Đại Trung sinh là đại phát triển phồn thịnh của bò sát với những loài có kích thước khổng lồ, thân hình nặng nề như Thằn lằn bạo chúa Tyrannosaurus, Thằn lằn sấm Brontosaurus, Thằn lằn h
Trang 1Bài điều kiện Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
BÀI ĐIỀU KIỆN côn trùng Cánh nửa (Hemiptera):
Cà cuống (Lethocerus)
HÀ NỘI – 2017 MỤC LỤC
Trang 1/25
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA SINH HỌC -o0o -
BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN: SINH HỌC CƠ THỂ VÀ PHÁT TRIỂN CÁ THỂ
Chuyên đề: Khái niệm, giới thiệu quá trình sinh sản
và phát triển phôi ở bò sát
Lớp: Cao học K27 Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
HÀ NỘI - 2017
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 3
I.Khái niệm sinh sản và phát triển: 6
1.Khái niệm phát triển 6
2.Khái niệm sinh sản 6
II.Giới thiệu quá trình sinh sản ở bò sát: 7
1 Khác biệt giới tính 7
2 Cuộc “tìm đối tượng” và giao hoan 10
3 Kết quả thụ tinh: 14
4 Lứa đẻ, đẻ trứng, chửa trứng đẻ con 15
5 Nơi đẻ, bảo vệ và chăm sóc trứng 16
6 Từ lúc mới nở đến lúc : 18
6.1 Lúc nở: 18
6.2 Tuổi thọ 20
7 Bò sát cũng có quái thai 20
III Phát triển phôi sinh học ở bò sát 21
1.Các màng phôi được hình thành 21
2 Dựa vào đặc điểm hình thành các màng phôi người ta chia động vật có xương sống ra thành hai nhóm : 22
IV Kết Luận: 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHẦN MỞ ĐẦU:
Trang 2/25
Trang 3Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
Bò sát là động vật có xương sống đầu tiên thực sự ở cạn Bên trong bò sát có
bộ xương và xương sống, bên ngoài phủ lớp vảy cứng để bảo vệ và thoát hơi nước
Bò sát đẻ trứng có vỏ dai hay vỏ không thấm nước, hoặc đẻ con trên cạn, con nongần giống con trưởng thành Bò sát sống được trong nhiều môi trường khác nhautrên cạn nhưng chủ yếu tập trung ở nơi ấm áp Khi không cần ăn để tạo nhiệt, bò sát
có thể tồn tại ở những nơi khô cằn ít thức ăn như sa mạc
Những loài động vật bò sát cổ xưa nhất bắt nguồn từ một nhóm động vậtlưỡng cư cổ đại, bỏ kiểu sống phụ thuộc vào môi trường nước sang kiểu sống ở cạn.Những loài bò sát bắt đầu xuất hiện ở cuối kỉ Cacbon thuộc đại Cổ sinh, rồi lan trànkhắp mọi miền đất liền, tìm những nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh sôi vàphát triển Đại Trung sinh là đại phát triển phồn thịnh của bò sát với những loài có
kích thước khổng lồ, thân hình nặng nề như Thằn lằn bạo chúa (Tyrannosaurus), Thằn lằn sấm (Brontosaurus), Thằn lằn hộ pháp (Tilanosaurus) Những loài này
còn để lại nhiều hóa thạch cho đến ngày nay
Vào cuối kỉ Kreta, trước khi bước sang kỉ Paleogen thuộc đại Tân sinh, phầnlớn các loài bò sát thống trị thuộc đại Trung sinh bị tuyệt diệt hàng loạt Đến nay chỉcòn một ít loài động vật bò sát với kích thước không lấy gì làm to lớn như tổ tiêncủa chúng, nhưng cái dáng kì quái, đáng sợ của chúng thì vẫn được truyền lại chođến ngày nay Ngày nay trên thế giới chỉ còn khoảng 6500 loài bò sát và được xếpvào 4 bộ sau đây:
BỘ CÓ VẢY (Squamata) – gồm những loài thằn lằn, tắc kè, thạch sùng, kỳ
đà, nhông ; những loài rắn như rắn nước, rắn hổ mang
Trang 3/25
H1: Thằn lằn bạo chúa (Tyrannosaurus) H2: Thằn lằn hộ pháp (Tilanosaurus)
khung-long-451806.html
BỘ CHÙY ĐẦU (Rhynocephala) – đại
diện duy nhất còn sống sót đến ngày nay trên
một số đảo ở châu Đại Dương là loài Nhông
Tân Tây Lan, còn gọi là hóa thạch sống
Hatteria (Sphenodon punctalus).
Nhông Tân Tây Lan có hình dáng bên
ngoài gần giống thằn lằn, đầu có mỏ, lưng có
nhiều gai nhỏ, dài khoảng 50 – 70cm, sống
trong hang đất, hoạt động về đêm
Trang 4Bộ có vảy có số lượng loài đông nhất khoảng trên 5000 loài, đó là những loàixuất hiện từ giữa kỉ Kreta, chúng có đời sống nhiều vẻ thường được nhiều ngườinghiên cứu.
So với những nước hay khu vực có diện tích tương tự thì Bò sát ở Việt Nam khá đa dạng Đến nay đã thống kê được khoảng gần 296 loài thuộc 3 bộ (theo Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Văn Trường, 2005)
Tuy số lượng bò sát quá ít so với số lượng loài côn trùng trên hành tinh củachúng ta, nhưng đời sống của các loài bò sát vẫn chứa đựng rất nhiều điều kì lạ mà
Trang 4/25
BỘ RÙA (Testudinata) – nhóm
động vật bò sát cổ còn giữ nhiều đặc
điểm cổ xưa, có rất ít nét biến đổi so với
tổ tiên của chúng Rùa hiện nay còn
khoảng hơn 200 loài, phân bố chủ yếu ở
miền nhiệt đới và xích đạo
H6:Rùa hộp Florida (Terrapene carolina)
Trang 5Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
chúng ta cần quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là quá trình sinh sản và phát triển phôi
của chúng Đó chính là nội dung mà em muốn đề cập đến trong bài tiểu luận này.Trong quá trình hoàn thành nội dung bài tiểu luận chắc chắn sẽ còn nhiều điều thiếusót vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉnh sửa từ giáo sư Em xinchân thành cảm ơn./
PHẦN NỘI DUNG:
Trang 5/25
Trang 6I.Khái niệm sinh sản và phát triển:
1.Khái niệm phát triển:
Phát triển, như một khái niệm triết học nói về sự biến đổi đi lên Phát triển
được hiểu như một dãy những biến đổi cấp tiến đưa sự vật trở nên ngày càng phứctạp hơn, hoàn thiện hơn, ở mức độ phát triển cao hơn
Trong thế giới sinh vật có các sinh vật đơn giản, với cấu trúc và phương thứcsống đơn giản, ví dụ như các cơ thể đơn bào, vi khuẩn hoặc amip, sau đó là các cơthể dần phức tạp hơn như bọt biển, ruột túi, giun v.v và phức tạp hơn nhất là cơ thểcon người chúng ta Sự đa dạng này phản ánh sự phát triển lịch sử của sinh vậttrong quá trình tiến hóa lâu dài từ xa xưa tới ngày nay
Trong đời sống một cá thể cũng thấy rõ quá trình phát triển, thí dụ con gà nở ra
từ quả trứng gà Quả trứng về cấu tạo rõ ràng là đơn giản hơn con gà và phải trảiqua một dãy những biến đổi phức tạp để cho cái trứng biến thành con gà
2.Khái niệm sinh sản:
Sinh sản là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật riêng biệt mới Sinh sản là
một đặc điểm cơ bản của tất cả sự sống Các kiểu sinh sản được chia thành hainhóm chính là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính
Sinh sản vô tính là quá trình tạo ra một sinh vật mới với các đặc điểm giống hệt
cá thể ban đầu mà không có sự đóng góp vật liệu di truyền của một cá thể khác Vikhuẩn phân chia vô tính bằng cách nhân đôi; virus kiểm soát các tế bào chủ để tạo
ra nhiều virus hơn; Thủy tức (các dạng không xương sống thuộc bộ Hydroidea) và
nấm men có thể tạo ra bằng cách budding (mọc chồi) Các sinh vật này không có sựkhác biệt về giới tính, và chúng có thể chia tách thành hai hay nhiều cá thể Một sốloài 'vô tính' như thủy tức và sứa, chúng có thể sinh sản ở dạng hữu tính Ví dụ, hầuhết thực vật có khả năng sinh sản sinh dưỡng - hình thức sinh sản mà không cần hạthoặc bào tử - nhưng cũng có thể sinh sản hữu tính Tương tự, vi khuẩn có thể biếnđổi thông tin di truyền bằng bằng cách tiếp hợp Những cách sinh sản vô tính khácnhư trinh sản, phân đoạn và sự phát sinh bào tử chỉ liên quan đến sự phân bào có tơ.Trinh sản là sự lớn lên và phát triển của phôi hoặc mầm mà không cần sự thụ tinh từcon đực Trinh sản thường gặp trong tự nhiên ở một số loài bao gồm cả thực vật bậcthấp (được gọi là sinh sản không dung hợp), động vật không xương sống (như bọ
chét nước, bọ rầy xanh, ong và ong kí sinh (parasitic wasp), và Động vật có xương
sống (như một số động vật bò sát, cá và hiếm hơn là chim và cá mập) Hình thứcnày đôi khi cũng được dùng để miêu tả cách thức sinh sản ở những loài lưỡng tính
có khả năng tự thụ tinh
Sinh sản hữu tính là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật mới bằng cáchkết hợp vật liệu di truyền từ hai các thể khác nhau của loài Mỗi sinh vật bố mẹ gópmột nửa yếu tố di truyền tạo ra giao tử đơn bội Hầu hết sinh vật tạo ra hai kiểu giao
tử khác nhau Trong các loài bất đẳng giao (anisogamous), hai giới tính gồm đực
(sản xuất tinh trùng hay tiểu bào tử) và cái (sản xuất trứng hay đại bào tử) Trong
Trang 6/25
Trang 7Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
loài đẳng giao (isogamous), các giao tử là tương tự hoặc giống hệt nhau về hình
dạng, nhưng có thể chia tách thuộc tính và sau đó chúng có thể được đặt những tên
gọi khác nhau Ví dụ, trong tảo lục, Chlamydomonas reinhardti, chúng có các giao
tử dạng "cộng" và "trừ" Một vài sinh vật như ciliates, chúng có nhiều hơn hai loạigiao tử
II Giới thiệu quá trình sinh sản ở bò sát:
Quá trình sinh dục cũng như phát triển ở bò sát tiếp diễn hoàn toàn ở cạn.Những loài có phần lớn đời sống trong nước (cá sấu, rùa biển) vẫn lên cạn vào mùasinh dục
1 Khác biệt giới tính:
1.1 Căn cứ vào hình thái:
Các loài bò sát đã có sự phân biệt về giới tính, phân biệt cá thể đực và cá thểcái, tuy thoáng nhìn bề ngoài của chúng, người ta khó có thể phân biệt được cá thểnào là đực và cá thể nào là cái Thông thường cá thể cái bao giờ cũng lớn hơn cá thểđực, vì bản thân bò sát cái khi trưởng thành phải mang ổ trứng trong bụng vào mùa
sinh sản còn bò sát đực thì không có chức năng này Loài rắn sãi cổ đỏ (Rhabdophis
subminiatus) rất thường gặp ở nước ta, lúc còn nhỏ cá thể đực có kích thước lớn
hơn cá thể cái, nhưng khi đã trưởng thành thì cá thể cái lớn vượt lên, to hơn cá thểđực một cách rõ ràng Tuy nhiên, nếu dựa vào tiêu chuẩn kích thước thì đôi khi
chúng ta vẫn bị nhầm, ở một số loài thằn lằn, kỳ đà, nhông, rắn hổ mang (Naja), rắn ráo (Boiga), rắn hổ (Ptyas) cá thể đực có kích thước lớn hơn cá thể cái, vì tập tính
đánh nhau của cá thể đực khi tranh giành cá thể cái, nên do chọn lọc các cá thể đựcphải to khỏe Thằn lằn đực còn có phần đầu lớn và đuôi dài hơn so với cá thể cái
Cái tướng mạo “giống đực” được tăng thêm phần oai vệ khi trên cá thể đựcđược “trang điểm” những phần phụ kì lạ Mào ở đầu, cổ, lưng và đuôi của nhiềuloài nhông đực Trước mõm của tắc kè hoa có một, hai ba hoặc bốn sừng
Người ta thường căn cứ vào đặc điểm hình thái gốc đuôi, số vảy đuôi, số vảybụng và cơ quan giao cấu để phân biệt rắn đực và rắn cái Rắn đực thường có gốc
Trang 7/25
H8: kỳ nhông Ommatotriton viitatus
Con đực phía trên, con cái phía dưới. H9: Tắc kè hoa (Chamaeleonidae) đ cự
http://kienthuc.net.vn/the-gioi-dong-
vat/nong-ky-nhong-bien-thanh-rong-moi-khi-giao-phoi-252048.html
myfriends.blogspot.com/2012/01/101- oi-mau-nhu-tac-ke-hoa.html
Trang 8http://leondop-đuôi phình to, nơi chứa cơ quan giao cấu, http://leondop-đuôi dài hơn, số vảy dưới http://leondop-đuôi nhiều hơn,
số vảy bụng ít hơn
Rắn roi hoa (Dendrelaphis pictus) đực ở Việt Nam, rắn lục (Vipera berus)
đực ở châu Âu có mắt to hơn mắt rắn cái Khi trưởng thành một số loài rắn đực ởXri Lanca xuất hiện nốt sần trên vảy cằm, trên mỗm hoặc ở hai bên đầu Các nốt sần
này có vai trò xúc giác quan trọng Trăn Thái Bình Dương (Enygrus carinatus) có
cựa, cựa của trăn cái thường thiếu hoặc ẩn kín và nhỏ bằng nửa của trăn đực cùngloài
Các cá thể đực của các loài nhông, tắc kè, thằn lằn có các lỗ đùi hoạt độngtiết dịch vào mùa sinh sản, những lỗ đùi của cá thể cái thường nhỏ và không rõ
Rùa đực ở nước ngọt nhỏ hơn rùa cái Cá thể cái của rùa đầm, hoặc ba ba lớngấp đôi cá thể đực Trái lại cá thể cái của rùa cạn và rùa biển lại nhỏ hơn cá thể đực.Mai vích (Cheolonia mydas) đực dài 97,6cm, trong khi đó mai vích cái chỉ dàikhoảng 84,2cm Yếm của rùa đực thường lõm sâu hơn yếm của rùa cái
Màu sắc của các loài bò sát trong đời sống hàng ngày có vai trò ngụy trang,
tự vệ Trong mùa sinh sản, nhiều loài bò sát mang bộ áo lỗng lẫy để quyến rũ đốitượng của mình.Vào mùa này, hai bên thân của tắc kè hoa đực đổi màu rực rỡ đểtranh giành tắc kè hoa cái
Rắn không có sự khác biệt về màu sắc giữa rắn đực và rắn cái Ngoại lệ córắn hổ đất (Psammodynastes pulverulentus) cái có màu đen, đực có màu nâu hoặc
đỏ nhạt Rắn cây mào (Langaha nasuta) cái có thân xám nhạt điểm chấm sẫm, conđực có màu nâu, bụng và môi trên vàng sáng
1.2 Căn cứ vào cấu tạo cơ quan sinh dục:
Trang 8/25
Cá sấu đực khó phân biệt với
cá sấu cái, trừ cá sấu mõm dài
Trang 9Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
Trong đời sống ở cạn, các loài bò sát không thể nào “lãng phí tinh lực” vàomôi trường không có nước, những con đực phải có một cơ quan đảm nhận chứcnăng đưa thẳng tinh trùng vào cơ thể con cái Cơ quan giao phối của những con đựcxuất hiện là dấu hiệu của việc thích nghi với đời sống ở cạn Tuy cơ quan giao phốinày chưa thật hoàn chỉnh như ở động vật có vú, nhưng cũng là “công cụ” đảm bảođời sống sinh tồn trên cạn của loài bò sát
Bình thường, cơ quan giao phối của con đực nằm dưới da, hai bên bờ khehuyệt ở phía gốc đuôi Khi bị kích thích, máu làm cương lên, thúc cho cơ quan đólộn ra ngoài
http://www.dkn.tv/khoa-hoc-cong-nghe/ket-cau-H13: Cấu tạo tạo trong của rắn Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Snake
Trang 10Các loài bò sát khác nhau thì cơ quan giao phối cũng khác nhau về hìnhdạng Do đó, con đực của loài bò sát này không thể giao phối với con cái của loài
bò sát khác ở bò sát chỉ có bộ rùa và bộ cá sấu là có cơ quan giao phối chính thức,
có thể coi như gần hoàn chỉnh
2 Cuộc “tìm đối tượng” và giao hoan:
2.1 Cuộc “tìm đối tượng”:
Vào mùa sinh sản, còn gọi là mùa giao hoan của bò sát, người ta thường thấyhai cá thể đực và cái biết đi tìm nhau
Trong mùa này, rắn đực hoạt động mạnh, tích cực bò đi tìm rắn cái Nhiềukhi nó băng ra khỏi ranh giới nơi ở thường ngày để tìm “đối tượng” Cơ quan thịgiác hoạt động mạnh mẽ Khi đã tìm thấy đối tượng rắn đực còn kiểm tra xem đãbắt đúng mục tiêu hay chưa!
Người ta đã cải trang bằng cách thay đổi màu sắc của một con rắn cái nhưngrắn đực vẫn phát hiện được đối tượng của nó Người ta lại làm thí nghiệm khácbằng cách làm mù mắt rắn đực, khi đã bị mù mắt rắn đực không thể phát hiện rắncái từ xa, tuy nhiên khi ở gần nó vẫn phát hiện ra rắn cái bên mình và hoạt động nhưmột rắn đực tinh tường Như vậy, thị giác có vai trò phát hiện đối tượng ở xa vàphân biệt được các vật thể xung quanh Nhưng khi đã ở gần thì khứu giác trở nênquan trọng trong việc kiểm tra đối tượng có phải là rắn cái hay không
Lúc đầu người ta cho rằng tuyến hậu môn của rắn cái tiết chất quyến rũ rắnđực Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm, người ta thấy rằng mùi của rắn cái quyến
rũ rắn đực tiết ra ở thân rắn cái,và chỉ xuất hiện vào mùa sinh sản, khi rắn cái “độnghớn” Khác với động vật có vú, rắn cái động hớn suốt thời gian mang trứng, nênmột số loài rắn chịu giao phối nhiều lần trong mùa sinh sản
Người ta đã làm thí nghiệm bằng cách cắt mũi và cắt lưỡi của rắn để làm mấtmối liên hệ giữa mũi ở ngoài với cơ quan Jacobson của rắn đực Những thí nghiệmnày đã chứng minh cơ quan khứu giác và cơ quan Jacobson của rắn đực có vai tròkiểm tra và xác định rắn cái
Ở thằn lằn, thị giác có vai trò quan trọng hơn ở rắn Thằn lằn hoạt động banngày, do đó những khác biệt về những bộ phận phụ và màu sắc nên thằn lằn đực vàthằn lằn cái nhận biết nhau dễ dàng
H14: Cơ quan sinh sản của rắn đực.
Nguồn:http://tinnhiem.blogtiengviet.net
H15: Cơ quan sinh dục của thằn lằn Nguồn: http://drliemnguyen.blogspot.com
Trang 11Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
Trong cuộc tìm đối tượng, nhiều loài thằn lằn, kỳ đà, cự đà, tắc kè hoa trởnên hiếu chiến, đánh nhau quyết liệt để giành lấy người tình
Tính hiếu chiến trong mùa sinh sản phải kể đến loài rắn đuôi kêu (Crotalus
ruber) Chúng quấn lấy nhau, mổ nhau, cuối cùng rắn đực nào thắng sẽ được ghép
đôi với rắn cái Tính hiếu chiến hay còn gọi là tính giao đấu thể hiện sự chọn lọcgiới tính sinh dục, nhằm đảm bảo duy trì những cá thể đực khỏe mạnh nhất có thểbảo tồn được giống nòi
2.2 Giao hoan:
Cuộc “múa giao hoan” mang tính chất thông báo cho đối tượng nhận biết vàkích thích cá thể cái trước khi giao phối Cự đà Anon đực có nếp da cổ đỏ có tácdụng đe dọa đối tượng cùng giới, đồng thời phô bày cho cự đà cái biết để xích lạigần nhau!
Rùa đầm (Chrysemys) đực bơi đối diện với rùa cái, mõm của hai con hôn
nhau Sau đó, rùa đực giương chiếc vuốt dài ở ngón chân trước bám vào yếm của
rùa cái Một số loài rùa đầm khác, con đực lại lắc lư đầu, cắn cào rùa cái (Link
phim: https://www.youtube.com/watch?v=lbK0sFC-_08)
Sau khi giao đấu thắng lợi, nhiều loài thằn lằn, cự đà đực nhún nhảy, cử độngđầu trước con cái để tỏ tình Con cái lúc này sẽ bò lại gần, lắc lư đầu hoặc uốn conglưng ưng chịu
Lúc “múa giao hoan”, nhông
hàng rào (Calotes versicolor) đực
đứng thẳng hai chân sau, đầu lắc lư,
miệng há ra ngậm lại nhịp nhàng,
màu sắc thay đổi nhanh chóng H17 : Nhông hàng rào (Calotes
versicolor) đực
H16: Thằn lằn rào (Sceloporus undularus)
Rắn đực sau khi đã chiến thắng
đuổi rất nhanh theo rắn cái, vượt tất cả
chướng ngại vật dọc đường Cuối cùng nó
đuổi kịp rắn cái, rắn đực bò song song với
rắn cái rồi sau đó lấy phần thân dưới và
đuôi cuộn lấy rắn cái Thỉnh thoảng cặp
rắn lại dựng phần thân trước lên Cuộc
giao hoan như vậy kéo dài khoảng hơn
Trang 12Bài điều kiện - Nguyễn Ngọc Liên Sinh học cơ thể và phát triển cá thể
Trong mùa sinh sản, cá sấu đực cất tiếng gọi cá cái rất đăc trưng có tần số 50chu kì/sec Tiếng tắc kè gọi giao hoan có thể lan xa tới khoảng 100m Rắn bò
(Pilnophis) sống trong đất có tiếng kêu như sáo Rắn hổ trâu (Plyas mucosus) thở hổn hển Rắn sọc đuôi (Elaphe taeniura) kêu như mèo Thông thường chỉ có các
loài bò sát hoạt động ban đêm mới cất tiếng kêu, có lẽ để bù cho khả năng kémnhạy cảm của thị giác
Rùa khổng lồ ở đảo Galaparot kêu rống lên khi giao phối Rùa vàng Nam Mỹ
(Testudo lenticulata) kêu “cục, cục” như tiếng gà mái.
* Quá trình giao phối:
Các loài bò sát đực đã có cơ quan giao phối, nên khi giao phối con đực đưathẳng tinh trùng vào xoang huyệt của cá thể cái Sự thụ tinh được thực hiện bêntrong ống dẫn trứng
Trang 12/25
H19: rùa khổng lồ trên đảo Galaparot Nguồn:https://baomoi.com/nhung-chu- rua-khong-lo-bi-an-giua-dai-duong/c/
14440406.epi#&gid=1&pid=13
chướng ngại vật dọc đường Cuối cùng nó
đuổi kịp rắn cái, rắn đực bò song song với
rắn cái rồi sau đó lấy phần thân dưới và
đuôi cuộn lấy rắn cái Thỉnh thoảng cặp
rắn lại dựng phần thân trước lên Cuộc
giao hoan như vậy kéo dài khoảng hơn
H18 : Hành động của loài rắn trong quá
trình giao phối (Nguồn: http://bqn.cdn.offica.vn)