CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở
NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY
2.1 Vấn đề dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài hiện nay
Việt Nam có hơn 4, 5 triệu kiều bào đang sinh sống và làm việc ở trên
103 quốc gia và vùng lãnh thổ (2012 – Báo cáo của Ủy ban của Nhà nước vềngười Việt Nam ở nước ngoài), trong số đó tập trung ở các quốc gia đangphát triển Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế rằng những thế hệ thứ hai, thứ
ba, thứ tư sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không biết tiếng Việt hoặc không có
sự quan tâm tới ngôn ngữ mẹ đẻ Xu hướng này đang có chiều hướng ngàymột gia tăng, tạo ra nguy cơ tiềm tàng về việc ngôn ngữ dân tộc dần bị maimột trong cộng đồng Việt ở nước ngoài
Vấn đề đặt ra với bà con Việt Nam sống xa Tổ quốc là làm sao để giữgìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thế hệ cộng đồng kiều bào trẻ,làm sao để thế hệ này có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ tiếng Việt Bởi vìgìn giữ được tiếng Việt, bà con kiều bào mới có thể nắm bắt được thông tin vềtình hình mọi mặt của đất nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước để từ đó hiểu đúng các chủ trương của Chính phủ, không bị các thế lựcphản động lợi dụng để chống phá Nhà nước, từ đó nâng cao trách nhiệm vàtình cảm đối với Tổ quốc, đối với người dân trong nước
Văn hóa của loài người có được là do nhiều yếu tố, trong đó yếu tốtiếng nói là quan trọng nhất Thông qua tiếng nói, mỗi dân tộc đều thể hiệnbản sắc văn hóa riêng của mình Khoa học đã chứng minh rằng, bên cạnhnhững nét tương đồng, phương thức giao cảm của người châu Âu, châu Á,châu Mỹ, châu Phi có những khác biệt Ngoài tiếng mẹ đẻ, người Việt chúng
ta không thể diễn đạt hết tình cảm của mình qua bất cứ một thứ ngôn ngữ nàokhác Nếu như người con chỉ có thể giao tiếp với cha hoặc mẹ đẻ của mình là
Trang 20người Việt bằng tiếng nước ngoài, thì có nghĩa là tình cha con hoặc mẹ con cóthể đã bị “Tây hóa”.
Một phụ huynh đã tâm sự: “Trước kia, con bập bẹ “Con yêu bố, mẹ”bằng tiếng bản địa, tôi đã cảm thấy sung sướng Còn giờ đây, khi nghe connói bằng tiếng Việt: “Con yêu bố lắm!”, tuy không sõi, nhưng từ đáy lòngmình cảm thấy thiêng liêng, thân thương vô cùng, nước mắt cứ trào ra” Điềutâm sự của bậc phụ huynh trên đây đã phản ánh đúng phần nào việc dạy và sửdụng tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Do phải bươntrải mưu sinh cuộc sống, không ít gia đình phó thác việc nuôi dạy con cái chonhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc thuê người địa phương chăm sóc Từ bé, các em đãkhông được tiếp xúc với môi trường tiếng Việt nên chỉ có thể nói bập bẹ đôi
ba câu, còn khẩu ngữ thì chủ yếu theo tiếng địa phương
Thực tế đáng lo ngại là có tới 1/3 trong số các em ở lứa tuổi từ 6-15hoàn toàn không biết tiếng Việt, chủ yếu là con em “lai”, con em các gia đình
có hoàn cảnh khó khăn, hoặc gia đình khá giả, nhưng vì mải làm ăn, con cáiphó mặc cho người nước ngoài trông nom, nên các em hoàn toàn bị “Tâyhóa”
Tình trạng rất đáng báo động là thế hệ này, thậm chí mất hẳn “nhu cầu”tiếng Việt trong cuộc sống hàng ngày Cuộc sống hiện đại vốn đã tạo ra mộtkhoảng trống lớn trong tình cảm giữa chúng ta với lớp trẻ, nếu giữa các thế hệlại có thêm sự bất đồng về ngôn ngữ, thì nỗi trống trải sẽ tăng lên gấp bội.Bên cạnh thực trạng đáng lo ngại này, cũng có không ít các em sống trong giađình có nếp sống văn hóa, được bố mẹ cho về thăm quê hương, có dịp giaolưu, tiếp xúc, nên tiếng Việt được nâng cao rõ rệt Có trường hợp, các em sinh
ra và lớn lên trong một đại gia đình “Tây” chỉ có một nhân tố “Á”, chưa mộtlần được về thăm quê, mà nói tiếng Việt sõi như trẻ em ở Việt Nam vậy.Cũng có những em thuần túy “Tây” cũng tích cực học tiếng Việt và đạt kếtquả tốt Tiếc rằng, đó chỉ là những trường hợp cá biệt