Trong cuốn giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, Nguyễn Xuân Khoa [22] đã nói ý nghĩa của việc dạy học chữ cái cho trẻ cũng như việc tổ chức hoạt động chữ cái ở t
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành:Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoahọc
TS Lê Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2018
Trang 3Em cũng chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh Trường Mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình làm khoá luận
Trong quá trình thực hiện đề tài khoá luận, dù đã cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên em vẫn chưa đi sâu vào khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoá luận là thành quả làm việc, nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Thị Lan Anh Trong quá trình làm đề tài, tôi có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu và một số tác giả khác Tuy nhiên, đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Nội dung khoá luận không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc của khóa luận 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ 8
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.3 Cơ sở tâm lí học 13
1.1.4 Cơ sở sinh lí học 14
1.2 Thực trạng dạy trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 16
1.2.1 Xác định mục tiêu của việc tổ chức hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn 16
1.2.2 Nội dung chương trình tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái 17
1.2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 18
Kết luận chương 1 28
Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 29
2.1 Một số yêu cầu về biện pháp cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen chữ cái 29
Trang 62.1.1 Đảm bảo nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm 29
2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm nhận thức và phát triển của trẻ 29
2.1.3 Đảm bảo tôn trọng nét đặc thù vui chơi trong hoạt động học tập
của trẻ 29
2.1.4 Đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 29
2.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái 30
2.2.1 Tạo môi trường cho trẻ làm quen với chữ cái 30
2.2.2 Tổ chức tiết học cho trẻ 32
2.2.3 Dùng hệ thống câu hỏi mở 34
2.2.4 Cho trẻ làm quen với chữ cái ở mọi lúc, mọi nơi 35
2.2.5 Lồng ghép tích hợp các môn học khác 36
2.2.6 Làm quen với chữ cái thông qua trò chơi 38
2.2.7 Phối hợp giữa giáo viên với gia đình và nhà trường 39
2.2.8 Cho trẻ thực hành thường xuyên 41
2.3 Thực nghiệm sư phạm 41
2.3.1 Mục đích thực nghiệm 41
2.3.2 Đối tượng, địa bàn, điều kiện thực nghiệm 42
2.3.3 Nội dung thực nghiệm 42
2.3.4 Cách thức thực nghiệm 42
2.3.5 Tiêu chí đánh giá 43
2.3.6 Quy trình tổ chức thực nghiệm 43
Kết luận chương 2 51
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng chữ cái Latinh viết hoa và viết thường 11
Bảng 1.2 Bảng chữ cái viết hoa và viết thường tiếng Việt 12
Bảng 1.3 Trình độ chuyên môn của giáo viên mầm non 21
Bảng 1.4 Thâm niên công tác của giáo viên mầm non 21
Bảng 1.5 Nhận thức của giáo viên mầm non về việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái 22
Bảng 1.6 Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò tổ chức làm quen chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn 23
Bảng 2.1 Thực trạng khả năng và hứng thú học chữ cái của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Yên Mỹ 44
Bảng 2.2 Thực trạng mức độ làm quen chữ cái của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Yên Mỹ 45
Bảng 2.3 Mức độ làm quen chữ cái của nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm lần 1 46
Bảng 2.4 Mức độ làm quen chữ cái của nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm lần 2 48
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xu hướng phát triển hội nhập của đất nước hiện nay, để Việt Nam có thể ngang hàng sánh vai cùng với các nước trên thế giới thì việc đào tạo nguồn nhân lực, một thế hệ tương lai cho đất nước là vô cùng cần thiết và cấp bách Một con người có thể phát triển toàn diện cần không ngừng cố gắng
và nỗ lực hết khả năng của bản thân để dần hoàn thiện mình hơn, do đó việc học rất quan trọng Ngày nay, theo cùng với sự phát triển của toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc học của con người diễn ra từ khi sinh ra đến lúc từ giã cõi đời, còn sống là còn học, như Lê-nin đã nói: “Học, học nữa, học mãi” Chính vì thế, việc dạy học cho trẻ nhỏ là vô cùng cần thiết, đây là bước ngoặt đầu đời trong việc định hướng tương lai sau này cho các em
Trường mầm non là trường học đầu tiên trong cuộc đời của mỗi con người, nơi phôi thai nuôi trẻ lớn lên, chập chững bước vào con đường học vấn Ở đây, ngôi trường mầm non mà trẻ theo học, đối với các em mọi thứ đều vô cùng mới lạ, hấp dẫn và phong phú, trẻ tò mò, bị thu hút bởi mọi thứ ở xung quanh mình
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giữa người với người, giữa thế hệ này với thế hệ khác, giữa nền văn hóa của các quốc gia trên thế giới, là điều kiện
để con người có thể tiếp nhận tri thức Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cần đi song hành cùng nhau, khi trẻ biết nói cũng là thời điểm thích hợp để trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ viết Đây là bước khởi đầu cho trẻ có nền tảng vững chắc môn tiếng Việt, là chiếc cầu nối giữa thế giới xung quanh với trẻ Đối với trẻ mầm non thời điểm thích hợp nhất là lúc trẻ đến 5 tuổi, chuẩn bị bước vào lớp Một Lúc này trẻ sẽ bắt đầu được làm quen với bảng chữ cái, học cách đọc, cách viết và cách phát âm đúng 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt thông qua các tiết học cho trẻ làm quen với chữ cái ở trên lớp Việc
Trang 10trẻ làm quen với chữ cái không chỉ giúp trẻ nhận biết và phát âm chính xác các chữ cái mà còn tạo cho trẻ hứng thú khi học tiếng mẹ đẻ, giúp trẻ mở mang kho tàng kiến thức
Để truyền thụ kiến thức và kĩ năng cho trẻ làm quen với chữ cái thì người giáo viên mầm non có vai trò chủ đạo, bên cạnh đó cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, giữa giáo viên và phụ huynh để việc giáo dục trẻ đem lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, hiện nay việc dạy học cho trẻ gặp khá nhiều ý kiến trái chiều, những quan điểm và cách giáo dục khác nhau
Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên
cứu Tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non
Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo làm quen với chữ cái là nội dung quan trọng nằm trong mục tiêu chung của giáo dục mầm non Đây là nội dung cấp thiết và là yêu cầu của xã hội khi trẻ chuẩn bị vào lớp Một - biết các chữ cái tiếng Việt Vì mức độ quan trọng đó mà từ xưa đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu việc dạy học chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn cũng như các biện pháp, phương pháp dạy học chữ cái cho trẻ
Nhà giáo dục người Mỹ Margaret B Puckett và Janet K.Black (1948) cho rằng trẻ có thể học đọc, học viết một cách hiệu quả qua các hoạt động mà trẻ yêu thích, đáp ứng đúng với sự phát triển độ tuổi của trẻ [12, tr.55]
Tác giả Carol Seefeldt và Nita Branour [7, tr.60-64] có nghiên cứu về việc đọc và viết của trẻ em lứa tuổi mầm non, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học đọc và viết của trẻ Tác giả quan tâm và nhấn mạnh “Trẻ chỉ dần dần nhận thức về chữ viết trong một môi trường nhất định và nó cần thời
Trang 11gian để kết nối về sự liên quan giữa những gì được viết và những gì trẻ đã tiếp nhận được” [7, tr.60-64]
Gleen Doman chú trọng thái độ, cách tiếp cận và sự tương tác của bố
mẹ và con cái: thông qua các trò chơi với bộ flash card Ông cho rằng việc học tập của trẻ nên diễn ra khi cả cha và mẹ cùng chơi đùa với trẻ; người lớn cần khơi gợi niềm vui học tập ở trẻ, giúp trẻ trải nghiệm khi học đọc, đồng thời tạo môi trường tốt cho trẻ, kích thích sự hứng thú ở trẻ để trẻ tham gia vào hoạt động Người lớn giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức và hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động
Ở Việt Nam, ngày nay vấn đề ngôn ngữ cũng như dạy chữ cái tiếng Việt cho trẻ rất được quan tâm và chú trọng Từ cấp Trung ương đến cấp địa phương cũng đã có một số hội nghị khoa học hướng nội dung thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung và nâng cao hiệu quả dạy học chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng
Năm 2012 tác giả Phùng Đức Toàn [23] nhận thấy khả năng tiền đọc – viết của trẻ bắt đầu từ rất sớm, thậm chí còn quan niệm rằng nên dạy trẻ học chữ sớm ngay từ giai đoạn sơ sinh vì giai đoạn này trẻ không phân biệt được vật và chữ, trẻ học chữ không cần phải hiểu nghĩa của chữ
Trong cuốn giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non, Nguyễn Xuân Khoa [22] đã nói ý nghĩa của việc dạy học chữ cái
cho trẻ cũng như việc tổ chức hoạt động chữ cái ở trường mầm non còn gặp một số khó khăn cũng như các tồn tại khiến cho hiệu quả dạy học giảm sút
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ em [21] chú trọng đến việc cho trẻ làm quen với chữ cái tiếng Việt
Theo đó, chương trình dạy học chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn đều thống nhất ở nội dung cho trẻ làm quen với 29 chữ cái Trong cuốn này, tác giả nói về thời lượng thực hiện chương trình cho trẻ làm quen với chữ cái tiếng Việt như sau:
Trang 12việc cho trẻ làm quen với chữ cái tiếng Việt bao gồm 3 giai đoạn với 36 tiết học, chia làm 12 bài tương ứng với 12 nhóm chữ cái, mỗi nhóm chữ cái dạy trong 3 tiết Trong đó, tiết 1 là học làm quen với chữ cái, tiết 2 là những trò chơi với chữ cái và tiết 3 là trẻ tập tô chữ cái
Trong Tiếng Việt 1 và Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã
cung cấp kiến thức cơ bản về chữ cái tiếng Việt cho giáo viên trong việc dạy học chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn
Gần đây, các tác giả Việt Nam như: Nguyễn Thị Phương Nga [15], Trần Thị Nga [16], [17]; phần lớn tập trung vào các biện pháp hướng dẫn trẻ làm quen với chữ cái, phạm vi và mức độ làm quen chữ cái ở mẫu giáo với học chữ một cách chính thống ở bậc tiểu học, cơ sở lý luận, biện pháp phù hợp để tạo điều kiện cho trẻ mẫu giáo làm quen với đọc viết, đề xuất một số phương pháp chuẩn bị cho trẻ làm quen chữ viết, thực tiễn của việc giúp trẻ mẫu giáo lớn làm quen chữ viết ở các trường mầm non… Bên cạnh đó, tác giả Phạm Thị Lan Anh khẳng định biện pháp sử dụng trò chơi mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục tiền đọc – viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Tất cả những nghiên cứu trên là cơ sở, nền tảng lý thuyết vững chắc trong việc tổ chức làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non
Theo Lê Thị Ánh Tuyết năm 2003 muốn học chữ thật tốt trẻ cần có các yếu tố sau: năng lực chú ý, ghi nhớ tức thì, khả năng định hướng trong không gian để phân biệt chữ cái này với chữ cái khác dù có sự khác biệt nhỏ;
sự thành thục vận động của bàn tay để có thể sử dụng bút tạo nên các chữ liên tục, không rời rạc, đều, gọn, có khả năng chú ý có chủ định, có hứng thú nhận thức, có thích ứng xã hội [24, tr.123]
Ngoài ra, nhiều cuốn sách, tạp chí, bài báo hay nghiên cứu khoa học khác đề cập đến vấn đề này
Trang 13Có thể thấy rằng, rất nhiều tác giả đã đưa ra những công trình nghiên cứu về các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Hầu hết, các tác giả đều quan tâm tới đặc điểm chữ cái tiếng Việt Tuy nhiên, theo nhận định của cá nhân tôi thì mỗi công trình của một tác giả nghiên cứi tìm hiểu về một khía cạnh khác nhau về chữ cái tiếng Việt nhưng chưa tác giả nào đi tìm hiểu một trường mầm non cụ thể để đưa ra các biện pháp giúp việc dạy học cho trẻ mẫu giáp đạt hiệu quả tốt hơn
Chính vì lẽ đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt
động dạy học cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” để nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp thích hợp để trẻ làm quen với chữ cái một cách có hiệu quả tại trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cách thức tổ chức hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ ở Trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tiến hành khảo sát, thực nghiệm tổ chức hoạt động cho trẻ 5- 6 tuổi làm quen với chữ cái trong phạm vi ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen
với chữ cái
Trang 14- Tìm hiểu thực trạng của việc cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ, Lạng Giang, Bắc Giang
- Xác định nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng làm quen với chữ cái của trẻ ở trường mầm non
- Thực nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng làm quen với chữ cái của trẻ ở trường mầm non Yên Mỹ, Lạng Giang, Bắc Giang để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát hoạt động tổ chức dạy trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái
ở một số trường mầm non
- Quan sát sự tư duy, hứng thú của trẻ ở các giờ học làm quen chữ cái
- Quan sát hoạt động của giáo viên khi tổ chức dạy học cho trẻ để phát hiện những ưu nhược điểm từ đó đề xuất những biện pháp dạy trẻ làm quen với chữ cái một cách có hiệu quả và tốt nhất
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên
về sự cần thiết của việc dạy học chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn
Trao đổi cùng phụ huynh có con đang ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là mẫu giáo lớn về vấn đề dạy trẻ học chữ cái
6.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Phát phiếu cho giáo viên đang dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi
Trang 156.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã xây dựng đối với nhóm trẻ
thực nghiệm để kiếm chứng tính khả thi, tính hiệu quả của đề tài
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của khóa luận bao gồm 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái
- Chương 2: Các biện pháp cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái và thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN LÀM QUEN VỚI CHỮ CÁI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1 Nguồn gốc của bảng chữ cái tiếng Việt
Chữ cái tiếng Việt hay còn được gọi là chữ Quốc ngữ Chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ để phân biệt với chữ Hán (chữ viết tiếng Hán của Trung Quốc) và chữ Nôm (chữ cái tiếng Việt tạo nên từ cơ sở của tiếng Hán) Chữ Hán và chữ Nôm tồn tại trong thời kì phong kiến, có phạm vi sử dụng bị hạn chế Chữ Hán là văn tự chính thức trong mọi giao dịch hành chính, giáo dục, kinh tế, ngoại giao và nhiều lĩnh vực khác dưới các triều đại vua chúa Việt Nam hay chính quyền đô hộ của Trung Quốc Tuy vậy, chữ Hán lại không thể ghi hết tên người, tên địa phương, tên núi, tên các loại sản vật của Việt Nam bởi một số khuôn hình ngữ âm tiếng Việt không tìm thấy trong tiếng Hán Sau đó, chữ Nôm ra đời Mặc dù được coi là chữ Quốc ngữ tuy nhiên thì chữ Nôm chưa bao giờ thực hiện được chức năng ngôn ngữ của một quốc gia thống nhất Chữ Nôm chỉ dựa vào cấu tạo chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, mang tính chất chủ quan của người sang tạo và sử dụng Do đó, chữ Nôm không thống nhất về cách viết, có nhiều chữ khó hiểu
Chữ cái tiếng Việt hiện nay có nguồn gốc từ chữ viết của một số ngôn ngữ ở châu Âu bởi sự giống nhau ở một bộ chữ cái Latinh (như chữ Pháp, chữ
Bồ Đào Nha, chữ Ý,…) được du nhập vào nước ta từ đầu thế kỉ XVII nhằm phục vụ cho việc giảng đạo Thiên Chúa và đó chính là chữ Quốc ngữ Tiến trình của chữ Quốc ngữ từ khi khởi đạo đến khi hoàn tất là cả một quãng đường dài gần hai thế kỉ bao gồm bốn chặng đường chính:
Trang 171 Thời kì sơ khai, phôi thai của chữ Quốc ngữ (1620-1631)
Trong thời kì này có các tài liệu viết tay của J Roiz (1621), Gaspar Luis (1621), Alexandre De Rhodes (1625), Antonio De Fontes (1626), Francisco Buzomi (1626) và cuốn sách của Christopho Borri (1631)
2 Thời kì hình thành chữ Quốc ngữ (1631-1648)
Với những thư từ và tài liệu của Alexandre De Rhodes (1631, 1636,
1644, 1647), của Gaspard’Amaral (1632, 1637) và hai tài liệu viết tay khác (1645, 1648)
Ngoài ra còn có thể kể đến một số chữ Quốc ngữ dùng để phiên âm chữ Nôm trong 40 tác phẩm viết tay bằng chữ Nôm do G Maiorica biên tập từ 1634- 1640
3 Thời kì phát triển chữ Quốc ngữ (1651-1659)
Thời kì này có những tài liệu biên soạn vào năm 1659 của Igesico Văn Tín và Bento Thiện
4 Thời kì hoàn tất chữ Quốc ngữ (1772- 1838)
Với bản thảo viết tay từ điển Việt - La của Pigneau de Beshaine (1772)
và việc ấn hành từ điển Việt - La của Taberd có thể thấy chữ Quốc ngữ đã có thể thức lẫn diện mạo như chúng ta đang sử dụng ngày nay Trong giai đoạn này, còn phải kể đến những tiến bộ của chữ Quốc ngữ trong 26 cuốn sách viết tay ( khoảng 4000 trang) của Philipphe Bỉnh sao chép từ 1796 đến 1830
ở Lisboa
Như vậy, sự chế tác chữ Quốc ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục châu Âu Trong đó, ngoài Alexandre De Rhodes nổi bật lên vai trò của các giáo sĩ Bồ Đào Nha như: Francisco de Pina, Gaspard’ Amaral và Antonio Barbasa Trong công việc này có sự cộng tác và hỗ trợ tích cực của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng đạo của Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người châu Âu) Và Alexandre De Rhodes không phải
Trang 18là người châu Âu đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ nhưng ông đã có công lao to lớn góp phần sửa sang, hoàn chỉnh để hình thành bộ chữ Quốc ngữ Đặc biệt là ông đã dùng nó để biên soạn và tổ chức in ấn đầu tiên cuốn Từ
điển Việt - Bồ - La và Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm
văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, sử dụng lời ăn tiếng nói bình dân hằng ngày của người Việt Nam thế kỉ XVII
Vì tính ưu việt của chữ Quốc ngữ nên nó trở thành phương tiện giao tiếp thuận lợi, được nhân dân ta chấp nhận Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, địa
vị chữ quốc ngữ còn phải trải qua một thời kì lâu dài hơn mới được khẳng định là chữ viết của dân tộc ta như hiện nay
1.1.1.2 Đặc điểm chữ cái tiếng Việt
Chữ cái tiếng Việt là chữ ghi âm, đây là loại chữ cái tiến bộ Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học Về cơ bản, nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng 1:1 giữa các âm và các chữ, tức là mỗi chữ cái các
âm tiếng việt đều rời, có cấu tạo đơn giản nên việc đánh vần không phức tạp lắm Trong dạy học vần, việc dạy viết (nhất là những âm tiết đầu) có một số khó khăn nhất định do cấu tạo hệ thống chữ cái tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí
Mặc dù vậy nhưng có thể khẳng định rằng chữ viết tiếng Việt có cấu tạo khá đơn giản cũng như có tính thống nhất cao nên việc dạy chữ đối với trẻ mẫu giáo ở Việt Nam có thể giải quyết trong vòng ba đến bốn tháng Hiện nay các trường mầm non dạy trẻ làm quen với chữ cái tiếng Việt với ba dạng chữ cái: in thường, in hoa và viết thường
1.1.1.3 Hệ thống bảng chữ cái Latinh và chữ Quốc ngữ
a Bảng chữ cái Latinh
Bảng chữ cái Latinh là hệ thống chữ viết dùng bảng chữ cái được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
Trang 19(ISO) đã tóm lược bảng chữ cái Latinh vào tiêu chuẩn ISO/IEC 646 và dựa trên cách sử dụng phổ biến nhằm mục đích phổ biến rộng rãi tiêu chuẩn này
Do Hoa Kỳ chiếm vị trí thượng tôn trong cả hai ngành công nghiệp nên tiêu chuẩn ISO này được xây dựng dựa trên Chuẩn mã trao đổi thông tin Hoa Kỳ (tức ASCII, bộ ký tự dùng cho 26 × 2 chữ cái của bảng chữ cái tiếng Anh)
Về sau, các tiêu chuẩn như ISO/IEC 10646 (Unicode Latinh) vẫn tiếp tục dùng bộ 26 × 2 chữ cái của bảng chữ cái tiếng Anh làm bảng chữ ký Latinh căn bản, đồng thời có mở rộng để xử lý được những chữ cái trong các ngôn ngữ khác
Bảng 1.1 Bảng chữ cái Latinh viết hoa và viết thường
Tên gọi chữ Quốc ngữ được dùng để chỉ chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào
năm 1867 trên Gia Định báo.Tiền thân của tên gọi này là tên gọi chữ Tây
quốc ngữ, có nghĩa là văn tự tiếng Pháp Về sau từ Tây (chỉ nước Pháp) bị lược bỏ khỏi tên gọi để chỉ còn là chữ quốc ngữ, có nghĩa là văn tự tiếng Việt Quốc ngữ nghĩa mặt chữ là ngôn ngữ quốc gia, ở Việt Nam trong thời
kỳ này nếu không có từ bổ nghĩa kèm theo cho thấy từ quốc ngữ được dùng
Trang 20để chỉ một ngôn ngữ nào khác như từ Tây trong Tây quốc ngữ (chỉ tiếng Pháp) thì quốc ngữ mặc định là chỉ tiếng Việt
Bảng chữ cái Quốc ngữ hay bảng chữ cái tiếng Việt bao gồm 29 chữ cái được viết dưới hai hình thức: viết hoa (chữ to) và viết thường (chữ nhỏ)
Bảng 1.2 Bảng chữ cái viết hoa và viết thường tiếng Việt
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.1.2.1 Khái niệm biện pháp tổ chức
- Biện pháp là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các ngành
khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục Theo từ điển giáo dục học và một số
từ điển khác thì biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành để đi đến một mục đích nhất định
- Tổ chức, theo từ điển giáo dục học và một số ý kiến cho rằng: tổ chức
là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận có trật tự, có nề nếp để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc một chức năng chung
Vậy có thể hiểu “biện pháp tổ chức” là cách làm, cách thức sắp xếp, bố
trí các phần, các bộ phận một cách có hệ thống nhằm đạt được mục đích đã
đề ra
1.1.2.2 Khái niệm làm quen chữ viết
Theo từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (Chủ biên): “Chữ viết là hệ
thống kí hiệu bằng đường nét dùng để ghi tiếng nói” [29, tr.409]
Từ ý tưởng này, làm quen chữ viết được hiểu là việc tiếp cận hoạt động trên hệ thống các đường nét ghi lại tiếng nói
Trang 211.1.3 Cơ sở tâm lí học
Để xử lí tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả một nghệ thuật, nhất là khi trẻ còn ở độ tuổi thơ dại Chính vì vậy, để vận dụng khả năng sư phạm của mình vào trong việc giải quyết tốt các tình huống xảy ra giáo viên ở các trường mẫu giáo ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh thần trách nhiệm cao, sự cần mẫn, kiên trì còn cần có sự hiểu biết nhất định về cơ sở tâm lí học của trẻ
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, đặc điểm đầu tiên là hoàn thiện các cấu trúc tâm lí người Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” – tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này, những cấu trúc tâm lí đặc trưng của con người được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo vẫn phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu
về nhân cách con người
1.1.3.1 Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thuần thục tiếng mẹ trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi bổ tâm hồn
Trẻ em học xong mẫu giáo là đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của ông cha ta để lại, đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hóa dân tộc trong tương lai ngày càng phát triển Cho nên việc học tiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng phải được hoàn thành
Trang 221.1.3.2 Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lí
Do sự xác định ý thức bản ngã được rõ ràng hơn và các quá trình tâm lí không có chủ định dần chuyển sang quá trình tâm lí mang tính chủ định, làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt động học tập, vui chơi và trong cuộc sống
Sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát tiển giới tính của trẻ Trẻ không chỉ nhận ra giới tính của mình mà còn thể hiện những hành vi phù hợp với giới tính của mình Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét
Sự phát triển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định
1.1.3.3 Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ
đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic
Ở trẻ mẫu giáo lớn, bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan – hình tượng vẫn mạnh mẽ như trước đây, thì kiểu tư duy trực quan – sơ đồ tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ
Kiểu tư duy này giúp trẻ lĩnh hội nhứng tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó hiểu được bản chất của sự việc
1.1.4 Cơ sở sinh lí học
1.1.4.1 Vận động tinh
Trong giai đoạn này, vận động tinh của trẻ thể hiện rõ ở cả hai tay, trẻ
sử dụng cả hai tay để hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ hằng ngày, trẻ phân biệt đưực tay thuận, tay không thuận Các ngón tay vận động linh hoạt thuận tiện trong việc cầm bút vẽ, viết Khi sử dụng bút chì, việc cầm bút chì bằng 3 ngón tay sẽ được thiết lập rõ ràng, trẻ có thể cầm bút đúng cách, tô chữ cái thành thạo, vẽ và tập tô theo nét có sẵn, vẽ hình người với 6 bộ phận,
Trang 23sao chép các hình tam giác, hình vuông… Sự di chuyển các ngón tay trong khi vẽ, sao chép được trẻ di chuyển một cách tỉ mỉ và chính xác hơn
Vận động tinh của trẻ 5 - 6 tuổi đã có bước phát triển đáng kể so với trẻ
ở lứa tuổi thấp hơn Để giúp trẻ tiếp tục phát triển thể chất cũng như các vận động tinh này một cách chắc chắn và bền vững, người dạy cần tạo điều kiện cũng như môi trường để cho trẻ thường xuyên được thực hành, luyện tập từ chỗ quen đến thuần thục; cho trẻ được thao tác bằng nhiều dụng cụ, nguyên vật liệu khác nhau; cho trẻ chơi các trò chơi vận động phát triển sự khéo léo của các ngón tay
Vì thế, việc phát triển thể chất ở giai đoạn này là một bước ngoặt đáng chú ý và là điều kiện thuận lợi để giúp trẻ tham gia vào hoạt động làm quen chữ viết một cách dễ dàng và hiệu quả hơn
1.1.4.2 Hoạt động hệ thần kinh
Hoạt động thần kinh của trẻ mẫu giáo lớn có cường độ và tính linh hoạt tăng lên giúp cho sự phối hợp giữa các hoạt động của trẻ được tốt hơn Đồng thời các tế bào thần kinh của trẻ dễ bị mệt mỏi, bộ não dễ hưng phấn khiến cho trẻ rất hiếu động, trẻ dễ hứng thú cũng nhanh chán Vì vậy, khi cho trẻ làm quen với chữ cái giáo viên cần gây được hứng thú ban đầu để kích thích tinh thần học tập của trẻ và thời gian học thì không quá dài dẫn tới sự nhàm chán cho trẻ
Với sự phát triển của hệ thần kinh trung ương và sự hoạt động của não bộ tương đối ổn định, bền vững nên khả năng ghi nhớ chữ cái của trẻ thời kì này rất tốt Trẻ sẽ ghi nhớ chữ cái theo một hình ảnh trực quan gắn liền với chữ cái đó (chữ ô trong từ ô tô)
Những thành tựu đạt được trong giải phẫu sinh lí người đã giúp chúng ta thấy được sự ảnh hưởng quan trọng của các vùng trên não bộ tới khả năng ghi nhớ, nghe, hiểu và phát âm Các nhà sinh học đã phát hiện ra
Trang 24rằng có hai vùng trên đại não liên quan đến việc phát triển lời nói là vùng Broca và vùng Wernicke Vùng Broca thuộc vùng 44, 55 của thùy trán, đây
là vùng chi phối vận động của các cơ quan tham gia vào động tác phát âm như thanh quản, môi, lưỡi,… Khi vùng này bị tổn thương sẽ dẫn đến chứng câm nhưng vẫn hiểu lời nói, hiểu chữ viết, những người có thể nghe và đọc vẫn hiểu nhưng không thể diễn đạt được ý nghĩ của mình bằng lời nói, họ chỉ
có thể diễn đạt thông qua chữ viết Vùng Wernicke nằm ở thùy thái dương, đây là vùng rất quan trọng trong việc hình thành tiếng nói và tư duy, còn được gọi là vùng hiểu ngôn ngữ và hiểu biết Đây là vùng không chỉ chi phối lời nói mà còn giúp chúng ta hiểu lời, hiểu nghĩa,… Nếu vùng Wernicke bị tổn thương sẽ dẫn đến chứng câm và không hiểu lời nói, chữ viết,
Không chỉ chịu ảnh hưởng của các vùng trên bán cầu đại não, sự hoạt động bình thường của hệ thần kinh, hoạt động ngôn ngữ muốn thực hiện được cũng cần phải có sự tham gia của các tế bào đại não hoạt động bình thường của bộ máy phát âm, sự phát triển tâm lí của cá thể đó: năng lực trương lực cơ, độ tỉnh táo nhất định, lượng thông tin có thể tiếp nhận,… Chỉ
có sự hoạt động hài hòa của các yếu tố trên mới có thể mang lại hiệu quả cho hoạt động ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là việc ghi nhớ và phát âm đúng chữ cái
1.2 Thực trạng dạy trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
1.2.1 Xác định mục tiêu của việc tổ chức hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1.1 Trẻ nhận biết được các chữ cái tiếng Việt và phát âm một cách rõ ràng, chính xác
Tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái nhằm giúp trẻ nhận biết được cấu tạo, hình dạng của các con chữ tiếng Việt, giúp trẻ nhận biết điểm giống và khác nhau giữa các chữ cái đồng dạng Từ đó
Trang 25nhận biết được các chữ cái có ở môi trường xung quanh trẻ như: trên các quyển sách báo, trong những cuốn truyện tranh, đồ dùng, đồ chơi,… và phát
âm chữ cái một cách chính xác theo ngôn ngữ mẹ đẻ
1.2.1.2 Hình thành các kĩ năng tiền đọc, tiền viết cho trẻ trước khi đi học tại trường phổ thông
Khi dạy trẻ học chữ cái chính là dạy trẻ biết cách phát âm chính xác các
chữ cái, dạy trẻ biết được cấu tạo chữ cái: gồm bao nhiêu nét, có những nét như thế nào (nét cong tròn khép kín, nét thẳng, nét móc, nét xiên, dấu mũ ngược hay xuôi,…) Những việc ấy đồng thời hình thành cho trẻ kĩ năng tiền đọc, tiền viết trước khi học tại trường phổ thông Qua hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái, trẻ sẽ có thể đọc chính xác, hình thành phản
xạ nhanh với các chữ cái, có thể nói tên chữ cái hoặc tên cả cụm từ có chứa chữ cái đã học mà không cần sự nhắc nhở, gợi ý hay làm mẫu của người lớn Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành kĩ năng đọc của trẻ sau này Không những thế, ở các giờ ôn tập lại về các chữ cái đã học, trẻ còn được cô giáo hướng dẫn dùng bút để tô các nét của chữ cái Việc này không những giúp trẻ khắc sâu biểu tượng về chữ cái, hình thành các kĩ năng tiền viết như:
tư thế ngồi, cầm bút, rèn luyện cử động cổ tay, ngón tay Từ đó hình thành ở trẻ các phẩm chất đạo đức kiên trì, lòng quyết tâm, tính kỉ luật,… làm cơ sở
hình thành nhân cách trẻ sau này
1.2.2 Nội dung chương trình tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái
Theo chương trình giáo dục hiện nay, môn làm quen với chữ cái đều thống nhất ở nội dung cho trẻ làm quen với 29 chữ cái (như bảng 1.2), không dạy trẻ các chữ viết thuộc về các nguyên âm đôi như: uô, ươ, iê; các chữ ghép như: ph, nh, ck, tr, kh, nh; dạy trẻ biết ngồi đúng tư thế và cách cầm bút khi tập tô chữ cái theo mẫu Khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, 29 chữ cái sẽ được
Trang 26phân chia thành các 12 nhóm chữ cái đồng dạng, mỗi nhóm được tiến hành dạy 3 tiết, mỗi tiết có thời gian 30 – 35 phút
1.2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
1.2.3.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng việc dạy học cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái ở trường mầm non
Trang 271.2.3.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát
Trang 28cho trẻ học tập, vui chơi, phát triển về mọi mặt Do vị trí địa lí tốt, là ngôi trường khang trang nhất trong toàn xã nên có rất nhiều bậc phụ huynh muốn gửi con em mình tại trường này, tuy nhiên do nhu cầu trẻ đông mà nhà trường phòng học có hạn nên ưu tiên đầu tiên dành cho những trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào lớp Một có hộ khẩu trên địa bàn xã Yên Mỹ
1.2.3.3 Nội dung khảo sát
Đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát về:
- Thực trạng chuyên môn, thâm niên công tác và nhận thức của giáo viên về việc dạy môn làm quen với chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn
- Thực trạng giáo án tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen chữ cái
- Thực trạng mức độ làm quen với chữ cái của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Yên Mỹ, Lạng Giang, Bắc Giang
1.2.3.4 Phương pháp khảo sát
Chúng tôi tiến hành điều tra dựa trên những phương pháp sau: thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và hệ thống hóa các vấn đề nghiên cứu
a Phương pháp quan sát
- Quan sát hoạt động tổ chức tiết học làm quen với chữ cái ở trường mầm non cho trẻ mẫu giáo lớn
- Quan sát những lỗi phát âm, cách học của trẻ
- Quan sát hoạt động của giáo viên khi tổ chức dạy học làm quen chữ cái để phát hiện ra những hạn chế của trẻ từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao khả năng học làm quen chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn
b Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên
về sự cần thiết khi dạy trẻ làm quen chữ cái và ý nghĩa của việc học chữ cái đối với sự phát triển của trẻ
Trang 29c Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket)
Dùng phiếu điều tra thăm dò nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với chữ cái, đồng thời tìm hiểu những biện pháp của họ để nâng cao chất lượng học của trẻ ở môn học này
Bảng 1.4 Thâm niên công tác của giáo viên mầm non
Trang 30trong kết quả điều tra thực trạng do kinh nghiệm còn hạn chế Tuy nhiên, không phủ nhận rằng việc tiếp cận với chương trình giáo dục mầm non mới, phương pháp mới, những đổi mới của giáo dục hiện nay nhất là mảng tổ chức hoạt động cũng như tổ chức môi trường cho trẻ tham gia vào hoạt động được các giáo viên mầm non với thâm niên công tác dưới 5 năm tiếp thu và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn giáo dục trẻ Chính điều đó giúp cho quá trình nghiên cứu, khảo sát thực trạng của đề tài mang tính chính xác và khách quan, phản ánh rõ nét thực trạng vấn đề tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái hiện nay
b Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc tổ chức hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái
Bảng 1.5 Nhận thức của giáo viên mầm non về việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn làm quen với chữ cái STT Nhận thức của giáo viên Số lượng Tỉ lệ (%)
Trang 31Bảng 1.6 Nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò tổ chức làm quen
chữ cái cho trẻ mẫu giáo lớn STT Vai trò của việc tổ chức làm quen chữ cái Số lượng Tỉ lệ
4 Hiểu biết mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết 9 36
5 Phát triển kĩ năng nghe, nói, tiền đọc, tiền
viết cho trẻ
6 Giúp cho trẻ biết đọc và biết viết 14 56
8 Chuẩn bị năng lực đọc – viết toàn diện 16 64
Nhận thức của GVMN về vai trò của việc tổ chức cho trẻ làm quen chữ cái tại trường mầm non thể hiện rõ thông qua bảng 1.6 với 92% GVMN khẳng định vai trò của việc tạo cơ hội cho trẻ làm quen chữ cái một cách tự nhiên Trên 80% GV khẳng định nó có vai trò giúp trẻ có hứng thú tích cực tham gia vào hoạt động làm quen chữ viết, phát triển kĩ năng nghe nói, tiền đọc, tiền viết cho trẻ đồng thời chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một Có 72% GV đồng tình về vai trò của hoạt động này đối với việc phát triển vốn từ thị giác ở trẻ Hơn 60% GVMN đồng ý với ý kiến hình thành các biểu tượng ban đầu về
Trang 32chữ viết và chuẩn bị năng lực đọc – viết toàn diện cho trẻ 56% GV cho rằng
nó giúp cho trẻ biết đọc và biết viết 36% GV cho rằng nó có vai trò giúp trẻ hiểu biết mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết
Và cũng thật đáng mừng vì không có GV nào phủ nhận vai trò của việc tổ chức cho trẻ MGL trong hoạt động làm quen chữ viết ở trường mầm non Như vậy hầu hết các GVMN đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc tổ chức cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non
c Thực trạng về tạo môi trường cho trẻ làm quen với chữ cái
Môi trường cho trẻ làm quen với chữ cái bao gồm: không gian lớp học, không gian chơi, phương tiện điều kiện vật chất trong khuôn viên nhà trường
Qua khảo sát tình hình thực tế tại trường mầm non Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi nhận thấy rằng tại đây cơ sở vật chất cho trẻ còn sơ sài, đơn giản, xung quanh trường không được trang trí môi trường tạo điều kiện thân thiện, tích cực cho trẻ học tập và vui chơi Các góc cầu thang, vườn cổ tích, khu vận động và vui chơi cho trẻ chưa được đầu tư
và chú trọng trang trí Trong các lớp học còn thiếu các góc cho trẻ hoạt động, không đầu tư trang trí, những hình ảnh, sách vở còn thiếu và chưa đầy đủ nội dung chương trình
Giữa các góc học học tập và vui chơi của trẻ chưa có ranh giới rõ ràng, giáo viên chưa thiết lập được mối liên hệ giữa các góc cho trẻ Trẻ thường chơi ở góc nào thì sẽ chơi nguyên ở góc đó, không có sự liên hệ với các góc khác Trang trí các góc mới làm nổi bật được tên chủ đề, chưa chú ý đến giá trị sử dụng của các góc đối với trẻ Số lượng đồ dùng, đồ chơi ở các góc còn hạn chế
d Những khó khăn giáo viên thường gặp phải khi tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái ở trường mầm non
Trang 33Dựa trên kết quả điều tra kết hợp với quan sát và trò chuyện, trao đổi trực tiếp với giáo viên đứng lớp, chúng tôi đã thống kê một số khó khăn của giáo viên trong quá trình tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái như sau:
- Về cơ sở vật chất: đây là vấn đề thường gặp phải ở hầu hết các trường mầm non và đặc biệt và trường mới xây dựng thì vấn đề này càng nghiêm trọng Trong lớp học trẻ chưa được trang trí đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,
đồ chơi Phần lớn những dụng cụ học tập trong lớp đều do giáo viên tự làm,
tự sưu tầm nên hình ảnh không đẹp và sơ sài, thiếu hấp dẫn, thiếu ý nghĩa và nội dung Các góc học tập, góc chơi còn bày dàn trải, ít khi thay đổi theo chủ
đề làm trẻ nhàm chán và mất hứng thú Bên cạnh đó, thì số lượng trẻ quá đông cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy của giáo viên
- Hạn chế về kĩ năng sư phạm: có tới 50% giáo viên cho rằng họ còn chưa chú ý đến việc đầu tư một tiết học dạy làm quen cho trẻ với những phương pháp, đồ dùng mới, họ chỉ chú ý cho trẻ ghi nhớ các mặt chữ một cách đơn giản là qua các thẻ chữ cái Một phần giáo viên cho rằng họ còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy, tiết dạy không thu hút được trẻ, và số khác thì tự nhận rằng còn “lười” chuẩn bị giáo án, đồ dùng vì rất tốn thời gian Phương pháp giáo viên dùng còn cứng nhắc, chưa linh hoạt và thiếu sự tinh tế trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Khó khăn về số lượng trẻ: tất cả các giáo viên khi được hỏi ý kiến đều cho rằng số lượng trẻ trong lớp quá đông gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ, đặc biệt là trong giờ làm quen chữ cái, do trẻ đông nên cô giáo khó kiểm soát được hết trẻ do trình độ nhận thức của chúng là khác nhau
Tóm lại, phần lớn giáo viên mầm non đã nhận thức được ý nghĩa của việc làm quen chữ cái đối với trẻ mẫu giáo lớn Tuy nhiên làm thế nào để việc
Trang 34học làm quen chữ cái đạt hiệu quả cao thì họ lại gặp không ít khó khăn Ngoài những yếu tố khách quan thì một yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng trẻ học làm quen chữ cái chính là hạn chế về năng lực sư phạm của giáo viên, giáo viên chưa thực sự dành nhiều tâm huyết đầu tư và lôi cuốn trẻ vào tiết dạy làm quen chữ viết cũng như tạo ra các phương tiện giúp trẻ mầm non có được sự hứng thú với chữ cái
e Thực trạng giáo án tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với chữ cái
Giáo viên đều đã soạn bài nhưng phần lớn các bài soạn chưa cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là về mục đích, yêu cầu, còn nội dung các bài soạn thì đều tham khảo chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi Bên cạnh đó một số giáo
án quá sơ sài, đơn điệu và ngược lại nhiều giáo án còn rườm rà, sử dụng nhiều văn nói
Phần chuẩn bị cho trẻ học làm quen chưa thật đầy đủ, đồ dùng dạy học còn thiếu thốn, sơ sài, hình ảnh trực quan không đẹp mắt, bộ thẻ chữ rời cho trẻ sử dụng còn thiếu, hình thức dạy trẻ chủ yếu là rập khuôn, không có tính sáng tạo
Mặc dù các bước tiến hành tương đối đầy đủ, tuy nhiên nội dung trong
đó còn đơn điệu, chưa phong phú, không có những trò chơi mới để củng cố về kiến thức con chữ vừa học cho trẻ Ngoài ra giáo viên cũng chưa có phương pháp, biện pháp phát huy vai trò chủ động tích cực của trẻ, cô vẫn đọc rồi cho trẻ đọc theo là chủ yếu
1.2.3.6 Nguyên nhân của thực trạng
Qua quá trình quan sát kết hợp với việc trò chuyện trực tiếp với giáo viên chủ nhiệm lớp, chúng tôi xác định được một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng việc dạy trẻ làm quen với chữ cái chưa đem lại hiệu quả cao như sau:
Trang 35Thứ nhất, do trường mới được xây dựng lại mới nên có nhiều cơ sở vật chất còn thiếu thốn, cụ thể như đồ dùng, đồ chơi đa phần là do GVMN tự làm, sưu tầm nên chưa đảm bảo về thẩm mĩ cũng như sự chính xác, đẹp mắt nên trẻ chưa hứng thú Hơn nữa, việc tổ chức cho trẻ làm quen với chữ cái tiến hành trong giờ học dễ bị khô khan khiến cho trẻ cảm thấy nhàm chán, không tập trung
Thứ hai, do trình độ chuyên môn, nhận thức của GVMN về ngành học còn hạn chế, GV chưa hiểu hết được ý nghĩa quan trọng của môn học này đối với trẻ mẫu giáo lớn Trong quá trình dạy thường đi theo rập khuôn, máy móc, thiếu sự sáng tạo, không hấp dẫn được trẻ
Thứ ba là do khối lượng công việc của GVMN quá lớn, một số GVMN thì không chú tâm vào công việc, không có tâm huyết với nghề, do vậy không
có nhiều thời gian vào đầu tư và lên kế hoạch giảng dạy, tổ chức một tiết học làm quen chữ cái thế nào cho hấp dẫn mà trẻ luôn hào hứng tiếp thu bài
Thứ tư, nhận thức của trẻ không đồng đều mà GVMN thì chỉ hướng dẫn, giảng dạy chung cho tất cả các trẻ vì thế dẫn đến sự chênh lệch về nhận thức, kĩ năng giữa các trẻ trong một lớp với nhau
Thứ năm, sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường chưa thật sự chặt chẽ Phụ huynh của trẻ đa phần là công nhân nên thời gian quan tâm chăm sóc trẻ rất ít vì thế không có nhiều điều kiện phối hợp với nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn học làm quen với chữ cái ở nhà không được chú trọng
Trang 36Kết luận chương 1
Chữ cái là một chiếc chìa khóa vàng giúp trẻ mở ra kho tàng kiến thức bao la rộng lớn Chính vì lẽ đó, việc dạy trẻ làm quen với chữ cái là vô cùng cần thiết và là vấn đề quan trọng hàng đầu trong chương trình giáo dục trẻ 5 –
6 tuổi Hoạt động tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen chữ cái chính là con đường dẫn trẻ tới thế giới tri thức vô tận
Làm quen chữ cái là hoạt động học tập nhằm phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ Đây là hoạt động được ưu tiên hàng đầu cho trẻ mẫu giáo lớn chuẩn bị bước vào trường phổ thông
Trong chương 1 chúng tôi đã đưa ra những cơ sở lí luận về ngôn ngữ, tâm sinh lí của lứa tuổi mẫu giáo lớn để xác định được mục tiêu và nội dung
tổ chức làm quen với chữ cái cho trẻ Việc nghiên cứu lí luận và thực trạng giảng dạy hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen chữ cái ở trường mầm non Yên Mỹ là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp nâng cao khả năng học tập chữ cái của trẻ ở trường mầm non
Trang 37Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN LÀM QUEN
VỚI CHỮ CÁI VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 2.1 Một số yêu cầu về biện pháp cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen chữ cái
2.1.1 Đảm bảo nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm
Khi xây dựng biện pháp, khóa luận dựa trên nguyên tắc “lấy trẻ làm trung tâm” và phát huy tính tích cực của trẻ trong hoạt động và giáo viên giữ vai trò là “điểm tựa”, là người hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong các hoạt động nói chung và hoạt động làm quen với chữ cái nói riêng
2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm nhận thức và phát triển của trẻ
Biện pháp cho trẻ làm quen với chữ cái ở trường mầm non chỉ đạt kết quả tốt nhất khi nó vừa sức, không quá gò ép hoặc quá khó với trẻ Muốn vậy, nội dung và các biện pháp này khi xây dựng phải tính đến đặc điểm tâm sinh
lí, nhận thức và trình độ phát triển hiện có của đứa trẻ
2.1.3 Đảm bảo tôn trọng nét đặc thù vui chơi trong hoạt động học tập của trẻ
Trẻ em ở lứa tuổi này hình thức chủ đạo vẫn là vui chơi nên khi trẻ tham gia hoạt động học tập thì việc học và chơi phải được thiết kế hợp lí, xen
kẽ nhau Các biện pháp đưa ra phải phù hợp với đặc điểm này của trẻ, trẻ có thể vừa học vừa chơi, đang học mà như vẫn đang chơi
2.1.4 Đảm bảo tính khả thi và hiệu quả
Các biện pháp đề xuất phải được áp dụng cụ thể vào trong thực tiễn Đồng thời, các biện pháp này phải giúp trẻ 5-6 tuổi rèn khả năng học tập, ghi nhớ các chữ cái một cách tốt nhất Vì vậy, khi áp dụng phải căn cứ vào điều kiện thực tế (cơ sở vật chất, kinh tế, văn hóa, gia đình,…)