1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các tác phẩm văn học theo chủ đề thế giới thực vật

60 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 669,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ MGB từ đầu TK XX đến nay trong một số tài liệu tiêu biểu sau: 2.1 Nghiên cứu về việc phát triển vốn từ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====0o0=====

NGUYỄN HUYỀN TRANG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ THÔNG QUA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO CHỦ ĐỀ THẾ GIỚI THỰC VẬT

Chuyên nga ̀nh: Văn học dân gian

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN HUYỀN TRANG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ THÔNG QUA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO

CHỦ ĐỀ THẾ GIỚI THỰC VẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học GVC ThS PHAN THỊ THẠCH

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tôt nghiệp

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – GVC,ThS

Phan Thị Thạch- người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình

học tập nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em kính mong nhận được sự đóng gớp ý kiến của các hầy cô và các bạn để khoa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Huyền Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Bên cạnh đó, tôi được sự quan tâm của các thầy cô khoa

Giáo dục Mầm non, đặc biết là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo -Th.S Phan

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Huyền Trang

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Mục đich nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 6

1.1.2 Cơ sở tâm lý 16

1.1.3 Cơ sở giáo dục học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 BIỆN PHÁP CHO TRẺ MGB LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÚP TRẺ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ 25

2.1 Một số biện pháp giúp trẻ làm giàu vốn từ về mặt số lượng thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học 25

2.1.1 Dùng lời đọc mẫu, kể mẫu để trẻ nhỏ có phương tiện ngôn ngữ trong tác phẩm 25

2.1.2 Hướng dẫn trẻ thực hành đọc thuộc thơ, kể lại truyện 27

2.2 Một số biện pháp giúp trẻ hiểu nghĩa của từ trong tác phẩm văn học 30

Trang 7

2.2.1 Kết hợp biện pháp dạy học trực quan với biện pháp đàm thoại để

giúp trẻ MGB hiểu được nghĩa của từ trong các TPVH viết về TGTV 30

2.2.2 Biện pháp cho trẻ MGB tham gia đóng kịch theo nội dung câu chuyện đã được học về chủ đề TGTV nhằm giúp trẻ hiểu nghĩa của từ trong TPVH 32

2.3 Một số biện pháp giúp trẻ cân đối từ loại trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học theo chủ đề TGTV 35

2.3.1 Sử dụng một số trò chơi học tập để giúp trẻ MGB cân đồi từ loại trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học theo chủ đề TGTV 35

2.3.2 Sử dụng đồ chơi để giứp trẻ MGB cân đôi từ loại trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học theo chủ đề TGTV 38

Chương 3 GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 40

KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Ngôn ngữ là một trong những phương tiện giúp trẻ bày tỏ nội dung thông báo, bày tỏ tình cảm nguyện vọng đối với những người xung quanh

Nhà sư phạm Nga Chikhieva E.L nói rằng “Ngôn ngữ là công cụ của tư

duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hóa của dân tộc” Nhờ có ngôn ngữ trẻ phân biệt được cái tốt cái xấu, cái đúng cái sai

Từ đó có trẻ hành vi đúng, có đời sống trong sáng, lành mạnh

Nhà giáo dục Usinxki k D đã từng nói “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự

phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” Nhận thức được vai trò của ngôn ngữ

nói chung và từ nói riêng với nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho trẻ em, chúng tôi cho rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGB là rất cần thiết Trong nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGB, phát triển vốn từ là mội nội dung quan trọng Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non nghĩa là giúp trẻ mầm non có thêm nhiều từ mới về các sự vật, hiện tượng liên quan đến trẻ trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt giúp trẻ tích cực hóa vốn từ trong hoạt động giao tiếp và

tư duy

Hiện nay, Chương trình Giáo dục Mầm non đã được cấu trúc thành các nội dung nhằm phát triển toàn diện cho trẻ trẻ tất cả các lĩnh vực trong đó có nội dung cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học theo chủ đề Thế giới Thực vật

Từ nhận thức về dự thảo Chương trình Giáo dục Mầm non theo chương trình mới và dựa vào nhận thức thực tiễn của việc Giáo dục trẻ ở trường Mầm

non, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ Mẫu giáo bé

thông qua các tác phẩm văn học theo chủ đề Thế giới Thực vật”

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Có thể tổng thuật tình hình nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ MGB

từ đầu TK XX đến nay trong một số tài liệu tiêu biểu sau:

2.1 Nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo từ góc nhìn của các nhà khoa học

Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo” (NXB

ĐHSP 2004) tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã tìm hiểu khái quát sự phát triển

ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo Trên cơ sở đánh giá chung về đặc điểm sinh lý của trẻ lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra được một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ Đồng thời, ông cũng đưa ra cách sửa lỗi phát âm và một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ Mẫu giáo Tuy vậy trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Xuân Khoa chưa dành sự quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

bé thông qua các tác phẩm văn học theo chủ đề thế giới thực vật

Trong giáo trình “Phương pháp phát triển cho trẻ Mẫu giáo” (NXB

ĐHQGHN 2005), các tác giảHoàng Thị Oanh, Phạm ThịViệt, Nguyễn

Kim Đức đã nêu lên tầm quan trọng của việc giáo dục toàn diện cho trẻ và

trình bày sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ cho trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ Mầm non” (NXB ĐHSP

2012 ) của Đinh Hông Thái đã trình bày 3 vấn đề chính:

- Những vấn đề chung

- Dạy nói cho trẻ ba năm đầu

- Dạy nói cho trẻ tuổi Mẫu giáo

Phần thứ 3 của giáo trình gồm 5 chương trong đó với 16 trang sách của

chương III, tác giả đã nêu ra những vấn đề chung nhất của việc ” Dạy trẻ phát

triển vốn từ”

Trang 10

2.2 Nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo từ góc nhìn của sinh viên khoa GDMN trường ĐHSPHN2

Trong những năm gần đây, một số sinh viên khoa GDMN trường ĐHSPHN2 đã dành sự quan tâm nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ

MG Có thể kể ra đây một số sinh viên tiêu biểu và khóa luận của họ

- Nguyễn Thị Huệ (2016) đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài

“Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục

tìm hiểu về thế giới thực vật” Trong khóa luận này, tác giả đi khảo sát về thực

trạng phát triển vốn từ của trẻ MGN ở trường MN và đề ra các biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về thế giới thực vật

- Nguyễn Thị Thảo (2016) đã dành sự quan tâm của mình để tìm hiểu

đề tài “Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua hoạt động cho trẻ làm

quen với môi trường xung quanh” Trong khóa luân này, Nguyễn Thị Thảo

dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học để chỉ ra các biện pháp tổ chức hoạt động cho trẻ mầm non làm quen với môi trường xung quanh nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

- Hoàng Phương Thanh (2016) đi sâu tìm hiểu “Mở rộng vốn từ cho

trẻ Mẫu giáo lớn qua tập thơ Góc sân và Khoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa”

- Khuất Thị Thanh Kim (2017) lại tập trung vào việc: “Thiết kế một số

trò chơihọc tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”

- Hoàng Thị Tuyết (2017) đã tìm cho mình một hướng phát triển vốn từ

cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua đề tài khóa luận:”Vận dụng khái niệm trường

nghĩa để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn”

Thông qua việc tổng thuật tình hình nghiên cứu về việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, chúng ta thấy đây là một vấn đề không mới vì đã có nhiều

Trang 11

người tìm hiểu Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào trùng lặp với đề tài nghiên cứu của chúng tôi

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận của chúng tôi là:

- Các biện pháp giáo dục cần vận dụng để phát triển vốn từ cho trẻ MGB thông qua hoạt động giúp trẻ làm quen với tác phẩm văn học theo chủ

đề thế giới thực vật

4 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này, trước hết giúp tác giả khóa luận nắm chắc

lí luận của phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGB, đồng thời xác định được những nội dung, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGB thông qua hoạt động giúp trẻ làm quen với các tác phẩm văn học theo chủ đề TGTV Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn góp phần cung cấp một tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa GDMN và những người quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ MGB

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đich nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi xác định thực hiện những nhiệm vụ sau:

5.1 Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

5.2 Đề xuất biện pháp tổ chứ hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học theo định hướng phát triển vốn từ cho trẻ MGB

5.3 Thiết kế giáo án thể nghiệm kết quả nghiên cứu

6 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu chúng tôi tập trung tìm hiểu về các biện pháp giúp trẻ MGB làm quen với các tác phẩm văn học nhằm giúp trẻ phát triển vốn từ về TGTV

Trang 12

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê

Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thu thập những tác phẩm văn học có liên quan đến chủ đề về TGTV trong chương trình giáo dục trẻ MGB

- Phương pháp phân tích

Đây là phương pháp được chúng tôi vận dụng để đi sâu tìm hiểu cách thức vận dụng các biện pháp giúp trẻ phát triển vốn từ thông qua hoạt động cho trẻ MGB làm quen với những tác phẩm văn học chủ đề về TGTV

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm các chương sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 Biện pháp cho trẻ MGB làm quen với tác phẩm văn học theo định hướng giúp trẻ phát triển vốn từ

Chương 3 Giáo án thể nghiệm

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Đỗ Hữu Châu”Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất

biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.”

• Đặc điểm của từ tiếng Việt

Từ tiếng Việt có một số đặc điểm sau:

+ Từ là đơn vị được cấu tạo bởi hai mặt: ngữ âm (chữ viết) và ý nghĩa + Về tính chất, các từ trong hệ thống từ vựng tiếng việt mang tính sẵn có, tính cố định và bền vững

+ Từ được xem là đơn vị thực thi, nhiễn nhiên của ngôn ngữ

+ Về chức năng, từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên câu

(Đỗ Hữu Châu, 1999, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, tr8)

• Sự phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo

Dựa vào đặc điểm, cấu tạo các nhà khoa học phân chia từ tiếng việt thành từ đơn và từ phức

- Từ đơn: là những từ thường được cấu tạo bằng một hình vị Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung.Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ.Kiểu cấu

Trang 14

tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ

+ Từ đơn có hai loại:

Từ đơn đơn âm tiết: là những từ được cấu tạo từ một âm tiết

VD: nhà, cửa, đi, đứng, tốt, xấu,…

Từ đơn đa âm tiết: Là những từ được cấu tạo từ hai âm tiết trở lên nhưng các âm tiết gắn với nhau ngẫu nhiên và chúng không hình thành kiểu từ mang tính hệ thống

VD: chuồn chuồn, châu chấu,…

- Từ phức

Dựa vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ phức thành từ láy và từ ghép + Từ láy

Đó là một kiểu của từ phức được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ

âm (phương thức láy) toàn bộ hoặc một bộ phận của tiếng gốc có nghĩa

Dựa vào phạm vi tiếng gốc được láy lại trong cấu tạo từ, người ta chia từ láy thành từ láy âm đầu (rì rào, thấp thoáng,…), từ láy vần (lao xao, chăm bẵm,…), từ láy âm và vần (xinh xinh, loang loáng,…)

Dựa vào số lượng âm tiết được láy lại trong cấu tạo từ, người ta chia từ láy thành:

Từ láy đôi (bập bênh, nhỏ nhắn, )

từ ghép chính phụ)

Từ ghép đẳng lập (còn gọi là từ ghép tổng hợp, từ ghép hợp nghĩa) Đó

là những từ được cấu tạo theo phương thức ghép hai tiếng có nghĩa theo quan

Trang 15

hệ đẳng lập Kết quả tạo ra một kiểu từ ghép có nghĩa khái quát hơn ý nghĩa của các tiếng cấu tạo từ

VD; nhà cửa, trâu bò, đi đững, tốt tươi,…

Từ ghép chính phụ (còn gọi là từ ghép phân nghĩa, từ ghép phân loại)

Đó là những từ được cấu tạo theo phương thức ghép từ hai tiếng có nghĩa trở lên theo quan hệ chính phụ, trong đó có một tiếng đóng vai trò là chính, những tiếng còn lại là phụ.Kết quả tạo ra những từ ghép có ý nghĩa cụ thể hơn, hẹp hơn ý nghĩa của tiếng là thành tố chính trong cấu tạo từ

Trong cuốn “Từ ngữ nghĩa Tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã khẳng

định:”Từ hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể

hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa của chúng.”(tr,127)

Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng môi trường

Trang 16

gọi là trường nghĩa.Trường nghĩa là kết quả của sự phản ánh khái quát mà mức độ cao nhất là giúp xác lập từ loại

• Các loại trường nghĩa

- Trường nghĩa biểu vật:

Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật.Nói cách khác, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ý nghĩa biểu vật

- Trường nghĩa biểu niệm:

Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có cùng cấu trúc biểu niệm Cũng như các trường nghĩa biểu vật khác, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ, các nhóm nhỏ, các miền với mật độ khác nhau dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ

VD: Một trường nghĩa biểu niệm được phân ra thành các miền:

- Miền chỉ người đội, đoàn, lớp, tổ, nhóm,…

- Miền chỉ động vật bẫy, đàn lũ,…

- Miền chỉ thực vật nhóm, khóm, cụm, mớ,…

Cơ sở để lập trường nghĩa biểu niệm là ý nghĩa biểu niệm chứ không phải là từ.Vì thế, có nhiều từ có thể nằm ở các trường nghĩa khác nhau.Ngược lại, có những từ nằm ở ít trường.Thông thường, những từ có nhiều nghĩa biểu niệm thì có thể đi sâu vào nhiều trường.Ngược lại, những từ ít nghĩa biểu niệm thì sẽ đi vào ít trường

Chính do hiện tượng một từ đi vào nhiều trường biểu niệm khác nhau nên từ ngữ trong các trường này có hiện tượng thẩm thấu và giao thoa nhau

- Trường nghĩa biểu tuyến tính (trường nghĩa ngang)

Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.(tr 185)

Trang 17

VD Trường nghĩa tuyến tính của từ đi là: nhanh, chậm, tập tễnh,… ra, vào, lên, xuống,…chợ, làm, học, buôn, giày,…

- Trường liên tưởng

Trường liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng trong tâm lí được một từ gợi ra

VD Trường liên tưởng của từ”xanh” bao gồm các đơn vị từ vựng: lá cây, bầu trời, quần áo,…

1.1.1.2 Từ loại của tiếng Việt

Danh từ được chia thành hai loại: Danh từ chung và danh từ riêng

Theo Nguyễn Hữu Quỳnh, “danh từ chung là những từ có ý nghĩa biểu thị tên của một loại sự vật chứ không phải của từng sự vật riêng biệt” (Ngữ pháp tiếng việt hiện đại, NXB GD, 1980, tr, 57)

Trang 18

Động từ được chia thành hai loại: động từ ngoại động và động từ nội động Động từ ngoại động (còn gọi là động từ ngoại hướng)

Theo Hữu Quỳnh, đó là những động từ “thường đòi hỏi phải kết hợp với những từ khác sau nó để biểu thị hành động chuyển tới đối tượng, các từ kết hợp sau đó là thành tố phụ của động từ”(sđd, tr 68)

VD: đọc sách, xây nhà, xem phim,…

Động từ nội động (còn gọi là nội động từ, động từ nội hướng)

Hữu Quỳnh cho rằng:”Động từ nội hướng không cần sử dụng kết hợp với thành tố phụ sau nó cũng có thể biểu thị hoặt động hoặc trạng thái” (sđd,

- Tính từ chỉ đặc điểm: VD: đẫy đà, gầy đét, …

- Tính từ chỉ dung lượng: VD: vơi, đầy, nặng, nhẹ,…

- Tính từ chỉ màu sắc: VD: xanh, đỏ, tím, vàng, hồng,…

- Tính từ chỉ số lượng: VD: nhiều, ít, lắm,…

• Đại từ

Hữu Quỳnh cho rằng: ”Đại từ đó là những từ dùng để tả sự vật, để xưng

hô, để thay thế cho danh từ, động từ, số từ và cụm từ trong câu” (sđd, tr 77) Người ta phân chia đại từ thành:

- Đại từ nhân xung

VD: tôi, anh, chúng nó, họ,…

Trang 19

Quan hệ từ được phân chia thành:

- Quan hệ từ đẳng lập là những từ nối kết các từ, các cụm từ, các vế câu, các quan hệ ngang bằng với nhau

VD; và, với, cũng, nhưng, rồi, còn, hoặc, hay,…

- Quan hệ từ phụ thuộc là những tư nối kết các đơn vị ngôn ngữ không ngang bằng với nhau về quan hệ

VD: vì, bởi vì, do, tại, với,…

bỏi vì…, cho nên; nếu…, thì; tuy…, nhưng

• Phụ từ

Đó là những hư từ chỉ có chức năng đi kèm với thực từ Phụ từ được phân chia thành:

- Định từ

Trang 20

Đó là những hư từ đi kèm về phía trước của danh từ

Diệp Quang Ban đã phân chia than từ thành ba tiểu loại sau:

Tình thái từ được chia thành hai tiểu loại sau:

- Trợ từ là những từ dùng để nhấn mạnh một từ, một cụm từ, một câu mà

nó đi kèm

Trang 21

VD; - Tiểu từ tình thái tạo dạng câu nghi vấn nhứ: à, ừ, không,…

- Tiểu từ tình thái tạo dạng câu cầu khiến như: đi, ngay, thôi,

- Ở trẻ mẫu giáo vốn từ tích cực còn nghèo

- Vốn từ thụ động bao gồm những từ trẻ mới lĩnh hội Kinh nghiệm sống

và tri thức còn nghèo nàn nên trẻ chưa hiểu rõ nghĩa của từ vì thế trẻ không sử dụng được

Trẻ mẫu giáo chủ yếu chỉ biết về từ mà chưa chủ động sử dụng từ trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp vì vốn từ tích cực còn nghèo nàn Chính vì vậy, tích cực hóa vốn từ (chuyển từ thụ động sang tích cực) là một nhiệm vụ quan trọng để phát triển vốn từ cho trẻ

Trang 22

VD; đi, chạy, ăn, đẹp, xấu,…

Ở giai đoạn này, trong lời nói trẻ đã bắt đầu xuất hiện từ ghép, nhưng khi gặp những từ khó phát âm, trẻ thường phát âm giản lược

Vốn từ chủ động của trẻ tăng rất nhanh, khoảng 300 - 400 từ Trẻ hiểu đúng nghĩa của từ cho nên trẻ sử dụng chính xác hơn những từ chỉ sự vật, hiện tượng cụ thể

Cuối năm thứ hai, cơ cấu từ loại của trẻ cân đối hơn, tuy vậy các hư từ ít được trẻ sử dụng hơn so với thực từ

- Trẻ 2 - 3 tuổi

Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ nhận thức được sự vật trong mối quan

hệ nhiều mặt, nhiều chiều nên trẻ sẽ hiểu được những từ có ý nghĩa khái quát, trừu tượng hơn so với trẻ năm thứ hai

VD Trẻ hiểu được các từ: quần áo, đồ chơi, rau quả,…

Vốn từ của trẻ tăng nhanh, số lượng từ của trẻ từ 500 - 600 từ (theo

Nguyễn Xuân Khoa trong” Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ”, nxb

Trang 23

ĐHQG Hà Nội, 1997, tr.22).Trẻ đã biết sử dụng những tư ghép đơn giản,

thường gặp Cơ câu từ loại cũng dần cân đổi hơn

1.1.2 Cơ sở tâm lý

Trong cuốn “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” Nguyễn Ánh Tuyết

Vui chơi là một dạng hoạt động chủ đạo của lứa tuổi MG Ở tuổi MGB, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, đặc biệt là sự pháp triển của trò chơi đóng vai theo chủ đề Tuy nhiên, ở tuổi này, thì hoạt động vui chơi vẫn chưa đạt tới mức chính thức và mang đầy đủ ý nghĩa của nó Nhưng nó vẫn tạo ra ở trẻ một cấu tạo tâm lý mới, một nhân cách hết sức đơn giản và nó chính là xu hướng phát triển cơ bản của trẻ

Ở lứa tuổi MG, đặc biệt là trẻ MGB, nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang tròng thời kỳ phát triển mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” được hình thành (A.P.Uxôva)

Giai đoạn này ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều âm tiết, ngôn ngữ thể hiện giọng điệu rõ rệt Trong ngôn ngữ của trẻ có kèm theo các hình thức hoạt động tư duy khác nhau, kích thích hành động, thường nhắc đi nhắc lại một từ trong câu trọn vẹn Ngôn ngữ của trẻ mang màu sắc cảm xúc rõ rệt thể hiện hứng thú cá nhân, hoạt động cá nhân của trẻ Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ, do

đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động nhóm trẻ ở lớp MG cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư để tạo một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ

Tư duy của trẻ MGB là tư duy trực quan hình tượng.Trẻ dần biết tư duy băng những hình ảnh trong đầu, nhưng do biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới chỉ được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ biết giải quyết vấn đề theo kiểu tư duy trực quan – hình tượng Cùng với sự hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự phát triển của các hoạt động

Trang 24

khác như vẽ, nặn, kể chuyện, dạo chơi,… vốn biểu tượng của trẻ MGB được làm giàu thêm, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức của trẻ tăng lên rõ rệt

Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng

Trong khi giúp trẻ phát triển tư duy trừu tượng, cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết Trước hết cần cung cấp các biểu tượng cho trẻ một cách phong phú, hệ thống hóa các biểu tượng thông qua những buổi đi chơi,

đi dạo, qua những câu chuyện kể, qua tranh ảnh, bài hát,…Đặc biệt, thông qua trò chơi, tiết học Gv giúp trẻ hệ thống hóa và chính xác hóa dần các biểu tượng về thế giới xung quanh

Sự phát triển tình cảm xã hội: Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi

MG thì tình cảm thống trị, chi phối tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của đứa trẻ Đặc biệt, ở độ tuổi MGB thì đời sống tình cảm của trẻ có một bưosc chuyển mạnh mẽ, phong phú hơn so với lứa tuổi trước đó Cũng ở lứa tuổi này, quan hệ của trẻ với những người xung quanh được mở rộng một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được phát triển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Có thể coi đây là nguồn cảm xúc mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của trẻ MGB

Trẻ MGB khao khát có được sự yêu thương, trừu mến đồng thời rất lo sợ

về thái độ kạnh nhạt thờ ơ của mọi người xung quanh Các bé thực sự vui mừng khi bố mẹ, cô giáo, bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực sự buồn khi bị người khác chê trách, ghét bỏ

Tuổi MGB là chặng đầu của tuổi MG Trẻ đã trải qua thời kì ấu chuyển tiếp từ tuổi ấu nhi lên để tiến tới một chặng đường phát triển tương đối ổn định có thể coi đây là một thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của những nét tâm lí đặc trưng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lí Điều này khiến cho nhân cách của trẻ ở giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành mang những nét độc đáo nhất

Trang 25

Những phẩm chất tâm lí cũng như phẩm chất nhân cách đang phát triển

ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự chuyển tiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau Do đó, giáo dục cần tập trung hết mức để giúp trẻ phát triển tới những điểm này

1.1.3 Cơ sở giáo dục học

Theo các nhà khoa học sư phạm, để phát triển vốn từ cho trẻ MG, Gv phải tuân theo những nguyên tắc nhât định, nắm vũng được những nhiệm vụ cơ bản

và được trang bị hiểu biết về một số phương pháp, biện pháp dạy học chủ yếu

1.1.3.1 Nguyên tắc xây dựng nội dung phát triển vốn từ của trẻ mấu giáo

Trong cuốn “Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non”, Đinh HồngThái

(tr.106) đã đề cập các nguyên tắc xây dựng nội dung phát triển vốn từ cho trẻ

- Đưa ra những từ chỉ rõ những khái niệm sơ đẳng trên cơ sở phân biệt

và khái quát các sự vật theo dấu hiệu căn bản

1.2.3.2 Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

Theo Đinh Hồng Thái, để phát triển vốn từ cho trẻ MG cần thể hiện ba nhiệm vụ sau:

Trang 26

- Giúp trẻ tích lũy số lượng từ cần thiết để làm giàu vốn từ cho trẻ

- Giúp trẻ hiểu nghĩa của từ nhằm tích cực hóa vốn từ cho trẻ

- Cần chú ý cân đối cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ để trẻ diễn đạt nội dung giao tiếp thuận lợi, chính xác

1.1.3.3 Phương pháp, biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo

Theo các nhà khoa học giáo dục, để phát triển vốn từ cho trẻ, GVMN có thể lựa chọn, sử dụng các phương pháp, biện pháp sau:

a.Nhóm phương pháp trực quan

Dạy học trực quan nghĩa là cho trẻ tiếp xúc trực tiếp đối tượng cần tìm hiểu thông qua vật thật tranh ảnh, băng hình Phương pháp này phù hợp với trẻ MGB vì thông qua các phương pháp dạy học (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh) trẻ dùng giác quan nắm bắt được những đặc điểm bên ngoài của đối tượng Nhóm phương pháp trực quan có các biện pháp dạy học như:

- Hướng dẫn trẻ quan sát vật thật để phát triển vốn từ của trẻ

- Sử dụng đồ choi để giúp trẻ mở mang nhận thức và phát triển vốn từ

- Cho trẻ xem tranh để phát triển nhận thức và phát triển vốn từ

Các biện pháp dạy học nêu trên sẽ đạt kết quả tối uu khi giáo viên kết hợp với các biện pháp thuộc nhóm dùng lời

b Nhóm phương pháp dùng lời

Đây là nhóm phương pháp đóng vai trò then chốt trong việc giúp trẻ phát triển vốn từ hướng tới ba mục đích cơ bản Đó là: giúp trẻ làm giàu vốn từ bằng cách tăng só lượng từ, hiểu nghĩa của từ và cân đối cơ cấu từ loại

Thuộc nhóm phương pháp dùng lời có các biện pháp sau;

b1 Đàm thoại

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng việt, đàm thoại có nghĩa là: “nói và trả lời giữa thầy giáo và học sinh nhằm gợi mở, kiểm tra, củng cố kiến thức cho học sinh” (một phương pháp dạy học - phương pháp dàm thoại) Phương

Trang 27

pháp này được cụ thể hỏa bằng những biện pháp cụ thể: GV trò chuyện với trẻ, GV dùng câu hỏi định hướng câu trả lời của trẻ,vv… Cả hai biện pháp đàm thoại nêu trẻn đây đều là biện pháp dạy học tích cực mà GV có thể vận dụng để phát triển vốn từu cho trẻ

b2 Giảng giải

Giảng giải là dùng lời giải thích để người khác hiểu rõ hơn về một việc nào đó Phương pháp này được GVMN vận dụng khi giúp trẻ hiểu nghĩa của những từu khó

b4 Ngoài những phương pháp trên để phát triển vốn từ cho trẻ, GV còn

có thể sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu các từ đồng nghĩa, trái nghĩa và những phương pháp thực hành gián tiếp (căn cứ vào hoàn cảnh giáo tiếp cụ thể, cho trẻ dùng từ tạo nên câu để diễn đạt điều đã nhận thức được

c Sử dụng trò chơi học tập

Trò chơi học tập là trò chơi có luật và nội dung được đặt ra từ trước, là trò chơi của sự nhận thức hướng đến việc mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển vốn từ bằng năng lực tư duy và các năng lực cốt lõi khác

Trò chơi học tập là một phương pháp dạy học không thể thiếu trong các buổi học hoạt động giáo dục ở trường mầm non Nó tác động trực tiếp đến

Trang 28

việc củng cố kiến thức và phát triển các quá trình nhận thức như: cảm gíác, tri giác, tư duy, trí tưởng tượng của trẻ

Trò chơi học tập vừa là một phương pháp vừa là một phương tiện củng

cố, làm giàu tri thức và kỹ năng đã có của trẻ Ngoài ra, trò chơi học tập là biện pháp giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới

+Thơ: Bạn mới, Cô

giáo của con

1 tuần 1 tiết

Trang 30

nhân vật trong câu

Như vậy, nội dung phát triển vốn từ cho trẻ MGB trong trường mầm non được thực hiện hầu hết ở các chủ đề nó chiếm 38tiết/ 144 tiết của năm với tỉ lệ 25% Việc tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ MGB qua các tác phẩm văn học theo chủ đề TGTV ở trường mầm non tập trung vào hai thể loại

cơ bản: thơ, truyện Việc thực hiện các hoạt động tổ chức cho trẻ làm với các

Ngày đăng: 21/08/2018, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Hoàng Phương Thanh (2012), Mở rộng vốn từ cho trẻ MGB qua tập thơ “Góc sân và Khoảng trời” của Trần Đăng Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc sân và Khoảng trời
Tác giả: Hoàng Phương Thanh
Năm: 2012
1. Diệp Quang Ban, (2008), Ngữ pháp tiếng việt (tập một0, NXB Giáo dục Khác
2. Đỗ Hữu Châu, (2007), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng việt, NXB Giáo dục Khác
3. Khuất Thị Thanh Kim (2017), Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Khác
4. Nguyễn Xuân Khoa, (2004), Phưing pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG, NXB Đại học Sư phạm Khác
5. Đinh Hông Thái, (2012), Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ Mầm non, NXb Đại học Sư Phạm Khác
6. Nguyễn Thị Huệ (20160, Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua các hoạt động giáo dục tìm hiểu về TGTV Khác
8. Hoàng Thị Oanh - Pạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức, (2005), Phương pháo phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
9. Lê Thu Hương, (2015), Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường Mầm non theo chủ đề, NXB Giáo dục Khác
10. Nguyễn Hữu Quỳnh, (1980), Ngữ pháp tiếng việt hiện đại, NXB Giáo dục Khác
11. Đinh Hông Thái, (2012), Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ Mầm non, NXb Đại học Sư Phạm Khác
13. Nguyễn Thị Thảo (2016), Phát triển vốn từ cho trẻ Mầm non thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w