LỜI CAM ĐOAN Chúng tôi xin cam đoan đề tài “Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động khám phá khoa học ” được chúng tôi hoàn thành trên cơ sở kế thừa lí luậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
VŨ THỊ KIM ANH
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGỮ PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
VŨ THỊ KIM ANH
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGỮ PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học GVC ThS Phan Thị Thạch
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - GVC.ThS Phan Thị Thạch, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong
quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh trường mầm non Ngô Quyền- Vĩnh Yên đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian em thực tập ở trường giúp em có những tư liệu tốt
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp
đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Kim Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đề tài “Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua hoạt động khám phá khoa học ” được chúng tôi hoàn
thành trên cơ sở kế thừa lí luận của một số tác giả, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và sự nỗ lực của bản thân
Chúng tôi cam đoan đề tài này không trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu nào và kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từng được công bố
ở đâu
Hà Nội, tháng 04 năm 2018
Sinh viên
Vũ Thị Kim Anh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 6
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 6
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 6
1.1.2 Khái quát về năng lực 14
1.1.3 Cơ sở tâm lí học 15
1.1.4 Cơ sở giáo dục học 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19
1.2.1 Khảo sát, thống kê nội dung chương trình tổ chức hoạt động giáo dục trẻ MGL khám phá khoa học 19
Bảng thống kê nội dung chương trình tổ chức hoạt động giáo dục trẻ MGL khám phá khoa học 19
1.2.2 Khảo sát việc thực hiện nội dung chương trình tổ chức hoạt động cho trẻ MGL khám phá khoa học ở trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 24
Chương 2 26
Trang 7CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN NHẰM GIÚP TRẺ BỒI DƯỠNG NĂNG
LỰC NGỮ PHÁP 26
2.1 Biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ loại cho trẻ MGL trong hoạt động khám phá khoa học 26
2.1.1 Sử dụng biện pháp trực quan kết hợp với nêu vấn đề 26
2.1.2 Sử dụng trò chơi học tập kết hợp với biện pháp nêu vấn đề 30
2.2 Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp câu cho trẻ MGL trong hoạt động giúp trẻ khám phá khoa học 33
2.2.1 Sử dụng mẫu câu kết hợp với biện pháp đàm thoại 33
2.2.2 Cho trẻ thực hành giao tiếp 36
Chương 3 40
GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 40
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sáng tạo ngôn ngữ là một thành tựu lớn nhất của con người Nó có một vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội và giữ một tầm quan trọng trong việc phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, phát triển thể chất và giáo dục
thẩm mĩ cho trẻ
Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ, các nhà khoa học cho rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là việc làm có tính cấp thiết Nhà giáo dục mầm non nổi tiếng Liên Xô nổi: Eiti- Khêva xem vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là khâu chủ yếu nhất của việc hoạt động trong trường mầm non Theo ông, vấn đề này là tiền đề dẫn đến thành công của các công tác khác của giáo dục mầm non
Theo các nhà khoa học, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một việc làm có tính tổ chức, có kế hoạch, có mục đích cao đẹp Mục tiêu của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là nhằm bồi dưỡng cho trẻ những năng lực trong đó có năng lực ngữ pháp Nhờ đó những năng lực này, trẻ có thể tư duy rành rẽ hơn
và giao tiếp tốt hơn
Nhận thức rõ vai trò của ngôn ngữ trong đời sống xã hội và tính cấp thiết của việc tìm ra những biện pháp phát triển ngôn ngữ theo định hướng bồi
dưỡng năng lực cốt lõi cho trẻ mầm non, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Bồi
dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua hoạt động khám phá khoa học” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không phải là vấn đề mới
vì nó được một số nhà khoa học và sinh viên tìm hiểu Có thể kể ra một số tác giả tiêu biểu và công trình của họ
2.1 Nghiên cứu của các nhà khoa học về việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
Trang 9Nguyễn Xuân Khoa là một trong những tác giả đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Trong cuốn giáo trình “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” gồm 12 chương sách tác giả đã đề cập những vấn đề khái quát có liên quan đến nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Trong đó, tác giả đã dành chương IV với dung lượng 30 trang để giới thiệu khái quát về phương pháp dạy trẻ đặt câu
Vẫn theo hướng biên soạn giáo trình để cung cấp cho sinh viên một tài liệu tham khảo, Đinh Hồng Thái (2005) đã cho ra đời cuốn “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” Cuốn giáo trình trên được cấu trúc gồm bốn phần với các nội dung sau:
+ Phần thứ nhất: Những vấn đề chung
+ Phần thứ hai: Dạy trẻ nhận biết - tập nói ba năm đầu
+ Phần thứ ba: Phát triển ngôn ngữ tuổi mẫu giáo
+ Phần thứ tư: Chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết tuổi mầm non
Trong phần thứ ba, tác giả Đinh Hồng Thái đã dành chương III để trình bày
về việc “Dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt”
2.2 Những khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên khoa GDMN Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Dương (2013), cũng đã đề cập đến vấn đề dạy trẻ nói đúng
ngữ pháp trong khoá luận: “Các phương pháp, biện pháp dạy trẻ nói đúng
ngữ pháp” Trong khoá luận này, tác giả Nguyễn Thị Dương kế thừa kết quả
nghiên cứu của các tác giả về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non để trình bày nội dung dạy trẻ 3 - 4 tuổi và trẻ 5 - 6 tuổi nói đúng ngữ pháp Ngoài ra, trong khoá luận, tác giả còn trình bày các loại lỗi câu và cách sửa lỗi cho trẻ mẫu giáo
Trong khóa luận tốt nghiệp “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp”, Nguyễn Thị Ngọc Anh (2015) đã
Trang 10tập trung tìm hiểu nội dung biện pháp giúp trẻ MGL vận dụng đa dạng kiểu câu Tiếng Việt vào giao tiếp
Cũng năm 2015, Đỗ Thị Hải đã triển khai đề tài “Các biện pháp dạy trẻ
Mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) nói đúng ngữ pháp” Ở đây, Đỗ Thị Hải đã kế thừa lí
luận của các nhà khoa học, cụ thể hóa việc vận dụng một số biện pháp giáo dục để dạy trẻ MGN nói đúng ngữ pháp
Đi theo một hướng nghiên cứu mới, Phạm Thị Hoa (2017) đã đề xuất
lựa chọn một số biện pháp giáo viên mầm non cần lựa chọn để: “Bồi dưỡng
năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua việc tìm hiểu về thế giới thực vật”
Thông qua việc tổng thuật nội dung nghiên cứu trong các tài liệu từ các nguồn kể trên, có thể thấy việc tìm hiểu về vấn đề phát triển ngôn ngữ và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ đặt câu không phải là vấn đề mới mẻ vì
đã có nhiều người quan tâm và tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, trong các
tài liệu đó chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu về “Bồi dưỡng
năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các hoạt động khám phá khoa học”
3 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học theo định hướng bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn, đó là đối tượng nghiên cứu của tác giả khóa luận này
4 Mục đích nghiên cứu
4.1 Việc nghiên cứu đề tài khóa luận trước hết giúp tác giả khóa luận nắm vững lí luận của việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ MGL, đồng thời xác định những nội dung, biện pháp giúp trẻ có hiểu biết về ngữ pháp, có năng lực vận dụng những hiểu biết đó cho việc nói đúng ngữ pháp trong các hoạt động khám phá khoa học
Trang 114.2 Góp phần cung cấp một phần tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa Giáo dục Mầm non và những người quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ MGL
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài
5.2 Đề xuất lựa chọn các biện pháp giáo dục tích cực trong hoạt động khám phá khoa học để bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn 5.3 Thiết kế giáo án thể nghiệm kết quả nghiên cứu khóa luận
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Từ lí luận về năng lực, năng lực ngữ pháp, khóa luận tập trung tìm hiểu:
- Biện pháp giáo dục giúp trẻ MGL nâng cao hiểu biết về ngữ pháp khi khám phá khoa học
- Biện pháp rèn cho trẻ có kĩ năng nói đúng ngữ pháp trong hoạt động khám phá khoa học
- Biện pháp giúp có ý thức nói đúng ngữ pháp trong hoạt động khám phá khoa học
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 127.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tiến hành thăm dò và thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học theo định hướng bồi dưỡng năng lực cho trẻ
Ngoài những phương pháp trên khóa luận chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như: miêu tả, so sánh,…
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ MGL nhằm giúp trẻ bồi dưỡng năng lực ngữ pháp
Chương 3: Giáo án thể nghiệm
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
b Các bình diện nghiên cứu của ngữ pháp học tiếng Việt
Khi tìm hiểu về ngữ pháp tiếng Việt, các nhà khoa học tập trung vào hai bình diện chính:
b1 Tìm hiểu về từ loại tiếng Việt
Đó là bình diện tìm hiểu từ, dựa vào phạm trù, ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của từ trong cụm từ và câu
b2 Tìm hiểu về câu trong tiếng Việt
Ở bình diện này, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu về các kiểu câu được phân loại theo đặc điểm ngữ pháp và theo mục đích nói
1.1.1.2 Những hiểu biết chung về từ loại và câu trong tiếng Việt
a Từ loại tiếng Việt
a1 Danh từ
- Khái niệm
Trang 14Danh từ là những thực từ chỉ người, sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
- Phân loại
Danh từ được phân chia thành danh từ riêng và danh từ chung
Danh từ riêng là những từ thường dùng để gọi tên một cá nhân, một địa phương, một đơn vị hành chính,…
VD1: Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thị Hồng Ngát,…
VD2: Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội,
VD3: Khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,… Danh từ chung là những từ biểu thị tên gọi của một loại sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
VD: nam, nữ, nhân dân, học sinh, bạn bè, trường lớp,
VD: có thể, bị, được, chịu, phải
Động từ độc lập là những động từ tự thân đã có nghĩa Chúng có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm làm thành phần phụ sau trong cụm động từ
VD1: khóc, cười,…
VD2: cho, biếu, tặng,
VD3: nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy,
VD4: đi, chạy, nhảy
Trang 16Phụ từ là những hư từ thường đi kèm với các thực từ trong cụm từ
Phụ từ được phân chia thành:
*Định từ
Định từ là những hư từ chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết họp từ có trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp là danh từ (cụm danh từ)
VD: mỗi, các, từng,…
* Phó từ
Phó từ là những hư từ thường dùng kèm với thực từ (động từ, tính từ) Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu thị ý nghĩa về cách nhận thức và phản ánh các quá trình
và đặc trưng trong hiện thực
+ Những phó từ thường đi kèm với động từ như: hãy, đừng, chớ, đã,
sẽ, đang,
+ Những phó từ đi kèm với tính từ như: rất, quá,…
+ Những phó từ có khả năng dùng kèm với cả động từ và tính từ như:
không, chưa, chẳng, chả, vẫn, v.v…
a7 Quan hệ từ (Kết từ, từ nối)
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập một), Diệp Quang Ban (chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 152 cho rằng: Về ý nghĩa khát quát, kết từ
Trang 17biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ một cách tường minh
Kết từ được phân chia thành:
Tình thái từ được phân chia thành:
+Tình thái từ đứng đầu câu để nhấn mạnh
Đó là hư từ dùng để hô gọi hoặc biểu lộ cảm xúc
VD1: ơi, hỡi, thưa,…(thán từ dùng để hô gọi)
VD2: a, ôi, ối, ái chà,…
b Câu trong tiếng Việt
Trang 18b1 Khái niệm
“Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về ngữ pháp và ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nào đó, là phương tiện chính diễn đạt, biểu hiện và giao tế tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với thực tại (Theo giáo sư O.Akhmanova)”
(Hoàng Trọng Phiến, Giáo trình lí thuyết tiếng Việt NXB Trường ĐHTH HN,
1976, tr.170)
b2 Các kiểu câu được phân chia theo cấu tạo
* Câu đơn hai thành phần
- “Câu đơn hai thành phần chính là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ
có quan hệ chủ - vị làm nòng cốt từ là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Đơn vị tính vị ngữ có mối quan hệ chủ vị (gọi tắt là C-V) có thể có cấu tạo khác nhau”
(Hữu Quỳnh, Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại Nxb GD, H, 1980, tr 137)
VD: Lan học bài
Minh đi xe đạp
* Câu đơn hai thành phần mở rộng
- Câu đơn hai thành phần mở rộng đó là những câu đơn ngoài hai thành phần chính còn có các thành phần phụ như trạng ngữ, khởi ngữ và hô ngữ, VD1: Hôm nay, trời nóng quá!
* Câu đơn rút gọn (Câu đơn tỉnh lược)
“Trong thực tế của ngôn ngữ, có những câu có thể dựa vào hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ mà bớt đi một hay cả hai thành phần chủ yếu của câu Ta gọi
đó là câu rút gọn (hoặc câu tỉnh lược)
Trang 19Câu rút gọn khác câu một thành phần ở chỗ người ta có thể dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã bị bớt đi và khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của câu”
(Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb KH,
1964, tr.231)
VD: - Ai là tác giả của bức tranh này đây?
- Tôi
* Câu đơn đặc biệt
Câu đơn đặc biệt là những câu được cấu tạo bằng một từ, một cụm từ không phân biệt được chủ ngữ, vị ngữ, nhưng vẫn diễn đạt trọn vẹn một nội dung thông báo phù hợp trong một hoàn cảnh giao tiếp
VD1: Ngon! Ngon tuyệt!
VD2: Bố!
* Câu ghép đắng lập
Đó là những câu có các vế câu bình đẳng với nhau về ngữ pháp được nối với nhau bằng những quan hệ từ bình đẳng Mỗi vế của câu ghép đẳng lập được cấu tạo bằng một cấu trúc C - V nòng cốt
VD: Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng (Hồ Chí Minh)
VD1: Bạn Hường học giỏi vì bạn ấy chăm chỉ
VD2: Nếu Minh dậy sớm hơn, thì Minh đã không muộn học
Trang 20VD3: Nếu mà Lan không ốm thì Lan đã được đi chơi với cả lớp
VD4: Để Hiền đạt được học sinh giỏi, thì Hiền phải chăm chỉ lắm
b3 Các kiểu câu được phân loại theo mục đích nói
* Câu tường thuật (câu kể, câu trần thuật)
Trong cuốn “Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt, Diệp Quang Ban, NXB Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1984 ”, tr.23, đưa ra định nghĩa:
“Câu tường thuật thường được dùng để kể lại, xác nhận, mô tả một vật với các đặc trưng của nó hoặc một sự kiện với những chi tiết nào đó”
VD1: Mọi người đều làm việc
VD2: Bố lái xe
* Câu hỏi (câu nghi vấn)
Đó là những câu biểu thị sự hỏi và khi viết được kết thúc bằng dấu chấm hỏi (?) Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện câu nghi vấn là: ngữ điệu hỏi
(nhấn cao giọng ở từ muốn hỏi), từ nghi vấn (nào, đâu, gì, sao ), trật tự từ VD: Em đi đâu đấy?
VD: Có uống gì không?
* Câu cảm thán
“Câu cảm thán thường được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ của người nói đối với một vật hay một sự kiện nào đó mà câu nói trực tiếp đề cập đến hoặc ám chỉ”
(Diệp Quang Ban, Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt, Trường ĐHSP Hà Nội 1,1984, tr.23)
* Câu Cầu khiển (câu mệnh lệnh)
Câu biểu đạt yêu cầu, nguyện vọng, khuyên bảo, sai khiến, xin xỏ, thúc giục hành động Khi nói, câu có ngữ điệu mệnh lệnh (thường nhấn mạnh vào
từ ngữ mang nội dung lệnh) Khi viết ngữ điệu mệnh lệnh có thể được thể hiện bằng dấu chấm than (!) đặt ở cuối câu
Trang 21VD: Đừng có đi một mình! Hãy nhớ lấy lời tôi!
1.1.2 Khái quát về năng lực
1.1.2.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ, một hành động
cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng,
kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động
1.1.2.2 Khái niệm năng lực hành động
Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định
1.2.1 3 Quá trình hình thành năng lực
Quá trình hình thành năng lực gồm các bước:
1) Tiếp nhận thông tin
2) Xử lý thông tin (thể hiện hiểu biết kiến thức).
3) Áp dụng/ vận dụng kiến thức (thể hiện kĩ năng).
4) Thái độ và hành động của con người trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Sự kết hợp các bước trên tạo thành năng lực ở người học
1.2.1.4 Năng lực cốt lõi của trẻ mầm non
a Định nghĩa năng lực cốt lõi
Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu
mà bất kì một người nào cũng cần để sống, học tập và làm việc
b Năng lực cốt lõi của trẻ mầm non
Các nhà khoa học cho rằng năng lực cốt lõi của học sinh thể hiện ở chuẩn đầu ra khi các em kết thúc một bậc học..Theo chúng tôi, những năng lực cốt lõi của trẻ mầm non bao gồm: Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy và năng lực hợp tác.
Trang 22b1 Năng lực ngôn ngữ
Trong “Từ điển Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý
(chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, năng lực ngôn ngữ được giới thiệu như sau,
đó là:
“Khả năng sáng tạo của người nói không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhằm tạo ra hàng loạt các phát ngôn và hiểu được và con người tạo ra những câu có tính ngữ pháp, có thể nói năng một cách tự nhiên, nhận thức và hiểu một cách tự nhiên số câu mà phần lớn trước đó họ chưa hề nói Năng lực này được hình thành rất sớm, ngay từ khi còn nhỏ”
b2 Năng lực giao tiếp
Có thể hiểu ngắn gọn, năng lực giao tiếp là khả năng lựa chọn vận dụng ngôn ngữ vào giao tiếp xã hội của mỗi cá nhân Để có năng lực giao tiếp mỗi người trước hết phải có năng lực ngôn ngữ Tuy vậy năng lực giao tiếp của mỗi người tùy thuộc vào khả năng nhận thức, hoàn cảnh sống, đặc điểm tính cách, trình độ văn hóa của mỗi người
1.1.3 Cơ sở tâm lí học
Trẻ MGL là trẻ có độ tuổi 5-6 tuổi, trong độ tuổi này, bước đầu trẻ đã biết
sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày Sự phát triển này về mặt ngôn ngữ gắn liền với đặc điểm tâm lí của trẻ
Về khả năng nhận thức của trẻ MGL
Ở giai đoạn này khả năng nhận thức của trẻ vẫn phát triến dựa trên cơ sở hình thành ở giai đoạn trước Đế nhìn nhận và đánh giá về một sự vật hiện tượng nào đó, trẻ đã biết huy động vốn kinh nghiệm của mình, phân tích, phán đoán, so sánh, khái quát hoá để thu thập thông tin sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng, biết tìm hiểu mối liên hệ phụ thuộc giữa các sự vật hiện tượng với nhau Trẻ MGL nhận thức mọi thứ xung quanh chủ yếu dựa vào kết quả đã thu nhận được trong quan sát trực tiếp sự vật để giải quyết những vấn đề đặt
Trang 23ra trong hoàn cảnh tương tự Phán đoán của trẻ còn đơn giản do vốn kinh nghiệm của trẻ còn rất ít, nông cạn Trẻ mới bắt đầu biết khái quát dựa vào các hình ảnh đã trải qua
Ở lứa tuổi này, tư duy trực quan hình tượng vẫn tiếp tục diễn ra Bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan hình tượng còn xuất hiện thêm một kiểu tư duy mới đó là tư duy trực quan - sơ đồ Đây là một kiểu tư duy mới của tư duy trực quan hình tượng, kiểu tư duy này vẫn giữ mãi tính chất hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ Điều này cho thấy khả năng giao tiếp của trẻ đang mở rộng, giáo viên cần nắm bắt rõ đặc điểm tư duy của trẻ để thúc đẩy quá trình phát triến ngôn ngữ của trẻ MGL
-Về mặt xúc cảm và tình cảm của trẻ MGL:
Ở lứa tuổi này, trẻ đã xuất hiện tình cảm bạn bè Đời sống tình cảm ổn định hơn so với trẻ MGN, mức độ phong phú, phức tạp tăng đần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa tuối khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, với người lạ Bên cạnh đó ở độ tuối này ở trẻ đã hình thành rõ nét các tình cảm bậc cao:
-Về tình cảm trí tuệ:
Trẻ MGL ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi những điều mới lạ, bí
ẩn Mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú say mê đối với trẻ -Về tình cảm đạo đức
Ở lứa tuổi này, trẻ rất dễ xúc động và đồng cảm với mọi người và cảnh vật xung quanh Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện đế làm vui lòng mọi người
Trang 24-Về tình cảm thẩm mĩ
Cùng với sự phát triển nhận thức về cái đẹp, tình cảm thấm mĩ của trẻ càng phát triến Trẻ yêu thích cái đẹp, mong muốn làm ra cái đẹp để mang đến niềm vui cho chính mình và cho mọi người Ở tuối này trẻ rất thích các loại hình nghệ thuật
Những đặc điểm tâm lý kể trên đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tư duy, nhận thức và tình cảm của trẻ phát triển đến một chất lượng mới đòi hỏi ngôn ngữ của trẻ phải thành thạo hơn, mạch lạc hơn để trẻ có thể dễ dàng giao tiếp với mọi người xung quanh
1.1.4 Cơ sở giáo dục học
1.1.4.1 Nguyên tắc của việc dạy học ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo
Theo Đinh Hồng Thái, dựa vào đặc trưng của Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình và dựa vào đặc điểm lứa tuổi mẫu giáo, việc dạy ngữ pháp cho trẻ lứa tuổi này phải tuân theo các nguyên tắc sau:
a Rèn luyện cho trẻ tập nói các loại câu trên cơ sở cho trẻ bắt chước các mẫu câu của người lớn thông qua mô hình câu chuẩn
b Cần dạy ngữ pháp cho trẻ theo quá trình từ đơn giản đến phức tạp Đây là nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức cho trẻ
c Dạy ngữ pháp cho trẻ là dạy thực hành
Dạy ngữ pháp cho trẻ theo nguyên tắc cho trẻ thực hành nghĩa là đưa trẻ vào những hành vi cụ thể để trẻ nói đúng ngữ pháp Nguyên tắc này xuất phát
từ việc dạy ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp
1.1.4.2 Phương pháp, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói trẻ em” đã nêu ra 6 phương pháp, biện pháp dạy trẻ đặt câu Đó là:
a Cô sử dụng lời nói mẫu
Trang 25Theo Đinh Hồng Thái, trẻ học lời nói chủ yếu bằng bắt chước Vì thế, GV phải dùng câu nói mẫu để dạy trẻ Câu mẫu của GV phải đảm bảo yêu cầu sau: chuẩn mực về ngữ pháp, đa dạng về kiểu loại Trong mỗi giờ dạy họ, GV vừa cung cấp các mẫu câu mới, vừa củng cố cho trẻ những mẫu câu đã được cung cấp Các mẫu câu của giáo viên phải sát hợp với chủ đề, với hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục cho trẻ MGL mà Bộ GD và ĐT quy định
b Đàm thoại
Theo Từ điển Tiếng Việt, đàm thoại có nghĩa là: “Đàm thoại là một phương pháp dạy học giáo viên có thể vận dụng theo những hình thức khác nhau: có khi là lời trò chuyện của GV với trẻ, có khi GV nêu câu hỏi định hướng cho trẻ trả lời,…
c Sử dụng hệ thống câu hỏi
Đinh Hồng Thái cho rằng đây là một biện pháp GV có thể sử dụng để dẫn dắt dùng các câu mẫu mà cô đã cung cấp Hệ thống câu hỏi của GV phải bám sát chủ đề, bám sát đối tượng cần khám phá
d Có thể sử dụng biện pháp dạy trẻ soạn lại văn bản đã nghe
Đây là biện pháp giúp trẻ phát triển khả năng nói dựa trên những hiểu biết, những kĩ năng về ngữ pháp mà trẻ tích lũy được Để dạy trẻ soạn lại văn bản, GV cần lựa chọn các câu chuyện, các truyện trẻ đã nghe, hướng dẫn trẻ dựa vào một số câu truyện đó để sáng tạo ra những kiểu câu khác về cách diễn đạt nhưng nội dung không thay đổi
đ Cho trẻ được thực hành giao tiếp
Cho trẻ thực hành giao tiếp là đưa trẻ vào những hoàn cảnh cụ thể, những tình huống giao tiếp cụ thể để trẻ có thể vận dụng những hiểu biết, huy động kinh nghiệm lựa chọn, sử dụng đúng các đơn vị ngữ pháp vào hoạt động nói năng (hoạt động ngôn ngữ)
e Phát hiện lỗi sai và sửa sai cho trẻ
Trang 26Do năng lực ngữ pháp của trẻ còn hạn chế, cho nên khi nói trẻ mắc lỗi là điều không tránh khỏi Chính vì vậy, cùng với việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, GV cần giúp trẻ phát hiện ra lỗi sai về ngữ pháp và giúp trẻ sửa lỗi
g Ngoài những phương pháp, biện pháp mà Đinh Hồng Thái đã nêu trên đây, để phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong đó có mục đích giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, theo các nhà khoa học, GV còn có thể dùng các phương pháp sau:
sử dụng phương pháp trực quan và dùng trò chơi học tập
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Khảo sát, thống kê nội dung chương trình tổ chức hoạt động giáo dục trẻ MGL khám phá khoa học
Bảng thống kê nội dung chương trình tổ chức hoạt động giáo dục trẻ MGL
+Các khu vực trong trường và
công việc của các cô các bác
2.Bản -Trò chuyện, đàm thoại về đặc 1 tiết/tuần Trong lớp 30-35
Trang 27thân điểm giống, khác nhau của bản
thân và bạn bè, về các bộ phận
trên cơ thể, các giác quan; trò
chơi rèn luyện giác quan, phân
biệt chức năng của chúng; tổ
30-35 phút
-Cho trẻ tham quan nơi làm việc,
tiếp xúc với những người làm
trưng ở địa phương
-Trò chơi phân biệt các nghề
1 tiết/tuần Ngoài trời
Trong lớp
30-35 phút
Trang 28khác nhau: phân biệt đồ dùng,
-Quan sát, trò chuyện, thảo luận
về đặc điểm, ích lợi, điều kiện
sống của một số loại cây, quan
hệ giữa môi trường sống và cây
(đất, nước, không khí, ánh sáng)
-Quan sát, phán đoán một số mối
liên hệ đơn giản giữa cây cối,
con vật với môi trường sống, với
con người (quan sát chồi non,
quan sát sự phát triển của cây)
-Trò chuyện về thời tiết mùa
xuân, ngày Tết
- Các hoạt động: Thăm vườn
trường, thu thập tranh ảnh, sách
6 Thế
giới
động
vật
-Quan sát, trò chuyện, thảo luận,
so sánh,phân biệt một số con vật
gần gũi; ích lợi, tác hại của nó
với đời sống con người
-Tìm hiểu, so sánh, phân loại các
con vật theo môi trường sống,
thức ăn, cách sinh sản
1 tiết/tuần Trong lớp 30-35
phút
Trang 297 - Quan sát, thảo luận về các hiện
tượng thời tiết: bầu trời, nắng,
mưa, gió, nóng, lạnh, bão,…
- Quan sát, thảo luận về các hiện
tượng thời tiết theo mùa, sự khác
nhau giữa các mùa và thứ tự các
mùa
- Quan sát, thảo luận về ảnh
hưởng của thời tiết mùa đến con
người, cây cối, con vật
- Dạo chơi, tham quan phong
cảnh thiên nhiên, cảnh vật theo
mùa
-Giải câu đố về các mùa, các
hiện tượng thời tiết
-Chơi với nước, các trò chơi thử
nghiệm với nước để khám phá
đặc điểm, tính chất của nước: sự
bay hơi, sự hòa tan,…
-Chơi lô tô về quần áo, rau,
quả,…theo mùa
1 tiết/tuần Trong lớp
Ngoài trời
30-35 phút
Trang 308 Giao
thông
-So sánh, phân loại những điểm
giống và khác nhau của một số
phương tiện giao thông qua tên
gọi, đặc điểm, ích lợi, nơi hoạt
động
-Trò chơi: Phân biệt một số biểu
hiện giao thông đường bộ đơn
giản
-Trò chuyện, tìm hiểu và phân
biệt một số dịch vụ giao thông
- Thảo luận và thực hành một số
quy định đơn giản về luật giao
thông đường bộ và quy định
dành cho người đi bộ
-Xem tranh ảnh, băng hình về
một số địa danh, lịch sử của quê
hương, đất nước, nơi Bác Hồ
sống và làm việc Làm quen với
bản đồ Việt Nam, cờ Tổ quốc,
trang phục dân tộc
-Trò chuyện để tìm hiểu về một
số lễ hội, đặc trưng văn hóa của
quê hương, đất nước, nghề
truyền thống, đặc sản nổi tiếng,
thời tiết, các dân tộc,…
1 tiết/ tuần Trong lớp 30-35
Trang 31tiểu
học
sách giáo khoa của lớp Một
-Trò chuyện với trẻ về các hoạt
động của trường
1.2.2 Khảo sát việc thực hiện nội dung chương trình tổ chức hoạt động cho trẻ MGL khám phá khoa học ở trường Mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
a Những thuận lợi giúp giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học các lớp mẫu giáo lớn trong trường mầm non
* Về cơ sở vật chất
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trường mầm non Ngô Quyền và nhận thấy rằng: trường có cơ sở vật chất tương đối tốt; phòng học đảm bảo đủ diện tích cho trẻ học tập, vui chơi; đồ dùng trực quan, sách vở, đồ chơi cho trẻ khá đẹp và rất phù hợp với trẻ Cơ sở vật chất đó đáp ứng được như cầu của trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ khi trẻ tham gia các hoạt động ở trường
* Về đội ngũ giáo viên
Trong quá trình đổi mới và cải thiện, ngành giáo dục ngày một phát triển, đội ngũ GV mầm non ngày càng có chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp Trường mầm non Ngô Quyền có 35 giáo viên, trong đó có 12 người
có trình độ Đại học, 13 người có trình độ Cao đẳng, 10 người có trình độ trung cấp Hàng năm, nhà trường không ngừng tổ chức hoạt động chuyên môn, khích lệ GV cố gắng, đoàn kết phấn đấu để đạt nhiều thành tích
Những năm gần đây, Nhà nước quan tâm hơn đến GV mầm non, giúp cho cuộc sống của GV ổn định hơn, tạo điều kiện cho giáo viên mầm non nhiệt huyết và chuyên tâm hơn với nghề
Ngoài ra, nội dung chương trình mầm non cũng khá ổn định và rõ ràng
Sở GD&ĐT Vĩnh Yên đã tạo ra nhiều cuộc thi giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn Ở từng lớp, từng loại bài dạy, tiết dạy, GV đều nắm được mục
Trang 32đích yêu càu cần thực hiện Giáo viên không ngừng tìm tòi, sáng tạo những tiết dạy, cách dạy hay để đổi mới phương pháp dạy học của mình
b Những hạn chế ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn
* Cơ sở vật chất
Trường lớp đã được cung cấp các trang thiết bị, tuy nhiên vẫn còn thiếu các trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy chiếu nên phần nào vẫn ảnh hưởng đến chất lượng dạy học ở trường Vì lí do đó, nên việc thiết kế giờ dạy bằng máy chiếu của GV vẫn còn hạn chế rất nhiều
* Về đội ngũ giáo viên và trẻ
- Khi tiến hành soạn giáo án và khi dạy trẻ, GV chỉ quan tâm đến việc truyền đạt nội dung chính của bài mà chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ
- Nhận thức ở trẻ còn chưa đồng đều do sức khỏe, kĩ năng xã hội, năng lực tư duy và do hoàn cảnh gia đình
*Tiểu kết chương 1:
Như vậy, ở chương này chúng tôi đã lựa chọn một số lí thuyết tiêu biểu của ngôn ngữ học, lí luận học, tâm lí học và giáo dục học đồng thời chỉ ra các các mặt thuận lợi và khó khăn của việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ MGL trong thực tiễn Những lí luận và cơ sở thực tiễn trên sẽ làm căn cứ cho khoa học giúp chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của
đề tài khóa luận
Trang 33Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN NHẰM GIÚP TRẺ BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC NGỮ PHÁP
Dựa vào những cơ sở lí luận và thực thực tiễn đã trình bày ở chương 1, ở đây, chúng tôi bước đầu đề xuất vận dụng một số biện pháp giáo dục để tổ chức cho trẻ MGL khám phá khoa học, nhằm giúp trẻ bồi dưỡng năng lực ngữ pháp
2.1 Biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ loại cho trẻ MGL trong hoạt động khám phá khoa học
Từ loại và câu là hai bình diện của ngữ pháp Để bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho trẻ MGL, chúng ta cần quan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực sử dụng từ loại trong hoạt động nói năng của trẻ Mục đích đó có thể được hiện thực hóa, nếu chúng ta vận dụng một số biện pháp sau:
2.1.1 Sử dụng biện pháp trực quan kết hợp với nêu vấn đề
Biện pháp giáo dục trực quan và nêu vấn đề thuộc hai nhóm phương pháp dạy học khác nhau, nhưng sự kết hợp hai biện pháp này sẽ có tác dụng đáng kể trong việc bồi dưỡng năng lực sử dụng từ loại cho trẻ MGL
Giáo dục trực quan là cách giáo viên thông qua việc cho trẻ tiếp cận trực tiếp với đối tượng cần khám phá (vật thật) hoặc thông qua việc cho trẻ quan sát đối tượng bằng tranh ảnh, phim,… Theo cách đó, trẻ sử dụng các giác quan của mình (thị giác, thính giác, xúc giác, vv, …) nhận biết dễ dàng đối tượng thông qua những đặc điểm bên ngoài của nó Năng lực nhận thức và năng lực sử dụng từ loại của trẻ sẽ được phát triển nếu trong quá trình hướng dẫn trẻ khám phá khoa học, GV kết hợp dùng câu hỏi để nêu vấn đề trẻ cần tìm hiểu Trình tự thực hiện hai biện pháp như sau:
- Bước 1: Chuẩn bị